1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại

77 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ một người học luật, người viết thiết nghĩ cần phải có những sự nghiên cứu toàn diện về cả lý luận và thực tiễn trong pháp luật về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội b

Trang 1

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM – 2014

Trang 2

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT

VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT, KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG

CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO

KHÓA : 35 MSSV: 1055010014

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S PHAN PHƯƠNG NAM

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014

Trang 3

  

Tôi tên là: Nguyễn Hữu Hoài Bảo

Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1992 - tại: Quảng Nam

Quê quán: Quảng Nam

Là sinh viên khóa K35, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Mã số sinh viên: 1055010014

Cam đoan đề tài: “Pháp luật về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong

cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại”

Chuyên ngành: Luật Thương mại

Người hướng dẫn khoa học: Th.S Phan Phương Nam

Khóa luận được thực hiện tại Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép nguyên văn bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong khóa luận được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Hữu Hoài Bảo

Trang 5

TÊN SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU TRANG

Đồ thị 1 Tỷ trọng huy động vốn theo khối ngân

Đồ thị 2 Tỷ trọng đầu tư cho nền kinh tế theo

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

3 Mục tiêu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Tính mới của đề tài 2

6 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ 5

1.1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong cơ cấu tổ chức Ngân hàng thương mại 5 1.1.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ 5

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành HTKSNB 7

1.1.1.3 Khái niệm HTKSNB trong cơ cấu tổ chức NHTM 8

1.1.2 Kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức Ngân hàng thương mại 9

1.1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ 9

1.1.2.2 Khái niệm kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại 11

1.1.3 Mối quan hệ giữa HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức NHTM 12

1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với HTKSNB và KTNB 13

1.2.1 Hoạt động ngân hàng thường gặp nhiều rủi ro 13

1.2.2 HTKSNB và KTNB là một trong những đối tượng hàng đầu trong quản trị rủi ro đối với hoạt động ngân hàng 16

1.2.3 Pháp luật có khả năng đồng bộ hóa HTKSNB và KTNB trong toàn hệ thống ngân hàng, nâng cao vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước 17

1.3 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB 19

1.3.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB 19

1.3.2 Nguyên tắc xây dựng pháp luật điều chỉnh về HTKSNB và KTNB 20

Trang 7

1.3.2.2 Nhà nước chỉ quy định cơ sở pháp lý căn bản cho việc tổ chức, hoạt động của HTKSNB và KTNB 22 1.3.2.3 Hoạt động của HTKSNB và KTNB cần phải được rà soát, đánh giá bởi một cơ quan độc lập hoặc nội bộ 23 1.3.2.4 HTKSNB và KTNB đáp ứng yêu cầu hội nhập trong điều kiện mới 23 1.3.3 Nội dung pháp luật về HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức NHTM 26 1.3.3.1 Xác định vị trí các cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB 28 1.3.3.2 Xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của các cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB 27 1.3.3.3 Xác định mối quan hệ giữa các cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức quản lý của NHTM 27

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

HỆ THỐNG KIỂM SOÁT VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 29

2.1 Thực trạng tình hình hoạt động và hệ thống pháp luật điều chỉnh HTKSNB, KTNB 29 2.1.1 Khái quát chung tình hình hoạt động HTKSNB và KTNB tại các NHTM 29 2.1.2 Hệ thống pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB 31 2.1.2.1 Giai đoạn trước khi có Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 ( Pháp lệnh ngân hàng) 31 2.1.2.2 Giai đoạn kể từ khi có Pháp lệnh ngân hàng 1990 đến khi có Luật các TCTD năm 1997 322.1.2.3 Giai đoạn từ khi có Luật các TCTD năm 1997 đến khi Luật các TCTD năm 2004 được ban hành ……… 32

Trang 8

TCTD năm 2004 được ban hành đến khi Luật các TCTD 2010 ra đời thay thế 34 2.1.2.5 Giai đoạn từ khi có Luật các TCTD năm 2010 đến nay 36 2.1.3 HTKSNB và KTNB theo quy định của Luật các TCTD năm 2010 và các văn bản pháp lý liên quan 37 2.2 Những hạn chế của pháp luật về HTKSNB và KTNB 42 2.2.1 Không quy định về bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách 42 2.2.2 Cơ quan thiết lập, duy trì HTKSNB được quy định chưa rõ ràng 43 2.2.3 Bộ phận kiểm toán nội bộ bị chi phối mạnh mẽ bởi Hội đồng quản trị 43 2.2.4 Tiêu chuẩn kiểm toán viên chưa rõ ràng 44 2.3 Hướng hoàn thiện 45 2.3.1 Cần phải duy trì bộ phận kiểm soát nội bộ chuyên trách 45 2.3.2 Quy định rõ cơ quan, cá nhân nào có trách nhiệm thành lập, duy trì HTKSNB 48 2.3.3 Hạn chế tầm ảnh hưởng của HĐQT, Bộ phận KTNB phải trực thuộc Ban kiểm soát theo đúng nghĩa 48 2.3.4 Quy định lại tiêu chuẩn kiểm toán viên 49

KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Trang 9



1 Lý do nghiên cứu đề tài

Xu thế toàn cầu hóa đã và đang đưa các quốc gia trên thế giới “xích lại gần nhau” trên mọi mặt của đời sống xã hội, nổi bật trong số đó là sự hợp tác ngày càng chặt chẽ trên lĩnh vực tài chính – ngân hàng Trước sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài cùng các dịch vụ tài chính mới, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứng trước những vận hội lớn, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cơ hội học hỏi, nhanh chóng bắt kịp trình độ quản lý, công nghệ của các quốc gia phát triển; tuy nhiên kèm theo đó cũng nhiều thách thức không hề nhỏ, đó là sức ép về cạnh tranh, tính hiệu quả, lành mạnh của quá trình kinh doanh tiền tệ, nguy cơ rủi ro luôn tiềm

ẩn trong các quan hệ tài chính Các ngân hàng thương mại nước ta hiện nay đang chịu áp lực rất lớn về tốc độ tăng trưởng, chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước; nếu cơ chế quản lý và kiểm soát mỗi ngân hàng không theo kịp những sự thay đổi to lớn này thì nguy cơ rủi ro và tổn thất rất cao

Vì vậy, việc bảo đảm tính bền vững và ổn định trong phát triển trở thành mục tiêu quan trọng nhất trong quản lý và điều hành các Ngân hàng thương mại trong bối cảnh hiện nay Một trong những giải pháp mang tính cấp thiết và chiến lược là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ mạnh mẽ, trở thành cơ chế tự phòng chống rủi ro quan trọng nhất Pháp luật là công cụ hiệu quả và mạnh mẽ hàng đầu để thực hiện vấn đề này Thực tế hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội

bộ đã được các ngân hàng thương mại triển khai từ khi pháp luật về ngân hàng được hình thành, tuy nhiên quá trình áp dụng còn nhiều lúng túng cả về lý luận và thực tiễn, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ chưa được đặt lên hàng đầu; quy định của pháp luật còn nhiều vấn đề mâu thuẫn, hạn chế

Dưới góc độ một người học luật, người viết thiết nghĩ cần phải có những sự nghiên cứu toàn diện về cả lý luận và thực tiễn trong pháp luật về hệ thống kiểm soát nội

bộ và kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức Ngân hàng thương mại, nhằm góp phần quan trọng bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các Ngân hàng thương mại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ dưới góc độ pháp lý, phân tích những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trực tiếp là các đạo luật về ngân hàng và các văn bản hướng dẫn

Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội

bộ dưới khía cạnh cơ cấu tổ chức, không đi sâu vào chuyên môn nghiệp vụ của hai hoạt động này

Trang 10

 Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội

bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại

 Khảo sát thực trạng tình hình hoạt động của HTKSNB, KTNB

 Đánh giá những nội dung quy định về HTKSNB, KTNB trong pháp luật nước ta

 Trên cơ sở phân tích các ưu điểm và những vấn đề tồn tại ở pháp luật hiện nay, người viết đề xuất một số các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về HTKSNB, KTNB trong cơ cấu tổ chức các NHTM

4 Phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu các lý thuyết và thông lệ quốc tế về HTKSNB và KTNB

 Các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan

 Nghiên cứu thực trạng hoạt động của HTKSNB và KTNB một số NHTM trên cơ sở:

 Sử dụng Báo cáo thường niên một số NHTM trong 3 năm trở lại đây

 Một số tài liệu nội bộ về hoạt động của HTKSNB và KTNB vài ngân hàng tiêu biểu

 Tham khảo ý kiến một số cán bộ đang hoạt động trong ngành ngân hàng

 Tổng hợp và phân tích các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí ngân hàng, tạp chí kiểm toán…và một số bài viết trên mạng internet

5 Tính mới của đề tài

Các công trình nghiên cứu của một số tác giả, dưới nhiều góc độ khác nhau đã đưa

ra những lý luận và thực tiễn về hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ Điển hình như:

 Đề tài: “Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng”, năm 2011, Luận

văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng của tác giả Phạm Thị Trà

My

Đề tài này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về hoạt động kiểm soát nội bộ trong ngân hàng Tuy nhiên, chi giới hạn về nghiệp vụ tín dụng, phạm vi cũng chỉ ở chi nhánh Đà Nẵng của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

 Tác giả Trần Văn Tùng với “Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại

Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam”, Luận văn Thạc

sỹ, chuyên ngành Tài chính – ngân hàng, Đại học Kinh tế TP.HCM năm

2012

Công trình này đã đưa ra những cơ sở lý luận về hoạt động kiểm toán nội bộ

và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ Tuy

Trang 11

 Nghiên cứu của tác giả Lê Phương Hồng, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, trường

Đại học Kinh tế TP.HCM năm 2006 về “Giải pháp hoàn thiện hệ thống

kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Công thương Việt Nam”

Nghiên cứu này đã nêu ra những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ Nhưng cũng giống với hai công trình trên, nghiên cứu này chỉ nghiên cứu ở góc độ một ngân hàng cụ thể

Ngoài ra, còn có ít nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, một vài khóa luận, luận văn khác cũng đã nghiên cứu ít nhiều đến vấn đề này Các đề tài đều thống nhất ở sự cần thiết phải thiết lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ Tuy nhiên, các đề tài nêu trên chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ nghiệp vụ ngân hàng, trong lĩnh vực kinh tế Dưới góc độ pháp lý, có rất ít các công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này; lý luận, thực trạng

và hướng hoàn thiện pháp luật về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ chưa được nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện và đầy đủ

Chính vì vậy, người viết đã mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu “Pháp luật về hệ

thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại”

trên cơ sở kế thừa ý tưởng và kết quả một số nghiên cứu trước đây

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 2 chương

 Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại

 Chương 2: Thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại

Trang 12

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ

TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ

1.1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong cơ cấu tổ chức Ngân hàng thương mại 1.1.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ

Khái niệm kiểm soát nội bộ đã hoàn thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong các tổ chức, doanh nghiệp; đặc biệt có liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị của NHTM Quá trình nhận thức và nghiên cứu

về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các định nghĩa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp

về hệ thống này

Tập đoàn phân tích tài chính hàng đầu của Hoa Kỳ, Ventureline nhận định về

HTKSNB như sau: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính thức nhằm

cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu của chương trình sẽ được đáp ứng,

ví dụ như kiểm soát tài chính, kiểm soát chất lượng hoặc kiểm soát quá trình”.(1)

Có lẽ, vì đây là khái niệm được đưa ra bởi một tập đoàn tài chính nên mang nặng tính thực tế, hướng đến kết quả mà chưa đưa ra những dữ liệu đầy đủ về một HTKSNB

Theo đoạn 10 Chuẩn mực kiểm toán số 400: “HTKSNB là các quy định và

thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và xây dựng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ quy định và pháp luật, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo

vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”

Quan điểm này được trích dẫn từ Chuẩn mực kiểm toán, nên có phần chưa chính xác, khi cho rằng HTKSNB do đơn vị được kiểm toán xây dựng Chẳng lẽ, những đơn vị không được kiểm toán, không được thiết lập một HTKSNB?

Tài liệu “Hướng dẫn Kiểm toán nội bộ” ban hành tháng Sáu năm 1990 của Hội đồng Viện kế toán Malaysia (MIA) có vẻ hợp lý hơn khi cho rằng, HTKSNB

là: “Toàn bộ hệ thống điều khiển, tài chính và mặt khác, hệ thống này được thiết

lập bởi các nhà quản lý để thực hiện việc kinh doanh của một tổ chức một cách có trật tự và hiệu quả, đảm bảo tuân thủ các chính sách quản lý, bảo vệ tài sản an toàn

và càng nhiều càng tốt sự hoàn chỉnh và chính xác của hồ sơ” (2)

Trang 13

Tuy tài liệu này đã thể hiện được một số đặc điểm cơ bản về HTKSNB nhưng lại

chưa làm rõ khái niệm “hệ thống”, chỉ nêu chung chung đó là “hệ thống điều khiển,

tài chính”, tức là chỉ nêu được bề ngoài của vấn đề mà chưa chỉ ra được bản chất

bên trong

Có một định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi, được đưa ra bởi COSO(3):

“Hệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình do con người quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu sau đây:

Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả

Báo cáo tài chính đáng tin cậy

Các luật lệ và quy định được tuân thủ.” (4)

Người viết hoàn toàn đồng ý với định nghĩa này, vì COSO đã đưa ra đầy đủ những nội dung, đặc điểm khái quát và cần thiết về một HTKSNB Với những lý do sau đây:

Thứ nhất, định nghĩa của COSO đã thể hiện rõ được khái niệm “hệ thống” tức là một quá trình, quy trình, thủ tục…chứ không phải đưa ra một cách trừu tượng như các quan điểm khác

Thứ hai, HTKSNB bị chi phối cả những người quản lý lẫn nhân viên Việc thiết lập và duy trì có thể chỉ là nhiệm vụ của người quản lý, nhưng bởi lý do HTKSNB tồn tại trong mọi hoạt động, bộ phận của đơn vị nên ít nhiều hệ thống này cũng chịu sự tác động từ các nhân viên, bởi chính những người này là đối tượng tác động thường xuyên và liên tục của HTKSNB

Thứ ba, không có gì là tuyệt đối, HTKSNB có thể có vai trò to lớn, nếu không muốn khẳng định là quan trọng bậc nhất trong quản trị rủi ro, điều hành của đơn vị, nhưng hệ thống này cũng không thể “dài tay” kiểm soát được tất cả mọi vấn

đề, hệ thống này luôn chịu sự tác động không tốt từ những cá nhân, bộ phận có “lợi

(3) COSO: (Committee of Sponsoring Organizations) là một Ủy ban của Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận về báo cáo tài chính ( National Commission on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway Commission) Uỷ ban này gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Viện kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội quản trị tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA)

(4) Nguyên văn:

Internal Control Systems is broadly defined as a process, effected by an entity’s board of directors, managerment, and other personnel, designed to provide reasonable assurance regarding the achievement of objectives in the following categories:

Effectiveness anf efficiency of operations;

Reliablility of financial reporting; and

Compliance with laws and regulations.

Trang 14

ích ngược”, hay gian lận nội bộ…vì vậy, HTKSNB chỉ có thể đảm bảo một cách tương đối việc hoàn thành các mục tiêu đã đề ra

Qua định nghĩa trên, ta thấy rằng, báo cáo COSO 1992 đã cung cấp một nhận thức về HTKSNB một cách đầy đủ Nó đã nêu lên được tầm quan trọng và mối liên

hệ mật thiết giữa các mục tiêu hoạt động và tuân thủ Báo cáo COSO 1992 còn nhấn mạnh đến yếu tố con người: con người giữ vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống quản trị Từ nhận thức đó, ta có thể đánh giá đúng đắn hơn và có những biện pháp hoàn thiện HTKSNB trong cơ cấu tổ chức NHTM

5 yếu tố cấu thành(5):

Thứ nhất, môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát là khái niệm tập hợp các yếu tố chung trong nội bộ đơn vị, bao gồm thái độ, khả năng, tác phong điều hành của người quản lý, các chính sách, thủ tục kiểm soát, tính trung thực và giá trị đạo đức, sự phân công trách nhiệm, phân chia quyền lực, chính sách về nhân sự Môi trường kiểm soát tạo ra phong thái của toàn NHTM và có ảnh hướng tới ý thức kiểm soát của toàn nhân viên, là nền móng cho các yếu tố còn lại của HTKSNB

(5) http://voices.yahoo.com/the-five-components-internal-control-274927.html

The Five Components

In 1992, COSO published the report Internal Control Integrated Framework as a "basis for developing

business control systems and assessing their effectiveness" (Internal Control Issues) This report provides the following five components of internal control:

The Control Environment - relates to the control consciousness of the people within the organization The control environment is the basis for all other components of internal control

Risk Assessment - refers to the organization's identification, analysis, and management of the risks that are related to financial statement preparation, in order to ensure that financial statements are presented fairly and

in compliance with generally accepted accounting principles (GAAP)

Control Activities - the organization's policies and procedures which help ensure that necessary actions are taken to address the potential risks involved in accomplishing the entity's objectives

Information and Communication - focuses "on the nature and quality of information needed for effective control, the systems used to develop such information, and reports necessary to communicate it effectively" (Internal Control Issues)

Monitoring - involves assessing the quality and effectiveness of the organizations internal control process over time It includes assessing the design and operation of controls, and assessing compliance with policies and procedures It also provides for the implementation of appropriate actions when necessary

Trang 15

Thứ hai, hệ thống quản lý và đánh giá rủi ro là quy trình định dạng và phân tích mọi rủi ro liên quan đến việc hoàn thành các mục tiêu của NHTM, làm cơ sở cho việc xác định xem các rủi ro đó cần được quản lý, kiểm soát như thế nào, nó bao gồm các bước: (i) xác định mục tiêu, (ii) mức độ phù hợp của các mục tiêu, (iii) định dạng các rủi ro liên quan, (iv) đánh giá rủi ro, và (v) các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro

Thứ ba, hệ thống các chính sách, quy trình, thông lệ được xây dựng nhằm đảm bảo thực hiện các kế hoạch, các yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, do các cấp quản lý điều hành đặt ra và các quy trình giảm thiểu rủi ro liên quan Yếu tố này có thể được hiểu là toàn bộ cơ chế, chính sách, kế hoạch, các quy định quy trình nghiệp vụ được ban hành để đảm bảo hoạt động của đơn vị thông suốt, hiệu quả

Thứ tư, hệ thống thông tin và cơ chế trao đổi thông tin Đây là hệ thống hỗ trợ toàn bộ các cấu phần của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua việc đảm bảo các thông tin được nắm bắt đầy đủ và kịp thời trong toàn ngân hàng Đây là một thành phần quan trọng trong HTKSNB Đó là sự phối hợp nhịp nhàng, thông suốt giữa các bộ phận, các đơn vị trong một NHTM, trong đó hệ thống công nghệ thông tin, viễn thông đóng một vai trò hết sức quan trọng nhằm đảm bảo các cấp quản lý (Hội đồng quản trị, ban giám đốc, trưởng các bộ phận nghiệp vụ) luôn nhanh chóng nắm bắt đầy đủ thông tin trong hoạt động kinh doanh, để ra quyết định kịp thời, hiệu quả

Thứ năm, giám sát HTKSNB Là sự xem xét cẩn thận và liên tục hiệu quả hoạt động của HTKSNB, để hoạt động giám sát thực hiện đúng nhiệm vụ và yêu cầu, đòi hỏi nó phải độc lập với hoạt động kiểm soát Nhu cầu giám sát này phát sinh do cơ cấu kiểm soát nội bộ có khuynh hướng thay đổi theo thời gian, nhân viên

có khả năng quên hoặc vô ý không tuân theo các thủ tục kiểm soát hoặc trở nên cẩu thả và gian lận, trừ khi có người giám sát, đánh giá việc thực hiện của họ Việc giám sát độc lập đảm bảo công việc kiểm soát được tiến hành đúng quy định và có mục đích, có thể hạn chế được rủi ro và thay đổi, bổ sung kịp thời những khuyết điểm của HTKSNB, thích hợp với sự thay đổi hoạt động của đơn vị theo điều kiện cụ thể

1.1.1.3 Khái niệm HTKSNB trong cơ cấu tổ chức NHTM

Dựa trên sự đặc thù, tầm quan trọng về hoạt động và cơ cấu của NHTM, kết hợp với các khái niệm về HTKSNB mà người viết đã phân tích ở trên, có thể rút ra một số đặc điểm về HTKSNB trong cơ cấu tổ chức NHTM

Thứ nhất, HTKSNB là một chuỗi các quá trình, các hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận trong nội bộ NHTM và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Nó là phương tiện giúp NHTM đạt được các mục tiêu đã đề ra

Thứ hai, HTKSNB không chỉ đơn thuần là các chính sách, thủ tục, biểu mẫu…mà còn bao gồm những con người trong tổ chức như Đại hội đồng cổ đông,

Trang 16

Hội đồng quản trị, Ban giám đốc Chính các cơ quan này định ra mục tiêu, thiết lập

cơ chế kiểm soát và vận hành chúng

Thứ ba, HTKSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu đã thực hiện Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm soát

có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con người dẫn đến mục tiêu không được thực hiện HTKSNB chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhưng không thể đảm bảo chúng không xảy ra Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Do vậy, người quản lý có thể nhận thức được mọi rủi ro nhưng nếu chi phí quá lớn cho quá trình kiểm soát thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát (6)

Thứ tư, HTKSNB có vai trò hết sức quan trọng nên đòi hỏi cần phải thiết lập một cơ chế giám sát hiệu quả, kiểm toán nội bộ chính là công cụ hữu hiệu để kiểm tra, giám sát hiệu quả hoạt động HTKSNB

Từ các đặc điểm đã phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận: HTKSNB trong

cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại là một hoạt động quản trị của NHTM,

đó là chuỗi các hoạt động kiểm soát tồn tại trong mọi bộ phận, nghiệp vụ trong nội bộ ngân hàng; do Hội đồng quản trị, Ban giám đốc thiết lập và vận hành; đảm bảo một cách tương đối việc hoàn thành các mục tiêu đã được đề ra; được giám sát và đảm bảo hiệu quả hoạt động bởi kiểm toán nội bộ

1.1.2 Kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ

Hoạt động kiểm toán trên thế giới đã có trên 100 năm nay(7) và ngày càng phát triển mạnh mẽ, thâm nhập vào mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế Riêng nước ta, kiểm toán là hoạt động mới xuất hiện khoảng hai thập niên trở lại đây nhưng đã có những bước phát triển lớn và ngày càng khẳng định rõ vai trò của mình Kiểm toán

có nhiều loại hình khác nhau, nhưng nếu phân loại theo chủ thể, gồm có kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ

Trên thế giới, kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng có lẽ phát triển mạnh

mẽ nhất từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002 Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty(8) Cho đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về lĩnh vực này

http://kientrucsaigon.net/KINH-TE/KTCB/C1/LICH-SU-HINH-THANH-VA-PHAT-TRIEN-CUA-(8) http://www.misa.com.vn/tabid/91/newsid/28146/Kiem-toan-noi-bo-la-su-phat-trien-tat-yeu.aspx

Trang 17

Theo Liên đoàn kiểm toán quốc tế (IFAC): “Kiểm toán nội bộ là một hoạt

động được đánh giá được lập ra cho một ngân hàng như là một loại dịch vụ cho ngân hàng đó có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệu quả hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”

Theo Các chuẩn mực hành nghề kiểm toán nội bộ:(9) “Kiểm toán nội bộ là

một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét

và đánh giá các hoạt động của một tổ chức đó với tư cách là một sự giúp đỡ cho tổ chức đó”

Năm 1990, Ủy ban Thực hành Kiểm toán của Vương quốc Anh thông qua định nghĩa khác về KTNB Theo đó, kiểm toán là một chức năng đánh giá độc lập

trong một tổ chức về HTKSNB, như là một sự trợ giúp đối với tổ chức “KTNB tập

trung vào kiểm tra, đánh giá và báo cáo về sự phù hợp của KSNB để đóng góp vào việc sử dụng đúng, kinh tế, hiệu quả và hiệu lực các nguồn lực” Phân tích nội dung

của định nghĩa cho thấy, quan điểm về KTNB của Ủy ban Thực hành Kiểm toán của Vương quốc Anh tương đối giống với quan điểm về loại hình kiểm toán này được sử dụng trong các cơ quan thuộc Chính phủ Vương quốc Anh.(10)

Sau những sự thay đổi chóng mặt của nền kinh tế thế giới, để đáp ứng những

yêu cầu mới về công tác kiểm toán nội bộ, tháng 6 năm 1999, Viện kiểm toán viên

nội bộ (IIA) đã đưa ra định nghĩa mới:“KTNB là hoạt động đảm bảo và tư vấn độc

lập, khách quan được thiết lập nhằm tăng thêm giá trị và cải tiến hoạt động của một tổ chức KTNB hỗ trợ tổ chức đạt được những mục tiêu thông qua sự tiếp cận một cách có nguyên tắc, có hệ thống nhằm đánh giá và cải tiến hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị doanh nghiệp”

Tuy đến nay đã có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau từ các tổ chức có uy tín về kiểm toán trên thế giới, nhưng tựu trung lại các quan điểm về KTNB đều chỉ

rõ những điểm sau đây:

Thứ nhất, KTNB là một loại hình tổ chức có chức năng đo lường và đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động khác nhau trong đơn vị kể cả hoạt động kiểm soát Khi tổ chức xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động và thực hiện theo kế hoạch, KTNB phải thực hiện các công việc nhằm quản lý và đảm bảo đạt được mục tiêu đặt ra Như vậy, KTNB cũng là một loại kiểm soát được nhà quản lý sử dụng trong

số nhiều hoạt động kiểm soát khác nhau Tuy nhiên, điểm đặc biệt của KTNB là loại hình kiểm toán này giúp nhà quản lý đo lường và đánh giá những hoạt động khác nhau

Thứ hai, KTNB là một hoạt động nội kiểm có tính độc lập trong một cơ quan, tổ chức nói chung và trong một đơn vị hoạt động kinh doanh nói riêng Hoạt

(9) Ban hành tháng 5/1978 bởi IIA(Viện kiểm toán viên nội bộ - The Institute of Internal Auditors)

(10) http://www.slideshare.net/quynhtrong/t-chc-b-my-kim-ton-ni-b

Trang 18

động này thường được thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ Tuy nhiên, quan điểm KTNB hiện đại cho rằng, KTNB có thể thực hiện bởi các chuyên gia kiểm toán bên ngoài

Thứ ba, KTNB thực hiện việc kiểm tra, đánh giá đối với các hoạt động tài chính và phi tài chính trong tổ chức Quá trình đánh giá này mang tính hệ thống và theo các nguyên tắc với ý nghĩa các kiểm toán viên nội bộ thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực nghề nghiệp và các Chuẩn mực Kiểm toán được chấp nhận rộng rãi (Generally Accepted Auditing Standards – GAAS)

Thứ tư, khi thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải đáp ứng các yêu cầu chung về tính độc lập và mức độ tinh thông nghề nghiệp tương xứng

Thứ năm, KTNB tồn tại để hỗ trợ hoặc tạo ra lợi ích cho tổ chức Hoạt động này không mang tính “tự thân” mà xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi khách quan của quản lý Bản thân KTNB thực hiện theo các mục tiêu và mục đích của tổ chức

Thứ sáu, đối tượng phục vụ của KTNB là ban giám đốc, hội đồng quản trị và các bộ phận được kiểm toán với các yêu cầu khác nhau

Từ những phân tích trên, người viết khái quát một định nghĩa về KTNB như

sau: KTNB là một chức năng đánh giá độc lập, có hệ thống về các hoạt động

khác nhau và hoạt động kiểm soát trong phạm vi một tổ chức như là một sự trợ giúp cho nhà quản lý trên các khía cạnh: Độ tin cậy của thông tin tài chính

và thông tin về các hoạt động trong đơn vị; Về khả năng nhận diện và làm giảm các rủi ro đối với tổ chức; Về việc chấp hành luật pháp, các chính sách và quy định của tổ chức; Về việc thực hiện các chuẩn mực; Về tính tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng nguồn lực; Về kết quả đạt được trong quan hệ với các mục tiêu của tổ chức KTNB thực hiện kiểm tra, đánh giá về sự phù hợp và tính hiệu lực của các hoạt động kiểm soát khác Phạm vi của KTNB có sự chuyển hướng từ lĩnh vực kiểm toán truyền thống – kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ sang kiểm toán hoạt động theo yêu cầu quản lý KTNB ngày càng trở thành phương sách quản lý có hiệu quả phục vụ đắc lực cho quá trình quản lý điều hành tổ chức hướng tới hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý 1.1.2.2 Khái niệm kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại

Dựa trên khái quát định nghĩa đã trình bày ở trên, có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản của KTNB trong cơ cấu tổ chức NHTM:

Thứ nhất, chức năng KTNB là một cách thức quản lý hiệu quả, bản thân loại hình kiểm toán này phục vụ cho việc điều hành các hoạt động hiệu quả và đảm bảo tuân thủ các chính sách của NHTM

Thứ hai, KTNB độc lập với các bộ phận khác, với các hoạt động được kiểm toán và không thiên vị Vì vậy, KTNB có thể quan sát, xem xét mọi vấn đề trong

Trang 19

NHTM một cách độc lập với ý nghĩa như là một sự kiểm tra chung Xét về mặt tổ chức, KTNB trong NHTM là bộ phận duy nhất có thể kết hợp giữa vai trò và vị trí độc lập với chức năng kiểm tra, đánh giá (trong quan hệ với các mục tiêu của NHTM) về các hoạt động, các bộ phận khác của ngân hàng bằng sự chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ, độc lập và khách quan Bên cạnh đó, kiểm toán viên nội bộ

có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao Vì vậy, kiểm toán viên nội bộ không lấn át vai trò, trách nhiệm của các cá nhân hay bộ phận chức năng khác trong NHTM Những phát hiện hay kiến nghị của kiểm toán viên nội bộ thường mang tính chất thông tin hay tham vấn mà không truyền tải bất cứ mệnh lệnh hay quyền hạn trực tiếp nào đối với bộ phận được kiểm toán

Thứ ba, KTNB là sự bổ sung quan trọng cho hoạt động kiểm toán hàng năm

do các công ty Kiểm toán độc lập hoặc do Kiểm toán Nhà nước thực hiện Kiểm toán viên độc lập và kiểm toán viên Nhà nước có trách nhiệm chủ yếu đối với các bên ở ngoài đơn vị được kiểm toán trong khi kiểm toán viên nội bộ lại chịu trách nhiệm chủ yếu với nhà lãnh đạo cấp cao trong NHTM Kiểm toán viên bên ngoài thường quan tâm đặc biệt tới sự đúng đắn của báo cáo tài chính còn kiểm toán viên nội bộ quan tâm hàng đầu tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực của các hoạt động trong đơn vị

Dựa trên các phân tích này, có thể khái quát một định nghĩa về kiểm toán nội

bộ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại: KTNB là một phương thức quản

lý, phục vụ cho việc điều hành các hoạt động ngân hàng hiệu quả và đảm bảo tuân thủ các chính sách của NHTM Có vị trí độc lập, đánh giá một cách khách quan tất cả các hoạt động trong tổ chức NHTM, trợ giúp Ban kiểm soát trong việc kiểm tra, đánh giá sự phù hợp và tính hiệu lực của các hoạt động kiểm soát khác; đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các

hệ thống, quy trình, quy định, góp phần đảm bảo NHTM hoạt động hiệu quả,

an toàn đúng pháp luật

1.1.3 Mối quan hệ giữa HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức NHTM

Để tìm hiểu mối quan hệ giữa HTKSNB và KTNB, có thể phân tích dựa trên hai tiêu chí:

Thứ nhất, phân tích khái niệm “kiểm soát” và “kiểm toán” Kiểm soát là“xem

xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định; đặt trong phạm vi quyền hành của đối tượng nào đó” (11) Trong khi đó, kiểm toán“Là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo

về mức độ phù hợp giữa thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập Qúa trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên có đủ năng lực và độc

(11) http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ki%E1%BB%83m_so%C3%A1t

Trang 20

lập” (12) Vậy, “kiểm soát” và “kiểm toán” đều có chức năng kiểm tra, đánh giá; áp

dụng vào hoạt động ngân hàng, HTKSNB và KTNB:

 Đều có thể tiến hành theo hình thức gián tiếp trên cơ sở các tài liệu, báo cáo hoặc bằng hình thức trực tiếp với các đối tượng cần kiểm tra, kiểm toán

 Có thể kết hợp với nhau hoặc tiến hành theo định kỳ hoặc thường xuyên do một người hoặc một nhóm người thực hiện

 Có mục đích chung là giám sát hoạt động ngân hàng, tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, quy định

Nhưng HTKSNB và KTNB cũng có những khác biệt:

 Kiểm toán chỉ tiến hành sau khi các nghiệp vụ kinh tế đã được hoàn tất

 Kiểm toán không nằm trong quy trình tác nghiệp, nó là hoạt động tách khỏi quy trình, đứng bên ngoài để soi vào một cách khách quan quy trình này được hoạt động như thế nào

 Kiểm toán có bộ phận chuyên môn với tính độc lập tương đối cùng kỹ thuật viên giỏi nghề ngân hàng, kiểm toán mới có thể làm tốt

Thứ hai, về vị trí trong cơ cấu tổ chức NHTM HTKSNB là chế định kiểm soát hoạt động song song, gắn chặt với các nghiệp vụ ngân hàng, vì thế HTKSNB nằm dưới sự chỉ đạo của TGĐ – cơ quan điều hành Trong khi đó, KTNB là chế định kiểm soát bao quát tất cả mọi hoạt động khác nhau trong ngân hàng, kể cả các hoạt động kiểm soát khác; có vai trò chính là giám sát, hậu kiểm nên KTNB được

cơ cấu trong Ban kiểm soát – cơ quan giám sát Sự khác biệt rõ rệt về chức năng, vai trò, mối quan hệ của TGĐ với Ban kiểm soát cũng đã làm nổi bật lên mối quan

hệ: thực thi – giám sát giữa HTKSNB và KTNB

Tóm lại, giữa HTKSNB và KTNB có một số điểm tương đồng và khác biệt; nhưng về vị trí, vai trò trong cơ cấu tổ chức NHTM, giữa chúng có mối quan hệ

thực thi – giám sát

1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với HTKSNB và KTNB

Mặc dù, theo báo cáo COSO 1992 và quan điểm của IIA, bất kỳ một tổ chức nào dù khác nhau về quy mô, tổ chức, đặc điểm hoạt động thì cũng nên xây dựng HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức của mình, nhằm giảm thiểu những rủi ro

và quản lý có hiệu quả hoạt động; đáp ứng, hoàn thành được những mục tiêu đã đề

ra Tuy nhiên, đối với các NHTM, định chế tài chính này có những đặc điểm riêng biệt đòi hỏi cần phải có sự can thiệp trực tiếp từ phía Nhà nước, mà biểu hiện ở đây

là pháp luật để điều chỉnh, bởi những phân tích sau đây

1.2.1 Hoạt động ngân hàng thường gặp nhiều rủi ro

Lĩnh vực kinh doanh của NHTM bao gồm tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, những lĩnh vực này liên quan mọi mặt đến tất cả ngành và lĩnh vực trong đời

(12) “ Kiểm toán”, trường Đại học kinh tế TP.HCM, NXB Thống kê, năm 2006, tr.1.

Trang 21

sống kinh tế- xã hội Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm nên đòi hỏi cần có sự thận trọng trong điều hành nhằm tránh những thiệt hại cho nền kinh tế

xã hội Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển và suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó được Nhà nước kiểm soát hết sức chặt chẽ

(13)

Không những thế, ngân hàng là “chỗ trũng” trong nền kinh tế, tất cả các rủi

ro của các chủ thể kinh doanh khác có thể chuyển tải một phần hoặc toàn bộ cho ngân hàng, bởi ngân hàng cho các chủ thể kinh doanh vay vốn, khi các chủ thể kinh doanh này gặp rủi ro, họ không có khả năng chi trả cho ngân hàng Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau Vì vậy, hạn chế, phân tán rủi ro là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động ngân hàng.(14)

Tuy nhiên, vẫn có nhiều nguyên nhân dẫn khiến hoạt động ngân hàng luôn gặp nhiều rủi ro:

Một là, nguyên nhân từ phía người đi vay

Thứ nhất, do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai mục đích, sản phẩm chất lượng thấp không bán được… Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn

Thứ hai, do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng Để đạt được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao Ngoài ra, cũng có những trường hợp người kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố tình kéo dài với

ý định không trả nợ hoặc tiếp tục sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt

Hai là, nguyên nhân từ phía ngân hàng

Thứ nhất, sự yếu kém của đội ngũ cán bộ Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về

năng lực và phẩm chất đạo đức Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác; mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn không phù

(13) TS Trần Huy Hoàng(2003), “Quản trị ngân hàng”, NXB Thống kê, tr.7

(14) Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Luật ngân hàng, tr 29

Trang 22

hợp, dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao Ngoài ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà

bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết

Thứ hai, sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng chưa chặt chẽ Cán

bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân Vậy nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cấp dưới đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao Hơn nữa, sau khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức Do vậy, nếu các cấp quản lý không có sự giám sát đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm chí dẫn đến những sai phạm đạo đức trong cho vay và thu nợ Ngoài ra, các cơ quan cấp trên không quan tâm đến thực trạng tín dụng của ngân hàng thì sẽ không có những chỉ đạo kịp thời để ngăn ngừa và xử lý rủi ro xảy ra

Thứ ba, ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư Một công cụ luôn

được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư Quản trị danh mục làm cân đối và kiềm chế rủi ro bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị trường, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau Nhiều chuyên gia ngân hàng tin rằng đa dạng hoá là giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng hữu hiệu nhất Mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng của việc đa dạng hoá danh mục đầu tư, song rất nhiều ngân hàng chỉ cho vay một, hai ngành hoặc chỉ cho vay một vài doanh nghiệp lớn, nhóm kinh doanh đơn lẻ Một danh mục đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào một ngành hay một loại mặt hàng là rất nguy hiểm vì không ngành nào là không có rủi ro

Thứ tư, định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng Về cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải được xác định ở mức đảm bảo bù đắp được chi phí vốn đầu vào, chi phí quản lý, phần lợi nhuận mong muốn và phần bù đắp rủi ro của khoản vay Khách hàng được đánh giá có mức độ rủi ro càng cao, phần bù rủi

ro càng lớn Nhưng vì cạnh tranh nên một số ngân hàng có thể chấp nhận mức giá cho vay thấp, thậm chí chỉ đủ chi phí vốn đầu vào và chi phí quản lý, không tính đến phần bù rủi ro Việc làm đó trong dài hạn không những làm giảm lợi nhuận mà còn làm tăng tính rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng

Ba là, các nguyên nhân khách quan

Trang 23

Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh như chất lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…

Thứ nhất, chất lượng thông tin chưa cao Các thông tin mà ngân hàng thu

thập thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào các thông tin thu thập được để ra quyết định cho vay Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải lúc nào các thông tin ngân hàng thu thập được đều có tính chính xác, đầy đủ và kịp thời Do vậy, nếu hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng không hoạt động có hiệu quả, cập nhật được những thông tin đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân hàng thất thoát vốn khi cho vay

Thứ hai, những biến động kinh tế không dự báo được Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng Tuy nhiên, khi xuất hiện những biến động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến một nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất lớn Nhiều người vay có thể thích ứng và vượt qua khó khăn đó, nhưng cũng có rất nhiều người bị đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ nên khả năng trả nợ vốn vay ngân hàng không được đảm bảo

Thứ ba, sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật Sự thiếu nhất

quán trong các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngân hàng cũng như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay ngân hàng Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những thay đổi trong quy định về thuế, vốn…cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập… Như vậy, các chính sách kinh tế, pháp luật không hoàn chỉnh cũng gây khó khăn có doanh nghiệp

về khả năng trả nợ, cũng như đe doạ đến sự an toàn của ngân hàng trong cho vay(15)

1.2.2 HTKSNB và KTNB là một trong những đối tượng hàng đầu trong quản trị rủi ro đối với hoạt động ngân hàng

Hoạt động ngân hàng thường phát sinh những rủi ro cơ bản: Rủi ro tín dụng (Credit Risk), Rủi ro tỉ giá hối đoái ( Foreign Exchange Rate Risk), Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk), Rủi ro thanh khoản (Liquydity Risk), Rủi ro tác nghiệp (Operational Risk)(16)

Rủi ro tín dụng: Rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn

(15) http://www.dankinhte.vn/nguyen-nhan-dan-den-rui-ro-tin-dung/

(16) http://banking.org.vn/hn2013/images/stories/atdl/Article%202-%20Risk%20management.pdf

Trang 24

Rủi ro về lãi suất: Rủi ro phát sinh trong trường hợp có sự thay đổi về lãi suất ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng – bị lỗ do tăng chi phí…ví dụ lãi suất thị trường thay đổi làm giảm giá trị tài sản Hoặc phát sinh sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ của ngân hàng

Rủi ro tác nghiệp: Là rủi ro phát sinh từ những sai sót của hệ thống thông tin hoặc kiểm soát nội bộ dẫn đến thất thoát, bao gồm rủi ro an toàn chung; rủi ro giao dịch; rủi ro lạm dụng thông tin; rủi ro kiểm soát; rủi ro do các nhà quản lý không nhận được đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin; rủi ro nhân sự; rủi ro hệ thống công nghệ thông tin; rủi ro thay đổi quản lý Sự yếu kém trong HTKSNB và KTNB chính là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp trong NHTM

T.S Đào Minh Phúc và Th.S Lê Văn Hinh trong “Hệ thống kiểm soát nội bộ

gắn với quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (17) cũng đã khẳng định, trong điều kiện thị trường tài chính nước ta đang hội nhập sâu rộng với nền tài chính toàn cầu; và hiện nay, trong giai đoạn nền tài chính đang có nhiều bất ổn, những nguy cơ về nợ xấu…HTKSNB nói chung và cả KTNB

sẽ là đối tượng ưu tiên hàng đầu trong quản trị rủi ro tại các NHTM

1.2.3 Pháp luật có khả năng đồng bộ hóa HTKSNB và KTNB trong toàn hệ thống ngân hàng, nâng cao vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước

Pháp luật có khả năng đồng bộ hóa HTKSNB và KTNB trong toàn hệ

thống NHTM

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội Theo triết học Mác – Lê Nin, trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, được hình thành và phát triển trên cơ sở nền tảng cơ sở hạ tầng, cơ sở kinh tế có vai trò quyết định và chi phối đối với pháp luật

Tuy nhiên, pháp luật cũng tác động ngược trở lại nền kinh tế Nếu pháp luật

ra đời phù hợp với các quy luật khách quan, thì nó sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển Ngược lại, nếu pháp luật không theo kịp sự phát triển kinh tế, không phù hợp với điều kiện khách quan thì nó sẽ là lực cản kiềm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội

Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, nó được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước, có giá trị bắt buộc đối với tất cả các chủ thể trong xã hội

Do đó, pháp luật là công cụ quan trọng nhất bảo vệ sự ổn định và phát triển của kinh tế, xã hội

Hệ thống ngân hàng là một chế định hết sức quan trọng của nền kinh tế, nó được ví như trái tim của toàn bộ nền kinh tế của đất nước Tại ngân hàng, dòng tiền

(17) Tạp chí Ngân hàng, số 24, tháng 12 năm 2012

Trang 25

nhàn rỗi được tập trung thành một khối, sau đó cung ứng lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngân hàng còn là nơi trung gian thanh toán, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa nhanh chóng, góp phần điều tiết, kiểm soát thị trường tiền

tệ, thị trường vốn Với vai trò to lớn như vậy, hoạt động ngân hàng nhất thiết và bắt buộc phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật là điều tất yếu

HTKSNB và KTNB trong toàn hệ thống ngân hàng, lúc này, vì chịu sự điều chỉnh trực tiếp từ pháp luật nên sẽ được thành lập, áp dụng ở tất cả các ngân hàng,

dù là NHTM nhà nước hay NHTM cổ phần Tuy việc thành lập HTKSNB và KTNB này còn tùy thuộc vào quy mô, cơ cấu của từng ngân hàng, sẽ có HTKSNB và KTNB hoàn thiện từ hội sở đến chi nhánh, phòng giao dịch, nhưng cũng có thể chỉ nằm trong hội sở; nhưng HTKSNB và KTNB nhất quyết đã được đồng bộ hóa trong tất cả ngân hàng trong hệ thống

Nâng cao vai trò quản lý của ngân hàng nhà nước

Có thể khẳng định, Ngân hàng Nhà nước là một tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, là ngân hàng của các ngân hàng, với rất nhiều chức năng và nhiệm vụ(18)

Mọi quyết định, chính sách trong điều hành, quản lý của Ngân hàng Nhà nước, dù nhỏ, cũng có khả năng tác động rất lớn đến toàn bộ hệ thống tiền tệ quốc gia, ảnh hưởng sâu rộng đến cả hệ thống ngân hàng Đảng và Nhà nước

đã giao cho Ngân hàng Nhà nước quyền lực và trách nhiệm rất lớn để điều hành

“xương sống của nền kinh tế”

Hệ thống NHTM ở nước ta hiện nay gồm 38 ngân hàng và hàng chục chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài (19) Nếu so với thời kỳ hoàng kim trước đây, khi các ngân hàng mọc ra “như nấm sau mưa” thì con số này không phải quá lớn, nhưng thử tưởng tượng nếu 38 ngân hàng có 38 HTKSNB và KTNB hoàn toàn khác nhau, với cách thức quản lý, điều hành, cơ cấu tổ chức, vận hành khác nhau; tuy không can thiệp quá sâu và không hoàn toàn quản lý chặt chẽ vấn đề này, nhưng dù sao với trách nhiệm của mình nhưng cũng sẽ rất khó khăn để Ngân hàng Nhà nước có thể quản lý hết Mặc dù, ngân hàng Nhà nước có cơ cấu tổ chức quy

mô rộng lớn, với nhiều cơ quan phụ trách các mảng khác nhau, trải rộng ở tất cả tỉnh thành(20)

, nhưng chỉ với việc quản lý HTKSNB và KTNB mà phải tập trung nguồn lực lớn của NHNN, thì thật lãng phí Hãy để NHNN tập trung vào những nhiệm vụ, chức năng quan trọng và cơ bản hơn như hoạt động cho vay tái cấp vốn, điều hành lãi suất, phát hành tiền, kiểm soát đặc biệt Với việc ban hành các văn

Trang 26

bản quy phạm pháp luật và văn bản dưới luật, NHNN đã hướng hoạt động thành lập HTKSNB và KTNB của các NHTM vào một khuôn khổ nhất định, tức là NHNN vẫn có thể quản lý được hoạt động này, đồng thời dành nhiều sự quan tâm vào các hoạt động mang tính cần thiết và cấp bách hơn; nâng cao được vai trò quản lý của mình

1.3 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB

Pháp luật là công cụ quan trọng nhất mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Trong giai đoạn hiện nay, mọi rủi ro của NHTM không chỉ ảnh hưởng đến nội tại ngân hàng đó, mà còn tác động xấu trực tiếp đến cả nền kinh tế, vai trò của pháp luật đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng nói chung, và hoạt động kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ cần được chú trọng và nâng lên tầm cao mới Vì thế, việc xây dựng một nền tảng lý luận vững chắc về pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB là điều hoàn toàn cấp thiết

1.3.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB

Theo lý luận chung về pháp luật, “pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do

nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” (21) Từ khái niệm này, có thể rút ra kết luận, pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB là hệ thống các quy tắc

xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ

Pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB có các đặc điểm cơ bản:

 Được thể hiện thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, với hệ thống Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chỉ thị… Được ban hành bởi chủ thể có vai trò lập pháp như Quốc Hội, Nghị viện; hoặc chủ thể có quyền năng hành pháp như Chính Phủ; hay chỉ đơn giản là một cơ quan hành chính như Ngân hàng Nhà nước

 Chịu sự chi phối của pháp luật quốc tế, chẳng hạn như các Điều ước quốc tế

mà quốc gia có tham gia, ký kết Hoặc những thông lệ, tiêu chuẩn quốc tế đã được kiểm nghiệm, áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực giám sát hoạt động ngân hàng

 Có mối liên hệ mật thiết với các mảng pháp luật thuộc lĩnh vực ngân hàng khác như pháp luật về thành lập, hoạt động; pháp luật về thanh tra ngân hàng

 Được bảo đảm thực hiện bởi các cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính – tiền tệ; tùy vào đặc điểm từng quốc gia, đó có thể là ngân hàng Nhà nước, ngân hàng Trung ương…

21 Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản tư pháp Hà Nội, 2005, tr 66

Trang 27

1.3.2 Nguyên tắc xây dựng pháp luật điều chỉnh về HTKSNB và KTNB

Tính đến hết năm 2011, hệ thống các NHTM ở VN bao gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 37 NHTMCP, 1 ngân hàng chính sách, 1 ngân hàng phát triển, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả chi nhánh phụ), 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 50 văn phòng đại diện, 18 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ương, và hơn

1000 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở(22) Các ngân hàng thương mại nhà nước có vị trí chủ đạo trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, các NHTMCP và quỹ tín dụng nhân dân, mặc dù có thị phần nhỏ nhưng là lực lượng không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường vì khả năng huy động vốn trong dân cư và có quan hệ mật thiết với hoạt động nông nghiệp và phát triển nông thôn (lực lượng chiếm đến 70% lao động cả nước)

NHTMNN(48.33%)

NH nhà ĐBSCL và NHCS (4.81%) NHTMCP (46.96%)

Đồ thị 1: Tỷ trọng huy động vốn theo khối ngân hàng năm 2011

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo thường niên 2011)

NHTMNN (56.04%)

NH nhà ĐBSCL

và NHCS (1.59%) NHTMCP (42.67%)

Đồ thị 2: Tỷ trọng đầu tư cho nền kinh tế theo khối ngành ngân hàng năm 2011

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo thường niên năm 2011)

Trong thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng còn nhiều yếu kém, nợ xấu toàn ngành tính từ thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2013 là 3.79% (23), vẫn còn khá

Trang 28

cao, và đây cũng chỉ là số liệu mang tính chủ quan của Ngân hàng Nhà nước, thực

tế nợ xấu ngành ngân hàng ở Việt Nam được các tổ chức đánh giá tín nhiệm có uy tín trên thế giới như Moody’s Investor Service đưa ra lên đến 15% (24) Chưa hết, gần đây các vụ “đại án” đang được đưa ra xét xử có liên quan đến những cá nhân, ngân hàng uy tín trong nước; hàng loạt các thương vụ sáp nhập các ngân hàng yếu kém… làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân và hình ảnh của hệ thống ngân hàng nước ta Nguyên nhân chính là các NHTMCP yếu kém trong hoạt động kinh doanh, năng lực quản lý, điều hành Phần lớn các cổ đông lớn, những ông chủ của ngân hàng lợi dụng kẽ hở trong hệ thống luật pháp, lợi dụng sự quản lý yếu kém của HTKSNB và KTNB để biến ngân hàng thành công cụ phục vụ cho lợi ích các nhân của riêng mình

Trước tình hình đó, Chính Phủ đã chủ trương chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các

NHTM Việt Nam theo hướng: “chấn chỉnh, sắp xếp lại các ngân hàng thương mại

cổ phần, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính của Việt Nam (sau đây viết tắt

là NHTM tại Mục II Phần B này) để bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả, đúng pháp luật và cùng với các ngân hàng thương mại nhà nước giữ cho hệ thống các tổ chức tín dụng ổn định và phát triển vững chắc Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh và hoạt động một cách công khai, minh bạch,đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực về quản trị và an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật Tạo điều kiện cho các NHTM lành mạnh phát triển và kiên quyết xử

lý các NHTM yếu kém Kiểm soát quy mô, tốc độ tăng trưởng và phạm vi hoạt động kinh doanh của NHTM phù hợp với điều kiện tài chính và năng lực quản trị

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tài chính, hoạt động và quản trị, đặc biệt là chất lượng tài sản, công nợ, vốn tự có và mức độ an toàn của NHTM, các NHTM sẽ được phân loại thành 3 nhóm (NHTM lành mạnh; NHTM thiếu thanh khoản tạm thời và NHTM yếu kém) để có biện pháp xử lý thích hợp

NHTM cần có phương án cơ cấu lại phù hợp với mức độ rủi ro, yếu kém và điều kiện cụ thể của NHTM Nội dung cơ cấu lại các NHTM yếu kém bao gồm: (1) Lành mạnh hóa về tài chính; (2) Cơ cấu lại hoạt động; (3) Cơ cấu lại hệ thống quản trị; (4) Cơ cấu lại pháp nhân và sở hữu” (25)

Những định hướng trên của Chính Phủ không nằm ngoài mục đích an toàn, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, nâng cao quản trị rủi ro trong tổ chức và hoạt động của các NHTM nói chung và NHTM nói riêng Để cụ thể hóa các nội dung trên vào thực tế, NHTM nhất thiết phải thực hiện nghiêm ngặt một số quy định như:

 Quy định về HTKSNB và KTNB;

 Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn;

(24) http://vneconomy.vn/20140219061233697P0C6/moodys-no-xau-ngan-hang-viet-nam-it-nhat-phai-15.htm (25) Thủ tướng Chính Phủ, Quyết định 254 – phê duyệt mở rộng các NHTM giai đoạn 2011-2015, Mục II

Trang 29

 Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro;

 Quy định về hoạt động thanh tra, giám sát của Cơ quan thanh tra giám sát NHNN

Trong đó, việc xây dựng một HTKSNB và KTNB là một yêu cầu cấp thiết

để đảm bảo hoạt động NHTM được an toàn, hạn chế rủi ro Một trong các yêu cầu đặt ra trong việc ban hành các quy định của pháp luật là hoàn thiện tổ chức hoạt động của HTKSNB và KTNB trong các NHTM; có thể dựa trên một số nguyên tắc sau đây:

1.3.2.1 Nhà nước ban hành các quy định mang tính bắt buộc đối với các NHTM trong việc thiết lập và duy trì HTKSNB và KTNB

HTKSNB và KTNB được thiết lập ở tất cả các NHTM, là hoạt động quản trị của NHTM và mang tính tự quản của NHTM Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, có thể thiết lập hoặc không cần thiết lập hai hoạt động này, riêng các NHTM đều xây dựng hệ thống HTKSNB và KTNB nhằm kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của mình Nói chung, các bước kiểm soát là các biện pháp được tiến hành để xem xét và khẳng định các phương pháp, biện pháp quản lý có được tiến hành hiệu quả và thích hợp hay không, có kịp thời ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và gian lận trong kinh doanh, có thể bảo vệ tài sản và thông tin tránh khỏi bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích và NHTM hoạt động có tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ

HTKSNB và KTNB được thiết lập và duy trì hiệu quả sẽ là một công cụ kiểm tra, kiểm soát hữu hiệu, phục vụ cho quản lý, điều hành hoạt động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của NHTM Hoạt động của HTKSNB và KTNB góp phần phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn thất thoát, lãng phí các nguồn lực, đảm bảo tiết kiệm, hiệu lực và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực của NHTM Việc hoàn thiện quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của HTKSNB và KTNB có tính cấp thiết và phù hợp với yêu cầu lâu dài trong quản lý

1.3.2.2 Nhà nước chỉ quy định cơ sở pháp lý căn bản cho việc tổ chức, hoạt động của HTKSNB và KTNB

Nhà nước chỉ can thiệp một giới hạn nhất định vào quá trình hình thành cũng như hoạt động của HTKSNB Các NHTM căn cứ vào quy mô hoạt động của mình, nguồn nhân lực, trình độ tổ chức để xây dựng HTKSNB phù hợp, hiệu quả Nhà nước chỉ ban hành khung pháp lý cho việc hình thành và hoạt động của hệ thống KTKSNB.Quy định này cho phép các NHTM được tự chủ trong việc xây dựng mô hình tổ chức, nguồn nhân lực, hệ thống thông tin, đảm bảo tính hiệu quả trong mỗi NHTM

Trang 30

1.3.2.3 Hoạt động của HTKSNB và KTNB cần phải được rà soát, đánh giá bởi một cơ quan độc lập hoặc nội bộ

Nhiệm vụ của HTKSNB và KTNB là rà soát, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động, đảm bảo các nghiệp vụ, quy định nội bộ, chính sách hoạt động của NHTM được thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây, ai là người giám sát người giám sát? HTKSNB và KTNB nếu bị ảnh hưởng quá nhiều, hay bị chi phối bởi một cá nhân, nhóm lợi ích nào đó, sẽ khiến hoạt động ngân hàng

bị ảnh hưởng tiêu cực ngay lập tức Vì vậy, đòi hỏi cần phải có một cơ quan độc lập hoặc nội bộ kiểm soát hoạt động của HTKSNB và KTNB

1.3.2.4 HTKSNB và KTNB đáp ứng yêu cầu hội nhập trong điều kiện mới

Kể từ khi thực hiện đổi mới kinh tế vào năm 1986, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những bước chuyển mình quan trọng, đánh dấu bằng việc chuyển từ hệ thống ngân hàng đơn cấp sang cơ chế ngân hàng hai cấp với sự phân tách riêng rẽ trong hoạt động của các NHTM với Ngân hàng Nhà nước Hoạt động của các ngân hàng trong nước vẫn chiếm ưu thế về thị phần tiền gửi và cho vay Các ngân hàng quốc doanh chủ yếu phục vụ các DN thuộc sở hữu Nhà nước trong khi các NHTM

cổ phần mới thành lập tập trung vào các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, về năng lực tài chính, hạ tầng công nghệ, hệ thống thanh toán và về quản trị hoạt động ngân hàng vẫn còn rất nhiều hạn chế(26)

Đặc biệt, về quản trị hoạt động ngân hàng, hệ thống quản trị của ngân hàng trong nước trên tất cả các mặt như quản trị nguồn nhân lực, quản trị rủi ro đều chưa đáp ứng với thông lệ quốc tế Các ngân hàng trong nước chưa có các công cụ hiện đại

để quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, quản lý thanh khoản, hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ trong ngân hàng lạc hậu, chưa có tính dự báo sớm với các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động Công tác quản lý nhân sự còn nhiều hạn chế, chất lượng lao động tại các ngân hàng trong nước chưa cao, chưa nhanh nhạy với nhu cầu của thị trường Từ năm 2007, sau khi gia nhập WTO, hoạt động ngân hàng nước ta đã

có nhiều khởi sắc, các NHTM trong nước được tiếp cận vốn quốc tế dễ dàng hơn, tiếp thụ kiến thức, kinh nghiệm và công nghệ hiện đại về quản lý và hoạt động ngân hàng khi các ngân hàng trong nước lựa chọn các ngân hàng nước ngoài danh tiếng làm đối tác chiến lược, không những thế còn tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính, các NHTM nước ngoài đến từ các khu vực tài chính phát triển, làm phong phú các sản phẩm tài chính hiện đại, tạo kênh cung ứng vốn, kênh dịch vụ đa dạng cho các DN Việt Nam(27) Tuy nhiên, cũng có những thách thức không hề nhỏ, chẳng hạn như gia tăng rủi ro và tính nhạy cảm của

(26) dong-nhtm.html

https://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/13/gia-nhap-wto-va-cac-tac-dong-toi-quan-ly-hoat-(27) dong-nhtm.html

Trang 31

https://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/13/gia-nhap-wto-va-cac-tac-dong-toi-quan-ly-hoat-thị trường tài chính trong nước đối với các biến động trên https://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/13/gia-nhap-wto-va-cac-tac-dong-toi-quan-ly-hoat-thị trường thế giới, các NHTM trong nước cũng mất dần lợi thế cạnh tranh về khách hàng và hệ thống phân phối Sau một thời gian hoạt động, các ngân hàng nước ngoài trở nên ngày càng am hiểu về thị trường Việt Nam, về văn hóa, thói quen tiêu dùng của khách hàng Việt Nam

Trước yêu cầu hội nhập với nhiều thuận lợi để phát triển, nhưng cũng đầy thách thức và rủi ro, đòi hỏi các NHTM phải có những bước đi, chính sách đổi mới theo xu hướng mà các ngân hàng quốc tế đã và đang áp dụng thành công, để áp dụng vào chính ngân hàng mình, nhằm nâng cao vị thế và tính cạnh tranh, trong đó đặc biệt là đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế, hiện đại hóa công cụ quản trị rủi ro, xây dựng hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ mạnh, có khả năng cảnh báo rủi ro sớm và có khả năng kiểm soát hiệu quả rủi ro trong hoạt động tín dụng và quản lý thanh khoản

a Đối với HTKSNB

Hầu hết các ngân hàng trên thế giới hiện nay đã và đang áp dụng Báo cáo Basel(28) cho HTKSNB, hiện nay đã nâng cấp đến Basel III Tháng 9 năm 1998, Uỷ

ban Basel đã phát hành tài liệu: “Khuôn khổ cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong

các ngân hàng”- “Framework for internal control systems in banking organizations” (29)

Tài liệu này mô tả những yếu tố chủ yếu của một hệ thống kiểm

soát nội bộ lành mạnh, nêu ra những kinh nghiệm của những quốc gia thành viên và những nguyên tắc đã được trình bày trong các tài liệu trước đây của Ủy ban Mục tiêu của Tài liệu này là nêu ra một số nguyên tắc mà cơ quan thanh tra sử dụng để đánh giá HTKSNB của ngân hàng Một HTKSNB có hiệu quả là một thành phần quan trọng của quản trị ngân hàng và là nền tảng cho hoạt động lành mạnh và an toàn của các ngân hàng Một đặc điểm nổi bật là tài liệu này không tập trung vào những điểm hoặc hoạt động cụ thể của một ngân hàng Sự áp dụng những nguyên tắc nêu ra trong tài liệu phụ thuộc vào bản chất, sự phức tạp và rủi ro trong hoạt động ngân hàng(30) Basel đề ra 13 nguyên tắc thiết kế và đánh giá HTKSNB.(31)

Một số quốc gia trên thế giới đã vận dụng Tài liệu này của Basel để soạn thảo các chuẩn mực, hướng dẫn riêng về kiểm soát nội bộ cho các ngân hàng thương mại tại quốc gia mình Trong đó có thể kể đến như:

(28) Báo cáo Basel được phát hành bởi Ủy ban Basel - ủy ban về hoạt động giám sát ngân hàng ( Basel Committee on Banking Supervision), gồm nhiều tổ chức thanh tra ngân hàng do các Thống đốc ngân hàng Trung ương của 10 quốc gia thành lập vào cuối năm 1974 Ủy ban này gồm nhiều đại diện cấp cao của các cơ quan thanh tra ngân hàng và Ngân hàng Trung ương của Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Luxembourg, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ Ủy ban thường tổ chức họp tại Ngân hàng thanh toán quốc tế ở Basel, là nơi đặt trụ sở của ban chấp hành http://www.bis.org/bcbs/about.htm

(29) www.bis.org/publ/bcbs40.pdf

(30) Introduction – “Framework for internal control systems in banking organizations”, pages 1-2

(31) Phụ lục 3

Trang 32

 Tài liệu “Quản lý các rủi ro trong ngân hàng: Kiểm soát nội bộ và tuân thủ

khuôn khổ về Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng” (32) do Ngân hàng Bangladesh ban hành Về cơ bản, tài liệu này hoàn toàn phù hợp với Tài liệu của Basel và có kèm theo hướng dẫn các thủ tục kiểm soát đối với từng loại nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng thương mại

 Tài liệu “Kiểm soát nội bộ: Sổ tay kiểm soát viên” (33)

do Bộ Kiểm sát tiền tệ Hoa Kỳ (The Office of Comptroller of the Currency) ban hành và áp dụng cho hoạt động giám sát ngân hàng và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng

 Malta Financial Services Authority – một tổ chức được thành lập từ tháng 2/2002 với chức năng điều chỉnh và giám sát hoạt động của các ngân hàng

tại Malta đã ban hành “Bản thông cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng

cho các tổ chức tín dụng hoạt động theo Đạo luật Ngân hàng Malta 1994” (34)

 Các tổ chức tư vấn về tài chính, quản trị, ngân hàng tại các nước cũng khuyến khích các ngân hàng vận dụng các nguyên tắc của Basel để đánh giá

hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng mình Ví dụ, tổ chức FSA (Financial Service Authority) của Nhật Bản đã thiết kế một bảng checklist bao gồm các tiêu chí sử dụng để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng theo Tài liệu của Basel(35)

; hay CARD decisions Inc (Hoa Kỳ) – một tổ chức chuyên kinh doanh các phần mềm về quản lý rủi ro, cung ứng dịch vụ

tư vấn, đào tạo về lĩnh vực này – cũng vận dụng các nguyên tắc về kiểm soát nội bộ của Basel để thiết kế phần mềm quản lý rủi ro có tên gọi là Collaborative Assurance & Risk DesignTM Enablers(36)…

Để đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và có hiệu quả, thực hiện vai trò to lớn của mình và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập với nền tài chính toàn cầu, việc các ngân hàng tại Việt Nam áp dụng Tài liệu của Basel để thiết lập và duy trì HTKSNB là hết sức quan trọng và cần áp dụng mạnh mẽ hơn

b Đối với KTNB

Đến giai đoạn hiện nay, đối với hoạt động kiểm toán nội bộ, các doanh

nghiệp nói chung và ngân hàng ở các quốc gia trên thế giới đang áp dụng “Tiêu

Trang 33

chuẩn quốc tế cho việc hành nghề chuyên nghiệp kiểm toán nội bộ-ISA” (37) do tổ chức IFAC ban hành Tài liệu này đã thể hiện một cách bao quát và khá toàn vẹn những yêu cầu, đặc điểm cần có của hoạt động kiểm toán nội bộ để nâng cao lên tầm chuyên nghiệp Trong đó:

 Quy định mục đích, quyền hạn và trách nhiệm của hoạt động kiểm toán nội

bộ phải được quy định rõ trong điều lệ kiểm toán nội bộ Bản chất, vai trò của Trưởng nhóm kiểm toán nội bộ với Hội đồng quản trị; cho phép truy cập

hồ sơ, nhân viên và những tài sản có liên quan đến việc thực hiện các dịch vụ kiểm toán; xác đinh phạm vi của hoạt động kiểm toán nội bộ.(38)

 Quy định hoạt động kiểm toán nội bộ phải độc lập, khách quan, thận trọng và trách nhiệm.(39)

 Đánh giá nội bộ: Giám sát việc thực hiện các hoạt động kiểm toán nội bộ và việc đánh giá định kỳ được thực hiện thông qua việc tự đánh giá hoặc do người khác trong doanh nghiệp có đủ kiến thức hành nghề kiểm toán nội

có nền kinh tế phát triển ở Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore…hay các quốc gia khác như Australia, Trung Quốc cũng đã chọn ISA làm nền tảng cho hoạt động kiểm toán nội bộ(42) Trong thời gian tới, hy vọng với sự hội nhập vào nền tài chính – tiền tệ thế giới mạnh mẽ và đa dạng hơn, nước ta sẽ nhanh chóng áp dụng những quy định của ISA, luật hóa để các NHTM có thể xây dựng hoạt động kiểm toán nội

bộ hoạt động một cách có hiệu quả

1.3.3 Nội dung pháp luật về HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức NHTM

Nội dung pháp luật về HTKSNB và KTNB là những tư tưởng, quy tắc xử sự được quy định bằng những quy phạm pháp luật cụ thể để điều chỉnh những vấn đề nhất định

1.3.3.1 Xác định vị trí các cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB

HTKSNB giống như một “huyết mạch” xuyên suốt mọi nghiệp vụ NHTM, góp phần thúc đẩy ngân hàng hoạt động có hiệu quả Vì HTKSNB kiểm soát mọi

(37) International Standards on Auditing, publish by IFAC

(38) International Standards on Auditing, page 3

(39) International Standards on Auditing, pages 3-5

(40)

International Standards on Auditing, page 5

(41) International Standards on Auditing, pages 5-6

(42) http://www.ifac.org/about-ifac/membership/compliance-program/basis-isa-adoption

Trang 34

hoạt động khác của ngân hàng nên cơ quan điều hành hệ thống này đòi hỏi phải trực thuộc một cơ quan có chức năng điều hành cao nhất trong cơ cấu tổ chức NHTM

KTNB lại là hoạt động giám sát, hậu kiểm, đánh giá độc lập, tính hiệu quả của HTKSNB, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần đảm bảo NHTM hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật Với chức năng giám sát, Bộ phận KTNB nhất thiết phải trực thuộc một cơ quan có chức năng chính là kiểm tra, giám sát, đối trọng với bộ máy điều hành

1.3.3.2 Xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của các cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB

So với các bộ phận nghiệp vụ khác trong NHTM như bộ phận chính sách và phát triển, tiếp thị và phát triển sản phẩm, nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ vị trí của cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB có tính chất đặc thù và quan trọng hơn, bởi chức năng giám sát, kiểm soát trong toàn hệ thống chứ không riêng một mảng, phân khúc nào Vì vậy, cần phải trao những quyền và nghĩa vụ tương xứng với vị trí

và vai trò đối với hai cơ quan này

Thứ nhất, hai cơ quan này có các quyền cơ bản như:

 Được trang bị đầy đủ các nguồn lực (nhân lực, tài chính…) cần thiết

 Chủ động thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch đã được phê duyệt

 Được tiếp cận, xem xét tất cả quy trình, nghiệp vụ

 Được tiếp cận, lấy ý kiến tất cả các cán bộ, nhân viên về các vấn đề liên quan đến nội dung công việc

Thứ hai, hai cơ quan này cũng phải đảm bảo chấp hành các nghĩa vụ cơ bản:

 Bảo mật tài liệu, thông tin

 Chịu trách nhiệm về những đánh giá, kết luận, kiến nghị, đề xuất trước cơ quan, cá nhân lãnh đạo trực tiếp

 Đảm bảo các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, quy chế nội bộ, nội quy ngân hàng

1.3.3.3 Xác định mối quan hệ giữa các cơ quan điều hành HTKSNB và KTNB trong cơ cấu tổ chức quản lý của NHTM

Với chức năng đều là kiểm tra, kiểm soát, nếu không được phân biệt rạch ròi, rất dễ

có sự chồng chéo, mâu thuẫn về chức năng, nhiệm vụ Vì nguyên do đó, cần đưa ra những tiêu chí nhất định để tách bạch rõ hai cơ quan này, chẳng hạn như các tiêu chí về vị trí, nhiệm vụ, mức độ hoạt động, quyền hạn, mức độ phòng ngừa rủi ro Dựa trên vị trí, vai trò của hai cơ quan này, có thể xác định được, cơ quan điều hành KTNB có chức năng giám sát hoạt động của cơ quan điều hành HTKSNB Tuy nhiên, pháp luật cần phải quy định rõ, xác định một cách cụ thể mối quan hệ giữa hai cơ quan, bằng cách quy định trực tiếp trong Luật và dẫn lại vào các văn bản hướng dẫn như Nghị định, thông tư

Trang 35

Nội dung tiếp theo của khóa luận là tập trung làm rõ sự cần thiết cần phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ dưới góc độ quản trị rủi ro và vai trò quản lý của ngân hàng nhà nước

Bên cạnh đó, khóa luận cũng đề cập đến các nguyên tắc, nội dung xây dựng pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ; đề cập một số kinh nghiệm xây dựng hai hoạt động này theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế, thực tiễn áp dụng ở vài quốc gia

Những nội dung trên làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu của đề tài

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ

TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1 Thực trạng tình hình hoạt động và hệ thống pháp luật điều chỉnh HTKSNB, KTNB

2.1.1 Khái quát chung tình hình hoạt động HTKSNB và KTNB tại các NHTM

Trước hết, HĐQT và BGĐ các NHTM đã chú trọng tới việc tạo ra một trường kiểm soát mạnh, trong đó khuyến khích các chuẩn mực cao về đạo đức, làm cho các nhân viên ở tất cả các cấp hiểu rõ về tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ, hiểu về vai trò của mình trong cơ chế kiểm soát nội bộ Thông thường, để đề cao các giá trị đạo đức, HĐQT và Ban giám đốc các NHTM đề ra chính sách và các quy trình của ngân hàng, ngăn ngừa và hạn chế các động cơ hoặc ham muốn thực hiện các hành vi không được phép Ví dụ như nhấn mạnh quá mức các mục tiêu thành tích, đặc biệt là những thành tích ngắn hạn; cơ chế thù lao phụ thuộc quá nhiều vào khối lượng (dư nợ tín dụng), bỏ qua vấn đề chất lượng (nợ quá hạn, nợ khó đòi ) Một số ngân hàng lớn luôn coi công tác hoàn thiện và duy trì HTKSNB, KTNB mạnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết hàng đầu từ khi thành lập đến nay (43)

Thứ hai, cùng với sự chỉ đạo của NHTM, HĐQT và BGĐ các NHTM đã

thường xuyên rà soát cơ chế nghiệp vụ của những lĩnh vực hoạt động quan trọng như nghiệp vụ tín dụng, thanh toán quốc tế (đặc biệt việc mở L/C thanh toán hàng nhập), kinh doanh ngoại tệ… để phát hiện những điểm yếu của quy trình nghiệp vụ hoặc những rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát chưa được nhận biết, chưa có biện pháp kiểm soát thỏa đáng phòng ngừa, hay nhận biết những rủi ro mới trong điều kiện kinh doanh thay đổi, trên cơ sở đó mà bổ sung biện pháp nghiệp vụ, xây dựng quy trình mới hoàn thiện hơn.(44)

Thứ ba, các NHTM đã thường xuyên tiến hành nhiều đợt kiểm toán trong hệ thống, điều này cho thấy một tín hiệu đáng mừng, công tác KTNB thật sự đã được quan tâm đúng mức Năm 2012, Ocean Bank kiểm toán 8 lần Maritime Bank tiến hành 34 đợt kiểm toán theo kế hoạch, 3 đợt kiểm toán đột xuất, tổ chức khóa đào tạo tập trung và tại chỗ cho toàn bộ nhân viên KTNB Navibank kiểm toán 65 đơn

vị, gồm 57 phòng giao dịch, 6 chi nhánh và Trung tâm thẻ, Sở giao dịch Ngân hàng Phương Nam kiểm toán 15 đơn vị gồm 1 chi nhánh, 12 phòng giao dịch, 2 Qũy tiết kiệm; SHB thực hiện 11 đợt kiểm toán toàn diện, 13 đợt kiểm toán chuyên đề tại

(43) Phụ lục 1

(44) Doc.edu.vn, “Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại”, tr27

Trang 37

Trụ sở chính và các chi nhánh, 20 đoàn kiểm toán TSBĐ và dư nợ cấp tín dụng tại

20 đơn vị trong toàn hệ thống; Vietcombank tiến hành 52 cuộc kiểm toán (Hội sở chính, 48 Chi nhánh và 2 công ty con), 2 cuộc kiểm toán chuyên đề gồm rà soát hoạt động cho vay cầm cố giấy tờ có giá và rà soát hồ sơ cơ cấu nợ, trên các mảng nghiệp vụ như tín dụng (41 đơn vị), kế toán (34 đơn vị), bán lẻ (26 đơn vị); đặc biệt, Techcombank có đến 107 cuộc kiểm toán trong năm 2012.(45)

Thứ tư, nhân sự tại Bộ phận kiểm toán nội bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy

đủ yêu cầu kiểm toán chênh lệch so với nhân sự chung tại các ngân hàng Tính đến năm 2012, SHB có 60 nhân sự, và hiện nay đã tăng thêm 50 người, tổng cộng có

110 Nhưng ngân hàng nhỏ như Việt Á chỉ có 10 nhân sự trên toàn hệ thống, đây là con số quá ít

Thứ năm, hiện nay tại các NHTM vẫn còn thiếu các văn bản nội bộ Văn bản

nội bộ là loại văn bản tồn tại trong môi trường hoạt động của NHTM, không dùng giao dịch với bên ngoài Hệ thống các văn bản quản lý nội bộ NHTM do các cấp quản lý của NHTM ban hành: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc Loại văn bản này thông thường thể hiện bằng các hình thức như quy chế, quy định, quyết định, quy trình nghiệp vụ…

Văn bản nội bộ được ban hành nhằm cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, phù hợp với mục tiêu của NHTM Trong quá trình hoạt động, các NHTM được tự chủ ban hành văn bản nội bộ nhằm mục đích quản trị và điều hành hoạt động của NHTM, không trái với những quy định của pháp luật Thế nhưng trên thực tế hiện nay, các nhiều ngân hàng vẫn chưa chú trọng xây dựng hệ thống các văn bản nội bộ để điều chỉnh hoạt động nghiệp vụ, hoặc nếu có cũng xây dựng rất chung chung, có khi áp dụng nguyên văn văn bản của ngân hàng Nhà nước

áp dụng cho cả hệ thống, mà không có sự sàng lọc, cụ thể hóa vào những đặc điểm riêng biệt của ngân hàng mình Chẳng hạn như việc xây dựng Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nội bộ, hầu hết các NHTM đã dựa vào các quy tắc đạo đức nghề nghiệp được NHNN quy định trong TT 44/2011/TT-NHNN rồi sao chép thành của NHTM mình Hay như việc sử dụng chữ ký dấu(46), nghiệp vụ này có được áp dụng trong hoạt động ngân hàng hay không? Ở đây, hóa đơn giá trị gia tăng, séc…có quy định rất rõ ràng là không được sử dụng chữ ký dấu, nếu bộ phận kiểm soát nội bộ phát hiện, hoàn toàn có thể bắt lỗi và đưa vào xử lý Nhưng quy định về

sử dụng chữ ký dấu vào hợp đồng tín dụng, hợp đồng kinh tế…lại chưa hề được nhắc đến, vậy nếu sử dụng chữ ký dấu trong trường hợp này liệu có được phép không?

(45) Báo cáo thường niên của Ban kiểm soát các ngân hàng trên

(46) http://vef.vn/2012-05-08-kiem-soat-noi-bo-nh-tuy-tien-moi-noi-mot-kieu

Trang 38

Việc thiếu các quy định nội bộ còn làm phát sinh tình trạng lạm quyền, làm mất đi tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát Thử đưa vào tình huống tại một chi nhánh ngân hàng, giả sử có một nghiệp vụ nào đó chưa đưa vào quy định nội bộ, nhân viên chi nhánh sẽ phải làm tờ trình hỏi ý kiến giám đốc chi nhánh, lúc này mọi quyền hạn, quyết định đều nằm trong tay vị giám đốc này, nếu kết quả của nghiệp vụ đó có lợi cho mình hoặc người thân, hoặc các mối quan hệ xã hội vị giám đốc, thử hỏi điều gì có thể xảy ra? Người viết cũng đã liên hệ trực tiếp với giám đốc một phòng giao dịch ngân hàng Bắc Á về tình trạng này, và câu trả lời là, quyền quyết định thuộc về người đứng đầu đơn vị Trong lĩnh vực ngân hàng, ranh giới giữa đúng và sai rất mong manh, nếu quy định không rõ ràng, thì ranh giới này sẽ càng mỏng hơn

và có lúc biến thành rủi ro

2.1.2 Hệ thống pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB

Hệ thống pháp luật điều chỉnh HTKSNB và KTNB là tập hợp những quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và HTKSNB, KTNB nói riêng Người viết sẽ tập trung phân tích qua những thời kỳ khác nhau, dựa trên sự xuất hiện của các văn bản luật có tính cột mốc như: Pháp lệnh ngân hàng năm 1990, Luật các TCTD năm 1997, Luật các TCTD năm

2004, Luật các TCTD năm 2010 Qua đó, thể hiện được sự phát triển của trong tư duy làm luật của các nhà lập pháp nước ta về HTKSNB và KTNB

2.1.2.1 Giai đoạn trước khi có Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 ( Pháp lệnh ngân hàng)

Thời kỳ này, toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức thành một cấp (không có NHTM riêng biệt) với vai trò là trung tâm tiền mặt, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế quốc dân Đứng đầu là TGĐ NHNN, phía dưới là tổ chức các ngân hàng chuyên nghiệp (Ngân hàng Công nghiệp; Ngân hàng Thương Nghiệp; Ngân hàng Nông nghiệp; Ngân hàng Ngoại thương; Quỹ tiết kiệm XHCN) được tổ chức với tính chất của một vụ, cục chức năng của NHNN, thực hiện nhiệm vụ do TGĐ NHNN giao(47) Đây là hệ thống ngân hàng hoạt động mang nặng tính hành chính bao cấp, phù hợp với yêu cầu của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung Thời kỳ này, hoạt động kiểm tra, kiểm soát do Ban thanh tra ở Ngân hàng trung ương, các chi nhánh tỉnh, khu vực thực hiện (biên chế chỉ từ 2 đến

3 cán bộ) Tuy nhiên, chức năng của bộ phận này không được quy định rõ ràng, cụ thể; hoạt động nghiệp vụ mang nặng tính hình thức, không có tác dụng phòng ngừa rủi ro

(47)

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101;jsessionid=rLycTVQQvB19ynYQSy5dh0J DgY5r2ddRJGgWLzZJTXqyJPcMcRQT!238248350!1715690050?dDocName=CNTHWEBAP0116251702 5&_afrLoop=3789074107709000&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3D null%26_afrLoop%3D3789074107709000%26dDocName%3DCNTHWEBAP01162517025%26_afrWindo wMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dlny884b1q_4

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w