Qua đó, tác giả đưa ra đánh giá về tác động của TPP đối với khu vực thế giới nói chung, đối với Việt Nam nói riêng và qua đó, dự báo tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) VÀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
1.1.1 Khái quát về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương hay còn gọi là Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương – sau đây viết tắt là “Hiệp định TPP” là một điều ƣớc quốc tế nhiều bên, đƣợc ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương Quy mô GDP của tất cả thành viên trong TPP ƣớc tính khoảng 26.000 tỷ USD, chiếm 40% GDP toàn cầu và đạt khoảng 1/3 kim ngạch thương mại thế giới 2 Về địa lý, Hiệp định TPP góp mặt của 12 quốc gia, bao gồm Chile, New Zealand, Singapore, Brunei, Hoa Kỳ, Peru, Australia, Việt Nam, Mexico, Canada, Malaysia và Nhật Bản
Hiệp định TPP gồm 30 chương về thương mại và các vấn đề liên quan, bắt đầu từ thương mại hàng hoá và tiếp tục với hải quan và thuận lợi hoá thương mại; vệ sinh kiểm dịch động thực vật; hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; quy định về phòng vệ thương mại; đầu tư, dịch vụ; thương mại điện tử; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; cùng các chương về các vấn đề xuyên suốt nhằm đảm bảo Hiệp định đạt được tiềm năng phát triển, tính cạnh tranh và tính bao hàm; giải quyết tranh chấp; ngoại lệ và các điều khoản về thể chế Với phạm vi đa biên như vậy, các cam kết thực hiện TPP được kỳ vọng sẽ thực sự bình đẳng, không phân biệt trình độ phát triển và xuất phát điểm của mỗi nước Về mức độ cam kết, TPP hướng tới tự do hoá mạnh mẽ và thiết lập một cơ chế thị trường toàn diện thông qua việc cắt giảm ngay phần lớn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá và dịch vụ, trừ các biện pháp được bảo lưu (nguyên tắc chọn – bỏ với danh sách các biện pháp không tương thích) và nguyên tắc tạo thuận lợi hơn, tự do hơn (nguyên tắc ratchet).
Sau hơn 5 năm với gần 30 vòng đàm phán, ngày 4/2/2016 tại Auckland, New Zealand, 12 Bộ trưởng các quốc gia thành viên TPP đã chính thức ký kết Hiệp định
2 Brock R Williams (2013), Trans-Pacific Partnership (TPP) Countries: Comparative Trade and
Economic Analysis, Congressional Research Service (CRS), tr 7 Số liệu đƣợc phân tích từ the World Bank World Development Indicators and International Monetary Fund (IMF) World Economic Outlook, April 2013
3 Hoàng Văn Châu (2014), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP và vấn đề tham gia của Việt
Nam, Nhà xuất bản Bách Khoa – Hà Nội, tr 1
7 quan trọng này Tuy nhiên, để thoả thuận có hiệu lực thì cần phải đƣợc Quốc Hội 12 nước tham gia phê chuẩn và lãnh đạo các nước ký chính thức Mặc dù, trước mắt TPP sẽ phải trải qua các khâu phê chuẩn và đƣa vào thực thi đầy phức tạp và cam go nhƣng hoàn thành đàm phán Hiệp định TPP đánh một dấu mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế Bởi lẽ, TPP được đánh giá là một Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới lớn nhất từng đƣợc thông qua trong suốt hơn 20 năm qua, kể từ thời điểm ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Vì vậy, TPP còn được gọi là Hiệp định Thương mại của Thế kỷ 21 (21 st century Agreement) 4 Không những thế, do mức độ tự do thương mại sâu rộng, tầm quan trọng và sức ảnh hưởng lớn của TPP đến nền kinh tế toàn cầu, hiện nay, các nước như Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Philippines, Lào, Colombia, Costa Rica, Indonesia và nhiều nước khác cũng đang có ý định tham gia vào TPP
Trong quá trình đàm phán TPP, các nước dành riêng một chương quy định về Dệt may (Textile and Apparel Good) trong số vô vàn chủng loại hàng hoá đƣợc sản xuất và trao đổi thương mại trong khu vực Chương Dệt may được xếp tại chương 4 ngay sau những chương quan trọng bậc nhất trong thoả thuận TPP Lý giải cho điều này là do tầm quan trọng và sự tác động sâu rộng của Dệt may đối với nền kinh tế của một số nước thành viên Bên cạnh đó, ngành này cũng là một mỏ vàng cho Việt Nam, và cũng là một trong những lý do chính để Việt Nam quyết tâm đàm phán và gia nhập TPP 5
1.1.1.1 Quá trình hình thành Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
TPP bắt nguồn từ Hiệp định ba đối tác kinh tế thân cận Thái Bình Dương (The Pacific Three Closer Economic Partnership) do nguyên thủ của 3 nước: Chile, Niu Zealand và Singapore phát động đàm phán bên lề Hội nghị Cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 2002 tổ chức ở Mexico Tiếp đó, Brunei cũng nhanh chóng xin gia nhập, với tư cách thành viên sáng lập trước vòng đàm phán thứ năm, biến P3 thành P4 Hiệp định chính thức được 4 nước ký kết ngày 3/6/2005 tại Wellington, New Zealand, và có hiệu lực vào ngày 28/5/2006 Mục tiêu của các nước là kết nối với nhau, ủng hộ và thúc đẩy hơn nữa tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư trong khuôn khổ APEC 6
4 Ian F Fergusson, Mark A Mc Minimy, Brock R.Williams (2015), The Trans-Pacific Partnership (TPP) Negotiations and Issues for Congress, Congresional Research Service (CRS), tr 6
5 Phan Minh Ngọc, “Tác động của TPP nhìn từ chương Dệt may”, http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/tac-dong-cua- tpp-nhin-tu-chuong-det-may-20151109083847623.chn, truy cập ngày 08/5//2016
6 Nguyễn Anh Tuấn (2015), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tác động đến Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr 15
Bắt đầu từ tháng 9/2008, quá trình đàm phán nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của nhiều bên hơn, nhờ vào sự kiện Mỹ chính thức bày tỏ ý định tham gia đàm phán mở rộng hiệp định, đặc biệt ở các lĩnh vực dịch vụ tài chính và kêu gọi nhiều nước khác tham gia quá trình đàm phán mở rộng Cũng từ thời điểm này, đàm phán P4 mở rộng chính thức được đặt tên là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – (Trans – Pacific Partnership Agreement - TPP) Kể từ đây, nói đến Hiệp định TPP là nói đến đàm phán mới chứ không phải Hiệp định P4 đƣợc ký kết vào ngày 3/6/2005
Về phía Việt Nam, năm 2009, Việt Nam tham gia đàm phán với tƣ cách là thành viên liên kết được hưởng quy chế quan sát viên Sau ba phiên tham dự đàm phán, ngày 13/11/2010 Việt Nam chính thức tham gia đàm phán Hiệp định TPP Đây là bước đi quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế và tạo một động lực thúc đẩy Việt Nam cải cách những thể chế trong nước và giải quyết những vấn đề nội tại
Tính đến tháng 12/2014, Hiệp định TPP chính thức có 12 nước tham gia đàm phán Sau hơn 5 năm đàm phán với hơn 30 phiên làm việc ở cấp kỹ thuật và 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, cuối cùng 12 nước đã kết thúc đàm phán trong vòng đàm phán 5 ngày tại Atlanta, Hoa Kỳ từ ngày 30/9 đến 5/10/2015 Và vào ngày 4/2/2016 tại Auckland, New Zealand, mười hai Bộ trưởng các quốc gia thành viên TPP đã chính thức ký kết Hiệp định quan trọng này Bên cạnh đó, các quốc gia cũng đã có rất nhiều cuộc gặp song phương, là cơ hội để các nền kinh tế TPP đạt được những thoả thuận hỗ trợ song phương giúp thực thi TPP và dành cho nhau những cơ hội hợp tác
Cuối cùng, theo quy định tại Điều 30.5 Chương 30 Hiệp định TPP, TPP sẽ có hiệu lực 60 ngày kể từ khi tất cả các nước thành viên đã thông qua TPP Nếu việc thông qua không đƣợc thực hiện bởi tất cả các thành viên trong vòng 2 năm kể từ ngày ký, thì Hiệp định sẽ có hiệu lực 60 ngày sau khi hết thời hạn 2 năm đó, nếu có ít nhất 6 nước thành viên có Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chiếm trên 85% tổng GDP của tất cả 12 nước TPP đã thông qua Điều này có nghĩa là thoả thuận phải được Quốc hội của hai nước có nền kinh tế lớn nhất trong TPP là Mỹ và Nhật Bản thông qua thì TPP mới có hiệu lực thực thi
1.1.1.2 Nguyên tắc, nội dung, đặc điểm cơ bản của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) a Nguyên tắc của Hiệp định
Dựa trên các nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế, Hiệp định TPP thiết lập một khung pháp lý chung cho các hoạt động thương mại giữa các nước thành viên Những mục tiêu thương mại của TPP được quy định chi tiết cụ thể thông qua những nguyên tắc cơ bản của nó, trong đó bao gồm những nguyên tắc chủ yếu nhƣ Nguyên tắc không phân biệt đối xử thông qua hai quy chế Đối xử quốc gia (National Treatment – “NT”), Đối xử Tối huệ quốc (Most – Favoured – nation Treatment – “MFN”) và nguyên tắc minh bạch Đây cũng những nguyên tắc nền tảng, xuyên suốt của luật thương mại quốc tế hiện đại Theo đó, với nguyên tắc NT theo quy định tại Điều 2.3 Phần B Chương 2 Hiệp định TPP yêu cầu quốc gia thành viên phải dành cho hàng hoá của các thành viên khác đối xử quốc gia phù hợp với Điều III của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994) Điều này có nghĩa là quốc gia phải đảm bảo dành cho hàng hoá nhập khẩu của các thành viên khác (sau khi đã qua hải quan) chế độ đãi ngộ thương mại (ưu đãi, miễn trừ) như chế độ mà họ áp dụng cho hàng hoá của nước mình Với nguyên tắc MFN trong thương mại quốc tế yêu cầu một quốc gia không được đối xử kém phần thuận lợi hơn đối với các quốc gia khác những lợi ích mà mình đã dành cho một nước thứ ba Bên cạnh đó, nguyên tắc minh bạch yêu cầu mọi quy định có liên quan đến thương mại (chính sách thương mại, nguyên tắc tiếp cận thị trường) của một quốc gia phải đƣợc công bố công khai, dễ tiếp cận, phù hợp pháp luật và đƣợc áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia đó b Nội dung của Hiệp định TPP
Theo Lời mở đầu của Hiệp định, TPP ra đời nhằm thiết lập một hiệp định khu vực toàn diện có thể thúc đẩy hội nhập kinh tế, tự do hoá thương mại và đầu tư, từ đó mang lại tăng trưởng kinh tế và lợi ích xã hội, đồng thời tạo ra cơ hội mới cho lao động và doanh nghiệp, góp phần nâng cao mức sống, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, giảm nghèo và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hiệp định TPP được mở rộng so với các FTA khác khi không chỉ bao quát các nội dung thương mại như hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ mà còn tích hợp các yếu tố phi thương mại như môi trường và lao động, đồng thời mở rộng phạm vi từ vấn đề tại biên giới sang cả nội dung bên trong biên giới với sự chú trọng đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và tổ chức công đoàn Nội dung của TPP gồm cả cam kết thương mại truyền thống và phi truyền thống, trong đó mở cửa thị trường hàng hóa, xuất nhập khẩu, thuế quan và các biện pháp phi thuế quan được thực thi và đẩy mạnh tự do hóa ở mức độ sâu rộng hơn Nhờ đó, hiệp định sẽ điều chỉnh toàn diện các nội dung thương mại, vừa giữ gìn các biện pháp tại biên giới vừa mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang các yếu tố nội địa và phi thương mại, hướng tới một khuôn khổ thương mại toàn diện và cân bằng cho các quốc gia tham gia.
Hiệp định TPP gắn kết hoạt động đầu tư với việc hình thành thị trường trao đổi các yếu tố của quá trình sản xuất như lao động, đất đai, môi trường, vốn, khoa học công nghệ và sở hữu trí tuệ Vì vậy, các cam kết trong TPP được cho là sâu rộng hơn so với các cam kết trong các hiệp định thương mại song phương mà Việt Nam đã ký với các nước khác hoặc so với chuẩn WTO Đây là một số đặc điểm cơ bản của Hiệp định TPP mà Việt Nam cần xem xét khi tham gia.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thiết lập nhằm thiết lập một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu và giải quyết những vấn đề thuộc thế hệ mới để tăng cường năng lực cạnh tranh của các nước thành viên Với năm đặc điểm cơ bản, TPP được xem là một hiệp định mang tính bước ngoặt của thế kỷ XXI, định hình lại khuôn khổ thương mại và hợp tác kinh tế ở quy mô toàn cầu.
Ngành Dệt may Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập
1.2.1 Khái quát về ngành Dệt may Việt Nam
Dệt may là ngành kinh tế có thị trường tiêu thụ rộng lớn, sử dụng nhiều lao động, công nghệ không phức tạp, thích hợp cho khởi đầu phát triển nền kinh tế quốc gia Hiện nay, cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp Dệt may (năm 2013), thu hút hơn 2,5 triệu lao động; chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may cả nước năm 2014 đạt trên 21 tỷ USD Dệt may Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5 thế giới về xuất khẩu hàng Dệt may với thị trường hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, đóng góp trên 10,5% GDP và hơn 15% tổng kim ngạch xuất khẩu 18
Tuy nhiên, ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam chỉ tham gia vào phần thứ ba trong chuỗi cung ứng giá trị Dệt may toàn cầu là Cắt và May (Cut – Make -
18 Bùi Văn Tốt (2014), Báo cáo Ngành Dệt may “Cơ hội Bứt phá”, Công ty chứng khoán FPT, tr 13
Trim) Hầu hết các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam sản xuất theo phương thức gia công đơn giản hoặc sản xuất theo chỉ định của doanh nghiệp nước ngoài, thiếu khả năng cung cấp trọn gói nên mang lại giá trị gia tăng thấp nhất Đồng thời, Dệt may Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt là từ nhiều nước bên ngoài TPP Cụ thể, khâu cung cấp nguyên phụ liệu đầu vào, hiện trong nước chỉ đáp ứng được chưa tới 1% nhu cầu về bông, 30% nhu cầu về xơ Sản lƣợng sợi đạt trên 1 triệu tấn/năm, nhƣng đã có tới 70% là xuất khẩu Thực tế, sợi sử dụng trong nước chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc 43%, Hàn Quốc 20%, Đài Loan 15% và các nước TPP chỉ có 9,7% 19
Hiện nay, các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) đã chiếm trên 60% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, cho thấy sức mạnh của nguồn vốn và công nghệ nước ngoài đang định hình ngành này Với tiềm lực kinh tế và khoa học kỹ thuật tiên tiến, các doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động theo các hình thức OEM (Original Equipment Manufacturing), ODM (Original Design Manufacturing) và OBM (Original Brand Manufacturing), khép kín từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng và xuất khẩu với mức giá trị gia tăng cao Dù kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam ngày càng tăng, lợi nhuận thu được từ hoạt động này lại khá thấp, chỉ chiếm khoảng 20-30% tổng doanh thu xuất khẩu, nguyên nhân chủ yếu là do đặc thù gia công Ngành dệt may Việt Nam thực chất đang “đi trên đôi chân của nước ngoài” khi phần lớn giá trị gia tăng được tạo ra ở quy mô và ở phía nước ngoài.
Thực tế cho thấy, cũng giống nhƣ khi tham gia WTO và ký kết các FTA, cùng với các ngành kinh tế khác, TPP sẽ mở ra nhiều cơ hội rất lớn cho Dệt may Việt Nam Theo đó sẽ có hơn 90% mặt hàng Dệt may xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ đƣợc điều chỉnh thuế suất về mức 0% so với mức trung bình 17% nhƣ hiện nay, cũng nhƣ cơ hội tiếp cận công nghệ, thông tin, dịch vụ, cũng nhƣ kinh nghiệm quản lý được tốt hơn từ các nước phát triển Vì vậy, Việt Nam đã cố gắng rất nhiều trong quá trình đàm phán để đảm bảo gia nhập TPP, Dệt may giữ lại ở mức tốt nhất lợi thế của mình Tuy nhiên, nếu Việt Nam nhìn thấy đƣợc tiềm năng của việc xuất khẩu mặt hàng này tại thị trường của các nước thành viên TPP thì họ cũng thấy được sự đe doạ của hàng Dệt may Việt Nam đối với mặt hàng tương tự của mình tại thị trường nội địa Do đó, trong quá trình đàm phán, Dệt may là một trong những vấn đề mà các nước rất quan tâm, một mặt đưa ra các điều kiện kìm hãm sự lớn
Mình chưa có nội dung bài viết "Dệt may Việt Nam: Ai thực sự hưởng lợi?" từ nguồn bạn nêu, nên không thể viết lại thành một paragraph có ý nghĩa đúng Bạn có thể dán toàn bộ văn bản hoặc cho phép mình tóm tắt dựa trên nội dung bạn cung cấp? Khi có nội dung, mình sẽ trả về một đoạn tiếng Việt ngắn gọn, mạch lạc và tối ưu cho SEO, nêu rõ ai đang hưởng lợi trong ngành dệt may Việt Nam, các yếu tố tác động như lao động, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, chính sách và thị trường, đồng thời gợi ý các từ khóa liên quan để tăng khả năng tìm kiếm.
21 Nguyễn Thị Thu Hằng (2007), Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động xuất khẩu Dệt may, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 27
21 mạnh của hàng Dệt may Việt Nam; mặt khác lợi dụng Dệt may nhƣ một trong những sự trao đổi cho việc tiếp cận thị trường của họ
1.2.2 Một số Hiệp định thương mại tự do khác điều chỉnh hoạt động của ngành Dệt may
1.2.2.1 Một số Hiệp định của WTO điều chỉnh hoạt động của ngành Dệt may
Những hiệp định trong khuôn khổ WTO được xem là nền tảng cho hoạt động thương mại quốc tế và là kim chỉ nam cho quá trình sản xuất, xuất khẩu hàng hóa của các nước thành viên Trong nội dung này, tác giả tập trung vào một số hiệp định cơ bản nhất ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của hàng dệt may, nhằm làm rõ vai trò của chúng trong việc điều chỉnh thị trường và hỗ trợ ngành công nghiệp dệt may tiếp cận thị trường toàn cầu.
Thứ nhất, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT năm 1994 có những quy định chung về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia với hoạt động trao đổi hàng hoá, trong đó có hàng Dệt may Theo đó, hàng Dệt may xuất khẩu của thành viên WTO vào một nước thành viên khác sẽ nhận được những đối xử tốt nhất mà nước thành viên ấy dành cho các thành viên WTO
Hiệp định của WTO về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại (Hiệp định TBT) có tác động nhất định đến hoạt động của ngành Dệt may; mục tiêu của Hiệp định là đảm bảo các quy định, tiêu chuẩn, thủ tục kiểm định và chứng nhận không tạo ra những trở ngại thương mại không cần thiết giữa các nước thành viên Do đó, Hiệp định ảnh hưởng đến việc áp dụng hàng rào kỹ thuật nhằm hạn chế nhập khẩu hàng dệt may ở các thị trường nhằm bảo vệ người tiêu dùng và thâm nhập thị trường một cách công bằng Đồng thời, việc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật giúp đảm bảo hàng hoá có chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và khuyến khích chú trọng bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của ngành dệt may.
Thứ ba, Các quy định về xuất xứ hàng hoá cũng ảnh hưởng đến khả năng thâm nhập thị trường của các sản phẩm Dệt may Các quy định này liên quan đến các tiêu chí đƣợc sử dụng nhằm xác định nguồn gốc sản phẩm Đây là một phần quan trọng trong quy định thương mại và hầu hết các FTA được ký kết đều quan tâm đến vấn đề này Cụ thể, đã có nhiều chính sách có phân biệt giữa các nước xuất khẩu (liên quan đến hạn ngạch (quota), thuế suất ƣu đãi, chống bán phá giá…); trong khi quá trình toàn cầu hoá đang khiến các sản phẩm đƣợc sản xuất qua nhiều công đoạn ở nhiều nước khác nhau trước khi đến với người tiêu dùng cuối cùng Theo Hiệp định về Quy tắc xuất xứ, các thành viên WTO phải đảm bảo các quy định về xuất xứ đƣợc ban hành và thực thi một cách minh bạch, mà không có tác dụng hạn chế, bóp méo hay gián đoạn với thương mại quốc tế, được quản lý một cách thống nhất và hợp lý Theo đó, các quy định về xuất xứ đƣợc sử dụng nhằm thực hiện các biện
22 pháp và công cụ chính sách thương mại như thuế chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ; xác định liệu sản phẩm nhập khẩu sẽ nhận đƣợc ƣu đãi tối huệ quốc hay ƣu đãi thương mại; thống kê thương mại; vận dụng các quy định về nhãn mác và phục vụ cho nhu cầu mua sắm công Tuy nhiên, các quy định này có thể đƣợc vận dụng thiếu hợp lý với mục đích bảo hộ và hạn chế hàng nhập khẩu
Ngoài ra, Quy định về việc bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng Dệt may (sau khi Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC) chấm dứt hiệu lực vào năm 2004) đƣợc đánh giá là có ý nghĩa tác động đáng kể đối với Dệt may kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO Với việc gia nhập WTO, Việt Nam không còn gặp phải vấn đề về hạn ngạch khi xuất khẩu hàng Dệt may Điều này, đã tạo điều kiện cho Việt Nam có nền tảng cạnh tranh công bằng hơn, ít nhất về mặt pháp lý với các nước sản xuất hàng Dệt may khác như Ấn Độ, Trung Quốc, Băng-la-đét… 22 Bởi lẽ, trước đây, trong giai đoạn 1974 – 1994, theo Hiệp định về Thoả thuận đa sợi (MFA), hạn ngạch nhập khẩu hàng Dệt may được đàm phán song phương giữa các thành viên WTO, qua đó cho phép nhập khẩu hàng Dệt may đƣợc thực hiện những quy định ngoại lệ với GATT 1994 Đến giai đoạn 1995-2004, Hiệp định về hàng Dệt may (ATC) đƣợc thực hiện với vai trò là chuyển đổi, giúp đƣa các sản phẩm Dệt may trở lại quy định tự do hoá theo GATT 1994 Và rồi, kể từ 01/01/2005, hàng Dệt may xuất khẩu từ một nước thành viên WTO sang một nước thành viên khác sẽ không chịu hạn ngạch nữa
Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu Dệt may cũng chịu điều chỉnh của các quy định khác trong khuôn khổ của WTO nhƣ xử lý tranh chấp, tự vệ Nếu có căn cứ cho rằng, một đối tác thành viên vi phạm các quy định về thương mại của WTO, Việt Nam có thể vận dụng cơ chế xử lý tranh chấp ở cấp độ đa phương tại cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO Ngoài ra, một thành viên WTO với việc thực hiện cơ chế tự vệ, có thể tạm thời hạn chế nhập khẩu hàng hoá của nước xuất khẩu nếu có dấu hiệu cho thấy ngành công nghiệp trong nước bị tổn thương hoặc bị đe doạ do hàng nhập khẩu gia tăng một cách đáng kể Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp này đa phần rất hạn chế sử dụng, bởi sự ảnh hưởng của nguyên tắc “có đi có lại” trong thương mại quốc tế, nên Chính phủ các nước thường ưu tiên đàm phán song phương để tìm giải pháp khắc phục
22 Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại (2010), Ngành Dệt may với thị trường nội địa, Nhà xuất bản Hà nội, tr 66
1.2.2.2 Một số Hiệp định thương mại tự do khác
Ngoài các hiệp định trong khuôn khổ WTO, trong thời gian gần đây, các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam tham gia ký kết và thực thi cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu hàng Dệt may Các Hiệp định thương mại tự do này chủ yếu đƣợc ký trong khuôn khổ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Trong đó, có một số hiệp định quan trọng nhƣ Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA); ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN – Nhật Bản (AJCEP), ASEAN – Australia – New Zealand (AANZFTA)
Bên cạnh đó, đặc biệt phải kể đến Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU