Trong thời gian qua, đã có một số bài viết khoa học về quyền trẻ em như “Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của người chưa thành niên phạm tội” của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NGỌC THANH
PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VỀ QUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NGỌC THANH
PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VỀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật Hành chính
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ LĐ-TB&XH : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh : Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Pháp lệnh XLVPHC 2002 : Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008) Luật BV,CS&GD TE 2004 : Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 2004 Luật TN 2005 : Luật Thanh niên năm 2005
UB DS,GĐ&TE : Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên”
là công trình do chính tác giả tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện Những nội dung và ý tưởng của các tác giả khác trong các tài liệu tham khảo đều được trích dẫn theo đúng quy định Nội dung của công trình này không sao chép bất
kỳ luận văn hay bất kỳ tài liệu nào
Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của đề tài
Tác giả
Lê Thị Ngọc Thanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH VỀ QUYỀN
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 Khái quát về quyền con người 6
1.1.1 Khái niệm quyền con người 6
1.1.2 Những nội dung cơ bản của quyền con người 8
1.2 Khái quát về quyền của người chưa thành niên 10
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của người chưa thành niên 10
1.2.2 Đặc điểm quyền của người chưa thành niên 16
1.2.3 Nội dung quyền của người chưa thành niên 17
1.3 Cơ sở pháp lý hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên 23
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật hành chính đối với việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên 22
1.3.2 Quy định pháp luật hành chính hiện hành về quyền của người chưa thành niên 25
1.3.3 Quy định pháp luật hành chính về cơ chế đảm bảo quyền của người chưa thành niên 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Thực trạng pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên 34
2.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên 34
2.1.2 Thực tiễn thực thi pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên 54
2.2 Nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên 67
Trang 62.2.1 Nhận xét, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hành chính về quyền
của người chưa thành niên 67
2.2.2 Nhận xét, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật hành chính về quyền của
người chưa thành niên 70 2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 72
2.3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 73
2.3.1 Một số phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên trong giai đoạn hiện nay 73 2.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
KẾT LUẬN
Trang 7Quyền con người là một khái niệm rộng lớn, bao gồm quyền của cá nhân, tập thể, của nhóm người, cộng đồng người trong xã hội Trong đó, do những đặc trưng về thể chất và tinh thần, nên trẻ em là nhóm người dễ bị tổn thương nhất và cần được quan tâm bảo vệ một cách đặc biệt Trong thời gian dài của lịch sử, ở hầu hết các xã hội trên thế giới, trẻ em thường được xem là những cá thể phụ thuộc, là tài sản riêng của cha mẹ Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ
XX đến nay, Liên Hiệp quốc và các tổ chức quốc tế đã ban hành nhiều văn kiện pháp lý nhằm bảo vệ quyền trẻ em, người chưa thành niên
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em Trong 20 năm qua, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn
Dù vậy, do có sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, trong đó những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội và tội phạm có xu hướng gia tăng, đã và đang ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội, tác động không tốt đến nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trẻ em, người chưa thành niên Vấn đề đặt ra là trẻ
em và người chưa thành niên cũng cần được quan tâm bảo vệ, do họ là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, thể chất, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân
Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể, đầy đủ, rõ ràng để có những luận cứ khoa học, góp phần hoàn thiện về lý luận cũng như thực tiễn, đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế về quyền con người, cụ thể là quyền của người chưa thành niên Quyền của người chưa thành niên cũng rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như pháp luật hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình, hành chính Trong đó, pháp luật hành chính có vai trò cụ thể, chi tiết hóa các quyền của công dân Việt
Trang 82
Nam được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời quy định cơ chế hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền của người chưa thành niên trên thực tế Chính vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như việc thực thi pháp luật hành chính một cách nghiêm chỉnh nhằm đảm bảo tối ưu quyền của người chưa thành niên là điều hết sức cần thiết
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật
hành chính về quyền của người chưa thành niên” làm luận văn Thạc sỹ
Luật học chuyên ngành luật Hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu về quyền con người là một hoạt động cần thiết và quan trọng, bắt nguồn từ nhu cầu hội nhập quốc tế nói riêng và sự nghiệp đổi mới nói chung ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về quyền con người chủ yếu ở hai mảng: vấn đề lý luận về quyền con người và những tiêu chuẩn pháp
lý quốc tế và quy định pháp luật quốc gia về quyền con người, những vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc bảo đảm thực hiện các tiêu chuẩn và quy định đó
Liên quan đến việc nghiên cứu về quyền của người chưa thành niên và việc đảm bảo thực hiện quyền của người chưa thành niên ở Việt Nam, hầu hết các đề tài chủ yếu nghiên cứu ở nội dung tư pháp đối với người chưa thành
niên, việc đảm bảo thực hiện quyền trẻ em
Trong thời gian qua, đã có một số bài viết khoa học về quyền trẻ em
như “Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của người chưa thành niên phạm tội” của ThS Trương Hồng Sơn – Bộ môn pháp luật, Học viện CSND; “Quyền trẻ em” của Trung tâm nghiên cứu
quyền con người & Viện Thông tin khoa học thuộc Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh; “Bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên bằng pháp luật hình sự - Lý luận và thực tiễn” luận văn Thạc sỹ luật học của Đỗ An Bình; Những điều cần biết về quyền trẻ em, NXB Chính trị quốc gia; “Những quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền trẻ em”; “Những điều cần biết về quyền trẻ em” của Vũ Ngọc Bình;… Tuy nhiên, các công trình nghiên
cứu đó chỉ đề cập đến một khía cạnh trong việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, hoặc bao quát tất cả các lĩnh vực pháp luật nói chung Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu
Trang 93 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ vấn đề lý luận về quyền của người chưa thành niên
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên
- Đánh giá thực trạng pháp luật hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của pháp luật hành chính trong việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu các nội dung cơ bản của quyền con người, tạo tiền đề cho việc tiếp cận quyền trẻ em, mà đặc biệt là quyền của người chưa thành niên thông qua các Công ước quốc tế về quyền trẻ em
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và pháp lý hành chính về quyền của người chưa thành niên, qua đó khái quát hóa các quy định của pháp luật hành chính Việt Nam, làm rõ thực trạng pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên
- Đưa ra nhận xét, đánh giá và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên trong giai đoạn hiện nay
Trang 104
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định pháp luật quốc
tế, những quan điểm khoa học về quyền con người, quyền của người chưa thành niên và thực trạng pháp luật hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: pháp luật về quyền con người khá đa dạng, bao gồm
nhiều nội dung, áp dụng với nhiều đối tượng Trong phạm vi về nội dung, đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về quyền con người (gồm khái niệm và nội dung cơ bản về quyền con người) Trên cơ sở đó, luận văn nghiên cứu những quy định của pháp luật hành chính Việt Nam về quyền người chưa thành niên và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện
Luận văn không nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quyền trẻ em cũng như so sánh với thành tựu pháp lý của các nước khác về quyền của người chưa thành niên Do giới hạn về thời gian, tài liệu nghiên cứu và số liệu thống
kê chưa đầy đủ, nên luận văn chưa đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật hành chính liên quan đến người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
- Phạm vi về thời gian: các văn bản liên quan đến lĩnh vực luật hành
chính đang có hiệu lực pháp luật liên quan đến người chưa thành niên trên lãnh thổ Việt Nam
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cụ thể
đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu tài liệu…
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài:
Những vấn đề dưới đây có thể coi là đóng góp mới của đề tài:
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần phân tích một cách
hệ thống cơ sở lý luận các nội dung cơ bản của quyền con người, đi sâu tìm hiểu các quy định về quyền của người chưa thành niên
Trang 115
- Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên, qua đó chỉ ra sự chưa đồng bộ của quy định pháp luật Việt Nam về quyền của người chưa thành niên trong lĩnh vực luật hành chính
- Những kiến nghị của luận văn có thể sẽ giúp các cơ quan có thẩm quyền tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về người chưa thành niên trong lĩnh vực pháp luật hành chính Góp phần thực hiện hiệu quả các quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em Việt Nam
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng như những cá nhân, tổ chức quan tâm đến quyền con người nói chung và quyền của người chưa thành niên nói riêng
6 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý hành chính về quyền của người chưa thành niên
Chương 2: Thực trạng pháp luật hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên và phương hướng hoàn thiện
Trang 126
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH
VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 Khái quát về quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Quyền con người (human rights) là thành tựu chung của cả loài người,
là kết tinh của nền văn minh nhân loại Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con người hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh hết sức gian khổ của toàn thể nhân loại tiến bộ, chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự
do, bình đẳng và hạnh phúc Tuy nhiên, quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người1
Quyền con người trước hết được hiểu là những đặc quyền mà do tự nhiên con người vốn vẫn có và chỉ có con người mới có Đó là những khả năng hành động một cách có ý thức, tránh, từ chối hoặc yêu cầu, giành lấy những cái gì đó, nhất là tự bảo vệ Nhưng tự bản thân chúng, quyền tự nhiên chưa phải đã là quyền Muốn trở thành quyền phải được pháp luật ghi nhận Quyền con người là đặc tính cố hữu của tất cả thành viên trong thế giới loài người, quyền con người mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng2
Theo một tài liệu của Liên Hiệp quốc (LHQ), có đến gần 50 định nghĩa
về quyền con người đã được công bố3 Theo cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, đó là quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự
bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản của con người4 Bên cạnh đó, một định nghĩa khác, cũng thường được
1
Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 41
2
Văn phòng cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con người và Hội Luật sư quốc tế (2009), Quyền con
người trong tư pháp quản lý, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 31
3
United Nations (1994), Human Rights: Question and Answers
4
United Nations, UNHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights – based Approach
to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr 8
Trang 137
trích dẫn, quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…, đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights)5 Như vậy, có thể thấy, tính phù hợp của mỗi định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc nhiều vào nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân
Ở Việt Nam, quan điểm về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hóa dân tộc và xem xét, chọn lọc tiếp thu những tiêu chuẩn về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi Quan điểm trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện bằng bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”
Kế thừa và phát huy giá trị đó, Đảng và Nhà nước ta khẳng định con người và quyền con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam “Quyền con người vừa là thành quả đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó quyền con người là trở thành giá trị chung của nhân loại”6
Bảo đảm quyền con người ở nước ta
gắn liền với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân Do đó, vấn đề quyền con người cũng rất được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam Mặc dù, một số chuyên gia và cơ quan nghiên cứu còn nêu ra khái niệm chưa hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người đều được tiếp cận với nội dung “quyền con người là những nhu cầu, lợi ích của con người được pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ”
Như vậy, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích
tự nhiên, vốn có và khách quan của con người, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế 7 Dù nhìn từ góc độ nào
5
Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội (2009), tlđd số 1, tr 42
6
Chỉ thị số 12/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Vấn đề quyền con người
và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”
7
Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội (2009), tlđd số 1, tr.42
Trang 148
và cấp độ nào, quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ
1.1.2 Những nội dung cơ bản của quyền con người
Có nhiều cách tiếp cận, phân loại khác nhau về quyền con người Dưới góc độ triết học, xác định nội dung quyền con người cần chú ý hai phương diện của con người: phương diện nhân bản học chú trọng mặt sinh lý, thể chất con người; phương diện thứ hai chú trọng mặt xã hội của con người
Ở phương diện thứ nhất, con người có các nhu cầu đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của cơ thể Ở phương diện thứ hai, con người có các nhu cầu về
tư tưởng tinh thần – những nhu cầu đặc biệt thể hiện tính người nhất Quyền
là khái niệm liên quan đến cả hai lĩnh vực cơ bản này Nói cách khác, con người có nhu cầu về quyền ở cả lĩnh vực bảo tồn, phát triển thể chất lẫn lĩnh vực tinh thần Theo cách tiếp cận này, quyền con người được quy vào hai dạng chủ yếu sau8
:
- Quyền được đảm bảo các điều kiện xã hội để con người tồn tại xứng đáng với con người Trong tập hợp này, con người với tư cách là một thành viên trong xã hội, cần phải có các quyền: quyền có việc làm (quyền lao động), quyền cư trú, đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo đảm chỗ ở, quyền an ninh chính trị, quyền tự do kết hôn, quyền sở hữu và thừa kế tài sản, quyền được nghỉ ngơi, chữa bệnh…
- Quyền tự do lựa chọn các hoạt động sáng tạo, quyền được sáng tạo để
tự thể hiện mình như một cá nhân Trong tập hợp này, con người có quyền được học hành, nâng cao trình độ học vấn, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền được xã hội đào tạo nghề nghiệp, quyền phát minh sáng chế, quyền tự
do ngôn luận, quyền phê bình chất vấn, quyền bảo lưu chính kiến, quyền tự do bầu cử, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…
So với cách phân loại trên, cách phân loại quyền theo phương cách tiếp cận của khoa học pháp lý có nhiều điểm hợp lý hơn Trên thực tế, phân loại các quyền theo cách này đã được đời sống quốc tế và các quốc gia thừa nhận,
8
Trung tâm nghiên cứu quyền con người & Viện Thông tin khoa học thuộc Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Quyền trẻ em, NXB Chính trị Hà Nội, Hà Nội , tr.6
Trang 159
thể hiện trong các văn bản, đặc biệt là Hiến pháp9 Theo đó, quyền con người được chia thành các nhóm chính sau:
- Các quyền tự do dân chủ về chính trị: quyền tham gia quản lý nhà
nước và xã hội, quyền bầu cử và ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được hội họp, quyền được lập hội, quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo…
- Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân): quyền tự do đi lại, tự do cư
trú trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, quyền khiếu nại, tố cáo…
- Các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa: quyền lao động, quyền tự do
kinh doanh, quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế, quyền học tập, quyền nghiên cứu, phát minh sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo hộ hôn nhân và gia đình…
- Các quyền của nhóm, tập thể mang tính chất ưu tiên như quyền trẻ
em, quyền của người chưa thành niên, quyền phụ nữ, quyền của người tị nạn, quyền của các dân tộc ít người…
Trong thế giới hiện đại, xuất hiện các quyền mới như: quyền được sống trong hòa bình, môi trường trong lành, quyền được thông tin, quyền phát triển… Ở mỗi quốc gia, do hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội, chế
độ chính trị khác nhau nên hệ thống các quyền không hoàn toàn giống nhau, nhưng những quyền cơ bản nhất thì có sự tương tự
Sự phân loại nói trên là cần thiết nhưng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì trong đời sống hiện thực, quyền con người là một thể thống nhất10
, chúng không thể chia cắt, chúng phụ thuộc lẫn nhau và liên quan lẫn nhau Quan niệm “chia cắt” các loại quyền là thể hiện xu hướng siêu hình trong nhận thức
về nhân quyền, khó có thể đem lại sự hiểu biết đầy đủ về nhân quyền Vì vậy trong quá trình phát triển, phải đồng thời phát triển và đảm bảo cả quyền dân
sự, chính trị cũng như quyền kinh tế xã hội văn hóa
Điều này đã được khẳng định trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới 1948 rằng quyền dân sự,
chính trị và quyền kinh tế xã hội văn hóa là một thể thống nhất, không thể chia cắt các loại quyền
Trang 1610
1.2 Khái quát về quyền người của chưa thành niên
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của người chưa thành niên
1.2.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em11
xác định rõ: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay trong
lời nói đầu của Công ước nhắc lại điều đã nêu: “Trẻ em còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” Như vậy, định nghĩa
về trẻ em theo Công ước quốc tế thể hiện ở những nội dung cơ bản như sau:
- Trẻ em là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ
- Cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt
- Từ 0 đến dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ
em có qui định tuổi thành niên sớm hơn
Liên quan đến khái niệm trẻ em, LHQ còn dùng khái niệm người chưa thành niên Việc sử dụng những khái niệm này có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý LHQ đặt các em trong đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền của trẻ em trong cuộc sống bình thường ở gia đình và cộng đồng, cũng như quyền của các em khi phạm pháp Kêu gọi các nước thành viên tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ
em phải quan tâm đầy đủ đến các biện pháp tích cực, huy động tất cả các nguồn lực có thể, bao gồm gia đình, trường học, nhà nước, các tổ chức xã hội tăng cường sự giúp đỡ cho trẻ em nhằm giảm sự can thiệp của pháp luật và xử
lý người chưa thành niên phạm pháp một cách công bằng, nhân đạo và có hiệu quả12 Do đó, trong một số văn bản13, khái niệm trẻ em được gọi là người chưa thành niên, cụ thể như:
Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên gồm:
- Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được
Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 20-11-1989;
- Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên
(United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules)
ngày 29-11-1985;
Trang 1711
- Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối
với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh) nêu rõ: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật
có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” (Quy tắc số 2.2 mục a)
- Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên
bị tước quyền tự do nêu cụ thể: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” (Quy tắc 2.1 mục a)
Như vậy, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, pháp luật quốc tế không dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý hay
sự phát triển thể chất, tinh thần mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, truyền thống của mình có thể quy định
độ tuổi đó sớm hơn
Bên cạnh đó, các quy tắc trên còn tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên Các quy tắc và nguyên tắc trên được thực hiện dựa trên những điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá hiện có của mỗi quốc gia Các tiêu chuẩn nêu ra là rất linh hoạt, theo cách thức phù hợp nhất với hoàn cảnh kinh tế, xã hội, văn hoá của từng quốc gia
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định trong Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, Bộ luật Lao động năm 1994, Bộ luật Dân sự năm 2005, Pháp lệnh Xử
lý vi phạm hành chính năm 2002 – sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008 (Pháp lệnh XLVPHC 2002) và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể, tuy nhiên còn tồn tại nhiều độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau như:
- Hướng dẫn của LHQ về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations
Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14-12-1990
Trang 1812
- Trẻ em: dưới 16 tuổi
- Tuổi thành niên: theo pháp luật dân sự, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên (Điều 20 –
Bộ luật Dân sự 2005)
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: người chưa thành niên đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
- Tuổi lao động: tuổi lao động của người chưa thành niên là đủ 15 tuổi
- Tuổi chịu trách nhiệm hành chính: người chưa thành niên đủ 12 tuổi
đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính
Qua những quy định trên, có thể thấy rằng, trong pháp luật Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Tại Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (Luật BV,CS&GD TE 2004)
quy định:“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Và Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005 (Luật TN 2005) quy định:“Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” Vậy người chưa thành
niên trong độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi được gọi là thanh niên
Bên cạnh đó, ở Việt Nam còn chia ra các giai đoạn như: tuổi kết nạp Đội TNTP Hồ Chí Minh là từ 10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là từ 16 đến 30 tuổi Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên đều được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội
Tóm lại, trong quy định pháp luật Việt Nam, khái niệm “người chưa thành niên” không đồng nhất với khái niệm “trẻ em” Do đó, theo tác giả, vấn
đề này có thể hiểu rằng “Trẻ em có thể là người chưa thành niên, nhưng người chưa thành niên có thể không phải là trẻ em” Vì về mặt pháp lý, dựa
trên độ tuổi, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em, như vậy có thể suy luận trẻ em là người chưa thành niên Nhưng nếu suy luận theo hướng ngược lại sẽ không hợp lý, vì người chưa thành niên không chỉ bao hàm trẻ em mà còn bao hàm bộ phận khác, đó là những người có độ tuổi từ đủ 16 đến dưới
18 tuổi, và những người này theo Luật TN 2005 được gọi là thanh niên Theo tác giả, khái niệm “người chưa thành niên” và khái niệm “trẻ em” phải được
Trang 1913
phân biệt rõ ràng, tách bạch bởi nó liên quan đến việc áp dụng các quy định pháp luật dành cho đối tượng này, đặc biệt là vấn đề áp dụng việc xử lý hành chính hay hình sự đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Qua phân tích trên, có thể khái quát lại như sau: người chưa thành niên
là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên Vì
thế, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu về người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi và theo quy định của pháp luật Việt Nam, sẽ bao gồm hai đối tượng: một là trẻ em dưới 16 tuổi, hai là thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
1.2.1.2 Đặc điểm người chưa thành niên
Người chưa thành niên có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý, thông thường và phổ biến là nồng nhiệt, hành động thường xốc nổi, thiếu kinh nghiệm sống, dễ va vấp Sự hiểu biết của họ về các mặt của cuộc sống chưa
đủ để có thể lựa chọn và quyết định cách xử sự phù hợp với chuẩn mực xã hội Do đó, việc nắm bắt những đặc điểm của người chưa thành niên rất quan trọng Có thể thấy người chưa thành niên có các đặc điểm nổi bật sau:
- Về mặt tâm lý14:
Trong tâm lý học nói chung, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học giáo dục
và tâm lý học tội phạm đều khẳng định rằng lứa tuổi này là lứa tuổi mang tính chuyển tiếp giữa giai đoạn phát triển tâm lý của tuổi nhỏ và giai đoạn phát triển tâm lý đang trưởng thành Biểu hiện của tính giao thời, chuyển tiếp là nhiều lúc không phải trẻ con, nhưng cũng chưa phải người lớn Thời điểm này, các em có sự quan tâm về khác giới nên đã có những cảm giác, tình cảm
và sự rung động trong mơ hồ, lãng mạn
Với đặc điểm tâm lý như vậy, các em rất cần được cha mẹ, nhà trường quan tâm để định hướng cho các em trong quan hệ giao tiếp, học tập một cách đúng mực, giúp các em vươn đến chân, thiện, mỹ Tránh trường hợp bỏ mặc,
lo làm ăn, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, thiếu sự kiểm tra, giám sát, hoặc quá tin tưởng vào lời nói, việc làm, hoặc coi các em là trẻ con không biết
14
Đỗ An Bình (2002), Bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên bằng pháp luật hình sự - Lý
luận và thực tiễn, tr.15
Trang 20Tuổi chưa thành niên có tính tự lập cao, có những phẩm chất và mức kỳ vọng cao hơn khả năng có thực Các em đánh giá về người khác đầy đủ, đúng đắn hơn đánh giá về bản thân mình Các em thích giao lưu, thích được người khác nhìn nhận và đề cao mình, đồng thời còn có khát vọng làm chủ bản thân Quá trình đó cũng tác động không nhỏ đến tâm lý của các em theo những ý tưởng và mục đích nhất định
- Về mặt sinh lý 15 :
Trong giai đoạn này, trẻ em phát triển rất nhanh về mặt hình thể, đặc biệt là chiều cao và các phần của cơ thể Về mặt sinh lý, trong giai đoạn này cũng phát triển khá hoàn chỉnh về giới tính Điều đó có ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh lý của các em, là cơ sở gây ra tính mất cân bằng chung, tính dễ
bị kích thích, tính hiếu động, nóng nảy, đặc biệt là lĩnh vực tình cảm
Do đặc điểm riêng, quy luật tâm sinh lý lứa tuổi nên người chưa thành niên thường nông cạn, hiếu động, không vững vàng, ít phân biệt được phải trái, nhẹ dạ, dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với mặt trái của nền kinh tế thị trường, nếu không có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội thì sự hư hỏng, lệch chuẩn xã hội của người chưa thành niên sẽ là điều nhức nhối của mỗi gia đình, mỗi quốc gia khi phải xử lý những hậu quả do chính các em gây ra
Người chưa thành niên có trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích động lôi kéo vào các hoạt động phiêu lưu mạo hiểm, do đó rất dễ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Do vậy, liên quan đến khái niệm người chưa thành niên, pháp luật cũng thường
đề cập đến khái niệm người chưa thành niên phạm pháp Người chưa thành
15
Nguyễn Phương Hồng (2007), Bảo vệ quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố
tụng hình sự Việt Nam, tr 15
Trang 211.2.2 Đặc điểm quyền của người chưa thành niên
Quyền của người chưa thành niên có quan hệ chặt chẽ với quyền con người, là một bộ phận của quyền con người bởi vì người chưa thành niên là con người, là một thành viên của xã hội, và là công dân đặc biệt của một quốc gia
Trong thời kỳ cổ đại, người chưa thành niên được xem như tài sản riêng của bố mẹ, và số phận của chúng phụ thuộc vào người lớn Đó là lý do
lý giải vì sao người chưa thành niên ở thời kỳ đó không được quan tâm bảo
vệ Kết quả, một loạt thảm kịch diễn ra như các em chết chóc, bị bỏ rơi, bệnh tật, bị bóc lột…
Trong thời kỳ trung cổ, cách nhìn nhận cũng như việc bảo vệ chăm lo cho các em có phần tiến bộ hơn Cùng với sự xuất hiện những đề án công cộng quan tâm đến trẻ em, người chưa thành niên, bước đầu ghi nhận cái gọi
là “bảo vệ trẻ em bằng pháp luật” 16 Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân từ phía xã hội thời trung cổ, nổi trội vẫn là sự bất bình đẳng trong xã hội, nên vấn đề bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Đến cuối thế kỷ XVIII, ở các nước tư bản, sự nhận thức về người chưa thành niên, trẻ em đã có sự thay đổi cơ bản Trẻ em lúc đó được cho là người cần được bảo vệ đặc biệt Điều đó có nghĩa, trẻ em cần được tách biệt và bảo
vệ khỏi thế giới hỗn độn của cuộc sống người lớn
(Xem phụ lục 1 – Vị thế của trẻ em, người chưa thành niên qua những cách tiếp cận khác nhau)
Trong những năm gần đây, nhận thức về trẻ em, người chưa thành niên cũng như vấn đề bảo vệ quyền của họ được đặt ra trong mối quan hệ với việc bảo vệ quyền con người nói chung Thế nhưng, do người chưa thành niên khác người lớn, nên việc bảo vệ quyền người chưa thành niên có những đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất, do người chưa thành niên chưa phát triển hoàn thiện về thể
chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người
16
Đỗ An Bình , tlđd số 13, tr.8
Trang 2216
thành niên Do đó, điểm đặc biệt nổi bật về quyền của người chưa thành niên
là tự họ không thể thực hiện và bảo vệ quyền của mình, mà chủ yếu phụ thuộc vào người lớn Nhà nước, gia đình và xã hội phải tạo ra những điều kiện tốt nhất để bảo vệ quyền trẻ em, người chưa thành niên
Thứ hai, ở trẻ em và người chưa thành niên có những quyền đặc thù,
chỉ có họ mới có mà người lớn không có, ví dụ: quyền được khai sinh, quyền không áp dụng mức án cao nhất, quyền được sống chung với cha mẹ, quyền được học tập… Đó là những quyền riêng của trẻ em và người chưa thành niên được ghi nhận trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế
Thứ ba, có nhiều quyền mà đối với trẻ em và người chưa thành niên
cần được ưu tiên hơn như: quyền sống còn, quyền được học tập, vui chơi giải trí, quyền được bảo vệ đặc biệt, quyền được sống chung với bố mẹ, quyền được nhận làm con nuôi…
Như vậy, quyền của người chưa thành niên cũng chính là quyền con người, nhưng quyền người chưa thành niên lại có những đặc điểm khác với quyền con người nói chung Vì vị trí và tính chất đặc biệt của người chưa thành niên, nên việc bảo vệ quyền và lợi ích của đối tượng này đã trở thành
trách nhiệm cao cả của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế
1.2.3 Nội dung quyền của người chưa thành niên
Quyền của người chưa thành niên nói chung cũng là quyền con người
đã được công nhận Các quyền con người của người chưa thành niên cũng mang tính phổ quát, là một bộ phận hợp thành quyền con người bao quát toàn
bộ các lĩnh vực dân sự và chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Do đó, các quyền của người chưa thành niên cũng được phân nhóm theo hai cách Cách thứ nhất là phân theo cách phân nhóm quyền con người, cụ thể như sau:
- Các quyền dân sự và chính trị: gồm các quyền có quốc tịch, tự do
biểu đạt và kết giao, được bảo vệ không bị tra tấn hoặc bị đối xử tàn tệ…
- Các quyền kinh tế: gồm các quyền được hưởng an toàn xã hội, có
mức sống đủ để phát triển, được bảo vệ khỏi bị bốc lột trong công việc…
- Các quyền xã hội: gồm các quyền được hưởng trạng thái sức khỏe cao
nhất và các dịch vụ chữa bệnh, được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt nếu bị tàn tật, được bảo vệ khỏi bị bóc lột hay bị lạm dụng tình dục, được làm con nuôi
Trang 2317
- Các quyền văn hóa: gồm các quyền được học tập, tiếp xúc thông tin,
được vui chơi giải trí, được tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ…
Những quyền con người nói chung, dù là người chưa thành niên hay người lớn, hay bất kỳ lứa tuổi nào đều được hưởng, đó là quyền có họ tên và quốc tịch, học tập, an toàn xã hội và chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, các quyền của trẻ em trong Công ước Quyền trẻ em được xác định là nhằm nâng cao hay
bổ sung thêm vào quyền con người nói chung, có xem xét đến nhu cầu đặc thù của trẻ em Các quyền đó được xây dựng trên cơ sở tôn trọng phẩm giá cá nhân và quyền con người Do đó, theo cách phân loại thứ hai, tất cả các quyền trẻ em trong Công ước không thể bị phân chia, chúng đan quyện, bổ sung cho nhau trong bốn nhóm quyền cơ bản như sau17
:
- Nhóm quyền sống: quyền được sống, quyền được hưởng mức độ cao
nhất về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, quyền được hưởng an toàn xã hội bao gồm cả bảo hiểm xã hội, quyền có mức sống
đủ để phát triển về thể chất, tâm tính, tinh thần và đạo đức
- Nhóm quyền được phát triển: quyền được tiếp nhận thông tin và tư
liệu, quyền được học hành, quyền được nghỉ ngơi và tiêu khiển, được vui chơi
và tham gia các hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, quyền tự do tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật
- Nhóm quyền được bảo vệ: quyền được giữ gìn bản sắc của mình,
không bị buộc phải cách ly với cha mẹ, được rời khỏi bất kỳ quốc gia nào đề
về đoàn tụ với gia đình, được bảo vệ chống lại việc đưa ra nước ngoài bất hợp pháp và không đưa về, quyền được pháp luật bảo vệ sự riêng tư, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, quyền được hưởng sự bảo vệ đặc biệt của Nhà nước khi bị mất môi trường gia đình, được
hưởng quyền đối xử nhân đạo…
- Nhóm quyền được tham gia: quyền tự do trình bày ý kiến, quyền tự
do biểu đạt, tìm kiếm mọi loạt thông tin và tư tưởng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do giao kết và hội họp hòa bình…
17
Trung tâm nghiên cứu quyền con người & Viện Thông tin khoa học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tlđd số 8 , tr.49
Trang 2418
Trên thực tế, cách phân nhóm thứ hai được sử dụng rộng rãi hơn bởi nó khái quát được tinh thần và nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, và đã thể chế hóa quyền trẻ em tại Luật BV,CS&GD TE 2004 cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan Như đã phân tích ở trên, pháp luật Việt Nam tồn tại hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên, nên về cơ bản các quyền của người chưa thành niên cũng chính là quyền trẻ
em Do đó, quyền người chưa thành niên gồm các quyền như sau:
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng
- Quyền sống chung với cha mẹ
- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự
- Quyền được chăm sóc sức khỏe
- Quyền học tập
- Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch
- Quyền được phát triển năng khiếu
- Quyền sở hữu tài sản
- Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội
- Quyền của những em có hoàn cảnh đặc biệt: mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; bị
Các quyền dân sự, Các quyền kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội
Nhóm quyền sống
Nhóm quyền được phát triển
Nhóm quyền được bảo vệ
Nhóm quyền được tham gia
Trang 25sự bảo vệ đặc biệt cho trẻ bị tước đoạt môi trường gia đình và bảo vệ trẻ em khỏi cha mẹ hoặc bất kỳ ai lạm dụng, cụ thể tại điều 40 của Công ước Quyền trẻ em – quyền của người chưa thành niên bị quy là phạm tội:
- Không bị cho là bị tố cáo hay bị công nhận là phạm pháp vì những hành động hay những điều mà vào thời điểm đó pháp luật quốc gia hay quốc tế không cấm
- Không bị cho là bị tố cáo hay bị công nhận đã vi phạm pháp luật, các em có quyền được đối xử phù hợp với việc nâng cao ý thức của mình
về phẩm chất và giá trị… Cũng phải xem xét đến tuổi tác, việc tái hòa nhập và việc đảm đương vai trò xây dựng của trẻ em trong xã hội… Bên cạnh Công ước về Quyền trẻ em, các văn bản quốc tế khác đều quy định các nội dung nhằm bảo vệ người chưa thành niên phạm pháp như: Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về áp dụng pháp luật với người chưa thành
niên (Quy tắc Bắc Kinh), Hướng dẫn của LHQ về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Ri át), Quy tắc của LHQ về bảo vệ người
chưa thành niên bị tước quyền tự do
Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ người chưa thành niên vi phạm pháp luật thể hiện rất rõ thông qua quy định từng chế định về người chưa thành niên chịu trách nhiệm pháp lý ở từng lĩnh vực pháp luật như pháp luật dân sự, hành chính, hình sự…
1.3 Cơ sở pháp lý hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên
Quyền của người chưa thành niên trong lĩnh vực pháp luật hành chính được xem xét dưới góc độ người chưa thành niên là chủ thể của mối quan hệ giữa một bên là các cơ quan hành chính nhà nước với công dân Việt Nam, trong quá trình các cơ quan này thực hiện sự quản lý nhà nước nhằm đảm bảo
Trang 2620
sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh Do đó, trong nội dung này, thứ nhất, chúng tôi nghiên cứu các quyền của người chưa thành niên gắn với việc quy định trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, thông qua cơ chế pháp lý hành chính đảm bảo thực hiện quyền của người chưa thành niên Thứ hai, nghiên cứu các quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên – một nội dung thể hiện rõ nhất về
cơ chế đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong lĩnh vực hành chính
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật hành chính đối với việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên
Có nhiều biện pháp để thực hiện và đảm bảo quyền của người chưa thành niên như các biện pháp pháp lý, biện pháp xã hội, biện pháp kinh tế… Trong các biện pháp đó, việc thể chế hóa bằng pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vì quyền của người chưa thành niên, trẻ em chỉ được đảm bảo thực hiện đúng đắn nhất khi được quy định thành luật Khi được thể chế hóa
thành luật sẽ tạo cơ sở pháp lý, trước tiên, bản thân các em biết được mình có những quyền gì để tự bảo vệ mình Thứ hai, những cơ quan hữu quan cũng sẽ
biết được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và đảm bảo quyền của các
em được thực hiện trên thực tế Thứ ba, thể chế hóa bằng pháp luật sẽ tạo cơ
chế huy động toàn xã hội, gia đình và Nhà nước quan tâm đến việc thực hiện các quyền của người chưa thành niên trên thực tế Không có hệ thống pháp luật hoàn thiện sẽ không thể bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên có hiệu quả Trong số những ngành luật đó, ngành luật hành chính có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền con người nói chung và quyền của người chưa thành niên nói riêng
Đối tượng điều chỉnh đặc thù của pháp luật hành chính là hoạt động quản
lý nhà nước, tức là những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành nhà nước phát sinh trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động hành chính nhà nước Luật Hành chính Việt Nam là tổng thể những quan hệ chấp hành và điều hành phát sinh, phát triển trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động hành chính
Trang 2721
nhà nước Những nhóm quan hệ mang tính chất chấp hành cụ thể phát sinh trong việc giải quyết, tổ chức và thực hiện các vấn đề sau18
:
1 Các nguyên tắc quản lý nhà nước Việt Nam
2 Thành lập, sắp xếp lại, giải thể các cơ quan hành chính nhà nước; hoàn thiện mục đích, nhiệm vụ, thẩm quyền và các vấn đề khác thuộc địa vị pháp lý của các cơ quan này, cũng như cơ cấu tổ chức và trình tự hoạt động của chúng
3 Thành lập, sắp xếp lại, giải thể, điều chỉnh những mặt hoạt động của các đối tượng bị quản lý – các đơn vị cơ sở như doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp, quan hệ của chúng với bộ máy hành chính nhà nước
4 Những lĩnh vực quản lý ngành và liên ngành như: công nghiệp, nông nghiệp, hoạt động kế hoạch hóa, tài chính tiền tệ, giá cả, chế độ lượng và trợ cấp lương các loại, chế độ phân phối các nguồn dự trữ vật chất, quản lý y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,…
5 Cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung các quy phạm luật hiến pháp (còn gọi là luật nhà nước) về quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời quy định bổ sung thêm nhiều quyền và nghĩa vụ mới cụ thể hơn của công dân, quy định cơ chế thực hiện và bảo vệ chúng trước các vi phạm
6 Cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung các quy phạm luật hiến pháp về các
tổ chức xã hội và các cơ quan xã hội và tham gia xác định địa vị pháp lý của chúng
7 Hoạt động công vụ và chế độ công chức viên chức nhà nước, bao gồm các nguyên tắc của hoạt động công vụ nhà nước, quyền và nghĩa vụ của viên chức, công chức nhà nước, trình tự tuyển dụng, chế độ quản lý, sử dụng, chế
độ khen thưởng và trách nhiệm công chức viên chức nhà nước…
8 Hoạt động bị quản lý, ví dụ: quy tắc đi trên đường bộ, trên đường hàng không, trên tàu hỏa, tàu thủy; cách xử sự nơi công cộng; các quy định về buôn bán, về giảng dạy và học tập, bảo vệ tài nguyên và môi trường nói chung; các quy tắc săn bắt thú rừng và đánh bắt hải sản,…
Trang 28các vi phạm (nhóm thứ 5); cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung các quy phạm
luật hiến pháp về các tổ chức xã hội và các cơ quan xã hội và tham gia xác
định địa vị pháp lý của chúng (nhóm thứ 6); hành vi vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính (nhóm thứ 9) và các biện pháp phòng ngừa hành chính, ngăn chặn hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt (nhóm thứ 10) thể hiện rõ vai trò của pháp luật hành chính về quyền con
người nói chung, cũng như quyền của người chưa thành niên nói riêng Trong
đó, nội dung nhóm thứ 9 và nhóm thứ 10, nếu đặt trong mối quan hệ với quyền người chưa thành niên lại liên quan đến nhóm thứ 5 – đó là việc quy
định cơ chế thực hiện và bảo vệ chúng trước các vi phạm
Nhìn chung, để các quyền của người chưa thành niên được thực hiện trên thực tế, vai trò thể chế hóa các quyền đó vào quy định của các văn bản luật hành chính nhằm thiết lập cơ chế thực hiện và bảo đảm các quyền mang tính quan trọng và cấp thiết Điều này cần sự tham gia của các cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức xã hội, ví dụ như việc ban hành các chương trình hành động vì trẻ em, tổ chức các diễn đàn, các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em, phòng ngừa người chưa thành niên phạm pháp Tất cả những hoạt động trên cần sự tham gia đồng bộ, hiệu quả của tất cả cơ quan hành chính và các tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến địa phương
Bên cạnh đó, do người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ
về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ bị hạn chế, dễ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Vì thế, vấn đề
xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên là nội dung có liên quan bao trùm nhất đến việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên Những quy định của pháp luật hành chính về xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật góp phần xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, giúp cho người chưa thành niên nhận ra sai trái, từ đó làm giảm tỉ lệ người chưa thành niên phạm tội Qua đó, cũng góp phần hoàn thiện nhân cách, giúp các em có hành động đúng đắn hơn trong cuộc sống Thông qua các quy định này, pháp
Trang 2923
luật hành chính còn bảo vệ các quyền của người chưa thành niên khi họ vi phạm pháp luật hành chính, như quy định các cách thức xử lý, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, nguyên tắc xử lý, hình thức xử phạt…đều khác với người đã thành niên
Với những ảnh hưởng như trên, quy định của pháp luật hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định quyền cũng như đảm bảo thực hiện quyền của người chưa thành niên trên thực tế, được biểu hiện qua những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, pháp luật hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy phạm
luật hiến pháp về quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên, đồng thời quy định cơ chế thực hiện và bảo vệ họ trước các vi phạm
Thứ hai, những quy định của pháp luật hành chính, đặc biệt là những
quy định về trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước là phương thức quan trọng đảm bảo cho quyền của người chưa thành niên được đưa vào cuộc sống, trở thành hiện thực; là tiền đề cho tất cả quyền của người chưa thành niên đều được hưởng các chính sách của Nhà nước và được cải thiện tốt hơn;
là cơ sở để thực hiện công bằng xã hội, thông qua việc phân phối các dịch vụ tối thiểu nhất về y tế, giáo dục, nước sạch, phúc lợi xã hội, vui chơi giải trí…
Thứ ba, việc các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trách nhiệm
của mình trong việc đảm bảo các quyền của người chưa thành niên là yếu tố
cơ bản để Việt Nam thực hiện các cam kết đối với quốc tế Đồng thời, đây cũng là một trong những thể hiện tốt nhất về sự quan tâm của của Nhà nước, qua đó nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, đạo đức, tình cảm của gia đinh, nhà trường và xã hội đối với người chưa thành niên trên cơ sở quy định của pháp luật hành chính
Thứ tư, việc quy định các cơ chế xử lý người chưa thành niên vi phạm
hành chính khác với người thành niên có ý nghĩa đảm bảo các quyền của người chưa thành niên khi họ thực hiện hành vi phạm pháp Vì người chưa thành niên đang ở độ tuổi chuyển tiếp, nên việc tạo điều kiện cho họ được hoàn thiện mình là rất quan trọng Chính điều này đã giúp các em có nhận thức đúng đắn hơn và từ đó có hành vi hợp pháp, phù hợp với yêu cầu của pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành
Trang 302004 (Nghị định số 36/2005/NĐ-CP), Luật Thanh niên năm 2005 (Luật TN 2005) và Nghị định 120/2007/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên ngày 23/7/2007 (Nghị định 120/2007/NĐ-CP) Bên cạnh đó, Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật giáo dục năm 2005 cũng qui định rất rõ các quyền của người chưa thành niên
(Xem phụ lục 2 – Bảng thống kê các văn bản pháp luật quy định quyền của
người chưa thành niên)
Thông qua các quy định của pháp luật hành chính, quyền của người chưa thành niên được cụ thể hóa và được đảm bảo thực hiện trong thực tế Theo đó, có thể thấy các quyền của người chưa thành niên được quy định trong luật hành chính bao gồm các quyền sau: quyền khai sinh và có quốc tịch, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền học tập, quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch; quyền được phát triển năng khiếu; quyền sở hữu tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ
ý kiến và tham gia hoạt động xã hội, quyền trong lĩnh vực lao động Và cả những quyền của nhóm người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt như: mồ côi không nơi nương tựa; khuyết tật, nạn nhân của chất độc hóa học; nhiễm HIV/AIDS; người chưa thành niên lang thang; bị xâm hại tình dục, nghiện ma túy, vi phạm pháp luật
Trong chính sách áp dụng với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, trong từng lĩnh vực như trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, có chính sách khác nhau dựa trên từng độ tuổi mà ngành luật đó quy định Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính được thể hiện thông qua Pháp lệnh xử lý vi
Trang 31Như vậy, có thể hiểu cơ chế là hệ thống các biện pháp, hình thức, cách thức sắp xếp, tổ chức để làm cơ sở cho việc thực hiện một công việc nào đó
có tính phức tạp Nó đòi hỏi phải có một cơ cấu tổ chức để thực hiện và hoạt động của nó phải có sự phối hợp một cách nhịp nhàng, đồng bộ, ăn khớp, không mâu thuẫn nhau trong quá trình thực hiện, nhằm đạt được mục tiêu chung
Khi nói đến khía cạnh pháp lý, ta muốn nói đến những quy định được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Và mối quan hệ này được đảm bảo thực hiện bằng hệ thống các biện pháp, cách thức tổ chức của các cơ quan nhà nước để thực hiện nó trên thực
tế, cùng với nó là các biện pháp nhằm ngăn ngừa, chống lại những hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các mối quan hệ được pháp luật bảo vệ Để làm việc này, phải có hệ thống các cơ quan chức năng thực hiện theo một quy trình nhất định, trong hoạt động hệ thống này, phải tạo ra sự nhịp nhàng, đồng
bộ, không mâu thuẫn nhau và làm sao đảm bảo cho nó ngày càng hoàn thiện
Vì vậy, có thể thấy rằng cơ chế pháp lý bao hàm những quy định để các
cơ quan chức năng thực hiện, từ việc đề ra chính sách pháp luật đến việc đề ra các biện pháp nhằm đảm bảo việc thực thi các chủ trương chính sách, pháp
Trang 321.3.3.2 Nội dung cơ chế pháp lý hành chính đảm bảo quyền của người chưa thành niên
* Cơ chế pháp lý đối với việc bảo đảm việc thực hiện quyền của người chưa thành niên
Trong lĩnh vực pháp luật hành chính, cơ chế đảm bảo quyền của người chưa thành niên chủ yếu được thể hiện thông qua việc quy định quyền của người chưa thành niên và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước Đồng thời, những quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên cũng là một trong những nội dung quan trọng tạo ra cơ chế pháp lý đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong quản lý tư pháp
Pháp luật hành chính đã quy định các chủ thể - tức các cơ quan hành chính nhà nước - cũng như những biện pháp, cách thức thực hiện sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên Các cơ quan hành chính nhà nước là những
cơ quan gần dân, thực hiện và đảm bảo các quyền của người dân, trong đó có người chưa thành niên
Các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp (UBND), các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, các cơ quan tổ chức, đơn vị sự nghiệp của nhà nước trực thuộc trung ương đóng tại địa phương…Ở đây chủ yếu đề cập đến hoạt động của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND
- Hoạt động của Chính phủ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của
Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất ở nước ta với nhiệm vụ và chức năng thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của nhà nước, đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành pháp luật… Thẩm quyền của Chính phủ rộng trên từng ngành, từng lĩnh vực quản lý nhà nước Do đó, Chính phủ là cơ quan đóng vai trò chủ đạo
Trang 3327
trong việc nghiên cứu chính sách, trình Quốc hội ban hành văn bản pháp luật
về quyền người chưa thành niên, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện văn bản pháp luật đó
Ngoài ra, Luật BV,CS&GD TE 2004 quy định “Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em22
(UB DS,GĐ&TE) giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”23 Do
UB DS,GĐ&TE đã giải thể, nên hiện nay Cục Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có nhiệm vụ chính trong việc tham mưu Chính phủ các nội dung liên quan đến trẻ em
Bên cạnh đó, Luật TN 2005 còn quy định “Uỷ ban quốc gia về thanh niên Việt Nam là cơ quan tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên Tổ chức, hoạt động của Uỷ ban quốc gia về thanh niên Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ quy định”24
- Hoạt động của bộ, cơ quan ngang bộ: Mỗi bộ trong phạm vi chức
năng quản lý ngành lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước có trách nhiệm
rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới… nhằm đảm bảo quyền trẻ em trong lĩnh vực mà mình phụ trách và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh niên theo sự phân công của Chính phủ25
Ví dụ, Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn việc xây dựng đề án củng cố
và nâng cao chất lượng của mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em từ
22
Ngày 8/8/2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 1001/QĐ-TTg thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc giải thể UB DSGĐ&TE, chuyển các chức năng của UB DSGĐ&TE sang các bộ có liên quan thực hiện Theo đó, chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về dân số và chuyển nguyên trạng về tổ chức, biên chế cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân
số sang Bộ Y tế, công tác gia đình thuộc Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch và công tác trẻ em về
Bộ LĐ-TB&XH
Ở Trung ương thành lập Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình Ở cấp địa phương, ngày
4/2/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP về việc giải thể UBDSGĐ&TE ở các địa phương và chuyển các bộ phận về các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh, huyện…
Trang 34
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành liên quan và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề, dịch vụ tư vấn về lao động, việc làm ; xây dựng và ban hành chính sách ưu tiên dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn, thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên tình nguyện đã hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên khuyết tật, tàn tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma tuý, sau cải tạo27
- Hoạt động của UBND các cấp:
UBND các cấp tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về đảm bảo cho quyền của người chưa thành niên trong phạm vi địa phương của mình, trình Hội đồng nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến của người chưa thành niên theo thẩm quyền; Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến của trẻ em theo quy định pháp luật và thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh niên ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ28
Ví dụ, để đảm bảo quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, UBND các cấp có trách nhiệm quy hoạch, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, thể thao cho trẻ em thuộc phạm vi địa phương và ngăn chặn việc sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác29
- Hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ: Tuyên truyền, giáo dục đoàn
viên, hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em; đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan nhà nước hữu quan để thực hiện
Trang 3529
những nhiệm vụ bảo vệ, chám sóc và giáo dục trẻ em; ngăn ngừa hành vi xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em
- Hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 30
Tổ chức thanh niên bao gồm Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam và các tổ chức khác của thanh niên được tổ chức và hoạt động theo điều lệ của tổ chức và trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên; tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội thiếu niên tiền phong
Hồ Chí Minh Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên, nhằm đoàn kết tập hợp mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên
Như vậy, thực hiện quyền trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội, trước tiên là trách nhiệm của Nhà nước, cụ thể là các cơ quan quản lý nhà nước Thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, có thể khái quát về
cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người chưa thành niên đã được đảm bảo thông qua hoạt động cụ thể của nhiều cơ quan khác nhau như sau:
Thứ nhất, Chính phủ trình Quốc hội ban hành văn bản pháp luật liên
quan đến quyền của người chưa thành niên và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật Chính phủ trực tiếp chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Bắt đầu từ năm 1992, quy định trong ngân sách Nhà nước về tỷ trọng các khoản chi vì trẻ em Tỷ trọng đó được nâng lên dần hàng năm để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng, do tăng dân
số và triển khai sâu rộng hơn các chương trình chăm sóc trẻ em Bên cạnh đó, đối với đối tượng từ đủ 16 đến dưới 30 tuổi thì “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh niên”31
Thứ hai, trong phạm vi thẩm quyền của mình, các Bộ sẽ chịu trách
nhiệm quản lý và bảo đảm cho người chưa thành niên được thực hiện quyền của mình trong lĩnh vực đó, qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá, kiểm tra, xử lý các vi phạm Điều hết sức có ý nghĩa, đó là vấn
Trang 3630
đề các bộ ngành, đoàn thể có sự liên kết trong việc thực hiện quyền của người chưa thành niên Điều này thể hiện thông qua quy chế hoạt động, có sự phân công trách nhiệm hợp lý, có các hình thức ký kết liên tịch phối hợp lồng ghép các hoạt động, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các Bộ và của từng thành viên; tiến đến giảm bớt những hoạt động chồng chéo gây ra sự lãng phí kém hiệu quả
Thứ ba, UBND là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn
bản pháp luật và bảo đảm bằng việc xử lý các vi phạm hành chính trong phạm
vi địa phương
Thứ tư, với tư cách là tổ chức chính trị xã hội quan trọng, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ phối hợp với các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật nhằm đảm bảo quyền của người chưa thành niên Các đoàn thể, tổ chức xã hội có vai trò quan trọng đối với các thành viên trong gia đình và cộng đồng… nhằm tạo ra sự tham gia chăm sóc bảo vệ người chưa thành niên một cách bền vững trên phạm vi toàn quốc cũng như địa phương và trên từng địa bàn dân cư
* Cơ chế pháp lý đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
Vi phạm hành chính của trẻ em, người chưa thành niên thường mang tính bột phát, nhỏ nhặt song nếu những vi phạm này không bị xử lý kịp thời,
sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở
họ Có thể nói, xử lý hành chính đối với các vi phạm ở người chưa thành niên đều xuất phát từ mục đích giáo dục phòng ngừa, còn tính trừng trị trong xử lý chỉ là thứ yếu Vì vi phạm hành chính nếu không ngăn chặn kịp thời dễ dàng chuyển sang mức độ nghiêm trọng hơn là phạm tội
Xuất phát từ quan điểm nhân đạo đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật hành chính mà Pháp lệnh XLVPHC 2002 đã qui định về việc
xử lý người chưa thành niên vi phạm hình chính như sau:
Thứ nhất, “người chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm
hành chính về vi phạm hành chính do cố ý Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính gây ra” (Đ.5 Pháp lệnh XLVPHC 2002)
Trang 3731
Thứ hai, về mặt nguyên tắc, khi xử lý vi phạm hành chính đối với
người chưa thành niên, biện pháp xử lý cũng như mức độ xử lý bao giờ cũng phải nhẹ hơn so với việc xử lý người lớn vi phạm Ngoài 2 hình thức xử phạt
vi phạm hành chính cảnh cáo và phạt tiền, còn có các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người chưa thành niên đó là giáo dục tại xã phường thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng và đưa vào cơ sở chữa bệnh Các quy định
xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật hành chính mang tính mở rộng khả năng truy cứu trách nhiệm hành chính, nhằm làm giảm các trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các em
Như vậy, ở góc độ luật hành chính, các quy định rất đa dạng, cụ thể trong việc ghi nhận và đưa ra các cơ chế pháp lý để các quyền của người chưa thành niên được bảo vệ một cách hiệu quả Điều này là một minh chứng cho thấy vai trò rất quan trọng của pháp luật hành chính trong mối quan hệ với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật nước ta, đều hướng đến việc thực hiện các điều ước quốc tế và bảo đảm quyền của người chưa thành niên về mặt pháp lý và thực tế Các quy định của pháp luật hành chính góp phần quan trọng trong việc quy định quyền của người chưa thành niên, cũng như tạo ra
cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện các quyền đó, góp phần đưa những quy định của pháp luật đi vào thực tế cuộc sống
Trang 3832
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quyền trẻ em, người chưa thành niên có mối quan hệ chặt chẽ với quyền con người, là một bộ phận của quyền con người Do vị trí và tính chất đặc biệt quan trọng của người chưa thành niên và trẻ em nên việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chúng đã trở thành trách nhiệm cao cả của từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế
Tất cả các văn kiện pháp lý quốc tế đều công nhận “trẻ em là người dưới 18 tuổi”, và xem người chưa thành niên đồng nhất với trẻ em Đồng thời, đưa ra khả năng mở cho các quốc gia có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn Tuy nhiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam thì tồn tại các khái niệm “trẻ em – dưới 16 tuổi” và “người chưa thành niên – dưới 18 tuổi”, “thanh niên từ đủ
16 đến 30 tuổi”
Quyền của người chưa thành niên trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gồm các quyền như quyền khai sinh và có quốc tịch, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền học tập, quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch; quyền được phát triển năng khiếu;quyền sở hữu tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội… Bên cạnh đó, pháp luật hành chính còn tạo ra cơ chế đảm quyền của người chưa thành niên trên thực tế bằng cách quy định trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức xã hội
Nhìn chung, các quy định của pháp luật hành chính rất đa dạng trong việc ghi nhận và đưa ra các cơ chế pháp lý để các quyền của người chưa thành niên được bảo vệ một cách hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc quy định quyền của người chưa thành niên, cũng như tạo ra cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện các quyền đó, góp phần đưa những quy định của pháp luật đi vào thực tế cuộc sống
Trang 3933
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Thực trạng pháp luật hành chính Việt Nam về quyền của người chưa thành niên
2.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật hành chính về quyền của người chưa thành niên
Thanh thiếu niên hôm nay sẽ là chủ nhân của xã hội ngày mai, là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc đảm bảo thực hiện quyền con người nói chung và của người chưa thanh niên nói riêng bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp pháp luật có vai trò quan trọng
Nếu luật Hiến pháp và nhiều ngành luật khác cùng tham gia xác định quy chế pháp lý của công dân Việt Nam thì luật Hành chính có vai trò cụ thể hóa, chi tiết hóa những quy định đó Ngoài ra, luật Hành chính còn định ra cơ chế thực hiện, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế
Trong lĩnh vực pháp luật hành chính, người chưa thành niên liên quan không nhiều Tuy có những quyền thuộc về lĩnh vực pháp luật khác như pháp
luật dân sự (quyền khai sinh, quyền có họ tên…), pháp luật hôn nhân và gia đình (quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền sống chung với ba mẹ…), pháp luật lao động (quyền được học nghề, làm việc)…, nhưng thực tế, hầu hết
cơ chế thực hiện các quyền đó đều liên quan đến các cơ quan hành chính nhà nước Nếu các cơ quan này không thực hiện đúng trách nhiệm của mình, thì quyền của người chưa thành niên khó được đảm bảo trên thực tế Từ đó, việc quy định trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội rất quan trọng, là một trong những cách thức nhằm đảm bảo thực hiện quyền của người chưa thành niên Do đó, trong nội dung này, chúng tôi trọng tâm đi vào đánh giá trên hai phương diện:
Thứ nhất, các quyền và cơ chế pháp lý đảm bảo quyền của người chưa
thành niên dưới 16 tuổi (trẻ em) và người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến
Trang 4034
dưới 18 tuổi (thanh niên) dựa trên những quy định của Luật BV,CS&GD TE
2004 và Luật TN năm 2005
Thứ hai, cơ chế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành
niên Nội dung này có liên hệ nhiều đến việc đảm bảo thực hiện quyền của người chưa thành niên trong pháp luật hành chính thông qua quy định của Pháp lệnh XLVPHC 2002 Đây cũng là một trong những cơ chế quan trọng đảm bảo “quyền được tôn trọng bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự” của người chưa thành niên
Như đã phân tích ở chương 1, do hệ thống pháp luật Việt Nam tồn tại các khái niệm “trẻ em”, “người chưa thành niên”, “thanh niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi” Theo đó, khái niệm người chưa thành niên rất rộng, bao gồm trẻ em – những người dưới 16 tuổi và thanh niên - những người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Trong khi đó, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành có Luật BV,GD&CS TE 200432 và Luật TN 200533 quy định dành cho trẻ em và thanh niên 34 Do vậy, từ nội dung của hai văn bản này, có thể suy ra được quyền của người chưa thành niên là các quyền của trẻ em và một bộ phận các quyền của thanh niên trong độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi
* Đối với những người chưa thành niên dưới 16 tuổi (trẻ em)
Các quyền của trẻ em được quy định trong Luật BV,CS&GD TE 2004
và Nghị định số 36/2005/NĐ-CP, gồm những quy định chung, những quy định về quyền và nghĩa vụ của trẻ em cũng như của những đối tượng liên quan đảm bảo mang lại cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất: “Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện” 35
Từ điều 11 đến điều 20 Luật BV,CS&GD TE 2004 quy định trẻ em có các quyền: quyền được khai sinh và có quốc tịch, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền sống chung với cha mẹ; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền học tập, quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể