Vai trò của phương pháp tính thuế GTGT được thể hiện cụ thể như sau: Đối với cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý và thu thuế Trong trường hợp pháp luật thuế GTGT không có quy địn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
NGUYỄN THỊ THU TRANG
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ THU TRANG
Khóa: 36 MSSV: 1155010392 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Cô NGUYỄN THỊ HOÀI THU
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cô Nguyễn Thị Hoài Thu, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy trình về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 5
1.1 Khái quát về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 5
1.1.1 Khái niệm phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 5
1.1.2 Phân biệt phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và căn cứ tính thuế giá trị gia tăng 7
1.1.3 Vai trò của phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 9
1.2 Yêu cầu khi xây dựng pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia
tăng 11
1.2.1 Đảm bảo tính thuế được cho tất cả các đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng… 11
1.2.2 Đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế 12
1.2.3 Đảm bảo tính minh bạch, dễ áp dụng 13
1.2.4 Thể hiện đúng bản chất của thuếgiá trị gia tăng 14
1.2.5 Đảm bảo tác động ở mức độ vừa phải đối với người tiêu dùng 15
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 17
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 17 2.1.1 Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng 17
2.1.2 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 25
2.2 Hướng hoàn thiện pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 33
2.2.1 Quy định về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng tại một số nước trên thế giới 33
2.2.2 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 36
KẾT LUẬN 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với mỗi quốc gia mà nói thuế đóng vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) Trong các khoản thu về thuế thì thuế Giá trị gia tăng (GTGT) có sức ảnh hướng lớn nhất, là loại thuế có số thu đóng góp vào NSNN nhiều nhất (thể hiện thông qua biểu đồ 01 và 02 Phục lục 01 của Khóa luận này), lại là sắc thuế thường xuyên bộc lộ những kẻ hở dễ bị lợi dụng làm thất thoát NSNN
Qua quá trình học tập tôi nhận thấy việc nghiên cứu cơ chế thi hành pháp luật thuế GTGT trên thực tế đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là phương pháp tính thuế GTGT (con đường để xác định đúng số thuế mà người nộp thuế phải nộp vào NSNN), bởi lẽ từ việc hiểu cặn kẽ quy định của pháp luật đến việc xâm nhập vào quá trình thực thi pháp luật sẽ giúp đánh giá được thực trạng và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nói chung cũng như hoàn thiện quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT nói riêng Hơn thế nữa, trong thời gian gần đây có nhiều thay đổi trong quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cùng với những bất cập tồn tại trong thực tiễn Xuất phát từ điều đó nên
tôi đã chọn đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình là “Quy định của
pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện tại, ở Việt Nam đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về thuế GTGT ở nhiều góc độ khác nhau Về mặt khách quan mỗi công trình nghiên cứu đều đã đạt được những giá trị khoa học nhất định Qua quá trình tìm hiểu, tác giả đã được tiếp cận với một số công trình như sau:
- Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, có thể kể đến Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng tại cục thuế Thừa Thiên Huế” của Trần Đức Tân (Trường Đại học Kinh tế Huế - 2011) Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý hoàn thuế GTGT, có liên quan đến nội dung phương pháp tính thuế GTGT,
do đó trong một giới hạn nhất định tác giả luận văn có đề cập đến phương pháp tính thuế GTGT Luận văn đã đạt được thành công nhất định trong việc chỉ ra hạn chế trong chính sách thuế GTGT, công tác quản lý thuế GTGT và đề ra giải pháp khắc phục Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn không phải là phương pháp tính thuế GTGT, do đó tác giả luận văn chưa đi sâu vào nghiên cứu cũng như đề ra giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT
Trang 7- Ở cấp độ Khóa luận tốt nghiệp có thể kể đến các đề tài:
Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về khấu trừ thuế giá trị gia tăng” của Phạm
Thế Văn (Trường ĐH Luật Tp.Hồ Chí Minh – 2014) Khóa luận đã chỉ ra được một vài vướng mắc trong phương pháp tính thuế GTGT, như vấn đề đặt ra trong trường hợp đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT có quan hệ giao dịch với đối tượng nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT và ngược lại Bên cạnh đó khóa luận cũng đã nêu ra bất cập trong việc xác định phương pháp tính thuế khi chuyển mục đích sử dụng tài sản cố định Nhưng đây chỉ là đề tài liên quan đến đối tượng mà tác giả đang nghiên cứu, nên chưa đi sâu vào tìm hiểu kĩ về phương pháp tính thuế GTGT
Ngoài ra còn có Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về phương pháp tính thuế
giá trị gia tăng và thực tiễn áp dụng” của Đỗ Thị Minh Quý (Trường ĐH Luật
Tp.Hồ Chí Minh – 2014) Khóa luận đã chỉ ra được những vướng mắc trên thực tế trong quá trình áp dụng phương pháp tính thuế GTGT, từ những thực trạng đó, khóa luận đi đến kết luận hậu quả là làm thất thu thuế GTGT, gây thiệt hại cho NSNN Trên cơ sở đó, khóa luận đã đề xuất giải pháp để hạn chế vướng mắc Tuy nhiên, những kiến nghị còn mang tính định hướng, chưa xác định cụ thể cách thức thực hiện
Bên cạnh đó, các giáo trình, sách chuyên khảo cũng có nghiên cứu về thuế GTGT như: giáo trình “Luật thuế” của trường Đại học Luật Tp.HCM; giáo trình
“Luật thuế Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội”…
Có thể thấy rằng các nghiên cứu trên đã đạt được những giá trị khoa học nhất định trong việc tìm hiểu, đánh giá pháp luật thuế GTGT, tuy nhiên có những công trình nghiên cứu thì những quy định pháp luật được sử dụng trong đề tài đã được thay đổi, hết hiệu lực, không còn được áp dụng trong thực tế Trong lúc đó, pháp luật về thuế GTGT đang trên con đường hoàn thiện Như vậy, tính từ năm 2013 (Luật thuế GTGT 2008 được sửa đổi và bổ sung) thì việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cũng như những vướng mắc trong thực tế áp dụng để đi đến hoàn thiện nó là hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đi từ việc tìm hiểu khái quát về thuế GTGT đến nghiên cứu phương pháp tính thuế GTGT, khóa luận đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT
Trang 8Để đạt được mục đích trên, khóa luận ngoài việc giới thiệu khái quát về pháp luật thuế GTGT còn tìm hiểu chi tiết về phương pháp tính thuế GTGT, khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong thời gian qua, trên cơ sở đó nhận diện những vướng mắc gặp phải trong quá trình vận hành quy định về phương pháp tính thuế GTGT, cùng với việc tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới
và tác giả kiến nghị giải pháp khắc phục vướng mắc đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào các mặt sau: Thứ nhất, đó là khái quát những vấn đề lý luận của phương pháp tính thuế GTGT, những quy định của pháp luật hiện hành về phương pháp tính thuế GTGT Thứ hai, tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực tế và nêu lên những vướng mắc cũng như kiến nghị hướng hoàn thiện Trong đó, khóa luận đặc biệt chú ý vào một số khía cạnh như đối tượng áp dụng, công thức tính của từng phương pháp, chế độ hóa đơn chứng từ thuế GTGT
Về phạm vi nghiên cứu, các nội dung trên sẽ được nghiên cứu trong phạm vi những quy định của Luật thuế GTGT 2008, Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT
2013 và những văn bản hướng dẫn thi hành; thực trạng áp dụng pháp luật thuế GTGT trên phạm vi cả nước Đồng thời tham khảo những quy định về phương pháp tính thuế GTGT của một số nước trên thế giới và cách giải quyết vướng mắc trong quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT của họ
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình nghiên cứu Trong đó:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích những vấn đề cơ bản được quy định trong luật thuế GTGT cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, phân tích những tình huống pháp lý thực tế liên quan từ đó làm rõ các nội dung lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật;
- Phương pháp so sánh pháp lý: so sánh những quy định của pháp luật nước ta với những quy định của một số nước trên thế giới, so sánh những quy định của pháp luật hiện hành với những quy định trước đây từ đó tìm ra những tiến bộ của pháp luật hiện hành;
- Phương pháp chứng minh: chứng minh những lập luận, quan điểm đưa ra để thuyết phục về tính khả thi của nó;
Trang 9- Phương pháp thống kê: thống kê tình hình thực hiện quy định của pháp luật
về phương pháp tính thuế GTGT trên thực tế, qua đó đánh giá những thành tựu mà pháp luật hiện hành đạt được và chỉ ra những bất cập
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận Trong
đó phần nội dung bao gồm 2 chương với những nội dung chính sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp tính thuế giá trị gia
tăng;
Chương 2: Quy định pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng –
Thực trạng và hướng hoàn thiện
Trang 101 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP
TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Khái quát về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Phương pháp tính thuế GTGT là một nội dung quan trọng của pháp luật thuế GTGT được quy định trong luật thuế GTGT Từ nhiều công trình nghiên cứu cũng như các tài liệu tham khảo cho thấy phương pháp tính thuế GTGT là vấn đề được nhiều người quan tâm, việc hiểu cặn kẽ những lý luận cơ bản của phương pháp tính thuế GTGT sẽ giúp mang lại cái nhìn đúng đắn về bản chất của những công thức, cách thức cho ra số thuế GTGT phải nộp cũng như đánh giá được ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành về phương pháp tính thuế GTGT
1.1.1 Khái niệm phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, khái niệm “phương pháp” ngoài ý nghĩa là
cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội còn được hiểu là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó1
Phương pháp đó có thể được thể hiện dưới dạng công thức tính toán để có đáp số cuối cùng, có thể là mô tả các bước thực hiện, đó cũng có thể là mô hình, là sơ đồ chỉ dẫn…mà dựa vào đó chúng ta có thể biết được cách làm sao để đi đến mục đích
đề ra.Như vậy, phương pháp tính thuế GTGT có thể hiểu là cách thức để xác định
được số thuế GTGT mà người nộp thuế phải nộp vào NSNN Bên cạnh đó, phương pháp tính thuế GTGT cũng được hiểu là “những cách thức, biện pháp hữu hiệu để tính ra số thuế GTGT mà mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh phải nộp vào NSNN thông qua hoạt động tạo ra giá trị tăng thêm ở hàng hóa & dịch vụ (HHDV) của mình”2 Khi phương pháp tính thuế GTGT đã được luật định điều này có nghĩa là các chủ thể liên quan (bao gồm cơ quan thuế và người nộp thuế) bắt buộc phải tuân theo phương pháp.Phương pháp tính thuế GTGT là một nội dung quan trọng của pháp luật thuế GTGT, thể hiện rõ nét bản chất của sắc thuế này Mọi khâu kê khai, đăng
ký, nộp thuế, khấu trừ, hoàn thuế GTGT đều phụ thuộc, bị tác động và ảnh hưởng bởi phương pháp tính thuế GTGT3
Xuất phát từ bản chất của thuế GTGT: là loại thuế gián thu, thu trên phần giá trị tăng thêm của HHDV, được tính qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh
1
Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thúy Khanh và Phạm Hùng VIệt
(2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, tr 723
2Đỗ Thị Minh Quý (2014), Pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và thực tiễn áp dụng, khóa
luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr 11
3
Đỗ Thị Minh Quý (2014), tlđd (2), tr 11
Trang 11doanh Do đó, việc xác định số thuế GTGT phải nộp qua mỗi khâu phải dựa trên điều kiện thực tế của chủ thể kinh doanh, đồng thời đáp ứng yêu cầu thu đúng, thu
đủ thuế vào NSNN Đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và phần giá trị đầu vào tương ứng hoặc là phần chênh lệch giữa thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào Chính bản chất này làm cho phương pháp tính thuế GTGT
mang những đặc trưng sau:
Thứ nhất, phương pháp tính thuế GTGT thể hiện phần giá trị tăng thêm của
HHDV qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh đến lưu thông và tiêu dùng Bởi lẽ đây là công đoạn cuối cùng để xác định số thuế GTGT mà người nộp thuế phải nộp vào NSNN nên trong công thức tính thuế GTGT chúng ta dễ dàng nhận thấy số thuế đó được tính từ những đại lượng nào và trong đó có phần giá trị dôi ra từ giá trị ban đầu Thuế GTGT thu trên phần giá trị tăng thêm của HHDV, đó
là bản chất của sắc thuế này và được thể hiện thông qua phương pháp tính thuế GTGT
Thứ hai, kết quả cho ra khi áp dụng phương pháp tính thuế có thể là số âm (-)
hoặc số dương (+) (HHDV có thể phát sinh GTGT hoặc không) Mặc dù mục đích cuối cùng của các chủ thể khi tham gia kinh doanh là để sinh lời nhưng kết quả kinh doanh có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chưa kể đến trường hợp kết quả ảo để được khấu trừ do đó mà qua quá trình sản xuất kinh doanh vẫn có trường hợp không những không tạo ra GTGT mà còn hao hụt giá trị ban đầu
Thứ ba, những yếu tố sử dụng trong phương pháp tính thuế là căn cứ tính thuế
GTGT và phần giá trị tăng thêm của HHDV Thật vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì có hai phương pháp tính thuế GTGT, đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Cho dù áp dụng theo phương pháp nào đi chăng nữa thì vẫn phải dùng đến căn cứ tính thuế và phần GTGT mới
có thể xác định được số thuế GTGT phải nộp vào NSNN
Thứ tư, phương pháp tính thuế GTGT tồn tại không tách rời với căn cứ tính
thuế GTGT Bởi lẽ, phương pháp tính thuế GTGT sử dụng những dữ liệu là căn cứ tính thuế GTGT nên không có căn cứ tính thuế GTGT thì phương pháp tính thuế GTGT không thể đưa vào vận hành trong thực tế được Như vậy, căn cứ tính thuế GTGT và phương pháp tính thuế GTGT là hai bộ phận quan trọng của sắc thuế này
và tồn tại đồng thời với nhau Trong đó, phương pháp tính thuế GTGT là cái đi sau,
đi từ căn cứ tính thuế và nguyên liệu sử dụng chính là căn cứ tính thuế GTGT Chính vì vậy mà phương pháp tính thuế GTGT luôn gắn liền với căn cứ tính thuế GTGT
Trang 121.1.2 Phân biệt phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và căn cứ tính thuế giá trị gia tăng
Trong quy định của pháp luật thuế GTGT, còn có một bộ phận gắn liền với
phương pháp tính thuế đó là căn cứ tính thuế GTGT Nếu căn cứ tính thuế là nội
dung bắt buộc phải có trong một sắc thuế thì phương pháp tính thuế là nội dung tùy nghi Việc cùng lúc xuất hiện đồng thời căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế trong thuế GTGT đặt ra câu hỏi về sự cần thiết và sự khác biệt giữa hai nội dung này Có thể phân biệt căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế GTGT thông qua những điểm sau:
Thứ nhất, “Căn cứ” là cái dựa vào làm cơ sở lập luận và hành động 4 Theo
đó, căn cứ tính thuế GTGT là những yếu tố mà người nộp thuế dựa vào đó để tính ra
số thuế GTGT phải nộp Trong khi đó phương pháp tính thuế GTGT là cách thức,
đó là công thức, các bước cuối cùng để đi đến xác định số thuế GTGT phải nộp và
nó có sử dụng đến căn cứ tính thuế GTGT Cho thấy, căn cứ tính thuế GTGT tồn tại độc lập nhưng phương pháp tính thuế GTGT tồn tại dựa trên căn cứ tính thuế GTGT
Thứ hai, theo quy định của pháp luật thuế GTGT của nước ta hiện hành, căn
cứ tính thuế GTGT gồm giá tính thuế và thuế suất5; còn phương pháp tính thuế GTGT gồm phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT; cho thấy một bên là những đại lượng, thông số nhất định được ấn định trong quy định của pháp luật, còn một bên là những công thức áp dụng các thông số đó vào để cho ra con số cuối cùng Chúng khác nhau nhưng gắn liền với nhau
Vậy tại sao cần có sự tồn tại đồng thời của phương pháp tính thuế GTGT và căn cứ tính thuế GTGT? Điều này có thể được lý giải thông qua việc giải thích sự cần thiết của từng bộ phận đối với sắc thuế GTGT
Thứ nhất, lý do tồn tại căn cứ tính thuế GTGT là:
Đối với giá tính thuế GTGT, đây là thông số thể hiện đúng bản chất gián thu
của thuế GTGT; là cơ sở để khấu trừ thuế phải nộp ở giai đoạn trước, giúp làm rõ thuế GTGT không nằm trong chi phí kinh doanh của doanh nghiệp Để xác định được số thuế GTGT phải nộp không phải chỉ cần có giá tính thuế rồi đem nhân (x) với thuế suất như những sắc thuế khác mà trong thuế GTGT, giá tính thuế còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để có cách xác định Giá tính thuế phải tồn tại trong phương pháp tính thuế GTGT mới giúp tính ra được số thuế GTGT mà người
4
Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), tr 106
Trang 13nộp thuế phải nộp vào NSNN Giá tính thuế GTGT được quy định tại Điều 7 Luật thuế GTGT 2008 sửa đổi, bổ sung 2013,giá tính thuế GTGT được xác định cụ thể theo từng trường hợp tạo ra GTGT của hoạt động sản xuất, kinh doanh đến lưu thông và tiêu dùng HHDV và đánh vào từng khâu phát sinh giá trị tăng thêm Đó chính là bản chất của thuế GTGT được thể hiện ngay trong giá tính thuế GTGT
Đối với thuế suất: đây là đại lượng xác định nghĩa vụ nộp thuế GTGT trên một
đơn vị của đối tượng chịu thuế GTGT Pháp luật thuế GTGT nước ta hiện nay quy định 3 mức thuế suất GTGT là : 0%, 5% và 10% (Điều 8 Luật thuế GTGT), mỗi mức thuế suất áp dụng cho những đối tượng được liệt kê cụ thể trong luật
Có thể thấy rằng, như những sắc thuế khác, thuế GTGT cần có căn cứ tính thuế để làm cơ sở tính ra số thuế phải nộp vào NSNN Nếu chỉ dựa vào căn cứ tính thuế thì chỉ giúp xác định số thuế GTGT phát sinh tại một thời điểm của quá trình sản xuất, kinh doanh đến lưu thông và tiêu dùng chứ chưa thể hiện được mức chênh lệch thuế GTGT để đưa ra số thuế GTGT phải nộp vào NSNN Như vậy, căn cứ tính thuế GTGT chưa đi đến đích cuối cùng của việc tính thuế GTGT, căn cứ tính thuế GTGT chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là yếu tố đủ để cơ quan Thuế cũng như người nộp thuế tính ra được số thuế GTGT phải thu/nộp vào NSNN
Thứ hai, lý do tồn tại phương pháp tính thuế GTGT là:
Nếu chỉ có căn cứ tính thuế GTGT thì chưa thể hiện đúng và đầy đủ bản chất của thuế GTGT, đồng thời không giải quyết được hạn chế đặt ra của thuế doanh thu trước đó Giá tính thuế mới đưa ra những phần cứng, những nguyên liệu để cho ra kết quả là số thuế phải nộp, phương pháp tính thuế đóng vai trò là phần mềm, là công thức để từ giá tính thuế có thể xác định được số thuế phải nộp vào NSNN Như đã phân tích ở trên, thuế GTGT đánh vào phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh đến lưu thông và tiêu dùng, tức là nếu không có giá trị tăng thêm thì không có thuế GTGT và người nộp thuế, cơ quan thuế ngay từ ban đầu không thể nào biết được ở khâu nào sẽ phát sinh giá trị tăng thêm và nếu có thì phần giá trị tăng thêm đó là bao nhiêu? Chưa kể đến trường hợp suốt quá trình sản xuất, kinh doanh không phải lúc nào cũng tồn tại cùng một mức thuế suất, cùng cách xác định giá tính thuế cho đối tượng chịu thuế Chính vì vậy, khi có phương pháp tính thuế GTGT giúp giải quyết được vấn đề xác định số thuế GTGT phát sinh qua mỗi khâu dựa trên cơ sở căn cứ tính thuế
Mặt khác, phương pháp tính thuế GTGT lại không thể tồn tại độc lập, để sử dụng phương pháp tính thuế GTGT phải có căn cứ tính thuế.Do đó, nhằm đảm bảo đúng bản chất của thuế GTGT và giải quyết vấn đề chồng thuế của thuế doanh thu
Trang 14cần có sự tồn tại đồng thời của căn cứ tính thuế GTGT và phương pháp tính thuế GTGT
1.1.3 Vai trò của phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Thông qua việc tìm hiểu những vấn đề cơ bản về phương pháp tính thuế GTGT ở các mục trên, chúng ta có thể thấy rằng phương pháp tính thuế GTGT có vai trò rất đặc biệt trong sắc thuế GTGT nói riêng và trong nền kinh tế, xã hội nói chung Một khi đã nhận diện được tầm quan trọng của phương pháp tính thuế GTGT sẽ giúp cho các nhà làm luật thấy được sự cần thiết trong việc hoàn chỉnh các quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT, giúp cho các quy định của Luật ngày càng tiệm cận với thực tiễn, phù hợp với những biến động của nền kinh tế thị trường Vai trò của phương pháp tính thuế GTGT được thể hiện cụ thể như sau:
Đối với cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý và thu thuế
Trong trường hợp pháp luật thuế GTGT không có quy định về phương pháp tính thuế GTGT thì lúc đó cơ quan thuế khó lòng xác định được số thuế GTGT để hành thu một cách đồng bộ Sự đa dạng trong đối tượng nộp thuế GTGT cũng khiến cho cơ quan Nhà nước khó quản lý khi cộng thêm việc thiếu cơ chế rõ ràng trong phương pháp tính thuế GTGT sẽ là lực cản lớn đối với Nhà nước trong quá trình vận hành pháp luật thế GTGT Nhưng nếu những quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT hoàn thiện và vận hành tốt sẽ giúp cho các cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý và thu thuế, hạn chế tối đa thất thu thuế của NSNN Từ đó tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường hoạt động hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua hóa đơn GTGT ở các doanh nghiệp
Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh
đã bắt đầu chú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp6
6 “Thuế giá trị gia tăng trong hoạt động của doanh nghiệp thương mại”, gia-tang-trong-hoat-dong-cua-doanh-nghiep-thuong-mai/63b7268f, truy cập ngày 08/5/2105
Trang 15https://voer.edu.vn/m/thue-gia-tri-Với phương pháp tính thuế hiệu quả sẽ giúp cho cơ quan nhà nước xác định được số thuế mà họ sẽ thu từ người nộp thuế Thông qua kết quả thu thuế GTGT cũng như thống kê số thu của các sắc thuế khác vào NSNN giúp đánh giá vị trí của thuế GTGT trong nguồn thu thuế, phí và lệ phí Từ đó có những điều chỉnh phù hợp đối với quy định của pháp luật về thuế GTGT nói riêng và hệ thống pháp luật thuế nói chung nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa các sắc thuế
Đối với người nộp thuế
Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp HHDV chuyển số thuế đã thu hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua HHDV thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc nhà nước Đây là nghĩa vụ cơ bản của người nộp thuế Họ
là chủ thể trung gian từ người thực tế chịu thuế đến cơ quan nhà nước Người nộp thuế GTGT ở những hoạt động sản xuất, kinh doanh khác nhau mang những đặc điểm riêng và đã được luật hóa trong quy định của pháp luật về đối tượng nộp thuế
và phương pháp tính thuế GTGT Giả sử không có những quy định về phương pháp tính thuế GTGT hoặc những quy định đó có quá nhiều chỗ bất cập thì đó là một bất lợi đối với người nộp thuế GTGT Bởi lẽ, khi đó người nộp thuế GTGT khó lòng
mà biết được mình thuộc nhóm đối tượng nào và làm cách nào để xác định được số thuế GTGT phải nộp vào NSNN, cũng có thể tạo nên sự thiếu công bằng giữa những người nộp thuế
Thực tế cũng cho thấy sự thay đổi của phương pháp tính thuế cũng như quy định mới về ngưỡng doanh thu năm 2014 đã tác động không nhỏ đến tâm lý của người nộp thuế.Do đó, phương pháp tính thuế càng đơn giản, càng dễ thực hiện sẽ
có tác động tích cực đối với người nộp thuế
Đối với người chịu thuế
Về bản chất, thuế GTGT là loại thuế gián thu, đánh vào hành vi tiêu dùng HHDV trên thị trường Việt Nam, người nộp thuế và người thực tế chịu thuế là hai chủ thể khác nhau và phương pháp tính thuế GTGT cũng có vai trò nhất định đối với hai chủ thể này thông qua giá cả hàng hóa và tác động vào hành vi tiêu dùng Vai trò của phương pháp tính thuế GTGT đối với người nộp thuế đã được phân tích
ở phần trước, trong phần này tác giả làm rõ vai trò của phương pháp tính thuế GTGT đối với người thực tế chịu thuế
Thuế GTGT là một yếu tố cấu thành trong giá cả HHDV, khi người tiêu dùng
sử dụng HHDV họ đã trả trong giá cả của nó phần thuế GTGT mà người sản xuất, kinh doanh đã nộp trước vào NSNN giúp họ Chính vì vậy mà ảnh hưởng đế sức mua và hoạt động tiêu dùng trên thị trường Với một phương pháp tính thuế đúng
Trang 16đắn, thuận tiện sẽ không những đảm bảo công bằng cho các đối tượng nộp thuế mà còn công bằng cho cả người chịu thuế, bởi họ mới là chủ thể thực sự nộp tiền thuế vào NSNN Số thuế GTGT mà người chịu thuế thực chất đã nộp vào NSNN đã được bao hàm trong giá cả HHDV và hành vi mua HHDV của họ đồng thời là hành
vi nộp thuế GTGT thông qua chủ thể trung gian là người nộp thuế (người sản xuất, kinh doanh HHDV) Như vậy, phương pháp tính thuế GTGT có vai trò nhất định đối với người chịu thuế thông qua giá cả HHDV và hoạt động tiêu dùng Từ việc áp dụng phương pháp tính thuế của các cơ quan Nhà nước và người nộp thuế sẽ giúp điều chỉnh giá cả HHDV bán ra, thông qua đó sẽ tác động vào hành vi tiêu dùng
1.2 Yêu cầu khi xây dựng pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Phương pháp tính thuế GTGT có vai trò rất quan trọng, vì vậy mà khi xây dựng pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cần đáp ứng những yêu cầu nhất định nhằm đảm bảo vận hành tốt sắc thuế GTGT và có tác động tích cực đến nền kinh tế.Xuất phát từ phạm vi của đối tượng nộp thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT là loại thuế thu vào phần giá trị tăng thêm của HHDV, khi xây dựng pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cần đáp ứng những yêu cầu sau:
1.2.1 Đảm bảo tính thuế được cho tất cả các đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT có phạm vi tác động rộng Xuất phát từ bản chất của thuế GTGT
là thu trên phần giá trị tăng thêm của HHDV do đó mà những HHDV nào trong quá trình lưu thông có phát sinh GTGT đều trở thành đối tượng chịu thuế GTGT (trừ những trường hợp được luật định là đối tượng không chịu thuế GTGT) Do đó mà đối tượng nộp thuế GTGT rất đa dạng, do quy mô kinh doanh và đặc thù của từng chủ thể đã tạo nên sự khác nhau trong các đối tượng nộp thuế GTGT, đặc biệt là việc sử dụng hóa đơn chứng từ Ví dụ như công ty A có sử dụng đầy đủ hóa đơn chứng từ, công ty B không sử dụng hóa đơn chứng từ hay chủ thể này mua mặt hàng X với mục đích tiêu dùng nhưng chủ thể kia mua mặt hàng X với mục đích sản xuất, kinh doanh…Chính vì sự khác nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế nên rất dễ xảy ra trường hợp phương pháp tính thuế GTGT áp dụng được cho chủ thể này nhưng lại tỏ ra khó khăn khi áp dụng với chủ thể kia Như thế thì quy định phương pháp tính thuế GTGT sẽ bị cho là kém hiệu quả bởi sự vận hành không triệt để của nó.Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nộp thuế GTGT là vừa đa dạng, vừa có nhiều điểm khác biệt nên để đáp ứng được yêu cầu áp dụng được cho tất cả các đối tượng nộp thuế không phải là điều dễ dàng Đòi hỏi
Trang 17các nhà lập pháp phải biết phân hóa người nộp thuế theo những nét tương đồng để quy về có thể áp dụng chung theo từng phương pháp tính thuế GTGT
Việc quy định về phương pháp tính thuế GTGT khi đã đảm bảo yêu cầu về phạm vi áp dụng này thì sẽ giúp cho Luật thuế GTGT đảm bảo được phạm vi điều chỉnh Một khi phương pháp tính thuế GTGT áp dụng được cho tất cả đối tượng nộp thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Thuế trong việc tính thuế và hành thu thuế, giúp cho người nộp thuế dễ dàng trong hạch toán, kế toán bởi lẽ những đối tượng nộp thuế GTGT đều đã được phương pháp tính thuế GTGT điều chỉnh
Như vậy, khi xây dựng pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cần đảm bảo yêu cầu phương pháp đó tính thuế được cho tất cả các đối tượng nộp thuế GTGT Với đặc điểm đối tượng nộp thuế rộng, mỗi chủ thể lại mang những đặc thù riêng như đã phân tích ở trên thì để đảm bảo tính thuế được cho tất cả các đối tượng nộp thuế thường pháp luật thuế sẽ quy định những cách thức khác nhau, phù hợp và
áp dụng được cho những nhóm chủ thể có cùng đặc điểm trong quá trình sản xuất, kinh doanh
1.2.2 Đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế GTGT mang tính đa dạng, vì vậy mà pháp luật thường phải hình thành nhiều hơn một phương pháp tính thuế GTGT và yêu cầu là phải đảm bảo công bằng giữa các đối tượng, nhóm đối tượng nộp thuế khác nhau đó Hiện tại có hai phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ thuế GTGT
và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Mỗi phương pháp áp dụng với những đối tượng cụ thể đã đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định.Vấn đề đặt ra là liệu giữa các đối tượng áp dụng của mỗi phương pháp tính thuế GTGT có sự khác biệt lớn hay không, có nhập nhằng nào cho những chủ thể cố tình gian lận có cơ hội lợi dụng hay không?
Đối với phương pháp khấu trừ thuế GTGT, đây được đánh giá là phương pháp tối ưu Phương pháp này được nhiều nước trên thế giới áp dụng bởi tính khả thi và ứng dụng cao của nó Để được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT các doanh nghiệp cần phải tuân thủ quy định về hóa đơn,chứng từ Điều này có thể cho thấy phương pháp này rất rõ ràng và chính xác Nhưng đối với những chủ thể nộp thuế không sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ theo quy định, không đáp ứng được các điều kiện để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT thì phải xây dụng một phương pháp khác áp dụng cho họ Vậy làm sao để đảm bảo họ được đối xử công bằng so với những chủ thể được áp dụng phương pháp khấu trừ?
Trang 18Chưa kể đến trong quá trình vận hành quy định về phương pháp tính thuế GTGT, cơ quan quản lý còn có những chính sách cụ thể để khuyến khích các chủ thể nên chọn áp dụng phương pháp tính thuế này, nên định hướng áp dụng phương pháp tính thuế kia để đạt được những mục tiêu quản lý nhất định Điều này rất dễ tạo ra sự hiểu nhầm trong tâm lý của các chủ thể nộp thuế về cách đốixử khác nhau
đó
Do đó vấn đề công bằng giữa các đối tượng nộp thuế cần được đảm bảo, có như vậy mới tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh, thuế GTGT mới thể hiện đúng vai trò của mình trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và trên thị trường quốc tế
1.2.3 Đảm bảo tính minh bạch, dễ áp dụng
Nếu ví phương pháp tính thuế GTGT là một con đường đi thì điều đương nhiên là người đi đường lúc nào cũng muốn con đường đó càng ngắn và càng dễ đi thì càng tốt Chính vì vậy những chủ thể chịu tác động trực tiếp của phương pháp tính thuế GTGT sẽ có phản ứng tốt với quy định về phương pháp tính thuế GTGT
rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng và dễ thực hiện
Khi vận hành một quy định pháp luật cụ thể thì điều ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quy định đó chính là nó có tạo thuận lợi cho người trực tiếp áp dụng nó hay không? Quy định về phương pháp tính thuế cũng vậy, muốn đi vào nền kinh tế nước ta dễ dàng đòi hỏi cần được xây dựng làm sao để không gây ra những khó khăn cho cơ quan Nhà nước và người nộp thuế
Thực tế cơ quan Nhà nước và người nộp thuế là hai chủ thế trực tiếp vận hành quy định về phương pháp tính thuế GTGT Cơ quan Nhà nước áp dụng các quy định đó để xác định số thuế GTGT sẽ thu từ người nộp thuế vào NSNN, thực hiện công tác thống kê hàng năm và quản lý thuế nói chung Còn người nộp thuế áp dụng phương pháp tính thuế trong công tác hạch toán kế toán, dùng để xác định số thuế GTGT mà họ phải nộp vào NSNN Hơn ai hết họ là những chủ thể mong muốn có một phương pháp tính thuế rõ ràng, dễ áp dụng và đơn giản, dễ thực hiện Đó là một trong những yêu cầu đặt ra khi xây dựng pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT
Để đảm bảo yêu cầu này cần phải:
Thứ nhất, thực ra người nộp thuế cũng chỉ là người “thu hộ” cho nhà nước, vì
vậy việc quy định cách thức nộp thuế GTGT cần đơn giản, nhằm đảm bảo cho cơ sở
Trang 19kinh doanh nộp thuế một cách thuận lợi và nhanh chóng nhất, giảm gây phiền hà cho cơ sở kinh doanh
Thứ hai, viêc quy định các điều kiện để được áp dụng các phương pháp tính
thuế phải sát thực, có cơ sở rõ ràng Không được quy định các điều kiện mang tính cảm tính hoặc thể hiện tính tùy tiện, tức nếu không có điều kiện này thì không ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế7
Một khi đã đảm bảo được yêu cầu này sẽ vừa hạn chế những tiêu cực trong thủ tục thuế vừa dễ dàng trong việc giám sát, kiểm tra
1.2.4 Thể hiện đúng bản chất của thuếgiá trị gia tăng
Phương pháp tính thuế GTGT là một yếu tố quan trọng của sắc thuế GTGT, sự tồn tại của phương pháp tính thuế GTGT cũng xuất phát từ đặc trưng của sắc thuế này, chính vì vậy mà bản thân nó phải thể hiện đúng những gì thuộc về thuế GTGT Bản chất của thuế GTGT là loại thuế gián thu, thu trên phần giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh qua các khâu từ sản xuất, kinh doanh đến lưu thông và tiêu dùng Tức là khâu nào có GTGT thì thu thuế GTGT ở khâu đó Điều này đòi hỏi phương pháp tính thuế GTGT phải quy định làm sao cho phần giá trị được đưa vào khi áp dụng phương pháp tính thuế GTGT chính là phần giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh qua các khâu chứ không phải là doanh thu của người nộp thuế hay bất kỳ một đại lượng nào khác Để đảm bảo được điều này thì phương pháp tính thuế GTGT nên quy định là hiệu số giữa thuế GTGT đầu ra với thuế GTGT đầu vào của HHDV, có như vậy mới thể hiện rõ được phần giá trị tăng thêm của HHDV chính là cái mà thuế GTGT tác động trực tiếp vào Việc đảm bảo nguyên tắc này xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, doanh thu của người nộp thuế hoặc những đại lượng khác đã được
điều tiết bằng thuế thu nhập hoặc những sắc thuế khác, nên khi mà phương pháp tính thuế GTGT đem doanh thu hay những đại lượng đó vào để tính ra số thuế GTGT mà người nộp thuế phải nộp vào NSNN thì thuế GTGT sẽ không thể nào được gọi là thuế GTGT được và vô hình chung thuế GTGT không mang lại ý nghĩa điều tiết như mục đích ban đầu của sắc thuế này;
Thứ hai, chúng ta đã chuyển từ thuế doanh thu sang thuế GTGT để giải quyết
những hạn chế của thuế doanh thu mà chủ yếu là tình trạng thuế chồng thuế nhưng
7
Trần Minh Hiệp (25/5/2015), “Điều kiện áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng”, Tài liệu hội thảo Pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh – khoa luật Thương mại trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr
62
Trang 20giờ đây trong phương pháp tính thuế GTGT nếu chúng ta đưa doanh thu vào để tính thuế GTGT thì khác nào việc chuyển đổi sắc thuế như vậy chỉ mang tính hình thức chứ về bản chất không có gì thay đổi;
Thứ ba, hầu hết những sắc thuế khác không có phương pháp tính thuế, hay nói
cách khác phương pháp tính thuế tồn tại là đặc trưng của thuế GTGT Như vậy thì khi quy định về phương pháp tính thuế GTGT mà chỉ quy định một cách khơi khơi, không mang những thuộc tính vốn có của thuế GTGT thì theo tác giả yếu tố phương pháp tính thuế GTGT đang tồn tại tách biệt với chính sắc thuế này
Chính vì những lý do trên mà khi xây xựng pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cần chú ý đến phần GTGT được thể hiện trong phương pháp đó, có như thế thì mới gắn liền nó vào sắc thuế được, mặt khác còn cho thấy rõ tính ưu việt của thuế GTGT so với thuế doanh thu trước đây Đó là yêu cầu quan trọng đối với pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT
1.2.5 Đảm bảo tác động ở mức độ vừa phải đối với người tiêu dùng
Người tiêu dùng là người thực tế chịu thuế, họ đã trả phần thuế GTGT khi mua HHDV thông qua giá cả của nó Phương pháp tính thuế kết hợp với căn cứ tính thuế sẽ cho ra số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước, đó là số tiền mà thực tế người tiêu dùng phải chịu, chính vì vậy sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa cũng như hành vi tiêu dùng
Mặc dù người tiêu dùng không phải là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của phương pháp tính thuế GTGT nhưng họ là người thực tế chịu số thuế GTGT đó Phương pháp tính thuế do hai chủ thể chủ yếu áp dụng trong thực tế là cơ quan Nhà nước và người nộp thuế, kết quả của việc áp dụng đó được thể hiện thông qua nguồn thu của NSNN và giá cả HHDV bán ra Người tiêu dùng khi mua HHDV họ
đã chịu tác động của thuế GTGT cũng như chịu sự tác động của phương pháp tính thuế GTGT.Khi người tiêu dùng cảm giác mình không phải là người trả thuế GTGT thì họ sẽ mạnh tay mua HHDV, như vậy sẽ kích thích hành vi tiêu dùng, đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của HHDV trong nước Về bản chất thuế GTGT là thuế gián thu nên khi phương pháp tính thuế GTGT đã đảm bảo yêu cầu thứ 4 thì việc đáp ứng yêu cầu này cũng dễ dàng
Như vậy, khi xây xựng pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cần chú ý đến ảnh hưởng của sắc thuế này lên giá cả HHDV và hành vi tiêu dùng
Trang 21KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Với những vấn đề lý luận chung về phương pháp tính thuế GTGT có thể khẳng định rằng đây là một yếu tố quan trọng của sắc thuế GTGT nói riêng và của nền kinh tế nói chung Đó là lý do cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật
về phương pháp tính thuế GTGT, đồng thời hoàn thiện hệ thống luật thuế của nước ta.Có thể thấy rằng căn cứ tính thuế GTGT và phương pháp tính thuế GTGT là hai đại lượng không thể tách rời của sắc thuế GTGT, là những yếu tố cần thiết giúp xác định số thuế GTGT mà người nộp thuế phải nộp vào NSNN Xuất phát từ vai trò của phương pháp tính thuế GTGT đối với bản thân sắc thuế này mà cần phải chú trọng trong khâu xây dựng quy định về phương pháp tính thuế GTGT Quá trình xây dựng quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT cần đạt những yêu cầu nhất định, đó là yêu cầu về tính được thuế cho tất cả các đối tượng nộp thuế GTGT; đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế GTGT; đảm bảo tính minh bạch, dễ áp dụng; thể hiện đúng bản chất của thuế GTGT và đảm bảo tác động ở mức độ vừa phải đối với người tiêu dùng
Trang 222 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Phương pháp tính thuế GTGT là yếu tố quyết định đến việc tính thuế có bị trùng lắp, chồng chéo hay không, là một yếu tố quan trọng của sắc thuế GTGT, chính vì vậy mà quy định về phương pháp tính thuế GTGT là nội dung không thể thiếu trong luật thuế GTGT
Dựa trên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào tương ứng, phương án khả thi xác định số thuế phải nộp là tính theo phần thuế chênh lệch qua các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông (phương pháp khấu trừ thuế) hoặc tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm phát sinh
do chủ thể nộp thuế tạo ra (phương pháp tính trực tiếp trên GTGT).8
Theo quy định của pháp luật hiện hành, có hai phương pháp tính thuế GTGT,
đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Thông qua việc tìm hiểu những nội dung cơ bản của hai phương pháp này sẽ giúp nhìn ra những ưu điểm, hạn chế của từng phương pháp, từ đó có biện pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT
2.1.1 Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Khấu trừ thuế GTGT có thể hiểu là phần thuế GTGT đầu vào của cơ sở sản xuất, kinh doanh được trừ đi khi cơ sở sản xuất, kinh doanh bán HHDV cho người tiêu dùng hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh khác và phát sinh thuế GTGT đầu ra Tức
là phần thuế GTGT mà cơ sở sản xuất, kinh doanh phải nộp vào NSNN chính là phần chênh lệch giữa thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào Bởi lẽ thuế GTGT
là thuế gián thu, người tiêu dùng cuối cùng là người trả thuế và các cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ là chủ thể trung gian thu hộ Nhà nước phần thuế đó và được bù trừ với phần thuế GTGT của hàng hóa mua vào trước đó
2.1.1.1 Nội dung phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Trang 23= -
Trong đó:
Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch
vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT
= = x = x
Số thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT
mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam (Tổng tiền thuế GTGT đã trả ở những khâu trước)
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và phương pháp tính hướng dẫn tại khoản 12 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC để xác định giá chưa có thuế và thuế GTGT đầu vào
Phương pháp này xác định số thuế GTGT phải nộp dựa vào chênh lệch giữa thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào, đây có thể xem là một quy định khôn khéo, không bỏ lọt số thuế GTGT phát sinh ở khâu nào của quá sinh sản xuất, kinh doanh, lưu thông đến tiêu dùng cả Đó chính là điểm ưu việt của phương pháp khấu trừ thuế GTGT - thể hiện bản chất của thuế GTGT
Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT
Nếu số thuế GTGT đầu vào nhỏ hơn số thuế GTGT đầu ra thì đối tượng nộp thuế sẽ được khấu trừ thuế đầu vào, tức là đối tượng nộp thuế chỉ phải nộp tiền thuế cho phần chênh lệch giữa số thuế đầu ra trừ đi số thuế đầu vào đã nộp
Nếu số thuế GTGT đầu vào đã nộp bằng số thuế GTGT đầu ra phát sinh thì đối tượng nộp thuế không phải nộp thuế GTGT vì số thuế phải nộp bằng 0
Nếu số thuế GTGT đầu vào đã nộp lớn hơn số thuế GTGT đầu ra thì đối tượng nộp thuế được hoàn lại phần thuế GTGT chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra
Số thuế GTGT
phải nộp
Số thuế GTGT đầu ra
Số thuế GTGT đầu vào
Thuế GTGT ghi
trên hóa đơn GTGT
Giá tính thuế của HHDV chịu thuế bán ra (giá chưa có thuế GTGT)
Thuế suất thuế GTGT của HHDV
Trang 24Trường hợp tài sản cố định vừa được sử dụng đồng thời để sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì phải hạch toán riêng, nếu không hạch toán được thì thuế đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ % giữa doanh thu từ HHDV chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu HHDV bán ra Trước đây, theo quy định tại Luật thuế GTGT năm 2008, trường hợp thuếGTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuếGTGT và không chịu thuếGTGT thì được khấu trừ toàn bộ nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh và tạo thuận lợi trong công tác hạch toán, tuy nhiên lại không đảm bảo tính chính xác và công bằng
2.1.1.2 Đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật thuế GTGT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2013 thì phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ bao gồm:
Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh;
Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ
hộ, cá nhân kinh doanh
Như vậy, đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT gồm có:
Thứ nhất, cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn,
chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh
Doanh thu hàng năm từ một tỷ đồng trở lên làm căn cứ xác định cơ sở kinh
doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ là doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT
Việc quy định ngưỡng doanh thu là điểm mới trong phương pháp tính thuế GTGT nhằm phân nhóm đối tượng nộp thuế, một số nước trên thế giới cũng áp dụng ngưỡng doanh thu trong phương pháp tính thuế GTGT như các nước trong
EU, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a…
Thứ hai, cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn,
chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng
ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh
Trang 25Gồm các đối tượng sau:
Doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ; Doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đang hoạt động nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ;
Doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản
cố định, máy móc, thiết bị, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính;
Tổ chức kinh tế khác hạch toán được thuế GTGT đầu vào, đầu ra
Quy định này được hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Nghị định 209/2013/NĐ-CP, theo đó, đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập muốn áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT phải có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị có giá
trị từ 1 tỷ đồng trở lên ghi trên hóa đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể
cả hóa đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị trước khi thành lập (không bao gồm ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống của cơ sở kinh doanh không hoạt động vận tải, du lịch, khách sạn); tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ
Trên thực tế thì từ khi triển khai Thông tư 219/2013/TT-BTC, hầu như quy định này đã không nhận được sự đồng tình của các doanh nghiệp mới Có 03 hậu quả chính được nêu ra: Lượng doanh nghiệp mới được thành lập giảm xuống; doanh nghiệp mới thành lập trong 2014 phải tính thuế theo phương pháp trực tiếp và dùng hóa đơn bán hàng thì chịu không nổi và muốn tạm ngưng hoặc giải thể; một số doanh nghiệp phải nhờ xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng dưới tên doanh nghiệp khác, cá nhân chọn mua lại các doanh nghiệp cũ thay vì lập doanh nghiệp mới.9
Quy định này đã gây nên sự phản kháng của nhiều doanh nghiệp, bởi khi mới thành lập doanh nghiệp chưa có mã số thuế, hầu hết việc mua sắm tài sản cố định
9 “Thông tư 119 tháo gỡ bất cập về hai phương pháp tính thuế và hai loại hóa đơn cho Doanh
nghiệp”,
ngày 10/5/2015
Trang 26được thực hiện khi doanh nghiệp mới thành lập, chưa kể đến những trường hợp doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, họ không có nhu cầu mua sắm tài sản cố định Điều đó cho thấy quy định này còn nhiều bất cập Do đó, Điều 12 Thông tư 219/2013 đã được sửa đổi bởi Thông tư 119/2014/TT-BTC, theo đó cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT có doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm, nhận góp vốn bằng tài sản cố định, máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ hoặc có hợp đồng thuê tài sản kinh doanh Điều đó có nghĩa là không phân biệt mức đầu tư trên hay dưới 1 tỷ đồng như trước.Chính sự ra đời của quy định mới trong phương pháp tính thuế GTGT tại Thông tư 119/2014/TT-BTC đã tháo gỡ vướng mắc đó cho doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp mới thành lập có mức doanh thu đạt dưới 1 tỷ đồng trong năm đầu nhưng vẫn thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì được đăng ký tự nguyện tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ Điều này tạo ra thế cạnh tranh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp mới thành lập so với các doanh nghiệp có vốn lớn, đã thành lập lâu năm
Với những thay đổi liên tục trong quy định của pháp luật về đối tượng được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đã khiến cho các doanh nghiệp điêu đứng, gặp không ít khó khăn, mặc dù mục đích của Bộ Tài chính là tạo điều kiện thông thoáng hơn cho doanh nghiệp chỉ trong vòng vài tháng các quy định về đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế GTGT đã có sự thay đổi khiến cho doanh nghiệp không kịp nắm bắt, quy định cũ chưa thực sự đi vào thực tiễn đã có quy định mới thay thế Đặc biệt gây khó khăn cho những doanh nghiệp thành lập sau khi Thông
tư 219/2013/TT-BTC có hiệu lực đến trước khi Thông tư 119/2014/TT-BTC có hiệu lực
Ngoài ra,Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến
hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay10
cũng được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT
Như vậy, để được nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì đối tượng nộp thuế phải thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau:
Có sử dụng đầy đủ hệ thống hóa đơn chứng từ để chứng minh được số thuế GTGT đầu vào và số thuế GTGT đầu ra;
Trang 27Hóa đơn GTGT hợp pháp của HHDV mua vào hoặc chứng từ nộp thuếGTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được hướng dẫn cụ thể tại khoản 3, 4 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC
Không rơi vào trường hợp bắt buộc phải nộp thuế theo phương pháp trực tiếp
Như vậy, doanh nghiệp muốn được tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT phải thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ, với quy định này đã khuyến khích doanh nghiệp ngày càng có biện pháp hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp, mở sổ kế toán, ghi chép và sử dụng hóa đơn chứng từ.Cho đến nay, các doanh nghiệp đã thực hiện công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ theo chế độ nhà nước Việc quyết toán thuế được thực hiện nhanh chóng, có nhiều tiến bộ so với những năm trước đây Từ đó tạo điều kiện để cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm cho các hoạt động kinh tế được lành mạnh, chống việc thất thu cho NSNN Điều đó phần nào làm giảm tiêu cực trong xã hội, góp phần ổn định kinh tế
2.1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Qua quá trình vận hành trong thực tế phương pháp khấu trừ thuế GTGT đã bộc
lộ những ưu điểm vượt trội so với phương pháp tính thuế GTGT còn lại, bên cạnh
đó cũng tồn tại những hạn chế nhất định gây không ít khó khăn cho cơ quan Nhà nước cũng như các doanh nghiệp Khi nhận diện được những ưu điểm và hạn chế của phương pháp khấu trừ thuế GTGT sẽ giúp định hướng trong việc hoàn thiện quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT nói chung và về phương pháp khấu trừ thuế GTGT nói riêng Đứng từ góc độ người nghiên cứu tác giả nhìn nhận những ưu điểm và hạn chế của phương pháp khấu trừ thuế GTGT như sau:
Ưu điểm:
Phương pháp khấu trừ thuế GTGT là phương pháp tối ưu, được nhiều chủ thể nộp thuế lựa chọn áp dụng bởi nó có những ưu điểm sau:
Trang 28 Đây là phương pháp thể hiện đúng bản chất của thuế GTGT, bởi lẽ từ các đại lượng cấu thành công thức của phương pháp khấu trừ thuế GTGT cho thấy thuế GTGT đánh vào phần giá trị tăng thêm của HHDV và chỉ có phát sinh GTGT mới phát sinh khoản thuế GTGT phải nộp Khi người nộp thuế nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT họ cũng biết rằng số thuế GTGT mà họ phải nộp vào NSNN chính là phần chênh lệch giữa thuế GTGT đầu ra với thuế GTGT đầu vào và số thuế này không hề điều tiết vào doanh thu hay hiệu quả kinh doanh của
họ Tức là phương pháp khấu trừ thuế GTGT phản ánh rõ vai trò của từng chủ thể trong nghĩa vụ thuế GTGT đối với nhà nước, người nộp thuế chỉ là chủ thể thu hộ tiền thuế cho nhà nước chứ bản thân họ không phải là người thực sự chịu thuế Tác giả đánh giá đây là thành công lớn nhất của phương pháp khấu trừ thuế GTGT
Với phương pháp khấu trừ thuế GTGT sẽ đảm bảo xác định đúng số thuế cần thiết để điều tiết thu nhập của người tiêu dùng Có thể nhận thấy rằng phương pháp khấu trừ thuế GTGT không xác định số thuế GTGT phải nộp dựa trên phần giá trị tăng thêm của HHDV mà xác định thông qua hiệu số thuế của các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh11 Để được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT thì đối tượng nộp thuế phải đáp ứng những điều kiện luật định, trong đó điều quan trọng là phải thực hiện đầy đủ hệ thống hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ Thông qua hóa đơn chứng từ sẽ phản ánh đúng số thuế GTGT phát sinh qua các khâu nên dựa vào đó có thể xác định đúng số thuế GTGT phải nộp
Ngoài ra, phương pháp khấu trừ thuế GTGT còn giúp minh bạch hóa quá trình quản lý và thu thuế, do số thuế phát sinh ở các khâu được phản ánh rõ trên chứng từ hóa đơn, chính những yêu cầu khắt khe về chế độ kế toán, hóa đơn, chứng
từ đã tạo nên tính minh bạch trong thủ tục thuế GTGT khi nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT Xét ở khía cạnh quản lý, phương pháp khấu trừ thuế được thực hiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế Điều này lý giải vì sao, pháp luật các nước đang áp dụng thuế GTGT đều quy định phương pháp khấu trừ thuế là phương pháp tính thuế chủ yếu của loại thuế này
Hơn nữa, chỉ có những đối tượng thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ mới được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT, do đó phương pháp này sẽ thúc đầy các doanh nghiệp thực hiện hạch toán kế toán đầy đủ, lành mạnh hóa môi trường cạnh tranh và kiểm soát lẫn nhau
11 Đỗ Thị Minh Quý (2014), tlđd (2), tr 19