1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về sự hình thành, thay đổi và phát triển tổ chức chính

116 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: (10)
    • 1.2. Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn và pháp luật về tổ chức chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975 (14)
      • 1.2.1. Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975 (14)
      • 1.2.2 Pháp luật vều tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn (Đô thành Sài Gòn) trước ngày giải phóng 30/4/1975 (19)
    • 1.3. So sánh với tổ chức chính quyền xã (35)
    • 1.4. Nhận xét về pháp luật tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975 (38)
  • CHƯƠNG 2: (41)
    • 2.1.1. Một số quy định pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền Quân quản phường của thành phố Sài Gòn sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 (42)
    • 2.1.2. Nhận xét (43)
    • 2.2.2. Nhận xét (45)
    • 2.3.2. Nhận xét (51)
    • 2.4.1. Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền phường của Thành phố Hồ Chí Minh (52)
    • 2.4.2. Nhận xét (58)
    • 2.5.1. Một số quy định pháp luật về chính quyền phường (60)
    • 2.5.2. Nhận xét (66)
    • 2.6.1. Một số quy định pháp luật về tổ chức Ủy ban nhân dân phường (67)
    • 2.6.2. Nhận xét (71)
  • PHỤ LỤC (89)

Nội dung

Theo Điều 118 Hiến pháp năm 1992 và Điều 4 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành, chính quyền phường ở địa bàn đô thị, trong đó có các quận của thành phố trực thuộc trung ương đượ

Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn và pháp luật về tổ chức chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975

tổ chức chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975

1.2.1 Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975

Ở Miền Nam nói chung và Đô thành Sài Gòn nói riêng, cơ cấu chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975, đã trải qua nhiều thay đổi Những biến đổi này được quy định bởi một tập hợp văn bản pháp lý khác nhau, lên tới tám văn bản, phản ánh sự điều chỉnh liên tục của hệ thống quản lý địa phương thời đó.

Nghị định 303-BNV/HCĐP/PTĐT/NĐ ngày 8 tháng 7 năm 1974 của Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa quy định việc thành lập và cải danh các quận, phường thuộc Đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1966–1974, nội dung này được lưu trữ tại Phông Phủ Thủ tướng – Hồ sơ số 9591 và nằm trong hồ sơ về việc thành lập, cải danh các quận, phường thuộc Đô thành Sài Gòn do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II quản lý; tài liệu phản ánh quá trình chỉnh lý địa giới hành chính đô thị, bao gồm sáp nhập, tách, đổi tên địa danh nhằm phục vụ quản lý nhà nước thời kỳ này, là nguồn tư liệu quan trọng cho nghiên cứu lịch sử đô thị Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1966 đến 1974.

8 Hiến pháp năm 1956 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm); Hiến pháp năm 1967 (thời Nguyễn Văn Thiệu) đều không quy định về đơn vị hành chính và chính quyền phường

- Dụ 57-a ngày 24 tháng 10 năm 1956 về tổ chức nền hành chính quốc gia;

Các sắc lệnh dưới đây đã xác lập và chỉnh lý nền hành chính ở các cấp đô thị và nông thôn: Sắc lệnh 74-TTP ngày 23 tháng 3 năm 1959 về tổ chức nền hành chính Đô thành; Sắc lệnh 67, 68 và 69-NV ngày 9 tháng 4 năm 1965 về tổ chức các Hội đồng Đô thành, tỉnh và thị xã; Sắc lệnh số 203-NV ngày 31 tháng 5 năm 1964 quy định tổ chức xã, ấp; Sắc lệnh số 198-SL/ĐUHC ngày 24 tháng 12 năm 1966 cải tổ nền hành chính xã, ấp; Sắc lệnh số 061/SL/NV ngày 22 tháng 6 năm 1971 và Sắc lệnh số 120-SL/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972 tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống hành chính cấp xã và ấp.

- Các Nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 ấn định ranh giới các quận Đô thành Sài Gòn; Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm

Những văn bản pháp lý cổ điển ghi nhận sự hình thành và tổ chức hành chính đô thị Việt Nam qua các giai đoạn, bắt đầu từ quy định năm 1959 về tổ chức các phường trong Đô thành Nghị định số 810-BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 09 tháng 11 năm 1971 quy định tổ chức hành chính phường và khóm tại Đô thành Sài Gòn, làm nền tảng cho việc phân cấp quản lý và cung cấp dịch vụ công ở đô thị Tiếp tục được củng cố với Nghị định số 220-NĐ/NV ngày 23 tháng [năm], nhằm điều chỉnh cơ cấu tổ chức hành chính địa phương và khắc phục những bất cập trong quản lý khu vực đô thị Những văn bản này phản ánh quá trình hiện đại hóa quản trị đô thị, đồng thời nhấn mạnh sự phân cấp giữa phường và khóm để nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ người dân trong đô thành.

5 năm 1972 về thay thế Quận trưởng công chức bằng sĩ quan quân đội; Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14 tháng 10 năm1972 về tổ chức Tòa hành chính quận; v.v

Về tổ chức chính quyền Đô Thành Sài Gòn, hệ thống được chia thành 4 cấp: cấp thành phố (Đô Thành Sài Gòn) ở mức cao nhất, cấp quận ở mức trung gian, cấp phường ở mức cơ sở và cấp khóm ở khu dân cư Sự phân cấp này giúp quản lý hành chính thuận lợi, đồng bộ và phục vụ người dân nhanh chóng, từ đô thị lớn đến từng khu vực dân cư.

Ở cấp thành phố tồn tại hai loại cơ quan: cơ quan quyết nghị là Hội đồng Đô thành và cơ quan chấp hành là Đô trưởng Đô trưởng là người đứng đầu Tòa Hành chính Đô thành và đồng thời dẫn đầu toàn bộ hệ thống hành chính của đô thành.

+ H ộ i đồ ng đ ô thành: Theo Sắc lệnh số 67-LV ngày 9 tháng 4 năm 1965,

Luật số 02/70 ngày 5 tháng 3 năm 1970 và các Sắc lệnh số 031/SL/NV, Sắc lệnh số 032/SL/NV ngày 18 tháng 3 năm 1970, Hội đồng đô thành gồm 36 nghị viên, có nhiệm kỳ 4 năm

Về cơ cấu tổ chức:

Văn phòng Hội đồng đô thành gồm: 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 1 tổng thư ký và 2 ủy viên Đây là bộ phận thường trực của Hội đồng, có nhiệm vụ giải quyết một số việc của hội đồng giữa các khóa họp, tổ chức họat động của hội đồng và điều hành các phiên họp hội đồng

Hội đồng có 6 ủy ban được phân công nhiệm vụ rõ ràng: Ủy ban hành chính pháp chế; Ủy ban tài chính ngân sách; Ủy ban xã hội y tế; Ủy ban văn hóa thanh niên; Ủy ban giao thông công chánh; và Ủy ban kiểm soát khiếu nại Các nghị viên được phân chia vào các ủy ban này nhằm đảm bảo quản lý, giám sát và thực hiện hiệu quả các lĩnh vực tương ứng như hành chính, pháp chế, ngân sách, y tế xã hội, văn hóa thanh niên, giao thông và xử lý khiếu nại của người dân.

Hội đồng có bốn loại quyền cơ bản: quyền quyết nghị để xem xét và thông qua các quyết định liên quan đến phát triển và quản lý Đô thành; quyền tư vấn để đóng góp ý kiến và đề xuất giải pháp cho các vấn đề đang được xem xét; quyền giám sát nhằm theo dõi, đánh giá việc thực thi các quyết định và chính sách liên quan đến đô thị; và quyền đề đạt các thỉnh nguyện lên Thủ tướng, cũng như Bộ trưởng về những vấn đề liên quan lợi ích của Đô thành Những quyền này phối hợp với nhau nhằm bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của Đô thành, tăng tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý đô thị.

Tòa hành chính đô thành gồm Đô trưởng, các phụ tá Đô trưởng và Tòa đô chánh Theo Khoản 1 Điều 71 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (thông qua ngày 1 tháng 4 năm 1967), Đô trưởng là người chỉ huy cơ quan chấp hành đô thành và sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín; nhưng quy định này không được áp dụng, thực tế là do Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa đề nghị, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bổ nhiệm.

Phụ tá cho Đô trưởng gồm các chức danh Phó Đô trưởng, Tổng thư ký, Phụ tá hành chính, Phụ tá kinh tế-tài chính, Phụ tá chuyên môn và Thanh tra trưởng Phó Đô trưởng có nhiệm vụ giúp Đô trưởng điều hành các sở thuộc Tòa đô chánh và thay thế Đô trưởng khi vắng mặt; Tổng thư ký đảm nhiệm công tác điều phối văn bản và hoạt động của cơ quan; các Phụ tá hành chính, kinh tế-tài chính và chuyên môn đảm nhiệm các khối công việc tương ứng, còn Thanh tra trưởng chịu trách nhiệm thực hiện công tác thanh tra và giám sát.

Tòa đô chánh được tổ chức gồm Văn phòng Đô trưởng và Tổng thư ký, tiếp đến là Khối chuyên môn với 7 Sở và 1 Phòng (Sở công chánh, Sở thiết kế, Sở vệ sinh, Sở y tế, Sở cứu hỏa, Sở mục súc, Công xưởng đô thành và Phòng trồng tỉa), và Khối kinh tế–Tài chính gồm 3 Sở (Sở kinh tế, Sở ngân sách kế toán và Sở thuế thổ trạch và tạp thâu).

5 Khối hành chính gồm 3 sở (Sở nội an, Sở hành chính nhân viên, Sở tiểu học) b C ấ p Qu ậ n

Trước ngày 30/4/1975, Đô thành Sài Gòn được phân thành 11 Quận, đánh số từ Quận 1 đến Quận 11; các Quận này chỉ là đơn vị hành chính, không phải cấp chính quyền cơ bản và không có cơ quan dân cử, mà chỉ có các cơ quan hành chính chịu trách nhiệm quản lý nhà nước ở địa phương.

Chính quyền Quận là tòa hành chính quận, do Quận trưởng đứng đầu Theo Thông tư số 1-a ngày 01 tháng 3 năm 1968, Quận trưởng được Tổng trưởng Nội vụ bổ nhiệm theo đề nghị của Đô trưởng Quận trưởng là người đại diện cho Đô trưởng, có nhiệm vụ áp dụng và thi hành các luật lệ do Đô trưởng ban hành, cấp một số giấy phép và ký thị thực Theo Nghị định 220-NĐ/NV ngày 23 tháng 5 năm 1972, Quận trưởng phải là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Giúp việc cho Quận trưởng có 1 Phó Quận trưởng và 1 Phụ tá hành chính nguyên là Quận trưởng dân sự trước khi có Nghị định số 220-NĐ/NV năm

Theo Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14 tháng 10 năm 1972, Tòa hành chính Quận gồm 2 phòng:

1 Phòng hành chính và quân vụ (có 3 Ban: Ban hành chính, Ban hộ tịch,

Ban quân vụ và nhân dân tự vệ);

2 Phòng kinh tế tài chính (có 3 Ban: Ban kinh tế vệ sinh, Ban tài chính, Ban tạp thâu)

So sánh với tổ chức chính quyền xã

Xã vốn là đơn vị hành chính truyền thống trong nền hành chính địa phương Xã có tư cách pháp nhân, ngân sách và công sản riêng

Tổ chức chính quyền xã ở Miền Nam nói chung trước ngày giải phóng

30/4/1975 có nhiều thay đổi, được quy định bởi nhiều văn bản pháp lý khác nhau, như:

- Dụ 57-a ngày 24 tháng 10 năm 1956 về tổ chức nền hành chính quốc gia;

- Sắc lệnh số 198 và 199-SL/ĐUNC ngày 24 tháng 12 năm 1966 cải tổ nền hành chính xã, ấp; Sắc lệnh số 045-SL/NV ngày 01 tháng 4 năm 1969; Sắc lệnh số

120-SL/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972; Sắc lệnh số 010-SL/NV ngày 20 tháng 01 năm 1973; Sắc lệnh số 094-SL/Th.T/PC1 ngày 30 tháng 4 năm 1974; Sắc lệnh số

158-SL/Th.T/TUCV ngày 10 tháng 7 năm 1974 v.v…

22 Điều 8, Nghị định 810-BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ

- Sự vụ văn thư số 063-TT/Th.T/TUCV ngày 10 tháng 7 năm 1974 về cải tổ cơ cấu chính quyền xã

Xã là một đơn vị hành chính cấp cơ sở của chính quyền địa phương, được quy định từ Điều 70 đến Điều 75 Hiến pháp đệ nhị Cộng hòa

Về mặt tổ chức, xã và phường được xem là cơ quan ngang cấp; tuy nhiên, về phương diện hành chính, phường chỉ là một phân hạt của đô thị, không có tư cách pháp nhân, không có tài sản riêng và cũng không có ngân sách riêng, trong khi xã được áp dụng một cách triệt để nguyên tắc phân quyền địa phương rộng rãi.

Xã là một cấp chính quyền địa phương đầy đủ, khác với phường ở chỗ có hai cơ quan riêng biệt: cơ quan dân cử là Hội đồng xã để quyết nghị các vấn đề của xã, và cơ quan chấp hành là Ủy ban hành chính xã để thi hành các quyết định và quản lý công việc hành chính.

Phường trưởng được bổ nhiệm, còn Xã trưởng được Hội đồng xã bầu lên và không kiêm nhiệm với các chức vụ khác trong Hội đồng xã Xã có hai Phó Xã trưởng là Phó Xã trưởng hành chính và Phó Xã trưởng an ninh, do Tỉnh trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Xã trưởng Ngoài ra, xã còn có 6 ủy viên Ủy ban hành chính xã: 1) Ủy viên quân sự; 2) Ủy viên canh nông; 3) Ủy viên Hộ tịch; 4) Ủy viên Kinh – Tài (những xã có dưới 5.000 dân thì Phó Xã trưởng hành chính kiêm nhiệm); 5) Ủy viên thuế vụ; 6) Ủy viên xã hội và văn hóa.

Văn phòng phường chỉ gồm từ 1 đến 2 thư ký, tùy phái “Cán bộ thanh niên và thể thao” và “Cảnh sát viên” bảo vệ; trong khi Văn phòng xã có cơ cấu nhân sự gồm 1 chánh thư ký, 1 thư ký (nếu xã có dưới 5.000 dân thì không có chức danh này), 1 cán bộ thông tin, chiêu hồi, và 2 cán bộ kỹ thuật có tính chất đa nhiệm (nếu xã có dưới 5.000 dân thì chỉ có 1 cán bộ kỹ thuật).

Ở cấp phường, bộ máy hành chính được tổ chức gọn nhẹ với cơ cấu gồm Phường trưởng và dưới 10 nhân viên, tạo điều kiện hoạt động nhanh nhẹn và hiệu quả Ngược lại, bộ máy hành chính ở xã được xây dựng với quy mô lớn hơn nhằm quản lý toàn diện đời sống xã hội và bao quát mọi lĩnh vực sinh hoạt tại địa phương Sự khác biệt về quy mô và phạm vi trách nhiệm giữa phường và xã phản ánh vai trò quản trị của hai cấp cơ sở: phường tập trung vào các nhiệm vụ hành chính và phục vụ người dân ở mức cơ sở, trong khi xã chịu trách nhiệm điều phối và quản lý các hoạt động cộng đồng trên địa bàn rộng hơn.

Cơ cấu tổ chức hành chính của xã đang dần đi tới các nguyên tắc nông thôn tự trị, tự tức, tự quản và tự phòng, thể hiện sự chuyển dịch về quyền tự chủ và trách nhiệm của cộng đồng Quá trình này cho thấy sự khác biệt rõ nét với chính quyền phường 24, nơi các nguyên tắc tự quản và tự chủ chưa được thể hiện đầy đủ Việc áp dụng mô hình nông thôn tự trị giúp tăng cường tham gia của người dân, nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ công ở cấp xã Tuy nhiên, việc triển khai vẫn đang trên đường hoàn thiện, phụ thuộc vào điều kiện địa phương, nguồn lực và sự đồng thuận của cộng đồng.

Phường được giao các nhiệm vụ chủ yếu trong các lĩnh vực hành chính, hộ tịch, trật tự trị an và thu thuế tạp thu Trong khi đó, xã có quyền hạn và nhiệm vụ rộng hơn rất nhiều, bao quát toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và cư dân ở xã.

Xã trưởng có quyền điều động toàn bộ cán bộ và lực lượng vũ trang địa phương, trong khi tại thành phố Sài Gòn, phường trưởng chỉ có nhiệm vụ theo dõi tình hình an ninh, trật tự chung theo hệ thống hành chính đô thị; mặc dù tại địa phương có lực lượng cảnh sát, lực lượng này thuộc quyền quản lý và điều động của Tổng nha cảnh sát Quốc gia.

Xã được giao quyền tự trị và dân chủ khá cao, với các quyền cụ thể như chi ngân sách xã dưới 50.000 đồng (tiền của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ) với sự chấp thuận của Hội đồng xã; chứng thực các chứng thư liên quan đến bất động sản; ký kết các khế ước; đại diện xã trước pháp luật và các quyền khác.

Phó xã trưởng hành chính chịu trách nhiệm phụ trách công tác hành chính của xã theo chỉ thị của xã trưởng, đảm bảo hoạt động hành chính diễn ra suôn sẻ Khi xã trưởng vắng mặt, Phó xã trưởng hành chính tạm thời thay thế xã trưởng và có thể được thường trực ủy quyền xử lý một số nhiệm vụ nhất định, ngoại trừ việc chi ngân sách xã.

24 Trần Văn Nhã (1968-1971) Luận văn tiến sĩ “Tổ chức hành chánh địa phương Việt Nam ”, Học viện Quốc gia hành chánh, tr.91

25 Sắc lệnh số 047-SL/NV, ngày 12 tháng 3 năm 1973, của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa quy định thẩm quyền chứng thực của Phường trưởng tại thị xã và Xã trưởng tại thôn quê; hồ sơ được lưu tại Phông Phủ Thủ Tướng - Hồ sơ số 10524 - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

Sắc lệnh số 158-SL/Th.T/TUCV ngày 10 tháng 7 năm 1974 do Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ban hành quy định về cơ quan chính quyền xã, xác lập khung tổ chức và thẩm quyền của các cơ quan địa phương ở cấp xã; văn bản này được lưu giữ trong Phông Phủ Thủ Tướng – Hồ sơ số 10524 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và là nguồn tham khảo quan trọng cho nghiên cứu về quản trị hành chính xã thời Việt Nam Cộng hòa và hệ thống cơ quan chính quyền ở cấp xã.

Phó xã trưởng an ninh phụ trách cảnh sát, quân dịch và quân sự ở xã, đồng thời thay mặt xã trưởng khi vắng mặt để giải quyết các vấn đề liên quan đến quân sự Người này có tư cách nhân viên tư pháp, tham gia vào công tác cảnh sát và thực thi pháp luật tại địa phương.

Nhận xét về pháp luật tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975

Nghiên cứu pháp luật về tổ chức chính quyền Phường ở Đô thành Sài Gòn từ

1955 đến 1975, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Trước ngày giải phóng 30/4/1975 ở Đô thành Sài Gòn, hệ thống chính quyền địa phương được tổ chức theo bốn cấp: thành phố, quận, phường, khóm; trong đó chỉ cấp thành phố được xác định là "tập thể địa phương phân quyền", có cơ quan dân cử là Hội đồng Đô thành và cơ quan chấp hành là Tòa hành chính đô thành do Đô trưởng đứng đầu Các cấp quận, phường, khóm chỉ là địa hạt hành chính, nên chỉ có cơ quan hành chính nằm trong hệ thống Đô thành và không có tổ chức cơ quan dân cử Trong khi ở tỉnh, xã lại được tổ chức theo nguyên tắc "địa phương phân quyền", có cơ quan dân cử là Hội đồng xã và cơ quan chấp hành là Ủy ban hành chính xã do Xã trưởng đứng đầu; Xã trưởng được Hội đồng xã bầu, chứ không phải do cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm như Phường trưởng.

Phường là một đơn vị hành chính nằm trong chỉnh thể thống nhất của thành phố, không có tính độc lập và không định cư về dân cư như xã Phường không có cơ quan dân cử mà chỉ là một cơ quan hành chính gọn nhẹ; phường trưởng được Đô trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Quận trưởng để thực thi nhiệm vụ của chính quyền thành phố và chính quyền quận.

Hai là, các vấn đề đều tập trung giải quyết ở cấp Đô thành, cấp phường chỉ là

“cánh tay nối dài” của Đô trưởng, Quận trưởng

Nhiệm vụ của Phường trưởng chỉ ở phạm vi nhỏ, hẹp và không mang tính chất quan trọng Những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của phường gồm hành chính, hộ tịch, trị an và thu thuế tạp thu Thậm chí ở Thị xã, phường trưởng được cấp các loại giấy tờ hộ tịch, nhưng ở Đô thành nhiệm vụ hộ tịch vẫn không được giao cho Phường trưởng mà thuộc quyền của Quận trưởng Chỉ đến đầu năm 1973, nhiệm vụ hộ tịch mới được giao cho Phường trưởng.

Phương thức tổ chức này phù hợp với điều kiện quyết định các vấn đề tại đô thị mà không qua nhiều cấp trung gian, giúp tăng hiệu quả và minh bạch trong quá trình quản lý Vấn đề này cần được nghiên cứu sâu về đổi mới chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay để xác định những cơ chế tối ưu cho đô thị hóa nhanh và bền vững Bởi lẽ cơ quan dân cử ở cấp đô thị về bản chất là cơ quan có quyền bàn, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng tại đô thị, đóng vai trò then chốt trong quản lý và phát triển đô thị.

Bộ máy hành chính phường lúc ban đầu rất nhỏ gọn, chỉ có khoảng 2–3 người làm việc Đến năm 1967, quy mô được mở rộng nhưng vẫn chỉ khoảng 10 nhân viên.

Phường không có ngân sách riêng và kinh phí hoạt động được cấp từ ngân sách Đô thành nhưng rất hạn chế Năm 1969, ngân sách dành cho 11 quận và các phường chỉ tổng cộng 73.680.000 đồng, bao gồm lương, vật liệu, dịch vụ điều hành và đầu tư trực tiếp; trong khi ngân sách dành cho Đô thành năm 1969 lên tới 1.460.000.000 đồng 27.

N ă m là, Nếu như Quận trưởng là công chức, được hưởng lương và phụ cấp từ

Ngân sách của đô thị dành cho Phường trưởng, Phó Phường trưởng, Khóm trưởng và Phó Khóm trưởng không thuộc diện công chức và không được hưởng chế độ công chức; họ chỉ được trả thù lao khoán hàng tháng kèm theo các phí văn phòng là 10.000 đồng.

Phụ tá Phường trưởng không có quyền hạn độc lập mà chỉ có trách nhiệm thực thi các nhiệm vụ do Phường trưởng giao

Trong nền đệ nhị Cộng hòa, các cơ quan hành chính đều do quân nhân làm người đứng đầu Do đặc điểm này, các chính sách được áp dụng mang tính quân sự và tập trung quyền lực, ảnh hưởng tới cách quản lý nhà nước và quá trình thi hành các quyết định.

Trong giai đoạn 1968-1971, các tài liệu tham khảo cho thấy mọi người đứng đầu chính quyền địa phương đều là quân nhân Đứng đầu Đô thành Sài Gòn là Đại tá Đỗ Kiến Nhiễu nhậm chức Đô trưởng ngày 8 tháng 6 năm 1968 và sau này được phong Chuẩn tướng, các Quận trưởng đều là Trung tá kiêm sĩ quan Đặc khu trưởng tại Đô thành Sài Gòn Như vậy, tổ chức chính quyền mang tính chất hành chính – quân sự Chính quyền đã dựa vào hệ thống chỉ huy của quân đội để thực hiện mục tiêu chiến tranh, chưa tập trung vào quản lý, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Bên cạnh đó, nếu người đứng đầu phường là một quân nhân thì sẽ có tác phong máy móc và độc đoán, trong khi nhiệm vụ của Phường trưởng đòi hỏi sự tế nhị và mềm dẻo.

Từ năm 1972, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc luật số 004-SL ngày 15 tháng 7 năm 1972, và Đô thành Sài Gòn cùng các vùng tạm chiếm khác tiếp tục chịu chế độ thiết quân luật.

Do đó, tùy theo tình hình thực tế tại từng thời điểm, có thể sáp nhập hoặc chia tách phường, hoặc thành lập phường mới nhằm phù hợp với công tác quản lý tại địa phương Việc điều chỉnh cơ cấu phường giúp tối ưu hóa quy hoạch, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính địa phương và đáp ứng nhu cầu của người dân Các quyết định sáp nhập, chia tách hay thành lập phường mới được căn cứ vào dân số, diện tích, nguồn lực và điều kiện của địa phương để đảm bảo sự cân đối và phát triển bền vững.

Ở phường, cán bộ là “cán bộ thanh niên và thể thao” tuy làm việc tại địa phương nhưng không thuộc sự quản lý của Phường trưởng mà chịu sự điều động của Tòa Đô chính, nên Phường trưởng không thể trực tiếp điều động hay phân công nhiệm vụ mà chỉ phối hợp, khiến hoạt động của phường chưa đạt hiệu quả Bên cạnh đó, lực lượng cảnh sát địa phương dù có mặt tại phường nhưng thuộc quyền quản lý và điều động của Tổng nha cảnh sát Quốc gia; muốn huy động lực lượng này, Phường trưởng phải có sự cho phép của cấp trên Như vậy, cách tổ chức và quản lý nhân sự của phường mang tính chất nửa vời, cản trở hiệu quả thực thi nhiệm vụ và quản lý nguồn lực.

Ở Xã, Xã trưởng có quyền điều động các lực lượng quân sự và chỉ đạo các cán bộ ở các ngành trong phạm vi hoạt động của xã Phạm vi quyền hạn của Xã trưởng không chỉ giới hạn ở các hoạt động hành chính mà còn bao quát toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội trong xã.

Nghị định 220/NĐ/NV, ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1972 bởi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, là văn bản pháp lý quan trọng được lưu giữ tại Phông Phủ Thủ Tướng Văn bản này được lưu trong hồ sơ số 10596 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, là nguồn tư liệu quý cho nghiên cứu về quản trị hành chính và chính sách thời Việt Nam Cộng hòa.

Một số quy định pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền Quân quản phường của thành phố Sài Gòn sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975

Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của chính quyền Sài Gòn, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ miền Nam, và ngày 7 tháng 5 năm 1975, Ủy ban Quân quản được thành lập theo cơ cấu các cấp của chính quyền Sài Gòn để thực hiện quản lý trên địa bàn thành phố.

Trong giai đoạn này có một số văn bản quy định về tổ chức quản lý thành phố, chẳng hạn Chỉ thị số 06/CT-Z7 ngày 10 tháng 4 năm 1975, Thông báo về việc thành lập Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định ngày 03 tháng 7 năm 1975 và Quyết định số 311/TC-CQ ngày 10 tháng 11 năm 1975 Ở thành phố Sài Gòn – Gia Định, cơ cấu tổ chức gồm 4 cấp: Thành phố, Quận, Phường và Khóm, với Ủy ban quân quản được thành lập ở mỗi cấp tương ứng để quản lý thành phố.

Ủy ban Quân quản gồm Chủ tịch, một số sĩ quan quân đội và một số cán bộ dân sự là thành viên Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Quân quản chủ yếu là đảm bảo an ninh, trật tự và quản lý hành chính được giao, điều hành hoạt động của lực lượng liên quan, ra các quyết định và thực thi các biện pháp cần thiết để duy trì sự ổn định và an toàn cho khu vực thuộc phạm vi quản lý.

- Tiêu diệt các ổ đề kháng, thanh toán triệt để các lực lượng phản động của địch;

- Nhanh chóng ổn định tình hình và thiết lập trật tự trị an của thành phố, xây dựng lực lượng tự vệ quần chúng;

- Chuẩn bị những điều kiện cần thiết để chuyển sang chính quyền nhân dân cách mạng.

Nhận xét

Chính quyền Quân quản Sài Gòn tồn tại trong vòng 258 ngày thì chuyển giao cho chính quyền nhân dân cách mạng Trong thời gian tồn tại của mình, chính quyền Quân quản đã đảm bảo được an ninh trật tự, thực hiện một khối lượng lớn công việc được Trung ương đánh giá “ …hệ thống chính quyền cách mạng đã hình thành ngày càng vững mạnh, đủ sức quản lý các mặt đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội…” Ủy ban Quân quản đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, được Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam quyết định chấm dứt nhiệm vụ để chuyển giao cho cơ quan quản lý hành chính nhà nước vào ngày 21 tháng 01 năm 1976

2 2 Pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân cách mạng phường

Tháng 4 năm 1976, nhân dân cả nước đã bầu ra được Quốc hội thống nhất (Quốc hội khóa VI) Tại kỳ họp đầu tiên ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh

Như vậy, địa phận thành phố Hồ Chí Minh bao gồm cả Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Hậu Nghĩa, Bình Dương, Biên Hòa với diện tích 2.029km 2 Tuy nhiên, dân cư phân bố không đồng đều và quá chênh lệch 29 , tính chất nông thôn, thành thị chưa được xác định

Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Hội đồng nhân dân thành phố khóa I đã điều chỉnh địa giới hành chính thành phố còn 17 quận, huyện (12 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành) Ở 12 quận nội thành tiến hành giải tán khóm, hình thành tổ dân phố, chia nhỏ phường, gồm 267 phường Quận ngoại thành chuyển thành huyện, dưới là các xã có 79 xã Như vậy, sau khi sắp xếp lại hệ thống chính

29 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số B2006-10-03, do Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thực hiện, tập trung vào Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh: lịch sử, hiện tại và phương hướng đổi mới trong tiến trình đổi mới chính trị ở Việt Nam Các đề tài đi sâu phân tích quá trình hình thành và vận hành của hệ thống chính quyền thành phố, đánh giá thực trạng hiện nay và đề xuất các định hướng đổi mới nhằm hiện đại hóa quản trị đô thị và tăng cường hiệu quả của tiến trình đổi mới chính trị ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh, tr.54 quyền các cấp, bỏ cấp khóm, ấp, thành phố chỉ còn lại 3 cấp là thành phố, quận - huyện, phường – xã

2.2.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân cách mạng phường của thành phố Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

Các văn bản pháp luật quy định về tổ chức chính quyền phường giai đoạn này là:

- Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chánh các cấp năm 1962

Quyết định số 728/QĐ-UB ngày 24 tháng 01 năm 1976 của Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố Hồ Chí Minh ban hành Bản quy định tạm thời những nguyên tắc chung về tổ chức và chế độ làm việc của chính quyền từ Thành phố Hồ Chí Minh đến cơ sở, nhằm thống nhất và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp địa phương Văn bản nêu rõ vị trí và vai trò của phường trong hệ thống chính quyền địa phương và quy định khung tổ chức, trình tự làm việc cùng cơ chế phối hợp giữa các cấp để bảo đảm sự thông suốt và kỷ luật công vụ Bản quy định tạo nền tảng cho việc triển khai nhiệm vụ chính trị ở cấp phường và cấp cơ sở, tăng cường trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý từ thành phố xuống cơ sở Đây là căn cứ để vận hành chính quyền địa phương một cách có hệ thống, phục vụ nhân dân một cách trực tiếp và minh bạch hơn.

Phường là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở địa phương, là cấp quản lý gần dân nhất trong hệ thống hành chính và đóng vai trò điều hành các hoạt động đô thị tại địa bàn Chính quyền phường do Ủy ban nhân dân phường quản lý, là cơ quan nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm thực hiện công vụ, quản lý hành chính và phục vụ cộng đồng dân cư Cơ cấu tổ chức của phường được xây dựng với các phòng ban và các đoàn thể cơ sở, phân công nhiệm vụ và quyền hạn rõ ràng, đồng thời chế độ làm việc của phường được quy định nhằm bảo đảm tính kỷ cương, hiệu quả và sự kết nối với người dân trong quá trình tuyên truyền, tiếp nhận và giải quyết các nhu cầu của cư dân.

Giúp việc cho ủy ban nhân dân cách mạng phường là 4 Ban chuyên môn:

Để quản lý và điều phối các hoạt động ở cấp cơ sở, hệ thống bao gồm bốn ban chủ chốt: Ban An ninh nội chính, Ban Chỉ huy phường đội, Ban Y tế – Vệ sinh và Thương binh xã hội, và Ban Thông tin Văn hóa, Giáo dục, Thể dục Thể thao Các ban đảm nhận nhiệm vụ bảo đảm an ninh, tổ chức chỉ huy và điều hành hoạt động của phường đội; chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môi trường và quan tâm đến người có công và các đối tượng xã hội; đồng thời đẩy mạnh thông tin, giáo dục, văn hóa và thể thao để nâng cao đời sống cộng đồng.

Mỗi ban của ủy ban nhân dân cách mạng phường được phụ trách bởi một ủy viên, đồng thời có thể huy động các công dân có khả năng và nhiệt tình cách mạng tham gia vào các công việc thích hợp và hoạt động không chuyên trách tại các ban này; nhiệm vụ và quyền hạn của từng ban được quy định rõ để đảm bảo hoạt động hiệu quả của hệ thống ủy ban nhân dân cấp phường.

30 Tổ chức chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp xã tại TP Hồ Chí Minh, Lưu Đức Quang – Giảng viên khoa

Luật hành chính, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh – Tạp chí khoa học pháp lý số 1/2009

Ở TP Hồ Chí Minh, có 31 tổ chức chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp xã được phân tích bởi Lưu Đức Quang – giảng viên Khoa Luật hành chính, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, trong Tạp chí khoa học pháp lý số 1/2009 Bài viết cho thấy ủy ban nhân dân cách mạng phường tiếp tục thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương như ở thời kỳ trước, với trách nhiệm quản lý hộ khẩu, lao động, thương binh – xã hội và các lĩnh vực thông tin, văn hóa, tuyên truyền, quản lý kinh tế và thực hiện các chủ trương, chính sách Mối quan hệ giữa các tổ chức chuyên môn và các cơ quan nhà nước ở cấp xã được nêu bật như nền tảng cho hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước tại địa phương và phục vụ cộng đồng.

* Mối quan hệ giữa các Ban và Ủy ban nhân dân:

Các Ban chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ủy ban nhân dân; kế hoạch hoạt động của các Ban dựa trên việc triển khai Nghị quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của ngành dọc cấp trên Mọi hoạt động của các Ban phải thông qua sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân và được thống nhất với hoạt động của các đoàn thể quần chúng ở địa phương.

Ban an ninh - nội chính và Ban Chỉ huy phường đội phải tuyệt đối chấp hành các nghị quyết của ủy ban nhân dân cách mạng cơ sở Đồng thời, họ cũng phải chịu sự lãnh đạo của chi ủy trong một số công tác cơ mật.

Nhận xét

Đây là lần đầu tiên tổ chức chuyên môn chính thức xuất hiện về mặt pháp lý trong cơ cấu của Ủy ban nhân dân phường tại thành phố Hồ Chí Minh Cơ cấu các Ban chuyên môn được thiết kế phù hợp với hoàn cảnh của chính quyền cách mạng lâm thời, khi quần chúng nhân dân được huy động tham gia tích cực vào công tác quản lý nhà nước Thành phần của các Ban khá đơn giản, tập trung vào các chức năng thiết yếu để đảm bảo hiệu quả quản lý ở cấp phường.

Hệ thống tổ chức và bộ máy quản lý nhà nước đã hình thành nhanh chóng và toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đáp ứng một phần nhiệm vụ chính trị Tuy nhiên, phân công, phân cấp chưa bắt kịp thực tế nên còn tồn tại sơ hở trong công tác quản lý kinh tế và việc triển khai các chủ trương, chính sách, khiến vai trò của chính quyền cơ sở chưa được phát huy đầy đủ.

2 3 Pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân cách mạng phường

Năm 1978, huyện Cần Giờ thuộc tỉnh Đồng Nai được sáp nhập vào thành phố

Hồ Chí Minh Đến thời điểm này, thành phố Hồ Chí Minh có 18 quận, huyện (12 quận, 6 huyện), 347 xã, phường, thị trấn (261 phường, 84 xã, 2 thị trấn)

2.3.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền phường của Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 02 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI có Nghị quyết về tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong khi chưa có Hiến pháp mới trong đó có nội dung quy định về chính quyền địa phương là thực hiện theo Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ngày 15 tháng 5 năm 1977 Trên cơ sở bầu cử hội đồng nhân dân phường, thành lập nên ủy ban hành chính phường Mô hình chính quyền thành phố với ba cấp hoàn chỉnh (gồm cả hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính) về cơ bản được duy trì cho đến tháng 4 năm 2009

Các văn bản pháp luật quy định về tổ chức chính quyền phường giai đoạn này là:

Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 đã đặt nền tảng pháp lý cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính quyền địa phương; khi chưa có Hiến pháp mới, Quốc hội khóa VI đã ban hành ngày 02 tháng 7 năm 1976 Nghị quyết về tổ chức và hoạt động của Nhà nước (Nghị quyết không số).

- Nghị quyết ngày 07 tháng 3 năm 1979 của Hội đồng nhân dân thành phố kỳ họp thứ 6, khóa I

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mang mã số B2006-10-03, "Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh: lịch sử, hiện tại và phương hướng đổi mới trong tiến trình đổi mới chính trị ở Việt Nam", do Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghiên cứu hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích thực trạng hiện tại và đề xuất các phương hướng đổi mới nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp thành phố Các đề xuất của đề tài nhằm hỗ trợ tiến trình đổi mới chính trị ở Việt Nam và là nguồn tham khảo quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách cũng như nghiên cứu về thể chế tại nước ta.

Hồ Chí Minh, tr.57 a) Vị trí, vai trò:

Phường, xã và thị trấn là các đơn vị hành chính cấp cơ sở, nằm ở mức thấp nhất của hệ thống quản lý địa phương Chính quyền phường được tổ chức gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động của địa phương và phục vụ cộng đồng người dân.

Hội đồng nhân dân phường là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân phường bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân phường Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương Cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc của Hội đồng nhân dân phường được xác định nhằm bảo đảm hoạt động hiệu quả và công khai của cơ quan nhà nước ở địa phương.

* Hội đồng nhân dân phường

Hội đồng nhân dân do nhân dân trực tiếp bầu ra, có nhiệm kỳ 2 năm

Hội đồng nhân dân có Chủ tịch làm người đứng đầu; trong mỗi kỳ họp, hội đồng tiến hành bầu đoàn Chủ tịch và đoàn thư ký cho kỳ họp đó.

Hội đồng nhân dân tiến hành các kỳ họp theo chu kỳ ba tháng một lần và có thể tổ chức hội nghị bất thường khi thấy cần thiết hoặc khi ít nhất một phần ba tổng số đại biểu yêu cầu; ủy ban hành chính phường chịu trách nhiệm triệu tập hội nghị bất thường của Hội đồng nhân dân Hội đồng nhân dân họp công khai để bảo đảm tính minh bạch và sự tham gia của cử tri Trong trường hợp đặc biệt, Hội đồng nhân dân có thể họp kín theo đề nghị của đoàn Chủ tịch hội nghị hoặc của Ủy ban hành chính.

Trong các phiên họp của Hội đồng nhân dân, những người không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân có thể được mời dự và phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết.

Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân chỉ được thông qua khi có sự tán thành của quá nửa tổng số đại biểu; Hội đồng nhân dân biểu quyết bằng hai hình thức: giơ tay hoặc bỏ phiếu kín.

Ủy ban hành chính phường gồm Văn phòng Ủy ban hành chính và 7 Ban chuyên môn, trong đó có các ban: 1 Ban Tài chánh - Thương nghiệp; 2 Ban Thương binh - Xã hội; 3 Ban Y tế; và các ban chuyên môn khác.

4.Ban thông tin văn hóa - giáo dục – thể dục thể thao; 5 Ban quân sự; 6.Ban công an; 7 Ban tiểu thủ công nghiệp và lao động

Các trưởng ban là ủy viên Ủy ban; các thành viên còn lại của Ban được phân thành hai nhóm: thành viên chuyên trách (cán bộ, nhân viên nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ thuật) và thành viên không chuyên trách (đại diện các ban, ngành, đoàn thể liên quan và một số quần chúng tốt, có uy tín và thông thạo công việc) c) Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban được quy định rõ ràng, nhằm đảm bảo chức năng, thẩm quyền và hoạt động hiệu quả của ủy ban trong hệ thống quản lý.

* Hội đồng nhân dân phường

Nội dung chính: Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân được quy định từ điều 9 đến điều 19 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm , với các điều này xác định phạm vi hoạt động của Hội đồng ở các cấp, vai trò giám sát, quyết định và tổ chức thực hiện các nghị quyết liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, quản lý ngân sách và dự toán, cũng như rà soát, kiểm tra và báo cáo kết quả thực thi nghị quyết; đồng thời mô tả cơ chế phối hợp giữa Hội đồng với Ủy ban hành chính và các cấp chính quyền để tăng cường sự tham gia của cử tri và nhân dân trong quá trình ra quyết sách.

1962 Nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân phường được áp dụng theo quy định của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn

Hội đồng nhân dân địa phương quyết định các vấn đề về kinh tế, văn hóa và xã hội; đồng thời phát huy nguồn lực và tiềm năng của địa phương để thực hiện các nhiệm vụ chung của Nhà nước tại địa bàn và nâng cao đời sống của nhân dân.

Nhận xét

Vào năm 1977, Thành phố Hồ Chí Minh bầu cử Hội đồng nhân dân ở cả ba cấp Dựa trên kết quả đó, Ủy ban hành chính được thành lập nhằm thay thế cho Ủy ban nhân dân cách mạng trước đó.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng nhân dân phường ra đời sớm nhất trên cả nước, trước cả khi Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 được ban hành, và thành phố có đầy đủ ba cấp chính quyền So với cơ cấu chính quyền của Hà Nội và Hải Phòng, có một số khác biệt: Hà Nội và Hải Phòng chỉ có hai cấp chính quyền hoàn chỉnh (thành phố và khu phố), trong khi cấp tiểu khu chỉ có Ban đại diện tiểu khu, không phải là cơ quan chính quyền mà là một tổ chức tự quản của nhân dân tiểu khu.

Đánh giá cho thấy hoạt động của hội đồng nhân dân phường chưa hiệu quả, vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò và sự chủ động, đặc biệt ở các chức năng kiểm tra, giám sát và đề ra chức năng cụ thể, phần lớn dựa vào nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp trên và kế hoạch của ủy ban hành chính Ủy ban hành chính phường đã phân công công tác theo chuyên môn và hướng tới xu hướng chuyên nghiệp hóa So với ủy ban nhân dân cách mạng năm 1977, ủy ban hành chính phường ở giai đoạn này đã tăng số lượng ban lên hai ban Chức năng của các ban được xác định rõ nhằm tạo cho cấp chính quyền cơ sở một cơ chế thống nhất, vững mạnh, có hiệu lực đủ để bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân.

Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền phường của Thành phố Hồ Chí Minh

Tính đến năm 1985, Thành phố có 12 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành với

237 phường, 84 xã, 3 thị trấn Diện tích của thành phố Hồ Chí Minh là 2.095,239 km 2 33

2.4.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền phường của Thành phố Hồ Chí Minh

Các văn bản pháp luật quy định về tổ chức chính quyền phường giai đoạn này là:

- Hiến pháp năm 1980, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1983;

- Quyết định số 94-HĐBT ngày 26 tháng 9 năm 1981 của Hội đồng bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấp phường;

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành một chuỗi văn bản nhằm xác định phương hướng, nội dung phân công, phân cấp cho phường, xã và củng cố tổ chức bộ máy chính quyền cấp phường, đồng thời vận dụng chính sách đối với cán bộ phường Trong đó, Quyết định số 53/QĐ-UB ngày 20 tháng 3 năm 1981 ban hành bản quy định về phương hướng và nội dung phân công, phân cấp cho phường, xã; Quyết định số 123/QĐ-UB ngày 29 tháng 6 năm 1985 ban hành bản quy định về phân công, phân cấp quản lý, tổ chức bộ máy chính quyền cấp phường và vận dụng chính sách, chế độ đối với cán bộ phường; Quyết định số 231/QĐ-UB ngày 24 tháng 7 năm

1991 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy chính quyền cấp phường;

Quy chế số 421/TCCQ ngày 10 tháng 9 năm 1991 và Quy chế số 429/TCCQ ngày 22 tháng 3 năm 1993 của Ban Tổ chức Chính quyền Thành phố quy định rõ tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân phường, mô tả cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác giữa ủy ban nhân dân phường với các cấp trên và các cơ quan liên quan.

33 http://hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/default.aspx?Source=%2fgioithieu&Category=Gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+chung&ItemID&Mode=1 a) Vị trí, vai trò:

Quyết định số 94-HĐBT ngày 26 tháng 9 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng lần đầu tiên quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấp phường Theo quy định này, phường là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị, được tổ chức theo khu vực dân cư ở đường phố và có quy mô dân số từ 7.000 đến 12.000 người (Điều 1) Quyết định này xác định vị trí và vai trò của phường như một cấp quản lý hành chính tại địa bàn dân cư, tạo nền tảng cho tổ chức chính quyền cơ sở ở đô thị Văn bản này được tiếp nối bởi Quyết định số 53/QĐ-UB ngày 20 tháng 3 năm , tiếp tục quy định về tổ chức và chức năng của phường.

Năm 1981, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng phường và xã là nơi trực tiếp diễn ra ba cuộc cách mạng và là cơ sở tổ chức thực hiện quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động; tại đây, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân được thực hiện sát dân và bảo đảm sự nhất trí giữa toàn dân, tập thể và người lao động Phường xã còn có nhiệm vụ xây dựng, bình chọn và nhân các điển hình tiên tiến để xây dựng phường xã tiên tiến toàn diện Đồng thời, bài viết cũng trình bày cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc của phường nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý.

* Hội đồng nhân dân phường

Hội đồng nhân dân phường hoạt động theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983, với nhiệm kỳ ban đầu là 2 năm Đến năm 1989, việc sửa đổi Luật quy định nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân là 5 năm Hội đồng nhân dân phường hiện có một Ban Thư ký.

Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân phường được xác định theo quy mô dân số Mỗi phường có từ 15 đến 25 đại biểu HĐND Phường có từ 3.000 người trở xuống được bầu 25 đại biểu; phường có trên 3.000 người thì cứ thêm 1.000 người sẽ bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số đại biểu không vượt quá 35.

Hội đồng nhân dân các cấp tổ chức kỳ họp định kỳ ba tháng một lần và các phiên họp được tiến hành công khai Khi cần thiết, hội đồng quyết định họp kín theo đề nghị của ủy ban nhân dân hoặc Đoàn Chủ tịch kỳ họp.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân chỉ được thông qua khi có sự tán thành của quá nửa tổng số đại biểu hội đồng nhân dân Nghị quyết và biên bản của các phiên họp được Đoàn Chủ tịch kỳ họp ký chứng thực để đảm bảo tính pháp lý và tính xác thực của kỳ họp.

* Ủy ban nhân dân phường

Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên của Ủy ban nhân dân phường được Hội đồng nhân dân phường bỏ phiếu kín bầu tại kỳ họp đầu tiên, và kết quả bầu cử phải được Ủy ban nhân dân quận phê chuẩn; Ủy ban nhân dân cấp xã có từ 7 đến 9 thành viên, gồm Chủ tịch, 2–3 Phó chủ tịch, 1 ủy viên thư ký, 1 ủy viên văn xã, 1 ủy viên công an và 1 ủy viên quân sự (Điều 50, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1983); Luật 1983 quy định thành lập bộ phận thường trực ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch và ủy viên thư ký nhưng đến năm 1989 thì Thường trực ủy ban nhân dân bị bãi bỏ; Ủy ban nhân dân phường chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân phường và trước Ủy ban nhân dân quận; những nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số tại phiên họp của toàn thể ủy ban nhân dân.

Ngoài ra, bộ máy giúp việc cho Ủy ban nhân dân phường là: Văn phòng Ủy ban nhân dân; Ban Chỉ huy Quân sự; Công an phường; Ban Sản xuất - Tiểu thủ công nghiệp và lao động; Ban Tài chính - Thương nghiệp; Ban Văn xã; Ban Tư pháp; Ban Thanh tra nhân dân

Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, trước năm 1991, tổ chức chính quyền phường được thi hành thí điểm theo Quyết định số 53/QĐ-UB Căn cứ theo quy định: có 2 loại tổ chức chuyên môn dựa vào tính chất tạm thời hay thường xuyên của công tác Các tổ chức chuyên môn thường xuyên gồm 11 Ban: 1 Văn phòng ủy ban nhân dân, 2 Ban Kế hoạch - thống kê - lao động, 3.Ban Tài chính - thuế,

4 Ban thương nghiệp - quản lý thị trường, 5.Ban văn hóa thông tin và truyền thanh, 6.Ban Giáo dục - nhà trẻ, 7.Ban y tế, 8.Ban thể dục thể thao, Ban thương binh - xã hội, 9.Ban xây dựng nhà đất và công trình công cộng, 10.Ban Công an,

Cơ cấu các ban chuyên môn của phường (trừ Ban công an và Ban chỉ huy phường đội) gồm các cán bộ chuyên trách làm nòng cốt, đại diện các ban ngành, đoàn thể quần chúng, các tổ chức dân lập có liên quan và một số quần chúng tốt Đến ngày 29 tháng 6 năm 1985, các cơ quan chuyên môn của phường được tổ chức theo quyết định số 123/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân Thành phố Bộ máy giúp việc gồm có 8 Ban (giảm 3 ban so với trước), trong đó Văn phòng ủy ban nhân dân là một trong những đơn vị cấu thành.

Danh sách các ban của cơ quan gồm Ban Chỉ huy công an, Ban Kế hoạch, Ban Sản xuất - Tiểu thủ công nghiệp, Ban Tài chính - Thương nghiệp, Ban Văn xã, Ban Tư pháp và Thanh tra nhân dân.

Vào ngày 24 tháng 7 năm 1991, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định số 231/QĐ-UB, quy định thu hẹp chức năng quản lý nhà nước ở cấp phường và tổ chức bộ máy chính quyền phường gồm ủy ban nhân dân và tổ chuyên môn, nhân viên hành chính giúp việc Ủy ban nhân dân phường được tổ chức với 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch và 3 thành viên; bộ máy giúp việc gồm các tổ chuyên môn và nhân viên hành chính giúp việc cho hoạt động của ủy ban.

Nhận xét

Hiến pháp năm 1980 đặc biệt đề cao vị trí và vai trò của các cơ quan dân cử ở mọi cấp, đồng thời áp dụng triệt để nguyên tắc vị trí tối cao và nguyên tắc toàn quyền của các cơ quan dân cử trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác cùng cấp; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 xác định cơ cấu, chức năng và thẩm quyền của các cơ quan dân cử nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của nhân dân và sự phối hợp hiệu quả giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân với các cơ quan nhà nước ở các cấp.

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương Hội đồng nhân dân quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt.

Trong giai đoạn này, quan điểm chỉ đạo của Đảng về quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung và tinh thần Hiến pháp năm 1980; từ đó, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 và Luật sửa đổi năm 1989 đã thể chế hóa nguyên tắc này thành các quy định cụ thể.

Chế độ làm việc tập thể của các cơ quan chính quyền địa phương hiện nay không phù hợp với tính chất và hoạt động nhanh nhạy, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh tại địa phương; đồng thời các quy định này chưa làm rõ đầy đủ vai trò và trách nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân cũng như của các thành viên ủy ban nhân dân.

Trong những năm gần đây, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã được mở rộng đáng kể, đặc biệt ở lĩnh vực kinh tế Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế đã trở thành chức năng cơ bản của chính quyền địa phương.

Về nguyên tắc, ủy ban nhân dân phường nằm trong mối quan hệ song trùng trực thuộc, nghĩa là vừa trực thuộc hội đồng nhân dân phường vừa trực thuộc ủy ban nhân dân quận Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1983, cùng với Luật sửa đổi năm 1989, chủ yếu quy định rằng ủy ban nhân dân trực thuộc hội đồng nhân dân Khi chủ tịch hoặc phó chủ tịch ủy ban nhân dân phường vi phạm pháp luật hoặc không chấp hành mệnh lệnh của ủy ban nhân dân quận, quyền bãi miễn thuộc về hội đồng nhân dân phường, trong khi ủy ban nhân dân quận không có quyền can thiệp trực tiếp.

Tuy nhiên, hoạt động của hội đồng nhân dân phường vẫn mang tính hình thức và thiếu thực quyền, nên hiệu lực quản lý và kỷ luật trong quản lý Nhà nước không được bảo đảm Vì vậy, cần tăng cường thẩm quyền và vai trò của hội đồng để đảm bảo quản lý Nhà nước ở cấp phường có hiệu lực, đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát và thực thi các quyết định của hệ thống hành chính.

Bài viết của Trương Đắc Linh nghiên cứu sâu về mô hình tổ chức chính quyền địa phương, trình bày sự phát triển qua bốn bản Hiến pháp và những vấn đề đổi mới cần được ưu tiên trong quản lý địa phương Nội dung làm rõ cách hiến pháp xác lập cơ cấu quyền lực, phân cấp và trách nhiệm của các cấp chính quyền, đồng thời phân tích những thay đổi cần thiết để nâng cao hiệu quả và sự tham gia của người dân Tác giả nêu ra các thách thức và cơ hội đổi mới như tăng tính minh bạch, cải cách cơ chế kiểm soát quyền lực và điều chỉnh cơ chế ngân sách địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững Bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý và cung cấp khung phân tích hữu ích cho nhà hoạch định, nhà nghiên cứu và người thực thi pháp luật quan tâm đến đổi mới tổ chức chính quyền địa phương.

37 chế độ làm việc tập thể được áp dụng rộng rãi, không chỉ với ủy ban nhân dân các cấp mà còn được áp dụng cho Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) và Hội đồng Nhà nước (nguyên thủ quốc gia tập thể), nhằm bảo đảm lãnh đạo tập thể và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.

Ngoài ra, khác với Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 năm 1945 cũng như Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962, Luật mới tập trung điều chỉnh thẩm quyền, cơ cấu và chức năng của hệ thống hành chính, đồng thời củng cố vai trò của Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính ở các cấp trong quản lý nhà nước và hoạt động thực thi pháp luật.

Trong hệ thống pháp lý năm 1983 và Luật sửa đổi năm 1989 không có quy định riêng về tổ chức chính quyền phường ở đô thị và xã ở nông thôn, mà gọi chung là cấp xã và xác định là đơn vị hành chính cơ bản, là cấp tổ chức chính quyền hoàn chỉnh; tuy nhiên xã và phường có đặc điểm hoàn toàn khác nhau về cơ bản Để giải quyết mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, đã có quy định thành lập cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương nhằm tách chức năng thường trực hội đồng nhân dân khỏi ủy ban nhân dân, giúp hội đồng nhân dân thoát khỏi sự đỡ đầu và độc lập về mặt tổ chức đối với ủy ban nhân dân Tuy nhiên, quy định này chưa được triển khai triệt để, khiến Hội đồng nhân dân phường vẫn chưa có bộ phận thường trực riêng của mình.

Hiến pháp năm 1992 và các Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994, năm 2003 đã xây dựng khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam Các văn bản do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy định cụ thể về tổ chức chính quyền nhân dân phường, từ cơ cấu và chức năng cho tới cơ chế hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân phường nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.

Một số quy định pháp luật về chính quyền phường

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) thể hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời tạo ra bước cải cách quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chuyển đổi cơ bản của nền kinh tế - xã hội từ mô hình tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khi ở cấp trung ương, công tác đổi mới hệ thống chính trị và tổ chức nhà nước được đẩy mạnh, thì mô hình tổ chức chính quyền địa phương cũng được định hình và quy định cụ thể trong Hiến pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phân quyền phù hợp với thực tiễn từng địa phương.

1992 (sửa đổi 2001), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm

1994 và năm 2003 về cơ bản không có sự thay đổi nhiều so với giai đoạn trước công cuộc đổi mới

Bài viết của Trương Đắc Linh đưa ra các ý kiến liên quan đến vấn đề thành lập cơ quan thường trực Hội đồng nhân dân Tác phẩm phân tích vai trò, cơ cấu và chức năng của cơ quan này trong hệ thống quyền lực địa phương, đồng thời đánh giá những thuận lợi và thách thức khi triển khai mô hình tổ chức này Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn về sự tác động của cơ quan thường trực đến hiệu lực và hiệu quả của quyết định của HĐND Bài viết được đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 1989, trang 29-34, là một đóng góp quan trọng cho hệ thống lý luận về cải cách hành chính và tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam Thông tin này hữu ích cho người quan tâm đến lịch sử và phát triển cơ chế hoạt động của HĐND ở cấp địa phương.

TP Hồ Chí Minh được tổ chức 3 cấp chính quyền hoàn chỉnh ở nội thành: thành phố - quận - phường, tương đương với tỉnh - huyện - xã và được gọi chung là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Chính phủ phân cấp quản lý một số lĩnh vực (39 lĩnh vực) cho TP Hồ Chí Minh từ năm 2002.

Trong năm 2006, thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành 24 văn bản liên quan đến tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ, công chức, trong đó có quy định về chính quyền phường Hiện nay, TP.HCM có 24 quận huyện, trong đó 5 huyện ngoại thành có 58 xã và 5 thị trấn; nội thành gồm 19 quận với 254 phường.

Một số văn bản pháp luật quy định về tổ chức chính quyền phường giai đoạn này:

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) cùng với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1994 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003 tạo nên khung pháp lý cho cơ cấu và hoạt động của HĐND và UBND ở địa phương, quy định chức năng, thẩm quyền và mối quan hệ giữa cơ quan đại diện và cơ quan hành chính, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách địa phương.

- Nghị định số 174-CP ngày 29 tháng 9 năm 1994, Nghị định 107/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2004, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm

2009, Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005;

- Quyết định số 140/2005/QĐ-UBND ngày 05 tháng 8 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh a) Vị trí, vai trò:

Vị trí và tính chất pháp lý của chính quyền phường được Hiến định và làm rõ trong Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1994, với các sửa đổi, bổ sung năm 2003 Theo quy định này, hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, có thẩm quyền quyết định các vấn đề thuộc phạm vi địa phương và giám sát hoạt động của ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phường là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp phường, thi hành các quyết định của hội đồng nhân dân và tổ chức điều hành các hoạt động hành chính, kinh tế - xã hội và an ninh, trật tự trên địa bàn.

39 Nghị định 93/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2001 của Chính phủ phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho thành phố Hồ Chí Minh

Phân bố các phường theo từng quận được ghi nhận như sau: Quận 1 có 10 phường, Quận 2 có 11 phường, Quận 3 có 14 phường, Quận 4 có 15 phường, Quận 5 có 15 phường, Quận 6 có 14 phường, Quận 7 có 10 phường, Quận 8 có 16 phường, Quận 9 có 13 phường, Quận 10 có 15 phường, Quận 11 có 16 phường, Quận 12 có 10 phường, Quận Gò Vấp có 12 phường, Quận Tân Bình có 15 phường, Quận Phú Nhuận có 15 phường, Quận Thủ Đức có 12 phường, Quận Bình Thạnh có 20 phường, Quận Bình Tân có [số phường chưa xác định].

Ở địa bàn phường thuộc quận Tân Phú có 11 phường, thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; phường được nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước cơ quan nhà nước cấp trên Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước tại địa bàn phường, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân; ủy ban nhân dân phường chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân Cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc được xác định rõ để đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả của hệ thống hành chính phường.

* Hội đồng nhân dân phường

Hội đồng nhân dân phường hoạt động theo nhiệm kỳ 5 năm và không tổ chức các Ban, mà chỉ duy trì bộ phận thường trực gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Bộ phận thường trực Hội đồng nhân dân phường không thể đồng thời là thành viên Ủy ban nhân dân phường Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường không được giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tục.

Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân phường được bầu tối đa 25 người Phường có từ 5.000 người trở xuống được bầu 19 đại biểu; đối với phường có trên 5.000 người, cứ thêm mỗi 3.000 dân sẽ được bổ sung 1 đại biểu, tuy nhiên tổng số vẫn không vượt quá 25 đại biểu.

* Ủy ban nhân dân phường

Thành viên Ủy ban nhân dân phường được Hội đồng nhân dân phường bầu ra tại kỳ họp đầu tiên; Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường phải là đại biểu của Hội đồng nhân dân phường, còn các thành viên khác không bắt buộc phải là đại biểu của Hội đồng nhân dân phường.

Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 được bổ sung thêm quy định: trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử để Hội đồng nhân dân bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kết quả bầu cử các thành viên của Ủy ban nhân dân phường phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận phê chuẩn Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận có thể điều động và cách chức Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường khi có vi phạm.

Theo Nghị định số 174-CP ngày 29 tháng 9 năm 1994 về quy định cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân phường ban đầu có 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch và 5 ủy viên (ủy viên phụ trách Công an, ủy viên phụ trách Quân sự, ủy viên phụ trách Tài chính, ủy viên phụ trách Nhà đất, ủy viên phụ trách Lao động - thương binh và xã hội) Đến năm 2004, theo Điều 13 Nghị định 107/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2004, ủy ban phường còn 5 thành viên gồm Chủ tịch; 1 Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên - môi trường; 1 Phó Chủ tịch phụ trách khối văn hóa - xã hội và các lĩnh vực xã hội khác; 2 ủy viên phụ trách công an và quân sự Như vậy, so với trước, số lượng thành viên ủy ban nhân dân có thay đổi: tăng thêm một Phó Chủ tịch và giảm bớt 3 ủy viên; mục đích của sự thay đổi là nhằm đảm bảo cho các vụ việc hành chính được giải quyết nhanh gọn hơn.

Bộ phận giúp việc cho Ủy ban nhân dân bao gồm các chức danh chuyên môn được gọi là công chức cấp xã, gồm các lĩnh vực: công chức địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường; công chức Tư pháp - Hộ tịch; công chức Tài chính - Kế toán; công chức Văn phòng - Thống kê; và công chức Văn hóa - xã hội Các công chức này chịu trách nhiệm hỗ trợ việc ra quyết định và quản lý nhà nước ở cấp xã, phối hợp với các ngành liên quan để quản lý đất đai, quy hoạch, trật tự đô thị, và công tác tư pháp - hộ tịch; thực hiện quản lý tài chính - kế toán, công tác văn phòng - thống kê và các hoạt động văn hóa - xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương và bảo vệ quyền lợi của người dân.

Nhận xét

Một số hạn chế của các quy định Hiến pháp năm 1980 và các luật liên quan tới Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983, 1989 đã được khắc phục Cụ thể, để kết hợp với trí tuệ tập thể của ủy ban nhân dân trong quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương và để tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu ủy ban nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 và Luật năm 2003 quy định rõ những vấn đề nhất thiết phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số tại phiên họp của ủy ban nhân dân; những vấn đề khác Chủ tịch ủy ban nhân dân có toàn quyền quyết định, hoặc được phân công cho các Phó Chủ tịch và các thành viên khác thực hiện và chịu trách nhiệm về các quyết định này Tuy nhiên trong thực tế, cơ chế này vẫn có thể bị lợi dụng và trở thành vật chắn để che khuyết điểm cá nhân – tập thể khi xảy ra.

Về cơ bản, mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 và năm 2003 hiện hành không có nhiều sự thay đổi so với giai đoạn trước công cuộc đổi mới Phường được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh, có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, được nhân dân địa phương bầu và đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương Ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân cùng cấp và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.

Ở thành phố, tổ chức chính quyền phường gần như không khác so với tổ chức chính quyền xã ở nông thôn hoặc ở ngoại thành, và số lượng cũng như tiêu chuẩn cán bộ, công chức ở xã và phường không có sự khác biệt đáng kể; tuy nhiên đối tượng quản lý của hai địa bàn nông thôn và miền núi lại hoàn toàn khác với khu vực thành thị, vì vậy các quy định hiện hành mang tính “cào bằng” và không thể đáp ứng được yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới và quá trình đô thị hóa.

Xét về hiệu quả quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân phường trên bình diện lý thuyết, quy định của Luật hiện hành chưa phù hợp vì tính chất quản lý hành chính nhà nước ở đô thị khác với tính chất quản lý ở địa bàn nông thôn.

Một số quy định pháp luật về tổ chức Ủy ban nhân dân phường

Cán bộ, công chức phường ở thành phố Hồ Chí Minh chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý nhà nước tương đối phức tạp ở đô thị; theo các nhà chuyên môn, tốc độ đô thị hóa và sự đa dạng của các lĩnh vực quản lý đòi hỏi năng lực nghề nghiệp cao hơn, đồng thời cần nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện quy trình và cơ chế phối hợp, tăng cường nguồn lực và đào tạo để phục vụ người dân và doanh nghiệp hiệu quả.

Hiện nay chúng ta đang thiếu những con người quản lý đô thị đúng nghĩa Nguồn nhân sự chủ chốt cho quản lý đô thị chưa được hình thành đầy đủ, và phần lớn người được thăng tiến từ phong trào đoàn có quá trình rèn luyện chưa sâu, dẫn đến năng lực xử lý vụ việc còn kém hiệu quả Điều này gây ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý đô thị và chất lượng phục vụ người dân.

2 6 Pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân phường khi thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường

2.6.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức Ủy ban nhân dân phường

Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương để đáp ứng được việc quản lý nhà nước là một yêu cầu cần thiết Việc phân biệt mô hình quản lý nhà nước đối với địa bàn đô thị và nông thôn cũng là một biện pháp thí điểm đang được nghiên cứu và áp dụng bằng cách thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường

Một số văn bản pháp luật quy định về tổ chức chính quyền phường giai đoạn này:

- Nghị quyết số 724/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII về các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;

Quyết định số 38/2010/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy chế làm việc (mẫu) của Ủy ban nhân dân phường để thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân Quyết định xác định khuôn khổ làm việc, phạm vi thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan phường nhằm triển khai mô hình thí điểm ở cấp cơ sở Việc ban hành quy chế làm việc (mẫu) này giúp chuẩn hóa quy trình và cách thức tổ chức hoạt động của chính quyền phường trong khuôn khổ thí điểm.

Từ tháng 5 năm 2009, 259 phường của Thành phố Hồ Chí Minh được triển khai thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân phường Vị trí và vai trò của phường thể hiện qua sự chấp hành của Ủy ban nhân dân phường đối với sự chỉ đạo và điều hành của Ủy ban nhân dân quận, sự lãnh đạo của Đảng ủy, và sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể nhân dân ở cấp phường trong thực hiện nhiệm vụ Về cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc của phường, nội dung liên quan được quy định để đảm bảo hoạt động hiệu quả ở cấp cơ sở.

Do không có Hội đồng nhân dân phường, các chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường không được bầu bởi Hội đồng nhân dân phường mà được bổ nhiệm bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Điều này cho thấy cơ chế lãnh đạo ở phường phụ thuộc cấp quận và quyết định của người đứng đầu Ủy ban nhân dân quận.

Chủ tịch ủy ban nhân dân phường là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ hoạt động của địa bàn và điều hành các mặt công tác với sự phân công rõ ràng Mỗi công việc hoặc nhiệm vụ được giao cho một người phụ trách duy nhất và người đó phải chịu trách nhiệm chính trước cấp trên và trước tập thể Mỗi thành viên ủy ban nhân dân phường chịu trách nhiệm cá nhân về lĩnh vực được phân công, đảm bảo quản lý, triển khai và giám sát các nhiệm vụ thuộc phạm vi được giao để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả trong công tác hành chính địa phương.

Ở cấp phường, số lượng thành viên Ủy ban nhân dân, các công chức giúp việc cho Ủy ban và người hoạt động không chuyên vẫn được xác định theo các quy định hiện hành trước khi thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân phường Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường được thực hiện theo các điều khoản của luật liên quan, nhằm đảm bảo hoạt động của chính quyền địa phương được duy trì đúng định hướng và hiệu quả.

Điều 111–117 của Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003 quy định chức năng và thẩm quyền của ủy ban nhân dân xã, thị trấn, đồng thời các nhiệm vụ và quyền hạn riêng của cấp xã được quy định tại điều 118.

Do thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân phường, nhiệm vụ trước đây của hội đồng nhân dân về thành lập Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và tổ chức thực hiện việc bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố nay thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, theo Điều 3, Quyết định số 38/2010/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường quyết định các vấn đề quan trọng và đột xuất liên quan đến nhiều nội dung công việc, đồng thời xử lý các tình huống phức tạp phát sinh trên địa bàn; những vấn đề có ý kiến khác nhau hoặc vượt quá thẩm quyền của Phó Chủ tịch và Ủy viên Ủy ban nhân dân phường sẽ được xem xét và xử lý theo thẩm quyền.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, các công chức và cán bộ hoạt động không chuyên trách phường, trưởng khu phố và tổ trưởng tổ dân phố hỗ trợ ủy ban nhân dân phường thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương theo quy chế làm việc và sự phân công của Chủ tịch ủy ban nhân dân Họ chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đồng thời duy trì mối quan hệ công tác chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư nhằm đảm bảo sự lãnh đạo hiệu quả và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Mối quan hệ giữa Ủy ban nhân dân phường và Ủy ban nhân dân quận cùng với cơ quan chuyên môn quận được xác định qua sự chỉ đạo, phối hợp và báo cáo công tác Ủy ban nhân dân phường và Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường chịu sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân quận, có trách nhiệm báo cáo công tác trước quận và xin ý kiến chỉ đạo khi gặp các vấn đề vượt thẩm quyền hoặc chưa được pháp luật quy định Ủy ban nhân dân quận quyết định về số lượng, bố trí các chức danh cán bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính phường và theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố 41 Đồng thời, Ủy ban nhân dân phường chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn quận trong thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trên địa bàn phường.

Quan hệ giữa ủy ban nhân dân phường với Đảng ủy phường, Mặt trận Tổ quốc phường và các đoàn thể được thể hiện ở việc ủy ban nhân dân phường chịu sự lãnh đạo của Đảng ủy phường trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các văn bản chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên; đồng thời ủy ban nhân dân phường phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy phường, với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường và các đoàn thể để đảm bảo sự đồng thuận và hiệu quả trong công tác vận động, giám sát và phục vụ nhân dân.

Nhận xét

Trong giai đoạn này, chính quyền phường vẫn thực hiện theo Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Tuy nhiên, do thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành quy chế làm việc mẫu của ủy ban nhân dân phường nhưng chưa ban hành quy chế quy định quyền và nhiệm vụ của chính quyền phường như ở các giai đoạn trước.

Trước đây, Hội đồng nhân dân được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương Khi cơ quan này không được tổ chức hoặc hoạt động, dân chủ đại diện và nguyện vọng của cử tri được thực hiện thông qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Hiện nay, Ủy ban nhân dân phường là cơ quan hành chính, được xem như cánh tay nối dài của Ủy ban nhân dân quận, giúp các quy định của cấp trên được triển khai và thực thi nhanh chóng mà không cần qua Hội đồng nhân dân như trước đây.

Chủ tịch ủy ban nhân dân phường là người đứng đầu chính quyền phường, chịu trách nhiệm trước pháp luật Vai trò của vị trí này được nâng cao thông qua việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên bổ nhiệm Quy định này tăng cường hiệu lực quản lý cán bộ, công chức của cơ quan Nhà nước cấp trên đối với cán bộ được bổ nhiệm.

Thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân ở cấp huyện, quận và phường bước đầu tinh gọn bộ máy, khắc phục sự trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đảm bảo tính thống nhất và thông suốt trong quản lý nhà nước Điều này nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính Nhà nước và phát huy dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định ở địa phương.

2 7 Kinh nghiệm pháp luật tổ chức chính quyền phường và nghiên cứu tham khảo trong việc đổi mới tổ chức chính quyền phường trong giai đoạn hiện nay

TP Hồ Chí Minh có thực tế trên 10 triệu dân và hơn 80.000 người nước ngoài đang sinh sống, làm việc và học tập tại thành phố; mô hình cơ chế quản lý hiện nay của TP.HCM nhìn chung vẫn tương đồng với các tỉnh, thành khác trong cả nước, nên công tác quản lý đô thị gặp thách thức ở quy mô lớn Tuy nhiên, mức độ đô thị hóa của TP.HCM vượt trội so với nhiều địa phương, vì vậy Bộ Chính trị đã cho phép thành phố thí điểm triển khai mô hình chính quyền đô thị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng ngày càng đa dạng.

Với lịch sử trên 300 năm của vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, dù còn nhiều thách thức pháp lý, các định chế tiến bộ và những vấn đề mang tính đặc thù của địa phương vẫn cần được cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng; nhưng quá khứ không làm nên tương lai, còn tương lai được vun đắp từ quá khứ, và để cây muốn đâm chồi phải bám vào đất Đó chính là “đất” để chính quyền đô thị TP Hồ Chí Minh có thể bám vào, đâm chồi và nảy lộc trong tương lai Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật tổ chức chính quyền đô thị là bước đi thiết yếu để xây dựng một hệ thống quản lý thành phố hiệu quả, phù hợp với đặc thù của thành phố và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

42 http://www.sggp.org.vn/caicachhanhchinh/2012/10/301565/

Nghị quyết 16-NQ/BCT ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cấp phường và sự tham khảo trong việc đổi mới tổ chức chính quyền phường ở giai đoạn hiện nay như một yêu cầu thiết yếu Nghị quyết này đặt nền tảng cho xây dựng một hệ thống quản lý đô thị hiệu quả, minh bạch và phù hợp với nhịp độ tăng trưởng nhanh của thành phố Việc đổi mới tổ chức chính quyền phường được xem là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dịch vụ công và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân Do vậy, các nguyên tắc và giải pháp từ nghị quyết cần được xem xét và triển khai một cách có hệ thống nhằm hỗ trợ quá trình phát triển bền vững của TP Hồ Chí Minh đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

2.1.1 Tính chất và vai trò của đơn vị hành chính phường

Phường là cấp lãnh thổ hành chính thấp nhất khi xét theo thứ bậc từ trên xuống dưới Chính quyền cơ sở tại phường có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị của nước ta, bởi đây là liên kết trực tiếp với người dân và chịu trách nhiệm quản lý địa phương, thực thi chính sách, duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng.

Đô thị có đặc thù và thách thức riêng đòi hỏi một cơ chế quản lý phù hợp, không thể áp dụng khuôn khổ nông thôn Vì vậy, cần nghiên cứu và xây dựng một chính quyền đô thị đủ mạnh để quản trị, điều hành và phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành một đô thị văn minh, hiện đại và có vai trò đô thị đặc biệt Thành phố cần đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đóng góp ngày càng lớn cho khu vực và cả nước; đồng thời từng bước trở thành trung tâm tài chính, thương mại và khoa học – công nghệ của đất nước và khu vực Đông Nam Á, góp phần tích cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Trong những năm qua, chính quyền phường tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp giải quyết những công việc phát sinh từ cơ sở, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân Tuy nhiên, hoạt động của chính quyền phường vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng được hết những yêu cầu của thực tiễn Bên cạnh đó, chính quyền phường chưa được thụ hưởng các nội dung của cải cách hành chính một cách đồng bộ, hệ thống và kịp thời Vì vậy cần tăng cường cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý để phục vụ nhân dân tốt hơn.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức chính quyền phường Địa giới hành chính đô thị là một chỉnh thể thống nhất, cơ sở hạ tầng được xây dựng theo quy hoạch chung của toàn đô thị Bên cạnh đó, trình độ dân trí của dân cư đô thị cao hơn so với khu vực nông thôn nhưng lại có kết cấu đa dạng,

44 Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển thành phố

Hồ Chí Minh đến năm 2020 – “Tài liệu quán triệt triển khai thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị

Khóa XI nêu ra phương hướng phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, trong đó thành phố đối mặt với sự phức tạp và không đồng nhất sâu sắc về phong tục tập quán Nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của người dân đô thị ngày càng đa dạng và cao hơn so với vùng nông thôn, đồng thời những mặt trái của đời sống xã hội và các vấn đề về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đặt ra cho chính quyền địa phương ở khu vực đô thị yêu cầu một mô hình gọn nhẹ, chuyên nghiệp với đội ngũ cán bộ công chức đủ năng lực và có tâm.

Chính quyền phường trong đô thị cần được xây dựng theo một mô hình gọn nhẹ nhưng đảm bảo sự quản lý thống nhất, thông suốt và kịp thời đối với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội vốn liên quan mật thiết với nhau trên toàn địa bàn Chính quyền đô thị của thành phố Hồ Chí Minh phải là một chỉnh thể thống nhất, không chia cắt với các hoạt động đồng bộ và liên hoàn Về mặt tổ chức địa lý, thành phố có thể chia thành các quận và phường, và phường, quận sẽ đóng vai trò là “cánh tay nối dài” trực tiếp xử lý và giải quyết các công việc hành chính cho người dân Tuy nhiên, với quy mô đô thị lớn, nếu chỉ thành lập một cấp chính quyền thành phố duy nhất sẽ gặp khó khăn trong quản lý Do đó, chúng tôi đề xuất hình thành và phát triển thành phố Hồ Chí Minh theo hướng chia thành ba địa bàn: địa bàn đã đô thị hóa, đang đô thị hóa và nông thôn, với những yêu cầu khác nhau về mô hình quản lý Địa bàn đã đô thị hóa gồm 13 quận nội thành cũ, như quận 1, quận 3, quận 4, quận 5, quận 6, quận 8, quận 10 và các quận lân cận khác.

Ở các quận 11, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình và Tân Phú, không tổ chức hội đồng nhân dân quận, phường Chính quyền đô thị cấp thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quy hoạch, chỉnh trang và phát triển hạ tầng kỹ thuật, xã hội trên toàn bộ địa bàn này Sau khi hoàn thành sẽ tổ chức lại các đơn vị hành chính trên địa bàn theo mô hình cấp chính quyền đô thị hoàn chỉnh Địa bàn nông thôn trong đô thị gồm ba huyện Củ Chi, Bình Chánh và Cần Giờ Đề xuất chuyển cấp chính quyền huyện hiện nay thành cấp hành chính, tức là không tổ chức hội đồng nhân dân huyện mà chỉ có cơ quan hành chính huyện.

Đề án thành lập bốn thành phố vệ tinh ở TP Hồ Chí Minh đề xuất phân chia địa bàn đang đô thị hóa gồm sáu quận (2, 7, 9, 12, Thủ Đức, Bình Tân) và hai huyện (Hóc Môn, Nhà Bè) thành bốn khu đô thị độc lập, tổ chức thành các thành phố vệ tinh Đông, Nam, Tây, Bắc; mỗi khu đô thị sẽ trở thành một cấp chính quyền hoàn chỉnh trực thuộc chính quyền thành phố, được phân cấp mạnh và tăng thẩm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về ngân sách, xây dựng, quản lý và phát triển dịch vụ đô thị Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan hành chính quận/huyện sẽ thực hiện theo cơ chế ủy quyền từ cấp chính quyền thành phố Hồ Chí Minh; hiện nay không có cơ chế tự chủ ngân sách Ủy ban nhân dân phường được xem như “cánh tay nối dài” của cơ quan quản lý cấp trên, và chủ tịch ủy ban nhân dân phường được bổ nhiệm bởi chủ tịch ủy ban nhân dân quận Trong tương lai, cơ quan này nên gọi là Ủy ban hành chính, một định chế từng có ở Sài Gòn và phản ánh sự kế thừa lịch sử, kinh nghiệm pháp lý của vùng đất này.

2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền phường

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trương Hữu Quýnh (2010), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr.438 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trương Hữu Quýnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
13. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, bản dịch Nguyễn Tạo, tập hạ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Năm: 1972
16. Bộ Nội vụ, Viện nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước (2004), Hệ thống chính trị cơ sở, thực trạng và một số giải pháp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở, thực trạng và một số giải pháp đổi mới
Tác giả: Bộ Nội vụ, Viện nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
17. Dương Kinh Quốc (1988), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, tr.184-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945
Tác giả: Dương Kinh Quốc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1988
18. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Mã số B2006-10-03 “Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh: lịch sử, hiện tại và phương hướng đổi mới trong tiến trình đổi mới chính trị ở Việt Nam ”, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh: lịch sử, hiện tại và phương hướng đổi mới trong tiến trình đổi mới chính trị ở Việt Nam ”
19. Vũ Thị Phụng (1990), Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.175,183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Phụng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
20. Trương Đắc Linh (2005), “Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh – Lịch sử, hiện tại và xu hướng phát triển”, Hội thảo của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 - Kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh – Lịch sử, hiện tại và xu hướng phát triển”
Tác giả: Trương Đắc Linh
Năm: 2005
21. Trương Đắc Linh, “Bàn về khai niệm chính quyền địa phương và tên gọi Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân hiện hành”, Khoa học pháp lý số 9, tr.17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khai niệm chính quyền địa phương và tên gọi Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân hiện hành”, "Khoa học pháp lý số 9
22. Trương Đắc Linh, “Chính quyền địa phương ở Việt Nam, quá trình hình thành, phát triển và vấn đề đồi mới”, Nhà nước và pháp luật số 9, tr.32-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền địa phương ở Việt Nam, quá trình hình thành, phát triển và vấn đề đồi mới”, "Nhà nước và pháp luật số 9
23. Trương Đắc Linh, “Một số ý kiến về vị trí, vai trò của hội đồng nhân dân và việc thành lập ủy ban nhân dân các cấp” , Khoa học pháp lý số 10, tr.3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về vị trí, vai trò của hội đồng nhân dân và việc thành lập ủy ban nhân dân các cấp” , "Khoa học pháp lý số 10
24. Trương Đắc Linh, “Sự phát triển của pháp luật về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay”, Khoa học pháp lý số 6, tr.22-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của pháp luật về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay”, "Khoa học pháp lý số 6
25. Trương Đắc Linh, “Một số ý kiến về vấn đề thành lập cơ quan thường trực Hội đồng nhân dân”. Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 1989, tr. 29- 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về vấn đề thành lập cơ quan thường trực Hội đồng nhân dân”. Tạp chí "Nhà nước và pháp luật
26. Trương Đắc Linh, “Mô hình tổ chức chính quyền địa phương – sự phát triển qua bốn bản Hiến pháp và vấn đề đổi mới”, Tạp chí Khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mô hình tổ chức chính quyền địa phương – sự phát triển qua bốn bản Hiến pháp và vấn đề đổi mới
27. Lưu Đức Quang, “Tổ chức chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh”, Khoa học pháp lý số 1/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh”
28. Bùi Xuân Đức (2000), “Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp”, Nhà nước và pháp luật số 10, tr.3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp”, "Nhà nước và pháp luật số 10
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Năm: 2000
29. Đinh Thị Cẩm Hà (2006), Chính quyền Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Quá trình hình thành, phát triển và vấn đê đổi mới, Luận văn thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Quá trình hình thành, phát triển và vấn đê đổi mới
Tác giả: Đinh Thị Cẩm Hà
Năm: 2006
32. Trần Văn Nhã (1968-1971), Luận văn tiến sĩ - Tổ chức hành chính địa phương Việt Nam, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hành chính địa phương Việt Nam
33. “Tình hình tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân phường” của ban Tổ chức chính quyền thành phố tại Hội nghị Chủ tịch phường ngày 2-3-1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân phường
35. “Chính quyền đô thị cần được chủ động về tài chính, thẩm quyền”, Báo Sài Gòn Giải phóng, ngày 25 tháng 12 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền đô thị cần được chủ động về tài chính, thẩm quyền”, "Báo Sài Gòn Giải phóng
34. Trang web của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh : http://hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/default.aspx?Source=%2fgioithieu&Category=Gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+chung&ItemID=11&Mode=1 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w