1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế tiêu thụ đặc biệt

56 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với điều kiện thứ nhất, tổ chức, cá nhân có thể là các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế của tổ chức

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KÊ KHAI, NỘP

VÀ QUYẾT TOÁN THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

Khóa: 36 ; MSSV: 1155010012 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ HOÀI THU

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận “Quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộ nội dung được trình bày cũng như kết quả nghiên cứu đạt được trong khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Cô Nguyễn Thị Hoài Thu Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt bốn năm học tập tại trường, em đã lĩnh hội được nhiều kiến thức chuyên sâu về ngành Luật, làm nền tảng cho công việc trong tương lai Trong quá trình học tập ấy, em luôn được tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm tra các kiến thức về pháp luật, song cơ hội để nghiên cứu một cách chuyên sâu và tổng hợp kiến thức pháp luật một cách toàn diện không nhiều Thực hiện khóa luận tốt nghiệp thực sự là một cơ hội tốt

để bản thân có thể tổng hợp lại phần lớn các kiến thức đã học, đặc biệt là kiến thức về chuyên ngành Luật thương mại Nghiên cứu về đề tài “Quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt” đã cho em cơ hội hệ thống lại các kiến thức

cơ bản về Luật thương mại mà cụ thể là mảng luật thuế Đây là vấn đề không mới, nhưng thực tế thì khá khó khăn trong việc tiếp cận cũng như áp dụng pháp luật Vì vậy, khi thực hiện đề tài này, bản thân em cũng gặp những khó khăn nhất định Song nhờ vào sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô và các bạn, em đã có thể hoàn thành tốt khóa luận này Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô, các bạn đã giúp đỡ em trong suốt thời gian qua, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Hoài Thu – người đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này Vấn đề thực thi pháp luật quản lý thuế nói chung và áp dụng các quy định về kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt nói riêng ở Việt Nam là vấn đề hết sức phức tạp cả về mặt xây dựng pháp luật cũng như đưa vào thực thi trên thực tế Trong khi nhận thức pháp luật của bản thân em còn chưa được toàn diện nên có thể một số nội dung đưa ra tại khóa luận chưa thực sự đạt yêu cầu Rất mong nhận được sự đóng góp nhiệt tình của các thầy cô và các bạn để

em có thể hoàn thiện hơn về đề tài cũng như nhận thức của bản thân

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KÊ KHAI, NỘP, QUYẾT TOÁN THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 4 1.1 Một số vấn đề lý luận về chế độ kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt 4

Tiêu thụ đặc biệt 10

1.2 Quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt 15

………16

quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt 18

biệt……… 24

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật trong kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt……… 27

thuế Tiêu thụ đặc biệt 27

Tiêu thụ đặc biệt 30

thụ đặc biệt 37

2.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt 39

2.2.2 Cải cách hệ thống quản lý thuế 44

KẾT LUẬN 48

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cũng như các quốc gia trên thế giới, hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam được coi là thành tố quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế - tài chính Trong quá trình đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của hệ thống pháp luật về thuế ngày càng trở nên rõ nét, tác động đến quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, bảo đảm nguồn lực tài chính để phục vụ hiệu quả cho hoạt động của Nhà nước và xã hội Đến nay, hệ thống chính sách pháp luật về thuế của Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn cải cách và đã có một cơ cấu thuế tương tự các nước có nền kinh

tế thị trường khác ở Châu Á Một cơ cấu hệ thống chính sách thuế đồng bộ và phù hợp

sẽ là tiền đề để hệ thống thuế có thể phát huy được những chức năng cơ bản trong nền kinh tế thị trường, tạo cơ sở cho quá trình hội nhập Trước yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới, hệ thống pháp luật về thuế của Việt Nam cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, nhất là trong giai đoạn 2010 – 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo chủ trương mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra

Trong tất cả các sắc thuế được áp dụng hiện hành, thuế Tiêu thụ đặc biệt được xem là loại thuế gián thu quan trọng trong việc tạo nguồn thu Ngân sách và là công cụ hữu hiệu bảo vệ và điều tiết sản xuất trong nước với tỷ lệ nguồn thu của sắc thuế này trong tổng thu Ngân sách ngày càng cao Thế nhưng, từ khi áp dụng Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt bắt đầu năm 2008 với hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2012 và mới đây nhất là năm 2014 thì công tác quản lý thuế thông qua chế độ kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt vẫn còn nhiều hạn chế: tình trạng trốn thuế, tránh thuế còn diễn

ra ở nhiều nơi, thậm chí cơ quan thuế biết vẫn không làm được gì; công tác quyết toán thuế còn chậm; các chỉ số về thuế vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới,… Chính vì vậy việc hoàn thiện công tác quản lý thuế ở ba khâu này là yêu cầu cấp thiết đặt ra với mục tiêu trọng tâm là xây dựng một quy trình kê khai – nộp – quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt đơn giản và hợp lý

Nhận thức được điều đó, với mong muốn góp phần giải quyết những yêu cầu đặt ra, xuất phát từ những nghiên cứu về chế độ quản lý thuế nói chung và chế độ quản

lý thuế Tiêu thụ đặc biệt hiện nay nói riêng, tác giả đã chọn đề tài “Quy định pháp luật

về kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt” làm đề tài khóa luận của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận

Mục đích của khóa luận là nghiên cứu có hệ thống những kiến thức mang tính lý luận chung về hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế nói chung và thuế Tiêu thụ đặc biệt nói riêng; nghiên cứu, phân tích những quy định của pháp luật quản lý thuế Việt Nam điều chỉnh các hoạt động này, qua đó xác định những ưu điểm và những tồn tại, thiếu sót Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật, tiến tới

Trang 7

đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, tăng khả năng áp dụng các quy định pháp luật trong quản lý hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt trên thực tế

Để đạt được mục đích nêu trên, khi nghiên cứu đề tài, tác giả phải giải quyết những nhiệm vụ sau: nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, nhận thức cơ bản như khái niệm, đặc trưng của hoạt động kê khai, nộp, quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt; nghiên cứu các quy định của pháp luật quản lý thuế, và các văn bản liên quan điều chỉnh chế độ quản lý thuế Tiêu thụ đặc biệt; nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quản lý sắc thuế này trong thời gian qua và phân tích, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và cải cách hệ thống quản lý thuế Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và các quy định cụ thể

về chế độ quản lý thuế Tiêu thụ đặc biệt trong pháp luật Việt Nam; nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật quản lý thuế của Việt Nam trong thời gian qua

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu về kê khai, nộp

và quyết toán của thuế Tiêu thụ đặc biệt như: khái niệm, đặc trưng về chủ thể, đặc trưng về thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật này, xử lý vi phạm về thuế…

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng, các quy định của nhà nước và pháp luật về chế độ quản lý đối với hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt Nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, logic, so sánh để thực hiện nhiệm vụ của đề tài

5 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về hoạt động quản lý thuế ở Việt Nam đã có những công trình khoa học như: khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hoài Anh, Trường Đại học Ngoại thương

với đề tài: “Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam, Thực trạng và giải

pháp”; “Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” – Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của Nguyễn Thị Diệu

Linh năm 2005; “Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân” – Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của Nguyễn Thành Luân năm 2011; Sách “Cải cách

thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn” của Ngân hàng

thế giới năm 2011; Sách “Kê khai, nộp và quyết toán thuế - Các vướng mắc thường

gặp” của Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý năm 2008…Nhìn chung, có thể nhận

thấy những công trình từ trước đến nay chỉ nghiên cứu về hoạt động quản lý thuế nói chung, hoặc chủ yếu là hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế Giá trị gia tăng, thuế Thu nhập cá nhân, mà hầu như chưa có nghiên cứu cụ thể nào về quy định của pháp luật đối với kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt, cũng như thực trạng áp dụng những quy định này trên thực tế Vì thế, đây là một hướng nghiên cứu không quá

Trang 8

mới nhưng lại đi sâu, phân tích cụ thể hơn nữa về hoạt động áp dụng pháp luật của một sắc thuế đặc biệt

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt một cách toàn diện, có hệ thống sẽ củng cố nhận thức đầy đủ, khách quan hơn về hoạt động quản lý sắc thuế này được quy định tại Luật Quản lý Thuế và các văn bản liên quan Thông qua thực trạng áp dụng các quy định pháp luật,

sẽ tìm ra nguyên nhân, hạn chế, thiếu sót cần khắc phục, bổ sung để đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật quản lý thuế nói chung và thuế Tiêu thụ đặc biệt nói riêng Trên

cơ sở đó, tạo hiệu quả đảm bảo được tính hiệu lực, khả thi và thống nhất giữa các văn bản có liên quan về quản lý thuế Tiêu thụ đặc biệt; góp phần tăng cường tính công bằng và minh bạch trong việc thực thi, quản lý, giám sát chế độ quản lý thuế Tiêu thụ đặc biệt; tạo môi trường thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước

7 Cơ cấu của khóa luận

Khóa luận gồm lời mở đầu, 2 chương và phần kết luận

- Phần mở đầu giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài, mục đích, phạm vi, phương pháp, ý nghĩa và tình hình nghiên cứu đề tài

- Phần nội dung bao gồm 2 chương:

 Chương 1: Lý luận chung và quy định pháp luật về kê khai, nộp, quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt

 Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về kê khai, nộp, quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt và hướng hoàn thiện

- Phần kết luận: Tổng kết lại những nội dung chính của khóa luận

Trang 9

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KÊ KHAI,

NỘP, QUYẾT TOÁN THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

1.1 Một số vấn đề lý luận về chế độ kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt

1.1.1 Khái niệm kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt

Đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế được xem là các nội dung của hoạt

động quản lý thuế Theo “Giáo trình Luật Thuế” trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh năm 2012: “Quản lý thuế là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các

hoạt động nhằm thu đúng, thu đủ số tiền thuế mà những tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp vào Ngân sách Nhà nước (NSNN) nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”1 Như vậy, chế độ đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB là các nội dung của hoạt động quản lý thuế nhằm mục đích thu đúng và đủ

số thuế TTĐB tạo cơ sở tài chính vững chắc cho quốc gia; còn các quy định của pháp luật về trình tự đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB là những nội dung bắt buộc phải có của một sắc thuế vì giúp xác định cụ thể trình tự, thủ tục cho các chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế Cùng là nội dung của hoạt động quản lý thuế nhưng các khâu này lại là những trình tự, thủ tục với những đặc điểm khác nhau Ở phạm vi khóa luận

sẽ tiến hành tìm hiểu cụ thể về ba quy trình gồm kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB

 Kê khai thuế:

“Giáo trình Luật Thuế” trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh năm 2012 có định nghĩa: “kê khai thuế TTĐB là việc người nộp thuế (NNT) phải kê khai đầy đủ các

thông tin vào tờ khai thuế theo mẫu do cơ quan có thẩm quyền quy định để làm cơ sở cho việc xác định số thuế mà NNT có nghĩa vụ phải nộp trong kỳ tính thuế hoặc trong từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế”, đây là khâu thứ hai của quá trình quản lý hành thu

thuế TTĐB, sau thủ tục đăng ký thuế Bản kê khai được lập theo mẫu do Bộ Tài chính

quy định và NNT phải kê khai đầy đủ các thông tin quy định trong tờ khai này Kỳ tính

thuế trong khái niệm này là khoảng thời gian để xác định số tiền thuế phải nộp vào

NSNN theo quy định của pháp luật về thuế Kỳ tính thuế này có thể là tháng, quý hoặc năm Mỗi loại thuế khác nhau có kỳ tính thuế có thể khác nhau Cũng trong khái niệm

trên, kê khai thuế theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế là việc NNT sẽ không thực

hiện kê khai thuế theo kỳ tính thuế mà kê khai tại thời điểm thực hiện hành vi làm phát sinh nghĩa vụ thuế

Cần phân biệt kê khai thuế và khai quyết toán thuế Vì khai quyết toán thuế là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc thời gian tính từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Khai

1

Trường Đại học Luật TP HCM (2012), “Giáo trình Luật Thuế”, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.406

Trang 10

quyết toán thuế chỉ được tiến hành khi NNT chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc khi kết thúc năm tài chính Còn khai thuế là hành vi có thể tiến hành hàng tháng hoặc từng lần thực hiện hành vi theo quy định từng loại thuế2

 Nộp thuế:

Cũng theo “Giáo trình Luật Thuế” trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh,

“nộp thuế TTĐB là việc mà NNT có hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB phải nộp vào NSNN một khoản tiền nhất định” Đây là khâu thứ ba trong chuỗi các trình tự quản lý thu nộp thuế TTĐB Việc

nộp thuế xuất phát từ hoạt động của NNT, làm phát sinh nghĩa vụ thuế của họ với nhà nước Số tiền thuế mà họ nộp được xác định dựa vào số thuế đã kê khai trước đó hoặc

do cơ quan thuế ấn định Khác với phương pháp thu khấu trừ tại nguồn của thuế Thu nhập cá nhân, phương pháp thu thuế TTĐB là thu trực tiếp Theo đó NNT sẽ tự kê khai thuế theo mẫu quy định và gửi cho cơ quan quản lý thuế Sau đó cơ quan thuế có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác định số thuế phải nộp dựa trên số liệu kê khai đã có Phương pháp thu thuế này chỉ có hiệu quả cao nếu NNT hiểu rõ nghĩa vụ về thuế của mình và yêu cầu phải thực hiện kê khai đúng, đầy đủ và có trách nhiệm

 Quyết toán thuế:

Hoạt động kê khai và nộp thuế TTĐB diễn ra hàng tháng hoặc theo từng lần nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB, do đó có thể dẫn đến một số trường hợp số thuế mà NNT đã nộp không phản ánh đúng nghĩa vụ thuế của họ Ví dụ như doanh nghiệp A ký kết hợp đồng bán hàng cho doanh nghiệp B, và theo hợp đồng thì A

sẽ tiến hành nộp thuế TTĐB với toàn bộ lô hàng Nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng thì B không thực hiện trọn vẹn hợp đồng như mua ít hơn số hàng đã ký kết trong hợp đồng từ trước, dẫn đến tiền thuế TTĐB đã nộp nhiều hơn số thuế thực tế mà A có nghĩa vụ phải nộp Vì thế, khi kết thúc năm tài chính, khi tiến hành quyết toán thuế với

cơ quan thuế, bên A sẽ kê khai toàn bộ thông tin số thuế đã nộp, số thuế phải nộp, số thuế nộp thừa hay thiếu tính cho đến thời điểm quyết toán và gửi đến cơ quan thuế Sau quá trình xem xét, nếu thấy doanh nghiệp chưa nộp đủ thuế thì cơ quan thuế truy thu số thuế còn thiếu; nếu doanh nghiệp nộp dư sẽ được hoàn thuế hoặc được khấu trừ vào số thuế phải nộp ở kỳ tiếp theo Như vậy, quyết toán thuế TTĐB là khâu cuối cùng của

quy trình quản lý thuế TTĐB được “Giáo trình Luật Thuế” đưa ra khái niệm: “là việc

khi kết thúc năm tài chính, NNT phải kê khai toàn bộ các thông tin về số thuế đã nộp,

số thuế phải nộp, số thuế thừa hay thiếu tính cho đến thời điểm quyết toán theo mẫu và gửi đến cơ quan thuế” Sau khi xem xét, kiểm tra, nếu thấy NNT chưa nộp đủ thì cơ

quan thuế yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ nộp số thuế còn thiếu; trường hợp nộp dư thì số thuế dư sẽ được trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo hoặc có thể được hoàn thuế

1.1.2 Đặc trưng của kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt

2 Trường Đại học Luật TP HCM (2012), tlđd (2), tr.418

Trang 11

1.1.2.1 Đặc trưng về chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế Tiêu thụ

đặc biệt

Thuế TTĐB là thuế gián thu, người tiêu dùng là người phải trả tiền thuế nhưng lại không phải là người có nghĩa vụ nộp thuế Với đặc trưng là thuế thu một lần trong quá trình lưu thông của hàng hóa, dịch vụ, thuế TTĐB thường thu tại lần đầu tiên khi đối tượng chịu thuế xuất hiện tại thị trường Việt Nam Thông thường đó là thu vào khâu sản xuất, nhập khẩu với các loại hàng hóa và kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB Vì lẽ này, chủ thể thực hiện những hành vi đó là chủ thể có nghĩa vụ

kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB phát sinh do hành vi họ đã tiến hành Như vậy, đối tượng có nghĩa vụ phải thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất, là tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật; thứ hai là có hành vi làm phát sinh nghĩa vụ thuế

Với điều kiện thứ nhất, tổ chức, cá nhân có thể là các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư; cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập,… 3

Nhưng các tổ chức, cá nhân nêu trên sẽ có nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB nếu thực hiện một trong các hành vi sau để đáp ứng

điều kiện thứ hai: hành vi nhập khẩu các hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB; hành

vi sản xuất các hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB; hành vi kinh doanh các dịch vụ

thuộc diện chịu thuế TTĐB Nếu điều kiện thứ nhất là điều kiện cần thì điều kiện thứ hai này là điều kiện đủ để một tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB; vì chỉ khi thực hiện những hành vi nêu trên, các chủ thể một phần tác động và làm thay đổi tổng giá trị lượng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB lưu thông trong thị trường nội địa, từ đó mới phát sinh số tiền thuế TTĐB phải nộp Các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB được quy định tại Điều 2 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt năm 2008, có thể kể đến như: các hàng hóa rượu, bia, xăng các loại, bài lá, thuốc

lá điếu, xì gà…; các dịch vụ kinh doanh vũ trường, kinh doanh xổ số, kinh doanh đặt cược, kinh doanh golf…Như vậy, có thể suy ra chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB ví dụ là những cá nhân, tổ chức sản xuất rượu, bia, thuốc lá được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam; các cá nhân, tổ chức nhập khẩu các hàng hóa rượu, bia, bài lá,… vào thị trường nội địa Việt Nam và những cá nhân, tổ chức kinh doanh các dịch

vụ vũ trường, xổ số, sân golf,… Trên thực tế, những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB (xa xỉ, không cần thiết, có tác hại nhất định với môi trường và người sử dụng) thường ít hơn nhiều so với số lượng hàng hóa, dịch vụ thông thường để đáp ứng nhu

cầu sinh hoạt thường ngày của người dân nên chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp và quyết

toán thuế TTĐB theo đó là rất hẹp, hẹp hơn nhiều so với nhóm chủ thể có nghĩa vụ kê

khai, nộp và quyết toán thuế nhập khẩu hay thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

3 Xem Điều 4 Thông tư 05/2012/TT-BTC

Trang 12

Với hoạt động kê khai thuế TTĐB, chủ thể còn có nghĩa vụ kê khai khi “chấm

dứt hoạt động, chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc tổ chức lại doanh nghiệp”4 vì lúc này, nghĩa vụ thuế TTĐB sẽ chấm dứt hoặc chuyển đổi qua cho chủ thể khác, nên hoạt động kê khai là bắt buộc để cơ quan thuế có thể quản lý Trường hợp tổ chức, cá nhân

có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB của cơ

sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu sẽ là chủ thể kê khai và nộp thuế TTĐB Quy định này đã giảm thiểu được tình trạng trốn thuế thông qua việc lợi dụng quy định hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB khi xuất khẩu sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế Đồng thời, quy định này xác định rõ chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế TTĐB trong trường hợp trên là người hoạt động kinh doanh xuất khẩu để dễ dàng trong hoạt động quản lý thuế và tránh tình trạng tranh chấp trong việc thực hiện trách nhiệm nộp thuế trong trường hợp hàng hóa chịu thuế TTĐB không xuất khẩu được buộc phải tiêu thụ tại thị trường Việt Nam5

Như đã phân tích, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi nhập khẩu các hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB sẽ là đối tượng có nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB Rõ ràng, không phải mọi trường hợp nhập khẩu hàng hóa bất kỳ vào thị trường nội địa sẽ chịu thuế TTĐB mà bắt buộc hàng hóa đó phải thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB Đây chính là điểm giúp phân biệt giữa các đối tượng thực hiện thủ tục thuế TTĐB với thuế nhập khẩu Theo quy định pháp luật, chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp,

quyết toán thuế nhập khẩu là những “tổ chức, cá nhân có hành nhập khẩu hàng hóa

qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam”6 Ở đây, những hàng hóa được nhập khẩu là hàng hóa tự do nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu có điều kiện (theo quota, theo sự chỉ định của Chính phủ, cần có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) được vận chuyển một cách hợp pháp qua biên giới Ở góc độ này dễ nhận thấy các tổ chức, cá nhân đều có hành vi nhập khẩu hàng hóa nhưng sẽ có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế khác nhau: nhập khẩu hàng hóa được phép sẽ thực hiện thủ tục thuế nhập khẩu, nhưng nếu

là những hàng hóa xa xỉ không cần thiết cho nhu cầu hoặc có tác hại đến con người như: rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô,… thì chủ thể nhập khẩu sẽ thực hiện kê khai, nộp thêm thuế TTĐB Hơn nữa, chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế nhập khẩu chỉ là những chủ thể khi có hành vi nhập khẩu hàng hóa; trong khi đó chủ thể có nghĩa vụ về thủ tục thuế TTĐB còn là những đối tượng sản xuất hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế trong thị trường nội địa

So sánh tương tự, với thuế GTGT thì chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp và quyết toán thuế của sắc thuế này là tổ chức, cá nhân thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất, phải là

tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sản xuất hàng hóa, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thứ hai, những hành vi trên phải tác động đến đối tượng chịu thuế GTGT được quy định tại Điều 3 Luật Thuế Giá trị gia tăng 2008

Trang 13

Vậy, khác với chủ thể có nghĩa vụ của thuế TTĐB chỉ gói gọn ở những cá nhân, tổ

chức có hành vi sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ chịu thuế TTĐB,

thì với thuế GTGT, chủ thể có nghĩa vụ làm các thủ tục này bao gồm cả những cá

nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, nhập khẩu dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT

nữa, điểm này xuất phát từ sự khác nhau của những đối tượng chịu thuế và bản chất hành vi bị đánh thuế của hai sắc thuế

Tóm lại, đặc trưng đầu tiên về chủ thể có nghĩa vụ thực hiện các hoạt động kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB là những cá nhân, tổ chức có hành vi làm phát sinh

nghĩa vụ thuế được quy định bởi Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt, bao gồm sản xuất, nhập

khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế, đây là điểm giúp phân

biệt với chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp và quyết toán của các loại thuế khác

1.1.2.2 Đặc trưng về thời điểm phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế

Tiêu thụ đặc biệt

Theo khái niệm trong “Giáo trình Luật Thuế”, “thuế TTĐB là loại thuế gián thu,

thu trực tiếp vào hành vi sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB và hành vi kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB”, ta dễ nhận thấy thời điểm

phát sinh nghĩa vụ kê khai về thuế TTĐB chính là thời điểm tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế trong thị trường Việt Nam và tiến hành nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế vào thị trường nội địa Kết hợp với khái niệm về kê khai thuế TTĐB đã phân tích ở trên, các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế TTĐB phải có nghĩa vụ tiến hành kê khai thuế theo tháng đối với hoạt động sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ nội địa thuộc diện chịu thuế TTĐB và kê khai thuế theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế áp dụng với hành vi nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB và trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB mua hàng hóa để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà đem tiêu thụ trong nước

Đối với kê khai theo tháng, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ sẽ căn cứ vào hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB mà mình thực hiện trong tháng đó Đối với kê khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ, các chủ thể có nghĩa vụ sẽ tiến hành trong từng lần nhập khẩu tại cơ quan hải quan; trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB mua hàng hóa để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà đem tiêu thụ trong nước và khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp Rõ ràng, hoạt động kê khai thuế TTĐB là quy trình thứ hai trong toàn bộ chuỗi quy trình về quản lý thủ tục thuế, sau khi tổ chức, cá nhân đăng ký thuế TTĐB tại cơ quan quản lý thuế; diễn ra giữa NNT và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thuế, cụ thể là cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan hải quan do đó có vai trò kết nối giữa các giai đoạn còn lại, đảm bảo cho việc thu thuế có hiệu quả

Trang 14

Do đặc trưng riêng của từng sắc thuế, thời điểm phát sinh nghĩa vụ kê khai thuế của những sắc thuế cũng khác nhau Với thuế nhập khẩu, nghĩa vụ kê khai thuế sẽ chỉ xác lập qua mỗi lần có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới, cửa khẩu Việt Nam

và được thực hiện tại cơ quan hải quan nơi nhập hàng hóa với nội dung kê khai được thể hiện đầy đủ chi tiết thông qua tờ khai hải quan Trong khi đó, thuế GTGT là loại thuế thu vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng nên nghĩa vụ kê khai thuế phát sinh trong nhiều trường hợp Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải kê khai thuế theo tháng, đặc biệt mặc dù không phát sinh doanh số bán hàng hóa, dịch vụ, thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở đó vẫn phải kê khai Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế phải kê khai theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải kê khai theo từng chuyến hàng

Tiếp nối sau hoạt động kê khai thuế TTĐB, cơ quan quản lý thuế sẽ tiến hành thu thuế và người có nghĩa vụ sẽ nộp thuế TTĐB vào NSNN theo số liệu đã kê khai từ trước hoặc được cơ quan thuế ấn định Nếu người nộp tự tính thuế thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế dựa vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế; nếu được cơ quan thuế tính thuế, ấn định thuế thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế; đối với hàng hóa nhập khẩu thì thời điểm phát sinh là ngày đăng ký tờ khai hải quan hoặc dựa vào thời hạn bảo lãnh, thông quan, giải phóng

hàng hóa Là khâu thứ ba trong quy trình từ đăng ký đến quyết toán thuế nên việc nộp

thuế là bước đệm để thực hiện thành công hoạt động quyết toán thuế, đảm bảo cho việc thu NSNN tránh được thất thoát Giai đoạn này vẫn diễn ra giữa NNT và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có thể được thực hiện tại Kho bạc Nhà nước, Cơ quan quản lý thuế hoặc thông qua tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu thuế với phương pháp thu nộp thuế trực tiếp Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế và phương pháp tính thuế TTĐB tương đối giống với những quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp và phương pháp tính thuế nhập khẩu vì bản chất của thuế nhập khẩu và một phần của thuế TTĐB có thu vào hành vi nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế vào thị trường Việt Nam Riêng với thuế GTGT, với mỗi phương pháp tính thuế khác nhau sẽ dẫn đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ khác nhau Với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế các chủ thể nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế GTGT vào ngân sách theo tháng, nếu cơ sở có số thuế GTGT phát sinh phải nộp lớn (bình quân tháng từ

200 triệu đồng trở lên) thì nộp thuế theo định kỳ 05, 10 ngày một lần trong tháng; với

cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế GTGT lúc này dựa vào thông báo của cơ quan thuế7 Ở đây, phương pháp khấu trừ thuế GTGT có nghĩa là số thuế GTGT phải nộp sẽ là kết quả của thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

Cuối cùng là chế độ quyết toán thuế TTĐB Hoạt động kê khai và nộp thuế TTĐB diễn ra hàng tháng hoặc theo từng lần nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB, do đó có thể dẫn đến một số trường hợp số thuế mà NNT đã nộp không phản

7

Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (4), tr.225

Trang 15

ánh đúng nghĩa vụ thuế của họ Vì thế, khi kết thúc năm tài chính, khi tiến hành quyết toán thuế với cơ quan thuế, các chủ thể có nghĩa vụ về thuế TTĐB sẽ kê khai toàn bộ thông tin số thuế đã nộp, số thuế phải nộp, số thuế nộp thừa hay thiếu tính cho đến thời điểm quyết toán và gửi đến cơ quan thuế Sau quá trình xem xét, nếu thấy doanh nghiệp chưa nộp đủ thuế thì cơ quan thuế truy thu số thuế còn thiếu; nếu doanh nghiệp nộp dư sẽ được hoàn thuế hoặc được khấu trừ vào số thuế phải nộp ở kỳ tiếp theo Tuy nhiên, không phải lúc nào khi hết năm tài chính mới phát sinh nghĩa vụ quyết toán thuế của các chủ thể vì có một số trường hợp cơ sở “sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, thay đổi ngành nghề kinh doanh, chuyển đổi hình thức sở hữu, giao, bán, khoán, cho thuế doanh nghiệp nhà nước” 8 thì lúc thực hiện những hành vi đó sẽ phát sinh nghĩa vụ quyết toán thuế TTĐB Như vậy, với chế độ quyết toán thuế, thời điểm phát sinh nghĩa vụ của các chủ thể đối với thuế TTĐB, thuế GTGT và thuế nhập khẩu cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt Trong khi quyết toán thuế GTGT cũng tương đồng với thuế TTĐB khi thời điểm phát sinh nghĩa vụ quyết toán lúc kết thúc năm tài chính thì quyết toán thuế nhập khẩu được thực hiện sau mỗi lần có hành vi nhập khẩu hàng hóa, vì mục đích của hoạt động quyết toán thuế nhập khẩu là xác định lại chính xác số thuế nhập khẩu mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi kết thúc hành vi nhập khẩu hàng hóa; ngoài ra còn nhằm xem xét lại số lượng hàng hóa thực tế nhập khẩu của NNT và cách thức áp giá tính thuế đối với hàng hóa đã nhập

Tương tự với đặc trưng về chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp và quyết toán thuế thì thời điểm phát sinh các nghĩa vụ này cũng là một đặc trưng quan trọng và là nội dung không thể thiếu của một đạo luật thuế Suy cho cùng, những quy định này của hệ thống thuế thực chất là những quy định nhằm xác định ai là NNT và mức thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước là bao nhiêu, thời điểm họ hoàn thành mức thuế phải nộp đó vào NSNN là khi nào

1.1.3 Yêu cầu điều chỉnh bằng pháp luật với hoạt động kê khai, nộp và quyết toán

thuế Tiêu thụ đặc biệt

Yêu cầu điều chỉnh bằng pháp luật của hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB xuất phát từ tầm quan trọng của các thủ tục này đối với việc đảm bảo thi hành pháp luật về thuế TTĐB: thông qua các quy trình kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB, Nhà nước quản lý được số lượng và các cá nhân, tổ chức cụ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp, quyết toán thuế, từ đó phục vụ hỗ trợ tốt cho việc thu thuế TTĐB, quản lý sai phạm và thanh tra, kiểm tra cũng như xử lý vi phạm được diễn ra nhanh chóng và chính xác

8

Xem Khoản 3 Điều 7 Thông tư 05/2012/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 và Nghị định số 113 /2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt 2008

Trang 16

Với vai trò quan trọng như vậy, vấn đề quản lý thuế TTĐB không thể bị xem nhẹ và lơ là nên phải đặt ra vấn đề về quản lý thuế cũng như cần có quy định pháp luật

để điều chỉnh những quan hệ đó Trong đó kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB là những vấn đề đóng vai trò nòng cốt, là những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trước đây, các hoạt động này thường được thực hiện bằng các quyết định hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước và bất chấp thái độ của NNT Hiện nay, quy trình này về cơ bản đã được thay đổi, theo hướng dành quyền chủ động tối đa cho NNT trong việc tự đăng ký thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho nhà nước, trên cơ sở chịu sự kiểm tra, giám sát trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan quản lý thuế - với tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong hoạt động hành thu thuế Một trong những ý nghĩa của chế độ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB là khi được áp dụng trên thực tế có thể đánh giá được hiệu quả của sắc thuế này, từ đó cơ quan chức năng có thể điều chỉnh phương pháp quản lý phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước Ý nghĩa đó với mỗi chủ thể khác nhau cũng có những vai trò riêng biệt nhất định

1.1.3.1 Vai trò của quy định kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt với

chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế

Đối với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, những quy định về kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB có vai trò cần thiết và không thể thiếu của hệ thống pháp luật quản lý thuế ở mỗi quốc gia Sở dĩ như vậy là vì các quy định này giúp NNT nhận biết các trình tự, thủ tục bắt buộc phải tiến hành để thực hiện nghĩa vụ thuế TTĐB của họ với nhà nước; nếu không có những quy định đó, NNT sẽ không biết được nghĩa vụ của mình khi thực hiện những hành vi làm phát sinh thuế TTĐB, không biết được thủ tục

để kê khai những thông tin về hành vi làm phát sinh nghĩa vụ thuế TTĐB do họ thực hiện hay những trình tự, địa điểm, cách thức để nộp nguồn thuế vào NSNN; trình tự để nhận được số tiền thuế nộp thừa,… Từ đó, khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, NNT sẽ dễ rơi vào những trường hợp bị xử lý vi phạm, và tổn thất xảy ra cho họ là điều không thể tránh khỏi Chính những quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB

đã tạo ra khung pháp lý vững chắc cho việc thực hiện nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân với Nhà nước, đảm bảo hoạt động này diễn ra đúng hướng, giúp người dân nhận biết những hành vi làm phát sinh nghĩa vụ thuế TTĐB của họ, nhận biết được những hoạt động cần thiết để hoàn thành nghĩa vụ đó như đi đăng ký thông tin, kê khai thông tin, nộp thuế hay thực hiện việc quyết toán thuế vào cuối năm tài chính,… Hơn thế, khi tiếp cận những quy định này của pháp luật, NNT sẽ biết hành vi nào được làm, nên làm

và những hành vi nào là vi phạm pháp luật thuế, từ đó thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu cho phù hợp với pháp luật, tránh bị xử phạt hoặc bị khởi kiện Không chỉ giúp ích cho nhận thức, xét về mặt pháp lý, mỗi công dân khi tuân thủ đúng nghĩa vụ về chế độ quản lý hành thu thuế TTĐB sẽ cùng với Nhà nước xây dựng mục tiêu chung là một đất nước dân chủ theo định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì mỗi công dân khi tuân thủ đúng pháp luật về thuế sẽ tham gia vào việc tuyên truyền, động viên các công dân khác tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà nước, theo đó ý thức tuân thủ pháp luật của người dân càng được nâng cao Đồng thời, khi

Trang 17

thực hiện tốt chế độ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB, bản thân mỗi công dân đã cung cấp một phần nguồn lực tài chính đảm bảo cho nhà nước được vận hành và thực hiện các chức năng xã hội, kinh tế, an ninh quốc phòng,…và tiến hành các nhiệm vụ chi cho các chương trình phúc lợi xã hội, góp phần đảm bảo thực hiện công bằng xã hội

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Quản lý Thuế 2006: “Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân”, do đó bên cạnh việc thực hiện nghĩa vụ, bản thân NNT cũng có quyền được đảm bảo cho hoạt động nộp thuế của

họ được diễn ra thuận lợi Đặc biệt, hiện nay pháp luật quản lý thuế quy định cơ chế

“tự kê khai, tự nộp thuế” là một bước đề cao quyền tự kê khai, tự chịu trách nhiệm của bản thân NNT với nhà nước, là bước tiến mới trong việc khẳng định nộp thuế không chỉ là bắt buộc mà còn là sự đóng góp tự nguyện, tự tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trên, bản thân NNT chính là nguồn đóng góp ý kiến vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quy định về kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB, bởi những chủ thể này khi thực hiện các chế độ trên

sẽ thấy được những điểm mới, tiến bộ và thuận lợi cũng như những bất cập còn tồn tại trong việc thực hiện những quy định pháp luật trên thực tế, và sẽ đóng góp kiến nghị cho cơ quan có thẩm quyền xem xét để phát huy hoặc sửa đổi, do Luật Quản lý thuế có ghi nhận tại khoản 9 và 10 Điều 6 rằng NNT có “quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan tới lợi ích hợp pháp của NNT; quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ quản lý thuế ”

Tuy nhiên, pháp luật hiện nay quy định về quyền và nghĩa vụ thuế TTĐB của NNT còn nhiều tồn tại cần sửa đổi như: việc quy định quyền của NNT trong hoạt động

kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB còn ít, các quy định về thủ tục còn rườm rà chưa đảm bảo việc bảo vệ vững chắc quyền lợi của họ với cơ quan công quyền; bên cạnh đó, nếu có ghi nhận cũng chỉ ghi nhận một phần quyền của NNT với những quy định nửa vời nằm rải rác trong các văn bản luật và văn bản hướng dẫn thi hành, gây khó khăn cho việc tiếp cận của các đối tượng nộp thuế Xuất phát từ thực tế trên, thiết nghĩ khi xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ này, nhà làm luật nên mở rộng hơn nữa các quyền lợi của NNT trong giới hạn kiểm soát được của pháp luật và cơ quan quản lý thuế; nâng cao nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ, cơ quan thuế đối với NNT thông qua hoạt động bổ trợ kiến thức thuế, giúp đỡ NNT tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong thực hiện thủ tục thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính về thuế để tạo thuận lợi cho NNT tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ nộp thuế của mình, cũng là một phần xây dựng Ngân sách Nhà nước và đảm bảo hoạt động ổn định của hệ thống pháp luật về quản lý thuế của nước ta

1.1.3.2 Vai trò của chế độ kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt với

cơ quan quản lý thuế

Bên cạnh vai trò của chế độ quản lý thu thuế TTĐB với bản thân NNT thì chế

độ này còn có những ý nghĩa quan trọng nhất định với cơ quan quản lý thuế Nếu việc

Trang 18

quản lý thuế TTĐB không gắn với các quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế sẽ dẫn đến cơ quan quản lý thuế không nhận biết rõ trách nhiệm, vai trò của mình, cũng như không thực hiện được chức năng quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động hành thu thuế TTĐB của mình; ở một khía cạnh khác, cán bộ, nhân viên công quyền không xác định được nhiệm vụ của họ, từ đó gây khó khăn cho NNT trong hoạt động nộp và quyết toán thuế Nhưng chính vì pháp luật quy định cụ thể chế độ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn nên đối với cơ quan thuế đã giúp vạch rõ nhiệm vụ, trách nhiệm cũng như các quyền trong hoạt động quản lý thuế, giúp đỡ NNT giải quyết các thủ tục kê khai, nộp và quyết toán thuế một cách nhanh chóng, trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử phạt vi phạm cũng được luật định một cách rõ ràng là căn cứ để cơ quan thuế và cán bộ thuế thực hiện việc đánh giá hoạt động chấp hành pháp luật, xác minh, thu thập chứng cứ và có những quyết định xử lý phù hợp, có cơ sở pháp lý làm NNT tin tưởng và chấp hành nghiêm minh, cụ thể ở mỗi hoạt động lại đem đến những vai trò như: Hoạt động kê khai thuế TTĐB với việc tự lập tờ khai thuế, xét từ phương diện pháp luật nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng quyền năng cho NNT, đồng thời thông qua đó cũng đề cao ý thức trách nhiệm của họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; xác nhận một khoản nợ phải trả của NNT đối với Nhà nước, là căn cứ để thực hiện cưỡng chế thu khoản thuế TTĐB không nộp hoặc nộp thiếu trong thời hạn quy định và là cơ

sở pháp lý vững chắc khi thực hiện chế độ thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm nếu NNT cố tình khai thiếu, khai gian Hoạt động nộp thuế TTĐB vào NSNN của NNT sẽ

là một khoản kinh phí to lớn để bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy quản lý thuế được vận hành tốt, trôi chảy và có hiệu quả cao Engels đã chỉ rõ “để duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng góp của những người dân cho xã hội, đó là thuế má”9 Hơn nữa, chính việc nộp thuế TTĐB, mỗi bản thân NNT đã giúp điều tiết và định hướng sản xuất, thị trường, tiêu dùng và bảo vệ được sản xuất trong thị trường nội địa trước những tác động bên ngoài của quá trình toàn cầu hóa Hoạt động quyết toán thuế TTĐB là bước cuối cùng trong quy trình gồm bốn khâu quản lý hành thu thuế, có ý nghĩa trong việc xác định số thuế thực tế mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước dựa trên cơ sở tính thuế được kê khai hoặc được cơ quan thuế ấn định, từ đó truy thu số thuế còn thiếu hoặc hoàn lại số tiền thuế thừa cho NNT

Qua tìm hiểu các khái niệm ở mục trên, có thể nhận thấy mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại và logic với nhau của chế độ kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB, với quy trình trước là nguyên nhân của quy trình sau, quy trình sau chính là kết quả của việc thực hiện quy trình trước và luôn có sự gắn bó khăng khít Ở đó, đăng ký thuế là việc làm đầu tiên và mở màn cho quá trình quản lý thuế TTĐB và giúp cơ quan thuế nắm bắt chính xác đối tượng nộp thuế, phục vụ cho các khâu tiếp theo của hoạt động quản lý thuế TTĐB Kê khai thuế là quy trình thứ hai, được thực hiện khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ đăng ký thuế, chỉ những chủ thể đã đăng ký mới tiến hành kê khai thuế, nói cách khác kê khai thuế là kết quả của quy trình đăng ký thuế, còn đăng ký thuế là nguyên nhân dẫn đến quy trình kê khai thuế được tiến hành Cũng giống như

9 K.Marx, F.Engels (1992), “Tuyển tập II”, Nhà xuất bản Sự thật-Hà Nội

Trang 19

vậy, quy trình nộp thuế TTĐB cũng là kết quả có được từ hoạt động kê khai số thuế phải nộp của NNT, và bản thân nó là nguyên nhân dẫn đến khâu quyết toán thuế, kiểm tra lại hoạt động nộp thuế của mình Tóm lại, từ đăng ký đến quyết toán thuế TTĐB là một chuỗi logic, gắn bó mật thiết, có hoạt động trước mới dẫn đến hoạt động sau và mỗi quy trình đều có ý nghĩa nhất định đối với cơ quan thuế, nên không thể coi trọng hay xem nhẹ bất cứ quy trình nào và việc thực hiện đồng bộ tất cả các khâu trên sẽ có vai trò vô cùng quan trọng Vì khi thực hiện tốt chế độ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB sẽ tạo được hiệu quả trong việc hạn chế những trường hợp vi phạm pháp luật về thuế và phải xử lý sau này, giảm được khối lượng công việc quá lớn của cơ quan thuế Các khâu đều có mối quan hệ tác động lẫn nhau nên ở từng khâu nếu thực hiện trôi chảy, hiệu quả sẽ dẫn đến một kết quả hoàn hảo và một chuỗi quy trình không sai phạm; hơn nữa còn giúp xác định độ chính xác và trung thực của các tờ khai, dẫn đến việc thu thuế và quyết toán cuối năm không xảy ra nhiều thất thoát Muốn được kết quả như vậy, cơ quan thuế cần tiến hành kiểm soát tính đúng đắn, chính xác của việc đăng

ký thuế, tờ khai thuế và tờ khai hải quan, thường xuyên kiểm tra hoạt động thu thuế, đôn đốc nộp thuế và kiểm tra, thanh tra sổ sách thường xuyên, xử lý vi phạm nghiêm minh và kịp thời để giảm hiện tượng trốn thuế, tránh thuế, đồng thời đem lại ý nghĩa trong việc xác định tư cách của NNT, khẳng định vai trò của cơ quan, cán bộ thuế trong công tác quản lý thuế Nên việc đầu tư điều chỉnh bằng pháp luật mọi hoạt động trong chế độ kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB là việc cần thiết ở mọi hệ thống pháp luật thuế, nhất là khi Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế-xã hội, đang trên con đường mở cửa thị trường và toàn cầu hóa Nhưng pháp luật quản lý thuế hiện nay vẫn còn nhiều quy định chung chung, như chưa quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong quan hệ tương tác với NNT, làm NNT vẫn có thái độ e

dè trước cơ quan thuế với uy quyền của nhà nước, thủ tục hành chính ở cơ quan thuế còn phức tạp với nhiều loại tờ khai, biểu mẫu, và nhiều bước, nhiều “cửa”, điều đó đã cản trở quyền lợi của NNT và gây khó khăn cho cán bộ quản lý thuế; đặc biệt trong các quy định về xử phạt vi phạm, pháp luật vẫn chưa dự liệu đầy đủ các trường hợp xảy ra, nên cơ quan thuế sẽ không biết phải quyết định ra sao; hoặc với các quy định về các hình thức xử phạt được quy định trong Luật Quản lý thuế nhưng chưa có văn bản hướng dẫn vì thế cơ quan thuế còn có trường hợp xử lý một cách tùy nghi không thống nhất nên gây bức xúc cho NNT Do đó, nhiệm vụ hiện nay của hệ thống pháp luật quản

lý thuế TTĐB là ghi nhận cụ thể nghĩa vụ của cơ quan quản lý thuế trong từng khâu, từng quy trình một cách rõ ràng, xóa bỏ bớt một số thủ tục và một số loại tờ khai không cần thiết, nên cho cơ quan thuế có quyền tùy nghi xử lý trong một số trường hợp luật chưa dự liệu, ban hành những văn bản hướng dẫn các quy định chưa được cụ thể trong văn bản luật…

Từ những kiến thức chung về khái niệm, đặc trưng và vai trò của quy trình kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB, dễ nhận ra rằng các quy định về hình thức, trình

tự, thủ tục hành thu thuế TTĐB là nội dung bắt buộc không thể thiếu của một đạo luật thuế nhằm tránh thất thu số tiền thuế của Nhà nước Để mục tiêu trên được đảm bảo thực hiện đúng và ổn định trên cơ sở bảo vệ vững chắc của khung pháp lý, pháp luật về quản lý thuế nên bổ sung và tăng cường thực hiện những quy định về nâng cao trách

Trang 20

nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong hoạt động hỗ trợ, quản lý kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi cơ chế “tự kê khai, tự nộp thuế”

dễ dẫn đến việc NNT lợi dụng để trốn thuế, tránh thuế; mở rộng quy định về quyền năng của NNT đi đôi với xử lý vi phạm pháp luật về thuế một cách công bằng và nghiêm minh; hệ thống pháp luật hành chính về thuế nên được giảm tải để NNT thực hiện các quy trình nộp thuế được nhanh chóng, thuận lợi hơn

1.2 Quy định pháp luật về kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt

1.2.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ

đặc biệt

Căn cứ vào quy định hiện hành của pháp luật quản lý thuế, chủ thể tham gia vào quan hệ kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB gồm: NNT và cơ quan thu thuế Như đã

trình bày ở mục trên, NNT là “tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh

doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB”, bao gồm:

 Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã;

 Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, đơn

vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác;

 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các

tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam;

 Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu

Về cơ quan thu thuế, theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành thì Tổng cục thuế là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước với các khoản thu nội địa và tổ chức thực hiện quản lý thuế Theo quyết định thành lập, Tổng cục thuế có nhiệm vụ tư vấn soạn thảo các văn bản pháp luật về thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật thuế, xây dựng và điều hành kế hoạch thu trong cả nước

và từng địa phương; tổ chức phổ biến, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ thực hiện các Luật thuế trong cả nước; nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước về thuế và

sử dụng cán bộ; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra quá trình chấp hành các Luật thuế

để việc thực hiện các Luật thuế đạt được kết quả cao; giải quyết các khiếu nại, tố cáo

về thuế …Tổng cục Thuế được tổ chức quản lý tập trung, thống nhất thành hệ thống ngành dọc từ trung ướng đến địa phương, theo đơn vị hành chính, có cơ cấu tổ chức như sau: ở trung ương có Tổng cục Thuế là bộ máy giúp việc Tổng cục trưởng gồm có các ban chuyên trách, văn phòng, văn phòng đại diện tại TP.Hồ Chí Minh, các đơn vị

sự nghiệp trực thuộc; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế với nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thi hành các

Trang 21

Luật thuế; xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch thu trong toàn địa bàn và từng Chi cục thuế trực thuộc, hướng dẫn kiểm tra các Chi cục thực hiện các nghiệp vụ quản lý, giải quyết các khiếu nại về thuế, trực tiếp thực hiện việc thu thuế đối với các đối tượng thuộc trách nhiệm quản lý trên địa bàn…; ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

có Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh có vai trò xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thu chi tiết đối với từng Luật thuế phát sinh trên địa bàn huyện, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ quản lý các đối tượng nộp thuế, đôn đốc, kiểm tra các đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành Luật thuế… Ngoài ra còn có sự giúp đỡ của Cơ quan hải quan trong quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu gồm Tổng cục hải quan, Cục hải quan trực thuộc Tổng cục hải quan, Chi cục hải quan trực thuộc Cục hải quan tỉnh với các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Chính phủ; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;… Ngoài ra, các cơ quan tài chính và cơ quan, tổ chức khác được Nhà nước phân công nhiệm vụ hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân được ủy nhiệm thu thuế hưởng kinh phí ủy nhiệm cũng có quyền thu thuế

1.2.2 Thời điểm thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp và quyết toán thuế Tiêu thụ đặc

biệt

Như đã trình bày, thời điểm phát sinh nghĩa vụ kê khai thuế TTĐB được chia thành hai trường hợp rất rõ là đối với chủ thể sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB và đối với chủ thể nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB, nên khi tiếp cận quy định pháp luật về thời điểm thực hiện nghĩa vụ này

cũng sẽ được nhìn nhận ở hai trường hợp vừa nêu Đầu tiên là với chủ thể sản xuất

hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB trong thị trường Việt Nam, khi thực hiện những hành vi này cũng là thời điểm họ phải thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế TTĐB, do đó đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế TTĐB phải có nghĩa vụ tiến hành kê khai thuế theo tháng, tức là tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ sẽ căn cứ vào hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB mà mình thực hiện trong tháng đó để kê khai thông tin Thời hạn nộp hồ sơ kê khai thuế TTĐB căn cứ Điều 32 Luật Quản lý thuế 2006 với hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh trong nước thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế; đối với hàng hóa mua để xuất khẩu nhưng được tiêu thụ trong nước, thì chậm nhất là ngày thứ

mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế Thứ hai là với chủ thể khi thực hiện hành vi

nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB là lúc họ phải thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế TTĐB, đây là trường hợp kê khai theo từng lần phát sinh Đối với kê khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ, các chủ thể có nghĩa vụ sẽ tiến hành trong từng lần nhập khẩu tại cơ quan hải quan với hồ sơ khai thuế được nộp trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu và tờ

Trang 22

khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký

Tiếp đến là thời điểm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TTĐB, có thể kể đến các trường hợp: nếu người nộp tự tính thuế thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế dựa vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế; nếu được cơ quan thuế tính thuế, ấn định thuế thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế; đối với hàng hóa nhập khẩu thì thời điểm phát sinh là ngày đăng ký tờ khai hải quan hoặc dựa vào thời hạn bảo lãnh, thông quan, giải phóng hàng hóa Sau khi phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TTĐB, căn cứ quy định tại Luật Quản lý thuế 2006, ta xác định được thời hạn phải nộp thuế TTĐB được phân thành ba loại tương ứng Thứ nhất, nếu NNT tự tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ

sơ khai thuế Thứ hai, khi được cơ quan tính thuế, ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế Thứ ba, đối với hàng nhập khẩu sẽ áp dụng tại Điều 42 Luật này để giải quyết như sau:

Hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thời

hạn nộp thuế tối đa là hai trăm bảy mươi lăm ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan nếu doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam;

- Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian ít nhất hai năm liên tục tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan mà không có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế; nợ tiền thuế quá hạn, tiền chậm nộp, tiền phạt;

- Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê;

- Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật

Trường hợp không đáp ứng các điều kiện nêu trên nhưng được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế theo thời hạn bảo lãnh, nhưng không quá hai trăm bảy mươi lăm ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan và không phải nộp tiền chậm nộp trong thời hạn bảo lãnh

Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất phải nộp thuế trước khi hoàn thành thủ

tục hải quan tạm nhập khẩu hàng hóa

Hàng hóa không thuộc 2 trường hợp trên thì phải nộp thuế trước khi thông quan

hoặc giải phóng hàng hóa

Cuối cùng, hoạt động kê khai và nộp thuế TTĐB diễn ra hàng tháng hoặc theo từng lần nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB, do đó có thể dẫn đến một số trường hợp số thuế mà NNT đã nộp không phản ánh đúng nghĩa vụ thuế của họ Vì thế, khi kết thúc năm tài chính, NNT sẽ tiến hành quyết toán thuế với cơ quan thuế, kê khai toàn bộ thông tin số thuế đã nộp, số thuế phải nộp, số thuế nộp thừa hay thiếu tính cho đến thời điểm quyết toán và gửi đến cơ quan thuế Tuy nhiên, có một số trường hợp cơ

sở “sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, thay đổi ngành nghề kinh doanh,

Trang 23

chuyển đổi hình thức sở hữu, giao, bán, khoán, cho thuế doanh nghiệp nhà nước” 10 thì lúc thực hiện những hành vi đó cũng đồng thời sẽ phát sinh nghĩa vụ kê khai và quyết toán thuế TTĐB

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật kê khai, nộp và

quyết toán thuế Tiêu thụ đặc biệt

1.2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế

Nghĩa vụ thuế TTĐB là nhóm nghĩa vụ mang tính hành chính, cưỡng chế; cơ sở phát sinh nghĩa vụ thuế TTĐB ở đây không có nguồn gốc từ sự thỏa thuận bình đẳng

mà do luật định Tuy vậy, điều này không đồng nghĩa là NNT hoàn toàn không là chủ thể mang quyền trong quan hệ về thuế Theo pháp luật về quản lý thuế nói chung và thuế TTĐB nói riêng, quyền của NNT được ghi nhận trong hai trường hợp: thứ nhất, với tư cách là một công dân, một tổ chức trong quan hệ NSNN; thứ hai, với tư cách là chủ thể thực hiện hàng loạt các hành vi qua nhiều giai đoạn từ đăng ký, kê khai, nộp đến quyết toán thuế TTĐB nhằm nộp thuế vào NSNN Hiện nay, với những quy định tại Điều 6 Luật Quản lý thuế 2006 có thể kể đến các quyền năng sau đây được dành cho NNT:

- Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan hải quan xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa nhập khẩu

- Hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật

- Ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế

- Nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế; yêu cầu giải thích nội dung kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế; bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế

- Được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật

- Yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình

- Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức,

Trang 24

- Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật

- Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế

- Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm

- Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật

- Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế

- Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật

- Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế

- Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật

- Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt NNT thực hiện thủ tục về thuế sai quy định

- Trường hợp NNT là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử

Trong các nghĩa vụ đó, có thể kể đến nghĩa vụ đăng ký, kê khai chính xác, trung thực và nộp thuế đầy đủ là rất quan trọng, đảm bảo cho chuỗi quy trình hành thu thuế TTĐB diễn ra suôn sẻ Trong hoạt động kê khai thuế TTĐB, có những quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể như sau:

Thứ nhất, hồ sơ khai thuế bao gồm tờ khai thuế và các tài liệu liên quan làm

căn cứ để NNT khai thuế, tính thuế với cơ quan thuế NNT phải sử dụng đúng mẫu tờ khai thuế và các mẫu phụ lục kèm theo tờ khai thuế do Bộ Tài chính quy định, không được thay đổi khuôn dạng, thêm, bớt hoặc thay đổi vị trí của bất kỳ chỉ tiêu nào trong

tờ khai thuế Đối với một số loại giấy tờ trong hồ sơ thuế mà Bộ Tài chính không ban hành mẫu thì thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan Với thuế TTĐB, tại Khoản 2 và Khoản 4 Điều 13 của Nghị định 83/2013/NĐ-CP quy định hồ sơ khai thuế

được phân thành hai nhóm ứng với từng loại thời điểm phát sinh nghĩa vụ kê khai: kê

khai thuế TTĐB theo tháng áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh

trong nước thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB thì hồ sơ khai thuế là Tờ khai thuế tiêu thụ

đặc biệt tháng; kê khai theo từng lần phát sinh đối với hàng hóa mua để xuất khẩu

nhưng được tiêu thụ trong nước là Tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt và hóa đơn, hợp đồng

và chứng từ khác liên quan đến nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật, đối với hàng hóa nhập khẩu là hồ sơ hải quan và hóa đơn, hợp đồng và chứng từ khác liên quan đến nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Tại khoản 5 Điều 31 Luật Quản lý

thuế 2006 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012 và 2014 còn quy định đối với “trường

Trang 25

hợp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp” thì hồ sơ kê khai thuế TTĐB bao gồm: tờ khai quyết

toán thuế; báo cáo tài chính đến thời điểm chấm dứt hoạt động hoặc chấm dứt hợp đồng hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp; tài liệu khác liên quan đến quyết toán thuế

Như thế, hiện nay với thuế TTĐB, kỳ khai thuế được áp dụng là khai theo tháng với chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa và khai theo từng lần nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB Với thực tế những năm gần đây khi mà thuế TTĐB ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu NSNN, để đảm bảo công tác quản lý hiệu quả và sát sao hơn nữa, nắm bắt kịp thời tình hình sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ chịu thuế TTĐB, đảm bảo không thất thu nguồn thuế và phục vụ việc quyết toán hoàn thuế, khấu trừ thuế nhanh chóng, nên chăng cần bổ sung thêm quy định về kê khai thuế TTĐB theo quý, theo năm

Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp việc kê khai hồ sơ thuế TTĐB đều đúng với thực tế giao dịch hay quy định pháp luật, đặc biệt sau khi hết hạn nộp hồ sơ thì không thể chỉnh sửa được Vì thế, Luật Quản lý thuế 2006 có quy định sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định, NNT phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan

có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở NNT Hồ sơ

kê khai bổ sung bao gồm: Tờ khai thuế của kỳ tính thuế bị sai sót đã được bổ sung, điều chỉnh; bản giải trình khai bổ sung, điều chỉnh mẫu số 01/KHBS ban hành kèm theo Thông tư 156/2013 (trong trường hợp khai bổ sung, điều chỉnh có phát sinh chênh lệch tiền thuế); tài liệu kèm theo giải thích số liệu trong bản giải trình khai bổ sung, điều chỉnh

Với những quy định trên, có thể nhận thấy hiện nay nước ta đang thực hiện kê khai riêng rẽ nhiều loại tờ khai tương ứng với nhiều trường hợp khác nhau của hành vi thuộc diện chịu thuế TTĐB, dẫn đến số lượng tờ khai thuế nhiều, làm cho việc theo dõi

và xử lý của cơ quan quản lý thuế khó khăn, mất thời gian Với NNT, từ sự hiểu biết ít

ỏi về pháp luật sẽ khiến họ khó theo dõi và lựa chọn mẫu tờ khai phù hợp Một vấn đề khác là trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan có thẩm quyền thì chứng

từ, hóa đơn là căn cứ quan trọng để phân tích, đánh giá, so sánh, đưa ra kết luận Hơn thế, thông qua chứng từ, hóa đơn giúp cơ quan thuế xây dựng cơ sở thông tin về NNT,

so sánh, đối chiếu để tìm ra những trường hợp chưa kê khai, kê khai không đủ… , trong nhiều vụ việc còn hạn chế thất thu thuế GTGT (vì hóa đơn, chứng từ là cơ sở để đối chiếu doanh thu của các đơn vị sản xuất, kinh doanh khi kê khai GTGT) Từ đó thiết nghĩ, cần sử dụng và lưu giữ hóa đơn chứng từ, cần đưa ra những quy định pháp luật về sử dụng hóa đơn như: thời hạn lưu giữ sổ sách, trách nhiệm lữu giữ… để giúp công tác quản lý thuế diễn ra chắc chắn và hiệu quả hơn

Trang 26

Thứ hai, là quy định pháp luật về tự kê khai chính xác, đầy đủ số thuế TTĐB

phải nộp Hiện nay, theo thông lệ chung, các nước đang áp dụng các phương pháp tính thuế TTĐB phổ biến như sau:

 Phương pháp tính thuế TTĐB theo mức thu tuyệt đối Theo phương pháp này số

thuế TTĐB được quy định bằng mức thu cụ thể trên một đơn vị tính theo quy định Ví dụ, Anh đánh thuế TTĐB 80 pences cho một lít xăng, Malaysia đánh thuế 58 ringit/ 1 kg thuốc lá điếu; 48 ringit/dexilit bia, Hàn Quốc đánh thuế TTĐB đối với casino 35.000 Won/ người, 559 Won/ 1 lít xăng, 255Won/ 1 lít dầu diezel11 Phương pháp này tương đối đơn giản và thuận tiện cho công tác quản lý và đảm bảo số thu về thuế TTĐB luôn được ổn định song tác dụng phân phối và điều tiết thu nhập bị hạn chế

 Phương pháp tính thuế TTĐB theo mức thu tương đối Theo phương pháp này,

thuế TTĐB tính theo tỷ lệ % của giá hàng hoá Ví dụ, Đài Loan đánh thuế TTĐB 20% đối với điều hoà nhiệt độ, Việt Nam đánh thuế TTĐB 10% đối với xăng, Hàn Quốc đánh thuế TTĐB 10% đối với hộp đêm Phương pháp này có tác dụng trong việc phân phối và điều tiết thu nhập nhưng công tác quản lý phức tạp hơn, vừa quản lý cả số lượng và giá bán hàng hoá dịch vụ, số thu về thuế TTĐB phụ thuộc vào giá của hàng hoá dịch vụ

Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng phương pháp tính thuế TTĐB theo mức thu tương đối, theo đó, số thuế TTĐB phải nộp sẽ được tính căn cứ vào giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất Số thuế TTĐB phải nộp sẽ bằng giá tính thuế

TTĐB nhân với thuế suất thuế TTĐB Về Giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch

vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế TTĐB, chưa có thuế Bảo vệ môi

trường và chưa có thuế GTGT Về thuế suất thuế TTĐB, đối với hàng hóa, dịch vụ

được quy định theo Biểu thuế TTĐB tại Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014

Thứ ba, về phương thức thực hiện nộp thuế TTĐB, hiện nay trên thế giới và ở

cả Việt Nam đều áp dụng 2 phương thức cơ bản chủ yếu là nộp trực tiếp và nộp thông qua hình thức chuyển khoản Nộp trực tiếp là hình thức nộp thuế bằng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước, cơ quan thuế, ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức, cá nhân được

cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu thuế Trường hợp nộp trực tiếp này nếu diễn ra nhiều tại cơ quan thuế dễ dẫn đến thất thoát tiền thuế vì tình trạng tham ô, hối lộ, chiếm dụng tiền thuế và làm bộ máy thu thuế cồng kềnh hơn Vì vậy, cần thiết lập hệ thống quản lý thuế, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, cán bộ về thuế một cách chặt chẽ, thường xuyên Trong khi đó, nộp bằng hình thức chuyển khoản áp dụng trong trường hợp NNT không có điều kiện nộp trực tiếp Hiện nay, Kho bạc Nhà nước, Cơ quan

11 Bài giảng “Thuế Tiêu thụ đặc biệt”,

http://websrv1.ctu.edu.vn/coursewares/luat/thue/bai7.htm , truy cập ngày 09 tháng 07 năm 2015

Trang 27

quản lý thuế có mở tài khoản chuyên thu tại tổ chức tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 để tập trung các nguồn thu về thuế; theo đó, ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện trích chuyển tiền từ tài khoản của NNT vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước nên cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các chủ thể này

để đảm bảo cho việc kiểm tra các đối tượng nộp thuế thực hiện đúng, đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế với Nhà nước

Như vậy, bản thân NNT đã được pháp luật quản lý thuế TTĐB trao cho những quyền và nghĩa vụ nhất định Trong quá trình thực hiện hoạt động kê khai, nộp và quyết toán thuế TTĐB, việc NNT hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình sẽ giúp bản thân

họ có những hành vi pháp lý đúng hướng, tiến hành những hoạt động được hưởng tối

đa quyền lợi được pháp luật bảo vệ; đồng thời tự giác xác định rõ nghĩa vụ trách nhiệm của mình để không xảy ra sai sót hay có hành vi vi phạm pháp luật Do đó, bản thân mỗi NNT khi tham gia quy trình kê khai, nộp và quyết toán thuế nói chung và thuế TTĐB nói riêng cần phải nghiên cứu và nằm kỹ các quy định về quyền và nghĩa vụ này

1.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của cơ quan thu thuế

Trong quan hệ pháp luật thuế TTĐB luôn tồn tại hai chủ thể là NNT và cơ quan thu thuế, nên việc quy định quyền và nghĩa vụ cho NNT cũng được pháp luật gắn liền với các quy định về quyền và nghĩa vụ của cơ quan thu thuế Trách nhiệm của cơ quan thu thuế được ghi nhận trong Điều 8 Luật Quản lý thuế, ví dụ:

- Công khai các thủ tục về thuế tại trụ sở, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế và trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quy trình nghiệp

vụ về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quy trình nghiệp vụ về kế toán thuế và các nghiệp vụ khác có liên quan

- Có trách nhiệm giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho NNT; cơ quan thuế có trách nhiệm công khai mức thuế phải nộp của

hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn; cơ quan hải quan có trách nhiệm xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ

- Tổ chức thực hiện việc nhận tờ kê khai, tổ chức thu thuế và nhận hồ sơ quyết toán thuế theo quy định của pháp luật Hiện nay khi chuyển đổi sang chế độ kê khai, nộp thuế điện tử, cơ quan thuế có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn và thực hiện việc thu thuế thông qua phương tiện điện tử

- Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, xóa nợ tiền chậm nộp, tiền phạt, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế

- Tổ chức quản lý thông tin về NNT; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về NNT; thực hiện công tác thống kê thuế và chế độ báo cáo tài chính theo quy định

- Giám định để xác định số thuế phải nộp của NNT theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 28

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền

Song song với việc quy định trách nhiệm khá lớn như trên của cơ quan thu thuế, pháp luật cũng ghi nhận quyền hạn của cơ quan thuế trong hoạt động quản lý hành thu thuế:

- Yêu cầu NNT cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu, sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và hồ sơ tài liệu khác, nội dung giao dịch của các tài khoản được mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế; yêu cầu tổ chức tín dụng, các tổ chức và cá nhân khác có liên quan cung cấp tài liệu và phối hợp với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật về thuế

- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế

- Xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật

Theo như các quy định nêu trên, ta nhận thấy nghĩa vụ của cơ quan thu thuế được vạch địch rõ ràng, cụ thể, các quyền hạn cũng chỉ nhằm xây dựng trách nhiệm cao cho cơ quan thuế trong việc giúp đỡ, hỗ trợ NNT kê khai, nộp, quyết toán thuế TTĐB, nhất là hiện nay khi đã chuyển sang chế độ “tự kê khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm” của NNT, trong khi NNT không phải ai cũng có hiểu biết về pháp luật Tuy nhiên, với quyền hạn và nghĩa vụ kiểm tra thuế, thanh tra thuế; xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo thẩm quyền; áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật còn tồn tại rất nhiều hạn chế Nguyên nhân là vì còn hiện tượng nhân viên, cán bộ thuế sách nhiễu NNT khi họ không biết luật, lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi, tham nhũng,… Phải nói đến việc xác định trách nhiệm của cơ quan thuế, tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Quản lý Thuế quy

định cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm “Giải thích, cung cấp thông tin liên quan

đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho NNT”; trong khi đó, luật cũng quy định các tổ

chức, cá nhân có trách nhiệm “tự kê khai, tính thuế, nộp thuế và tự chịu trách nhiệm” trước pháp luật để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình Nhưng Luật lại không quy định trong trường hợp cơ quan quản lý thuế giải thích, hướng dẫn sai dẫn đến việc NNT kê khai, tính thuế sai thì trách nhiệm của cơ quan thuế trong trường hợp này như thế nào Bất cập này có thể dẫn đến một số trường hợp doanh nghiệp được cơ quan thuế hướng dẫn sai nhưng rồi sau đó lại xử phạt doanh nghiệp Hơn nữa hiện nay nước

ta chưa có hệ thống tòa án chuyên giải quyết các vụ việc về thuế nên NNT rất khó khăn trong việc khởi kiện những hành vi sai phạm của cơ quan thuế Đồng thời dễ nhận ra rằng tuy Luật Quản lý Thuế có quy định về quyền hạn và trách nhiệm nói chung của cơ quan quản lý thuế và các tổ chức có liên quan ở cấp địa phương, song Luật không đưa

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Hằng (2002), “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, kê khai, thu nộp thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, kê khai, thu nộp thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2002
3. ThS. Đỗ Ngọc Tú, “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế”, http://vnclp.gov.vn/UserControls/ckfinder/userfiles/files/Tiep%20tuc%20hoan%20thien%20he%20thong%20phap%20luat%20ve%20thue.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế
4. TS. Nguyễn Văn Tuyến (2008), “Các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật thuế và mô hình cấu trúc của hệ thống pháp luật thuế”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 08/2008, tr. 14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật thuế và mô hình cấu trúc của hệ thống pháp luật thuế
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tuyến
Năm: 2008
6. Nguyễn Thị Diệu Linh (2005), “Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao”
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Linh
Năm: 2005
7. Viện Chiến lƣợc và phát triển (2008), “Đánh giá tác động của gia nhập WTO với kinh tế Việt Nam – Sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE)”, Diễn đàn Kinh tế và tài chính, Khóa họp lần thứ 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của gia nhập WTO với kinh tế Việt Nam – Sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE)
Tác giả: Viện Chiến lƣợc và phát triển
Năm: 2008
8. Tổng cục Thuế - Công ty tin học Hà Thắng (2003), Báo cáo tổng kết đề tài nhánh “Thử nghiệm kê khai thuế Giá trị gia tăng qua mạng Internet”, Hà Nội 9. Tổng cục Thuế, “Hướng dẫn các bước đăng ký và thực hiện Nộp thuế điện tử”,http://nhantokhai.gdt.gov.vn/ihtkk_nnt/home_public.jsp?cat_id=121&news_id=882 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm kê khai thuế Giá trị gia tăng qua mạng Internet"”, Hà Nội 9. Tổng cục Thuế, “"Hướng dẫn các bước đăng ký và thực hiện Nộp thuế điện tử
Tác giả: Tổng cục Thuế - Công ty tin học Hà Thắng
Năm: 2003
10. Tổng cục Thuế, “Nộp thuế điện tử - Nỗ lực của ngành thuế nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế”,http://noptokhai.vn/ke-khai-thue-qua-mang/nop-thue-dien-tu---no-luc-cua-nganh-thue-nham-day-manh-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh--tao-dieu-kien-thuan-loi-cho-nguoi-nop-thue/407 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nộp thuế điện tử - Nỗ lực của ngành thuế nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế
11. Nguyễn Duy Tuân, “Cải cách thủ tục hành chính: Những thành tựu vượt bậc năm 2014 và những nhiệm vụ cấp thiết trong năm 2015”,http://www.mof.gov.vn/portal/pls/portal/docs/1704532.PDF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính: Những thành tựu vượt bậc năm 2014 và những nhiệm vụ cấp thiết trong năm 2015
12. Chí Thiện, “Hơn 1000 Doanh nghiệp chưa kê khai thuế qua mạng”, http://thoibaonganhang.vn/hon-10000-dn-chua-ke-khai-thue-qua-mang.html 13. Thu Hằng, “Đánh mạnh trốn thuế, gian lận, chiếm đoạt tiền thuế”,http://cafef.vn/doanh-nghiep/danh-manh-tron-thue-gian-lan-chiem-doat-tien-thue-2014020810532082312.chn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 1000 Doanh nghiệp chưa kê khai thuế qua mạng"”, http://thoibaonganhang.vn/hon-10000-dn-chua-ke-khai-thue-qua-mang.html 13. Thu Hằng, “"Đánh mạnh trốn thuế, gian lận, chiếm đoạt tiền thuế
14. Xuân Dũng, “Hơn 90,000 cá nhân, doanh nghiệp chưa quyết toán thuế”, http://www.vietnamplus.vn/hon-90000-ca-nhan-doanh-nghiep-chua-quyet-toan-thue/250719.vnp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 90,000 cá nhân, doanh nghiệp chưa quyết toán thuế
15. Hà Minh Lục, “Chống gian lận, thất thu thuế: Thực trạng và giải pháp”, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi---binh-luan/chong-gian-lan-that-thu-thue-thuc-trang-va-giai-phap-32425.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống gian lận, thất thu thuế: Thực trạng và giải pháp
16. Phương Linh, “Ngành thuế đặt mục tiêu dẫn đầu khu vực về kê khai nộp thuế”, http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/nganh-thue-dat-muc-tieu-dan-dau-khu-vuc-ve-ke-khai-nop-thue-2999938.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thuế đặt mục tiêu dẫn đầu khu vực về kê khai nộp thuế
17. Tự Cường, “Nhiều kẽ hở trong chính sách tạm nhập tái xuất hàng hoá”, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=69&ItemId=257336&GroupId=1223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều kẽ hở trong chính sách tạm nhập tái xuất hàng hoá
18. Luật sƣ Lyly Nguyễn, “Tìm hiểu Toà án Thuế Hoa Kỳ”, https://luattaichinh.wordpress.com/2008/12/16/tim-hi%E1%BB%83u-toa-an-thu%E1%BA%BF-hoa-k%E1%BB%B3/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Toà án Thuế Hoa Kỳ
19. Sử Đình Thành & cộng sự (2015), “Cải cách hệ thống thuế Việt Nam theo cam kết hội nhập quốc tế đến năm 2020”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 26(3), tr. 02- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hệ thống thuế Việt Nam theo cam kết hội nhập quốc tế đến năm 2020
Tác giả: Sử Đình Thành & cộng sự
Năm: 2015
20. Ngân hàng thế giới - Ban Quản lý Kinh tế và Xóa đói Giảm nghèo Khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (2011), “Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”
Tác giả: Ngân hàng thế giới - Ban Quản lý Kinh tế và Xóa đói Giảm nghèo Khu vực Châu Á và Thái Bình Dương
Năm: 2011
15. Thông tư 151/TT-BTC của bộ Tài chính ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế Khác
16. Thông tư số 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 27/02/2015 hướng dẫn về Thuế Giá trị gia tăng, quản lý thuế và hóa đơn Khác
17. Thông tƣ của Bộ Tài chính số 05/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 5/01/2012 hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 và Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 8/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Khác
18. Thông tƣ số 119/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 25/8/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tƣ số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tƣ số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tƣ số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế;B. Tài liệu tham khảo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w