1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

59 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh”, với mong muốn tìm hiểu về các quy định của pháp luật, t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

TRƯƠNG THỊ KIM PHỤNG

PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG GÂY THIỆT

HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG GÂY THIỆT

HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

SINH VIÊN THỰC HIÊN: TRƯƠNG THỊ KIM PHỤNG Khóa: 37 MSSV: 1253801011740

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS TỪ THANH THẢO

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Trương Thị Kim Phụng, tác giả của khóa luận này Tôi xin cảm đoan: Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Từ Thanh Thảo Tôi xin đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tham khảo Nếu có bất kì vi phạm nào xảy ra, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Trương Thị Kim Phụng

Trang 4

MỤC LỤC



PHẦN MỞ ĐẦU……… ……… ……… 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG GÂY THIỆT HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH TRANH……… ……… 4 1.1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường… 4

1.1.1 Khái niệm về vị trí thống lĩnh thị trường……….……… … 4 1.1.2 Nguyên nhân hình thành vị trí thống lĩnh thị trường……… 5 1.1.3 Cách thức xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.… 7

1.2 Khái quát về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh……… …… 15

1.2.1 Cơ sở xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh… ……….….… ……… … 15 1.2.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh……… ……….… ……….……… 16 1.2.3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh………… ……… ….…… … ……….…… … 19

1.3 Sự cần thiết của việc kiểm soát các doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh……… ….… 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……….…… 22

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG GÂY THIỆT HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH TRANH VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN……… ……… 23 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh…… ……… … 23

2.1.1 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh……… ……… …… 23 2.1.2 Đường lối xử lý các vụ việc về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh……….….…….………… 39

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh……… … …… 42

Trang 5

2.2.1 Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh.… …… … 42 2.2.2 Kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh… …… 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… ………….…… 49

KẾT LUẬN……… …….… 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cạnh tranh là yếu tố cơ bản cần có trong nền kinh tế, đó là động lực để duy trì và phát triển kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, nếu cạnh tranh không được tuân thủ theo những quy luật nhất định, sẽ dễ nảy sinh ra nhiều vấn đề tiêu cực có thể làm suy yếu nền kinh tế Vì vậy, cần phải tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng để các thực thể trong đó tồn tại và tác động lẫn nhau theo khuynh hướng thúc đẩy sự phát triển kinh tế Để làm được điều này, cần nhờ đến sự giúp đỡ của pháp luật Pháp luật càng hoàn thiện càng đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh

Vì Việt Nam chỉ vừa chuyển từ chế độ tập trung kinh tế sang kinh tế thị trường nên còn tồn tại các doanh nghiệp nhà nước với quy mô lớn, nắm nhiều quyền lực thị trường Đồng thời, trong quá trình hội nhập, hoạt động thu hút đầu tư từ nước ngoài diễn ra rất mạnh mẽ, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp với tiềm lực về tài chính vững mạnh, công nghệ kỹ thuật hiện đại Những doanh nghiệp này có nhiều điều kiện để vươn lên nắm quyền trên thị trường của mình Và một khi đã có quyền lực thị trường trong tay, họ sẽ dùng mọi cách thức để duy trì và củng cố quyền lực đó Hơn nữa, pháp luật cạnh tranh Việt Nam ra đời hơn một thập kỷ trước, trong khoảng thời gian đó, kinh tế đã có nhiều sự thay đổi và biến động Việt Nam

đã hội nhập hơn với nền kinh tế của thế giới bằng các hoạt động như gia nhập vào

Tổ chức Thương mại Thế giới, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương… và ký kết hàng loạt các hiệp định về thương mại như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu…

Có thể thấy, pháp luật cạnh tranh cần phải được đổi mới, để theo kịp với sự phát triển của kinh tế, giúp đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khi tham gia vào nền kinh

tế thị trường Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật chống lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh”, với mong muốn tìm

hiểu về các quy định của pháp luật, từ đó chỉ ra những hạn chế còn tồn đọng và góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về cạnh tranh rất được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Hoạt động nghiên cứu về cạnh tranh nói chung và hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nói riêng, diễn ra rất nhiều với số lượng lớn các công trình Có thể kể đến là các sách chuyên khảo đi sâu phân tích vấn đề như Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn

(2006), “Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm

dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây thiệt hại cho đối thủ cạnh

Trang 7

tranh”; Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), “Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để cạnh tranh về giá”… Bên cạnh đó, còn có các bài viết trên

báo, tạp chí như Nguyễn Ngọc Sơn (2008), “Hành vi định giá hủy diệt và ứng dụng

trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; Phùng Văn Thành “Sức mạnh thị trường đáng kể từ gốc độ lý thuyết kinh tế đến quy định của pháp luật cạnh tranh”, Bản tin cạnh tranh và người tiêu dùng… Ngoài ra, còn có nhiều đề tài

nghiên cứu từ cấp độ cử nhân cho đến tiến sỹ như Trần Hoàng Nga (2011), “Pháp

luật chống định giá lạm dụng của EU, Hoa Kỳ, Việt Nam – So sánh và kinh nghiệm

áp dụng cho Việt Nam”, Luận văn tiến sỹ luật học; Lê Thùy Trang (2015), “Pháp luật chống hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh”, Khóa luận cử nhân… và còn rất nhiều các nghiên cứu khác

Các tác phẩm, nghiên cứu trên thường phân thành hai dạng nghiên cứu hoặc là chỉ tập trung vào những mảng nhỏ của hành vi hạn chế cạnh tranh như xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay xác định thị trường liên quan, hoặc là phân tích chung toàn bộ các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trường Hầu như, chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào một khía cạnh tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trong đề tài này, tác giả tập trung vào các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở khía cạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, giúp làm rõ các quy định của pháp luật cạnh tranh Tác giả đi sâu phân tích và bình luận về quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, trên cơ sở so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới đưa ra các hạn chế và từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh ở khía cạnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, để duy trì và củng cố

quyền lực thị trường của mình

Phạm vi nghiên cứu:

Dưới góc độ pháp lý, nội dung của đề tài chủ yếu dựa vào pháp luật cạnh tranh của Việt Nam và có trình bày một số quy định trong pháp luật thế giới, để có cái nhìn khách quan hơn như: Pháp luật Liên minh châu Âu, Canada, Ấn Độ, Trung Hoa hay pháp luật của một số tổ chức quốc tế như Văn phòng Thương mại công bằng Anh, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Mạng lưới cạnh tranh quốc tế… Còn về nội dung nghiên cứu, đề tài không đi vào phân tích toàn bộ các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, mà chỉ chú trọng vào các hành vi lạm dụng vị

Trang 8

trí thống lĩnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, bao gồm bốn hành vi: Bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; ngăn

cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới; áp đặt điều kiện

thương mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng

trong cạnh tranh; áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán

hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên

quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Trong đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp

so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng

minh… Trong số các phương pháp đó, phương pháp so sánh và phương pháp phân

tích là hai phương pháp được sử dụng chủ yếu nhất So sánh giữa pháp luật Việt

Nam và pháp luật một số nơi trên thế giới, từ đó phân tích cụ thể pháp luật Việt

Nam để thấy được những hạn chế, bất cập

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Kết cấu của khóa luận này bao gồm hai chương, cụ thể là:

Trang 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG GÂY THIỆT HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH

TRANH 1.1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 1.1.1 Khái niệm về vị trí thống lĩnh thị trường

Theo kinh tế học, “thị trường là tập hợp các điều kiện và thỏa thuận mà thông

qua đó người mua và người bán tiến hành sự trao đổi hàng hóa với nhau”1, ở đó rất nhiều hoạt động diễn ra tuân theo các quy luật thị trường Bất kì doanh nghiệp nào một khi đã tham gia vào thị trường thì luôn ganh đua, giành giật các điều kiện ưu đãi, nhằm hướng đến mục đích cuối cùng là có được nguồn lợi nhuận cao nhất Trong cuộc chiến đó, kẻ thắng sẽ vươn lên vị trí nắm quyền, kẻ thua sẽ gặp phải những điều kiện bất lợi hơn, thậm chí có thể bị loại khỏi cuộc chiến bất cứ lúc nào

Vì vậy, một khi đã tham gia vào kinh doanh, các doanh nghiệp đều hướng đến mục

tiêu là có được vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền Bởi lẽ, điều này sẽ “đem lại cho

doanh nghiệp lợi thế trong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên cùng thị trường liên quan, và khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng”2

Pháp luật những nơi khác nhau sẽ có cách gọi và đưa ra định nghĩa khác nhau về

vị trí thống lĩnh thị trường Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations Conference on Trade and Development) gọi đây là vị trí thống lĩnh

(Dominant position) và định nghĩa vị trí này là vị trí mà ở đó doanh nghiệp, tự mình

hoặc cùng hành động với những doanh nghiệp khác, có khả năng kiểm soát được thị trường liên quan của một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc nhóm các hàng hóa, dịch vụ 3 Hay Mạng lưới cạnh tranh quốc tế (International Competition

Network) dùng tên gọi là sức mạnh thị trường đáng kể (Substantial market power)

và mô tả như sau: Sức mạnh thị trường là khả năng để giữ lợi nhuận dưới mức giá

cạnh tranh, còn sức mạnh thị trường đang kể là mức độ cao của sức mạnh thị trường đối với cả hai khía cạnh là tăng mức giá lợi nhuận và duy trì một mức giá trong khoảng thời gian 4 Còn Văn phòng Thương mại Công bằng Anh (Office of

Fair Trading) gọi đây là sự thống lĩnh (Dominance) và mô tả nó thông qua sức

mạnh thị trường, theo đó doanh nghiệp sẽ không thống lĩnh nếu không có sức mạnh

thị trường đáng kể Sức mạnh thị trường là khả năng thu lợi bằng việc duy trì giá

3 United Nations Conference on Trade and Development (2010), Model Law on Competion, p.15

4 International Competition Network (2007), “Recommended Practices for Dominance/Substantial Market Power Analysis Pursuant to Unilateral Conduct Laws”, p1

Trang 10

trên mức cạnh tranh hoặc từ việc hạn chế sản lượng, chất lượng dưới mức cạnh tranh 5

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam gọi đây là vị trí thống lĩnh thị trường và không đưa ra bất kì mô tả nào, mà chỉ nêu lên căn cứ xác định một hay một nhóm doanh nghiệp có được vị trí này Tại Điều 11, Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 (sau đây gọi là Luật Cạnh tranh 2004) quy định: (i) Một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh, nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (ii) Nhóm doanh nghiệp được coi là

có vị trí thống lĩnh thị trường, nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh

Và trên thị trường liên quan, chúng có tổng thị phần là 50% trở lên, 65% trở lên và

75% trở lên lần lượt tương ứng với nhóm gồm hai, ba, và bốn doanh nghiệp

Tóm lại, vị trí thống lĩnh thị trường dùng để chỉ doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp nắm trong tay những quyền lực thị trường nhất định Các doanh nghiệp này, bằng hành vi của mình có khả năng chi phối các yếu tố thị trường như giá cả, sản lượng…, và tác động đến các chủ thể khác trên thị trường Lúc này đây, sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp khác đối với doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là không

hiệu quả, hay nói cách khác “doanh nghiệp nắm giữ không phải đối mặt hay ít phải

đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các đối thủ khác trên thị trường, hoặc ít chịu sức

ép từ việc gia nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng” 6

1.1.2 Nguyên nhân hình thành vị trí thống lĩnh thị trường

Không phải doanh nghiệp nào hoạt động lâu năm trên thị trường, cũng như có năng lực tài chính vững chắc hay công nghệ hiện đại đều có thể vươn lên vị trí thống lĩnh Vị trí thống lĩnh thị trường là cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường, bởi lẽ có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc một hay một

mức giá thật rẻ Như vậy, muốn thu hút được nhiều khách hàng “các doanh nghiệp

luôn phải tìm mọi cách để dị biệt hóa sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng

5 Office of Fair Trading (2004), Abuse of a dominant position - Understanding competition law, p.13

6 Phùng Văn Thành (2012), “Sức mạnh thị trường đáng kể từ góc độ lý thuyết kinh tế đến quy định của pháp

luật cạnh tranh”, Bản tin cạnh tranh và người tiêu dùng, số 36/2012, tr.22

Trang 11

của khách hàng” 7 Nghĩa là, doanh nghiệp phải tạo ra sự khác biệt giữa mình với

các doanh nghiệp đối thủ khác trên thị trường Để làm được điều này, doanh nghiệp

có thể sử dụng nhiều biện pháp như cải tiến kỹ thuật công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển dịch vụ chăm sóc khách hàng…

Một khi doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng sẽ thu hút được lượng lớn khách hàng, từ đó vượt xa các doanh nghiệp đối thủ Lúc này, doanh nghiệp đó sẽ vươn lên nắm lấy vị trí thống lĩnh trên thị trường Còn những doanh nghiệp không chịu đổi mới, không đủ tiềm lực để đầu tư vào sản phẩm của mình, dần dần sẽ mất đi khách hàng và ở vào thế yếu hơn so với các đối thủ cạnh tranh Đây chính là một trong những nguyên nhân thúc đẩy việc hình thành vị trí thống lĩnh thị trường Bằng hoạt động kinh tế hiệu quả, luôn tích cực đổi mới, tạo

ra sự khác biệt, doanh nghiệp hoàn toàn có cơ hội vươn lên thống lĩnh thị trường

1.1.2.2 Vị trí thống lĩnh hình thành từ hoạt động tập trung kinh tế

Tập trung kinh tế là việc hai hay nhiều doanh nghiệp kết hợp sức mạnh của nhau,

để tạo thành một doanh nghiệp thống nhất Tại Điều 16, Luật Cạnh tranh 2004 liệt

kê các hành vi tập trung kinh tế bao gồm: Sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh

Có thể khẳng định, “tập trung kinh tế là con đường ngắn nhất để hình thành

quyền lực thị trường”8 Bởi lẽ, nếu như dựa vào hiệu quả các hoạt động kinh tế để

có được vị trí thống lĩnh thị trường thì phải mất rất nhiều thời gian, công sức, chi phí đầu tư… Đối với một số doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì việc đó gần như là bất khả thi Nhờ hoạt động tập trung kinh tế, các doanh nghiệp đã chủ động trong việc liên kết tiềm lực, phát huy thế mạnh, khắc phục các khuyết điểm của nhau để tạo thành một doanh nghiệp thống nhất có sức mạnh tổng hợp

Hơn nữa, việc tập trung kinh tế còn giúp loại bỏ đối thủ cạnh tranh trên thị trường Sau khi tập trung kinh tế, số lượng doanh nghiệp trên thị trường sẽ giảm đi

vì các doanh nghiệp đã liên kết lại với nhau Lúc này, lợi ích của họ là thống nhất và không thể có sự cạnh tranh trong các doanh nghiệp liên kết Thế nên, tập trung kinh

tế là nguyên nhân giúp hình thành nên doanh nghiệp thống lĩnh trong thị trường, và

có thể khẳng định đây là cách thức nhanh và hiệu quả nhất

8 Nguyễn Thị Huỳnh (2008), Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, Luận văn thạc sỹ,

Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.15

Trang 12

định gia nhập thị trường Một số rào cản có thể kể đến đó là: Các rào cản pháp lý như thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, các thủ tục hành chính bắt buộc…; các rào cản về tài chính như chi phí đầu tư sản xuất, chi phí phân phối sản phẩm hay rào cản về công nghệ như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp… Chính những rào cản này đã làm hạn chế số lượng các doanh nghiệp tiềm năng tham gia vào thị trường

Khi doanh nghiệp hoạt động trên một thị trường nhất định, nếu không phải là thị trường độc quyền thuần túy9, thì luôn có các đối thủ cạnh tranh cùng tồn tại Đối thủ cạnh tranh ở đây, không chỉ là đối thủ cạnh tranh đang hiện hữu mà còn là những đối thủ có ý định tham gia vào thị trường, hay còn gọi là đối thủ cạnh tranh tiềm năng Nếu như một thị trường tồn tại quá nhiều rào cản gia nhập, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tham gia vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng Lúc này, chỉ có một số ít doanh nghiệp cùng tồn tại và chia sẻ thị trường, từ đó tạo điều kiện hình thành nên một hoặc một số doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

1.1.3 Cách thức xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế để xác định doanh nghiệp chiếm giữ

vị trí thống lĩnh thị trường, cần thực hiện hai bước là xác định thị trường sản phẩm,

địa lý liên quan và ước lượng mức độ tác động của sự thống lĩnh 10 Pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng có cách quy định tương tự Thông qua Điều 3 và Điều 11, Luật Cạnh tranh 2004 có thể thấy, để đưa ra kết luận doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường cần tiến hành theo hai bước: Một là, xác định thị trường liên quan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Hai là, xác định xem doanh nghiệp có đủ điều kiện để đạt được vị trí thống lĩnh thị trường hay không dựa trên thị phần hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh

“Việc xác định thị trường liên quan và thị phần của các doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định để xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật của hầu hết các hành vi hạn chế cạnh tranh”11, vì khi xác định hai yếu tố trên sẽ giúp nhận dạng được chủ thể của hành vi lạm dụng Sau đó, cơ quan có thẩm quyền mới xem xét đến vấn đề có hay không hành vi vi phạm, để đưa ra kết luận về doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

9 Thị trường độc quyền thuần túy được hiểu là thị trường mà chỉ có một doanh nghiệp duy nhất hoạt động trong thị trường đó và cung ứng một loại hàng hóa duy nhất, không có hàng hóa thay thế Trong thị trường này, không tồn tại cạnh tranh, vì chỉ có duy nhất một doanh nghiệp hoạt động

10 Organisation for Ecomonic and Co-operation Development (1998), A Framework for the Design and Implementation of Competition law and Policy, p.70

11 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Pháp luật cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.149

Trang 13

1.1.3.1 Xác định thị trường liên quan

Theo Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển để xác định thị

trường liên quan cần xác định thị trường sản phẩm và khu vực địa lý Thị trường

này bao gồm những sản phẩm có thể thay thế cho nhau và các đối thủ cạnh tranh lân cận, mà người tiêu dùng có thể chuyển qua sử dụng 12 Hay Văn phòng Thương

mại Công bằng Anh thì mô tả, thị trường liên quan có hai thành tố là: Hàng hóa,

dịch vụ liên quan (thị trường sản phẩm) và phạm vi địa lý của thị trường (thị trường địa lý)13 Còn theo kinh nghiệm thực tế xét xử của Liên minh châu Âu, để xác định

thị trường liên quan cần dựa vào các yếu tố thị trường sản phẩm, thị trường địa lý

và đôi khi cần xét đến thị trường thời gian14

Tại Điều 3, Luật Cạnh tranh 2004 quy

định thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa

lý liên quan

a) Thị trường sản phẩm liên quan

Theo pháp luật Liên minh châu Âu mô tả thị trường sản phẩm liên quan bao gồm

những sản phẩm giống nhau hoặc có thể thay thế cho nhau cho về đặc tính, giá cả

và mục đích sử dụng, theo quan điểm của người tiêu dùng 15 Pháp luật Việt Nam

cũng có cách quy định tương tự, tại Điều 3, Luật Cạnh tranh 2004 định nghĩa: Thị

trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Như vậy, để xác định được

thị trường sản phẩm liên quan cần dựa vào khả năng thay thế của sản phẩm

Tại Điều 4, Nghị định 116/2005/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2011/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh (sau đây gọi là Nghị định 116/2005/NĐ-CP) hướng dẫn cách thức để xác định khả năng thay thế của sản phẩm dựa trên đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Lưu ý, các sản phẩm cần phải thỏa mãn cả ba yếu tố này, trong một số trường hợp còn đáp ứng thêm các yếu tố khác, mới đủ điều kiện thuộc cùng thị trường sản phẩm liên quan

Thứ nhất, xác định khả năng thay thế dựa trên yếu tố về đặc tính sản phẩm Tại

khoản 5, Điều 4, Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định đặc tính của sản phẩm được xác định theo một hoặc một số căn cứ sau đây: Tính chất vật lý, tính chất hóa học, tính chất kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ Khi xem xét hai hay nhiều sản phẩm có cùng đặc tính hay không, cần kết hợp nhiều căn cứ

để đưa ra được đánh giá khách quan nhất Các đặc tính trên là điều kiện tiên quyết

12 United Nations Conference on Trade and Development, tlđd (3), p.15

13 Office of Fair Trading, tlđd (5), p11

14 Field Fisher Waterhouse (2010), EU Competition Law Article 101 and Article 102, London, p.5

15 The European Communities (1997), Commission Notice on the Definition of Relevant market for the Purposes of Community competition law, OJ C372, para.7

Trang 14

để nhận dạng hai hay nhiều sản phẩm giống hoặc tương tự nhau, nếu dấu hiệu này

không được thỏa mãn thì các sản phẩm đó không thể thay thế cho nhau

Thứ hai, xác định khả năng thay thế dựa trên yếu tố về mục đích sử dụng Theo

Văn phòng Thương mại Công bằng Anh thì sản phẩm được điều tra không nhất

thiết phải có sự thay thế hoàn hảo, nhưng chúng nhất định phải đáp ứng vai trò giống như sản phẩm trọng tâm 16 Mục đích là yếu tố quan trọng để xác định khả năng thay thế của sản phẩm, vì việc tiêu dùng phải dựa trên mục đích của sản phẩm Hai hay nhiều sản phẩm có đặc tính giống hoặc tương tự nhau, nhưng mục đích sử dụng khác nhau thì không thể thuộc cùng thị trường sản phẩm liên quan

Tại khoản 3, Điều 4, Nghị định 116/2005/NĐ-CP, hướng dẫn cách xác định mục

đích sử dụng của các sản phẩm dựa trên mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng

hóa, dịch vụ đó Có những sản phẩm có rất nhiều mục đích sử dụng, với các sản

phẩm này, cơ quan có thẩm quyền cần tìm ra được mục đích sử dụng chủ yếu của

sản phẩm để đưa ra kết luận chính xác

Thứ ba, xác định khả năng thay thế dựa trên yếu tố giá cả Giá cả là yếu tố quyết

định đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng Do đó, “dù hai sản phẩm có nhiều

đặc tính, công dụng giống nhau nhưng giá cả có sự chênh lệch quá lớn thì cũng không thể coi đó là các sản phẩm có thể thay thế cho nhau”17 Xác định khả năng thay thế dựa trên yếu tố về giá là xác định xem sự thay đổi về giá có ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng trong việc lựa chọn sản phẩm hay không

Để làm được điều này, cơ quan có thẩm quyền cần phải tiến hành một cuộc điều tra trên thực tế Phương pháp được sử dụng phổ biến để điều tra về giá là phép thử SSINP (Small but Significant and Non-transitory Increase in Price)18 Theo đó, cơ quan điều tra sẽ đưa ra thị trường sản phẩm liên quan hẹp nhất (sản phẩm A) Nếu việc tăng sản phẩm A trên một mức nhất định trong khoản thời gian nhất định, mà không dẫn đến việc khách hàng chuyển sang sản phẩm khác thì đây là thị trường sản phẩm A, nhưng nếu khách hàng chuyển sang dùng sản phẩm B để thay thế thì thị trường sản phẩm liên quan gồm ít nhất hai sản phẩm A và B Pháp luật Việt Nam cũng sử dụng phương pháp này để điều tra về giá, theo đó tại khoản 5, Điều 4, Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định mức tăng giá của sản phẩm là trên 10% và

thời gian tăng giá được duy trì trong 06 tháng liên tiếp

16 Office of Fair Trading, tlđd (5), p12

17 Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.20

18 Xem thêm: Trường đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb Công an nhân dân,

tr.78-79

Trang 15

Ngoài ra, tại khoản 6, Điều 4, Nghị định 116/2005/NĐ-CP còn quy định thêm các tiêu chí khác để xác định khả năng thay thế khi ba tiêu chí cơ bản là đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả không đủ để đưa ra kết luận Các tiêu chí này bao gồm:

Tỷ lệ thay đổi của cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ khi có sự thay đổi về giá của một hàng hóa, dịch vụ khác; thời gian cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường khi

có sự gia tăng đột biến về cầu; thời gian sử dụng của hàng hóa, dịch vụ; khả năng thay thế về cung Trong đó, đáng chú ý chính là các quy định về thời gian Với

những sản phẩm phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời gian như dịch vụ vào mùa cao điểm và không cao điểm, mức độ biến đổi theo thời tiết, các sản phẩm thường xuyên đổi mới…, khi xác định thị trường sản phẩm liên quan, cơ quan có thẩm quyền cần lưu ý đến vấn đề thời gian để tránh đưa ra kết luận sai lầm Bởi vì, các sản phẩm này có tính biến động rất cao, tại các thời điểm khác nhau giá cả, sản lượng… của chúng sẽ thay đổi

Tóm lại, xác định thị trường sản phẩm liên quan là điều kiện tiên quyết khi bắt đầu cuộc điều tra về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Nếu hai hay nhiều sản phẩm đang xem xét không thuộc cùng một thị trường sản phẩm liên quan, thì không đủ cơ

sở để tiến hành các bước điều tra tiếp theo Sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định được các sản phẩm đó thuộc cùng một thị trường sản phẩm liên quan thì mới xem xét đến khu vực địa lý, từ đó tìm ra doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan

b) Thị trường địa lý liên quan

Theo Điều 2, Luật Cạnh tranh Ấn Độ (the Indian Competition Act 2002) thị

trường địa lý liên quan là khu vực địa lý với những điều kiện cạnh tranh cho việc

mua, bán sản phẩm đồng nhất một cách rõ ràng và có sự khác biệt với các điều kiện đang hiện hành ở những khu vực lân cận Còn pháp luật Liên minh châu Âu mô tả: Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý Ở đó, các doanh nghiệp tham gia cung và cầu hàng hóa, dịch vụ trong điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt với các khu vực lân cận 19 Về quy định này, pháp luật Việt Nam và các nước

trên thế giới có nhiều nét tương tự Tại Điều 3, Luật Cạnh tranh 2004 đưa ra định

nghĩa thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể Trong đó có những

hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và

có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận

Để xác định được thị trường địa lý liên quan, Văn phòng Thương mại Công bằng

Anh hướng dẫn như sau, khi giá của sản phẩm ở trong khu vực cao trên mức cạnh

tranh, khách hàng chuyển qua mua một khối lượng đủ lớn của sản phẩm tương tự ở

19

The European Communities, tlđd (15), para.8

Trang 16

khu vực khác, thì khu vực đó nằm trong thị trường địa lý liên quan 20 Còn tại Điều 7,

Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định các khu vực được coi là có các điều kiện cạnh

tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận khi chúng thỏa

mãn một trong hai điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất, chi phí và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng hóa tăng không quá 10% Để chuyển sang các địa điểm khác mua sản phẩm tương tự với sản

phẩm đang tăng giá tại khu vực địa lý đang xem xét, khách hàng phải cân nhắc đến các chi phí, thời gian bỏ ra cho việc đi lại, vận chuyển là có lợi hơn so với sự tăng lên của giá cả hay không Nếu các chi phí này làm giá bán sản phẩm tăng thêm quá 10%, thì cơ quan có thẩm quyền xác định chúng không thuộc cùng một thị trường địa lý liên quan, và ngược lại

Điều kiện thứ hai, có sự hiện diện của các rào cản gia nhập thị trường Tại Điều

8, Nghị định 116/2005/NĐ-CP đưa ra một số rào cản gia nhập như sáng chế, giải pháp hữu ích; rào cản về tài chính; rào cản pháp lý; tập quán người tiêu dùng… Việc tồn tại của các rào cản gia nhập, sẽ ngăn cản khả năng cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp và khả năng tiêu dùng của khách hàng Vì doanh nghiệp khi đưa sản phẩm vào khu vực này sẽ phải gặp nhiều khó khăn, thậm chí sản phẩm không thể tiếp cận thị trường Còn về phía khách hàng, do nguồn cung bị hạn chế nên sản phẩm không đa dạng, từ đó làm hạn chế sự lựa chọn của họ

Như vậy, hai hay nhiều khu vực địa lý thuộc cùng thị trường địa lý liên quan khi rơi vào một trong hai trường hợp sau: (i) Người tiêu dùng từ khu vực này chuyển sang mua sản phẩm ở khu vực khác mà mức giá sản phẩm tăng thêm không quá 10% (ii) Dù chi phí phát sinh làm giá sản phẩm tăng hơn 10%, nhưng có sự tồn tại của các rào cản gia nhập vào khu vực đó Việc xác định thị trường địa lý liên quan

là bước quan trọng tiếp theo, sau khi xác định được thị trường sản phẩm liên quan Nếu các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau không thuộc cùng một khu vực địa lý thì không có khả năng cạnh tranh với nhau

1.1.3.2 Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Việc đánh giá xem doanh nghiệp có hay không có vị trí thống lĩnh, có ý nghĩa rất

quan trọng đối với sự vận hành của một thị trường Vì khi có trong tay vị trí này,

“doanh nghiệp không hoặc ít phải đối mặt với sức ép cạnh tranh Lúc này, những quyết định về giả cả hay sản lượng của họ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh trên thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng”21 Tại Điều 11, Luật Cạnh

20 Office of Fair Trading, tlđd (5), p.12

21

Phùng Văn Thành, tlđd (6), tr.23

Trang 17

tranh 2004 đặt ra hai căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường là: Thị phần và khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể

a) Căn cứ vào thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan

Tại khoản 5, Điều 3 của Luật Cạnh tranh 2004 định nghĩa về thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ là: Tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra hoặc mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh thu bán ra hoặc mua vào của tất

cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan Pháp luật nhiều nơi trên thế giới sử dụng thị phần làm căn cứ để xác định doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Bởi lẽ, khi doanh nghiệp nắm thị phần cao

trên thị trường, không cần nhiều chứng cứ cũng có thể giả định doanh nghiệp đó có

vị trí thống lĩnh, ngược lại thị phần thấp thì cần thêm nhiều bằng chứng khác 22 Tùy theo tình hình riêng mà mỗi quốc gia có quy định về mức thị phần khác nhau Theo kinh nghiệm thực tiễn của Liên minh châu Âu, khi xử lý các vụ việc về lạm

dụng vị trí thống lĩnh thường xác định thị phần như sau: Thị phần vượt quá 80% đủ

để kết luận doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh; đạt đến 50% thì giả định nó có vị trí thống lĩnh (mà không kết luận); đến 40% thường thì doanh nghiệp không đủ khả năng thống lĩnh còn nếu thị phần dưới 20% hoặc dưới 25% thì khẳng định là không

có vị trí thống lĩnh23

Còn tại Điều 11, Luật Cạnh tranh 2004 quy định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi thị phần của doanh nghiệp đó đạt 30% Còn nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi đủ hai điều kiện: Các doanh nghiệp trong nhóm doanh nghiệp thống lĩnh là các doanh nghiệp độc lập với nhau và phải thỏa điều kiện về thị phần theo quy định của pháp luật, tương ứng với hai, ba, bốn doanh nghiệp là mức thị phần 50%, 65% và 75% trở lên Vấn đề cần lưu ý đó là Luật Cạnh tranh 2004 chỉ quy định tối đa có bốn doanh nghiệp cùng tham gia hình thành nên vị trí thống lĩnh thị trường Quy định này khá hợp lý, khi thực hiện hành vi lạm dụng các doanh nghiệp phải hành động mà không có sự thỏa thuận từ trước Vì nếu có sự thỏa thuận sẽ xem xét hành vi này về các dạng của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Do đó, việc bốn doanh nghiệp cùng nhau đưa ra quyết định độc lập giống nhau trong thời điểm nhất định là rất hiếm và hầu như không xảy ra

Trong pháp luật Việt Nam, tuy thị phần không phải là căn cứ duy nhất nhưng là căn cứ chủ yếu được áp dụng khi xác định vị trí thống lĩnh thị trường Bởi lẽ, tại Điều 11, Luật Cạnh tranh 2004 có quy định ngoài thị phần còn có thể áp dụng khả

Trang 18

năng gây hạn chế cạnh tranh để xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh Nhưng các quy định về khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể vẫn chưa có mô

tả cụ thể, hơn nữa chỉ dành cho trường hợp xác định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, mà không áp dụng để xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh Thực tế cho thấy, trong quá trình điều tra, khi xác định doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh, cơ quan có thẩm quyền thường xuyên dùng thị phần làm căn cứ xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Việc pháp luật Việt Nam sử dụng thị phần làm căn cứ chủ yếu để xác định vị trí thống lĩnh chưa thật sự hiệu quả, vì thị phần không phản ánh được hết sức mạnh của doanh nghiệp Báo cáo của Mạng lưới cạnh tranh quốc tế thống kê, hiện nay các nước trên thế giới đưa ra hơn 20 tiêu chí để xác định vị trí thống lĩnh thị trường và

liệt kê 5 tiêu chí được sử dụng phổ biến là thị phần, rào cản gia nhập, vị trí và hành

vi của đối thủ, sức mạnh người mua, sự bền vững của sức mạnh thị trường và nhận định thị phần là yếu tố thường được dùng để xác định vị trí thống lĩnh, tuy nhiên không nên chỉ dừng lại ở việc xác định thị phần mà thay vào đó xem xét tất cả các nhân tố có liên quan24

Nhiều nơi trên thế giới không xem thị phần là căn cứ chủ yếu để xác định vị trí thống lĩnh, mà sử dụng đa dạng nhiều căn cứ khác nhau Ủy ban Cạnh tranh của Ấn

Độ khẳng định thị phần đóng vai trò quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất làm cơ sở để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp và tại Điều 19, Luật

Cạnh tranh Ấn Độ đưa ra các căn cứ khác như: quy mô và các nguồn lực của doanh

nghiệp, quy mô và tầm quan trọng của doanh nghiệp đối thủ, hệ thống phân phối hay cung ứng sản phẩm… Hay Văn phòng Thương mại Công bằng Anh cũng xác

định: Sự thống lĩnh có thể hình thành dưới mức thị phần, nếu có những yếu tố liên

quan khác như là vị thế yếu kém của đối thủ cạnh tranh trong thị trường, rào cản gia nhập cao được đưa ra với bằng chứng rõ ràng25

Vì lẽ đó, pháp luật Việt Nam nên có sự thay đổi cho phù hợp hơn với xu hướng của thế giới, để đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường, tránh bỏ lọt doanh nghiệp có hành vi vi phạm

Vụ việc công ty Tân Hiệp Pháp khiếu nại Công ty VBL

Vụ công ty Tân Hiệp Phát khiếu nại Công ty Liên doanh nhà máy Bia Việt Nam

là minh chứng rõ cho sự hạn chế khi chỉ dùng thị phần là căn cứ xác định Nội dung

vụ việc như sau: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tân Hiệp Phát (Tân Hiệp

24 International Competition Network (2007), Report on Objective of Unilateral Conduct Laws, Assessment

of Dominance/Substantial Market Power and State-Created Monopolies, p.44

25

Office of Fair Trading, tlđd (5), p.15

Trang 19

Phát) sản xuất kinh doanh bia mang nhãn hiệu Laser Công ty Liên doanh nhà máy Bia Việt Nam (VBL) sản xuất, kinh doanh sản phẩm bia, trong đó có bia Heneiken, Tiger VBL ký các hợp đồng với các đại lý độc quyền yêu cầu không được quảng cáo, giới thiệu, bán hàng cho các hãng bia khác Tân Hiệp Phát đã gửi đến Cục Quản lý cạnh tranh đơn khiếu nại VBL Kết quả điều tra xác định thị phần của VBL trên thị trường liên quan dưới ngưỡng 30%, do đó không có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan Sau đó, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc 26

Rõ ràng VBL có hành vi vi phạm, đã ảnh hưởng rất lớn quyền lợi của các hãng bia đang kinh doanh trên thị trường Nhưng khi căn cứ vào thị phần, VBL không phải là doanh nghiệp thống lĩnh Vì vậy, cho dù VBL có thực hiện các hành vi lạm dụng cũng không thể kết luận về sự vi phạm Nhưng nếu pháp luật có thêm những quy định khác để xác định doanh nghiệp thống lĩnh, thì có khả năng VBL cũng bị

xử lý về hành vi của mình

b) Căn cứ vào khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể

Nếu như thị phần thể hiện được khả năng chi phối thị trường ở thời điểm hiện tại, thì khả năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể được pháp luật dự trù cho tình huống doanh nghiệp có khả năng chi phối thị trường trong tương lai Hiện tại, doanh nghiệp không nắm được thị phần cao nhưng chắc chắn với những khả năng mà

doanh nghiệp đang sở hữu, sẽ đem lại cho họ lợi thế lớn khi tham gia vào thị trường,

thậm chí có thể tác động đến đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng

Để xác định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, thị phần sẽ được ưu tiên dùng trước Khi không thỏa điều kiện về thị phần, cơ quan có thẩm quyền sẽ xét đến khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Tại Điều 22, Nghị định 116/2005/NĐ-CP không đưa ra mô tả cụ thể mà chỉ đề ra các tiêu chí về khả năng

gây hạn chế cạnh tranh, bao gồm: Năng lực tài chính của doanh nghiệp; năng lực

tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp; năng lực công nghệ; quy mô của mạng lưới phân phối…

Về quy định này, tác giả xin đưa ra một số nhận xét như sau: Thứ nhất, pháp luật hiện nay chỉ dừng lại ở mức gọi tên mà chưa đưa ra hướng dẫn chi tiết về căn cứ xác định khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Điều này dễ dẫn đến sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật Thứ hai, theo cách quy định tại Điều 11, Luật Cạnh tranh 2004 thì khả năng gây hạn chế cạnh tranh chỉ áp dụng cho một doanh nhiệp, còn với nhóm doanh nghiệp chỉ dựa trên yếu tố là thị phần Việc này có khả

26 “Vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh”,

http://www.hoidongcanhtranh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&id=98, truy cập ngày 3/7/2016

Trang 20

năng bỏ lọt sự lạm dụng của các nhóm doanh nghiệp tuy không có mức thị phần cao nhưng lại có khả năng tác động lớn đến thị trường Do đó, pháp luật cần có quy định cụ thể hơn để đảm bảo lợi ích các chủ thể khi tham gia vào thị trường

1.2 Khái quát về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Pháp luật không cấm doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị

trường nhưng “khi có trong tay vị trí thống lĩnh, các doanh nghiệp sẽ khai thác các

thế mạnh về vị trí mình đang có, ở một cấp độ cao hơn chính là lạm dụng các vị trí nói trên”27

Nếu các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (sau đây còn gọi là doanh nghiệp thống lĩnh) thực hiện hành vi gây tác động xấu đến thị trường sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các chủ thể trên thị trường Do đó, pháp luật đặt ra quy định cấm những hành vi gây tác động xấu đến thị trường do doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện và gọi đó là các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (sau đây còn được gọi là hành vi lạm dụng)

1.2.1 Cơ sở xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Tại Điều 13, Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và Nghị định 116/2005/NĐ-CP đưa ra mô tả chi tiết về cách xác định các hành vi này Nếu doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện một trong các hành vi vi phạm theo luật định thì được xác định là doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp liệt kê hành vi rất dễ dẫn đến tình trạng bỏ lọt các doanh nghiệp thống lĩnh có hành vi lạm dụng Hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh dù gây ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khác hay tác động xấu đến kinh tế, nhưng không thuộc các hành vi được liệt kê thì cũng không thể kết luận nó là hành vi vi phạm

Nhiều quốc gia trên thế giới thì đưa ra điều khoản bao quát để xác định các hành

vi tác động xấu đến thị trường, nghĩa là nếu hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh nhằm vào các mục đích theo quy định thì được coi là hành vi lạm dụng Tại Điều

102, Hiệp ước hoạt động của Liên minh châu Âu (The Treaty on the Functioning of

the European Union 2007) quy định bất kì sự lạm dụng của một hay nhiều doanh

nghiệp thống lĩnh sẽ bị cấm khi không phù hợp với thị trường nội bộ vì nó có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa các thành viên Còn Văn phòng Thương mại Công

bằng Anh thì mô tả: Đây là những hành vi mà tác động của nó đến quá trình cạnh

tranh gây ra những ảnh hưởng bất lợi đến người tiêu dùng một cách trực tiếp hoặc

27

Tăng Văn Nghĩa (2009), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.87

Trang 21

gián tiếp 28 Tại Điều 46, Luật Cạnh tranh và Người tiêu dùng Úc (The Australian

Competition and Consumer Act 2010) quy định doanh nghiệp thống lĩnh không

được tận dụng lợi thế nhằm mục đích loại bỏ hoặc gây thiệt hại đáng kể đến đối thủ cạnh tranh, ngăn cản người khác tham gia vào thị trường, và ngăn chặn hoặc ngăn cản người khác giao kết hợp đồng Hay như Điều 47(2a) Luật Cạnh tranh Singapore

(The Singapore Competition Act 2006) có quy định chung là cấm doanh nghiệp

thống lĩnh lạm dụng vị trí thống lĩnh để thực hiện hành vi hủy diệt nhắm vào đối thủ cạnh tranh Sau đó, pháp luật của các quốc gia này liệt kê một số hành vi lạm dụng

nhưng quy định rất chung chung, chủ yếu thể hiện bản chất của hành vi mà không đưa ra mô tả cụ thể như pháp luật Việt Nam

Với cách quy định này, cơ quan có thẩm quyền rất linh hoạt khi áp dụng chúng

để xử lý các vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Khi có một hành vi lạm dụng xảy ra, nếu thỏa mãn các dấu hiệu theo quy định thì có thể kết luận đó là hành

vi lạm dụng, mà không phải đặt vào dạng nhất định nào Vì vậy, pháp luật Việt Nam nên được sửa đổi, bổ sung theo hướng này

Tóm lại, theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, để xác định một hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường cần căn cứ vào các quy định và mô tả chi tiết của pháp luật Cơ quan có thẩm quyền muốn kết luận một hành vi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh cần chứng minh được hai vấn đề: (i) Hành vi do doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện (ii) Hành vi này có các dấu hiệu của hành vi lạm dụng được quy định trong luật, bao gồm dấu hiệu về hành vi và mục đích theo điều luật mô tả

1.2.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Khi xác định một hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét các yếu tố cấu thành hành vi đó Một hành vi vi phạm được cấu thành từ bốn yếu tố là chủ thể, biểu hiện, đối tượng tác động và mục đích thực hiện Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh giống nhau về chủ thể thực hiện, còn biểu hiện, đối tượng tác động và mục đích sẽ có một số khác biệt

1.2.2.1 Đặc điểm về chủ thể của hành vi

Chủ thể thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường Hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh được hình thành, do

đó các doanh nghiệp này phải được pháp luật bảo vệ như bao doanh nghiệp khác

28

Office of Fair Trading, tlđd (5), p.18

Trang 22

Pháp luật “chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh”29, mà không nhằm xóa bỏ đi sự tồn tại của

phạm pháp luật Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh chỉ vi phạm Luật Cạnh tranh khi

có hành vi lạm dụng vị trí của mình”31, nếu các doanh nghiệp thống lĩnh không thực hiện các hành vi lạm dụng thì không thể trở thành chủ thể của hành vi

1.2.2.2 Đặc điểm về biểu hiện của hành vi

Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh được quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 của Điều 13, Luật Cạnh tranh 2004 và được hướng dẫn chi tiết tại các điều luật từ Điều 22 đến Điều

31 của Nghị định 116/2005/NĐ-CP Các điều luật này mô tả cụ thể về biểu hiện của các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Cơ quan có thẩm quyền để kết luận một hoặc một nhóm các doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện hành vi lạm dụng cần phải có đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần bám sát vào các quy định của pháp luật

1.2.2.3 Đặc điểm về đối tượng tác động của hành vi

Đối tượng tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh là các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh Đối thủ cạnh tranh bao gồm các đối thủ cạnh tranh hiện có trên thị trường và đối thủ tiềm năng Đối thủ tiềm năng là những doanh nghiệp mới gia nhập vào thị trường

Họ có thể là những doanh nghiệp lần đầu thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những doanh nghiệp đã thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh ở một thị trường khác, nhưng có những điều kiện phù hợp để chuyển sang hoạt động ở thị trường đang đề cập Tùy theo hành vi lạm dụng được thực hiện bởi doanh nghiệp thống lĩnh, mà có thể tác động đến đối thủ cạnh tranh hiện có, đối thủ cạnh tranh tiềm năng hoặc cả hai Ngoài ra, một số hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh còn tác động đến các đối tượng khác

1.2.2.4 Đặc điểm về mục đích của hành vi

29 Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd (7), tr.12

30 Office of Fair Trading, tlđd (5), p.3

31 Nguyễn Văn Cương (2006), Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb Tư pháp, tr.12

Trang 23

Mục đích là một trong những điều kiện quan trọng khi xác định hành vi lạm dụng Cho dù hành vi do doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện thỏa mãn hết các điều kiện để cấu thành hành vi lạm dụng, nhưng nếu cơ quan có thẩm quyền không chứng minh được mục đích thực hiện hành vi thì không đủ chứng cứ kết luận về sự lạm dụng Hiện nay, pháp luật các nơi trên thế giới phân thành hai xu hướng trong việc xác định mục đích của hành vi: Ở xu hướng nhất cần chứng minh hậu quả thực tế của hành vi gây ra, như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế quy định để chống lại

được sự lạm dụng cần xác định được những hành vi cụ thể có thể gây nguy hiểm

đến cạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thị trường liên quan32

Với cách quy định này, buộc cơ quan có thẩm quyền phải cung cấp các bằng chứng về tác động tiêu cực của hành vi tới thị trường trong quá trình chứng minh sự vi phạm Còn xu hướng hai xác định mục đích theo sự suy đoán mà không đưa ra yêu cầu chứng minh hậu quả cụ thể trên thực tế Pháp luật Việt Nam theo xu hướng thứ hai, tuy có đề cập đến mục đích của hành vi nhưng lại không đưa

ra hướng dẫn rõ ràng về cách xác định mục đích

Hậu quả chính là căn cứ để xác định mục đích, nếu như không chứng minh được

hậu quả cụ thể sẽ thiếu đi chứng cứ để kết luận về hành vi lạm dụng Hậu quả “được

chứng minh bằng lợi ích mà các doanh nghiệp khác hoặc khách hàng phải gánh chịu”33 Tuy nhiên, tại Điều 3, Luật Cạnh tranh 2004 chỉ dừng lại ở việc đưa ra hậu

quả mang tính chất chung là làm cản trở, sai lệch, giảm cạnh tranh trên thị trường,

mà không có hướng dẫn gì thêm Cách quy định này có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp thống lĩnh, vì khi doanh nghiệp thống lĩnh bị kết luận thực hiện hành vi lạm dụng sẽ tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ Do đó, pháp luật cần có sự điều chỉnh hợp lý hơn, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được hậu quả cụ thể khi kết luận về hành vi vi phạm

Với mỗi hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh hướng đến những mục đích khác nhau, do đó sẽ gây ra những ảnh hưởng khác nhau Các hành vi lạm dụng có thể gây ra những tác động sau:

Thứ nhất, gây thiệt hại nghiêm trọng đến đối thủ cạnh tranh Đối với những đối

thủ cạnh tranh hiện có, doanh nghiệp thống lĩnh sẽ thực hiện các hành vi tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ, để loại bỏ đối thủ hiện có ra khỏi thị trường Còn với đối thủ cạnh tranh tiềm năng, doanh nghiệp thống lĩnh có thể gây thiệt hại bằng việc đặt ra các rào cản gia nhập, gây khó khăn cho các đối thủ

tiềm năng khi tiếp cận thị trường Vì thế, “vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp mang

Trang 24

trong mình mối đe dọa rất lớn đối với các doanh nghiệp đối thủ đặc, biệt là khi doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường”34

Thứ hai, gián tiếp gây ra hậu quả bất lợi đến nền kinh tế và người tiêu dùng Các

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh còn gián tiếp ảnh hưởng đến thị trường và người tiêu dùng Việc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh làm cho vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp này càng được củng cố Áp lực cạnh tranh trên thị trường dần dần mất đi, động lực pháp triển của nền kinh tế cũng không còn nữa, dẫn đến tình trạng kinh tế kém phát triển

Mục đích cuối cùng việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh chính là phục vụ cho công cuộc bóc lột người tiêu dùng Khi các hành vi loại bỏ đối thủ cạnh tranh diễn ra, lợi ích của người tiêu dùng không bị ảnh hưởng, nhưng khi thị trường chỉ còn một hoặc một vài doanh nghiệp tồn tại, sự lựa chọn của người tiêu dùng trở nên hạn chế hơn

và doanh nghiệp thống lĩnh sẽ thực hiện các hành vi bóc lột Tác động đến người tiêu dùng chỉ là hậu quả được suy ra từ tác động đến đối thủ cạnh tranh, còn tại thời điểm doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện các hành vi lạm dụng gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh thì lợi ích của người tiêu dùng không bị ảnh hưởng

Ngoài ra, một số hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh còn ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng là khách hàng của doanh nghiệp thống lĩnh Đó là khi, doanh nghiệp thống lĩnh tác động vào khách hàng của mình để gây thiệt hại đến đối thủ cạnh tranh

1.2.3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Tại Điều 13, Luật Cạnh tranh 2004 chỉ liệt kê sáu hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà không có sự phân loại hành vi Việc phân loại các hành vi lạm dụng giúp các hoạt động nghiên cứu tiến hành hiệu quả hơn Có nhiều cách để phân loại các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường:

Thứ nhất, dựa trên mục đích và tính chất của hành vi thì phân thành các hành vi như: hành vi làm tăng chi phí của đối thủ để chiếm lĩnh thị trường, hành vi thâu tóm khách hàng để ngăn cản loại bỏ đối thủ, hành vi chi phối giá cả thị trường hay hành

vi định giá hủy diệt… Mỗi hành vi lạm dụng được thực hiện với những mục đích giống nhau hay có tính chất giống nhau sẽ được xếp cùng một nhóm

Thứ hai, dựa trên đối tượng có thể chia các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thành ba nhóm hành vi, bao gồm nhóm gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh,

34 Lữ Thị Hồng Trang (2014), Chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam, Khóa luận cử nhân,

Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.21

Trang 25

nhóm hành vi bóc lột khách hàng và nhóm hành vi vừa gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh vừa bóc lột khách hàng

Trong sáu hành vi lạm dụng nêu ra tại Điều 13, Luật Cạnh tranh 2004 có bốn hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, bao gồm các hành vi tại khoản 1, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Nếu dựa trên đối tượng và mục đích tác động, tác giả sẽ chia các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh thành hai nhóm: (i) Nhóm hành vi có mục đích gây ảnh hưởng trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh gồm các hành vi tại khoản 1 và khoản 6 (ii) Nhóm hành vi tác động đến khách hàng nhưng gây thiệt hại cho cả đối thủ cạnh tranh và cho khách hàng, bao gồm các hành vi tại khoản 4 và khoản 5

1.3 Sự cần thiết của việc kiểm soát các doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Một là, vị trí thống lĩnh là một trạng thái hoàn toàn hợp pháp mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được Nhưng khi nắm giữ vị trí ấy, doanh nghiệp rất dễ thực hiện hành vi lạm dụng Vì hầu hết các doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian, công sức mới có được vị trí này, nên một khi đã sở hữu được sức mạnh thị trường, doanh nghiệp thống lĩnh sẽ khai thác tối đa để bù đắp lại công sức đã bỏ ra Hơn nữa, vị trí thống lĩnh không phải là yếu tố bất biến Chỉ cần doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh không hiệu quả, hoặc do sự lớn mạnh của các doanh nghiệp đối thủ đều có khả năng đe dọa đến vị thế của doanh nghiệp thống lĩnh Do đó, các doanh nghiệp thường có xu hướng thực hiện hành vi lạm dụng để duy trì và củng cố

vị trí của mình Vì vậy, cần thiết có pháp luật để điều chỉnh các hành vi này đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho tất cả các chủ thể khi tham gia vào thị trường

Hai là, việc xác định và xử lý các doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh nhằm mục đích loại bỏ các hành vi phản cạnh tranh, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng Điều này góp phần bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp khác khi tham gia vào thị trường, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi có hành vi lạm dụng

xảy ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu rất nhiều tổn hại do nguồn lực và năng

lực cạnh tranh thấp nên rất dễ bị ảnh hưởng tiêu cực, thậm chí bị phá sản 35 Do đó, cần thiết phải có pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng

Cuối cùng, giúp bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Khi doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện các hành vi lạm dụng với mục đích gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, làm cho các doanh nghiệp yếu thế hơn dần dần bị loại khỏi thị trường Từ đó, sự lựa chọn của người tiêu dùng bị hạn chế và họ còn có thể đối mặt với việc bị bóc lột trong tương lai

35

Tăng Văn Nghĩa, tlđd (27), tr.94

Trang 26

Hơn nữa, sự lạm dụng rất dễ đưa một doanh nghiệp từ vị trí thống lĩnh đến vị trí độc quyền Các đối thủ cạnh tranh dần dần bị loại ra khỏi thị trường và đến một thời điểm nhất định sẽ không còn đối thủ cạnh tranh nào tồn tại trên thị trường Lúc này,

“người tiêu dùng không còn sự lựa chọn nào khác là phải chấp nhận hàng hóa, dịch

vụ và các điều kiện kèm theo của doanh nghiệp độc quyền”36

Tóm lại, nếu doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nói chung và hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh nói riêng, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp

khác trên thị trường và cả người tiêu dùng Vì vậy, “sự can thiệp của nhà nước là

cần thiết để tự do cạnh tranh không dẫn đến sự hủy diệt cạnh tranh” 37 Kinh tế Việt

Nam đang từng bước phát triển, ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới, do đó cần phải tích cực hoàn thiện pháp luật hơn nữa, để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia

36 Tăng Văn Nghĩa, tlđd (27), tr.95

37 Trần Hoàng Nga (2004), Pháp luật về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền ở Việt Nam-Thực trạng và so sánh với một số nước, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.11

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1 tác giả đã trình bày về các yếu tố để xác định doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh thị trường và khái quát về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, nêu lên một số cách phân loại các hành vi lạm dụng Qua đó, biết được cách thức xác định doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và các yếu tố cấu thành nên hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Tác giả đã chỉ ra một số điểm hạn chế của pháp luật, từ đó thấy được sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh Trong quá trình tìm hiểu về các quy định của pháp luật Việt Nam, tác giả đưa ra pháp luật một số nơi trên thế giới để thấy được

sự khác biệt

Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

là một trong những hành vi gây nguy hiểm đến kinh tế Để xác định được các hành

vi này, cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành theo trình tự và thủ tục nhất định, đồng thời phải kết hợp với nhiều phương pháp mới đưa ra được kết quả chính xác nhất

Trang 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG GÂY THIỆT HẠI CHO ĐỐI THỦ CẠNH

TRANH VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

2.1.1 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Có bốn hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, bao gồm các hành vi tại khoản 1, khoản 4, khoản 5 và khoản 6, Điều 13, Luật Cạnh tranh 2004 Chúng giống nhau ở chủ thể thực hiện là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, còn khác nhau ở đối tượng tác động, biểu hiện và mục đích thực hiện hành vi Đối tượng tác động có thể được xác định thông qua yếu tố mục đích được mô tả trong hành vi Do đó, khi phân tích các hành vi này, tác giả tập trung làm rõ hai yếu tố biểu hiện và mục đích, để làm cơ sở xác định doanh nghiệp

có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

2.1.1.1 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Đây còn được gọi là hành vi định giá hủy diệt, pháp luật của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế có những mô tả riêng về hành vi này Tại Điều 11, Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (The People’s

Republic of China Law for Countering Unfair Competition 1993) quy định, các

doanh nghiệp hoặc cá thể có thể không được bán sản phẩm của họ dưới giá chi phí sản xuất nhằm mục đích để loại bỏ đối thủ cạnh tranh Tổ chức Hợp tác và Phát

triển Kinh tế quy định hành vi định giá hủy diệt là hành vi của doanh nghiệp thống

lĩnh bán sản phẩm giá thấp, để đẩy đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường, ngăn cản đối thủ cạnh tranh mới gia nhập vào thị trường và độc chiếm thị trường 38 Còn

theo Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, đây là hành vi bán giá thấp hơn so với chi phí ở một

mức độ nhất định, nhằm mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh trong ngắn hạn và giảm sự cạnh tranh trong dài hạn 39

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam gọi đây là hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh Tại Điều 23, Nghị định

116/2005/NĐ-CP mô tả hành vi này là việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với mức thấp hơn tổng chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ hoặc giá mua hàng hóa để bán lại và chi phí lưu thông

Trang 29

a) Biểu hiện của hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Hành vi này biểu hiện thông qua việc bán sản phẩm với mức giá bất bình thường,

đó là dưới giá thành toàn bộ của sản phẩm Theo Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014,

kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá

trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Việc kinh doanh phải gắn liền với yếu tố lợi nhuận,

nếu không có lợi nhuận thì không thể gọi là kinh doanh, do đó việc bán sản phẩm dưới giá thành toàn bộ là hành vi phi kinh tế

Để chứng minh căn cứ sản phẩm được bán với giá thấp hơn giá thành toàn bộ, cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành ba việc sau đây:

Thứ nhất, xác định giá bán hàng hóa, dịch vụ Giá bán của hàng hóa, dịch vụ

được hiểu là “giá thực tế” của sản phẩm được bán ra trên thị trường Pháp luật Việt Nam không đưa ra mô tả nào về giá bán sản phẩm, do đó không thể biết được đây là giá bán lẻ cho người tiêu dùng hay là giá bán cho các nhà phân phối Vì hành vi lạm dụng có thể được thực hiện bởi bất cứ doanh nghiệp nào trong chuỗi tiêu thụ sản phẩm, có thể là doanh nghiệp sản xuất, nhà phân phối Nên khi tiến hành so sánh giá bán và giá thành toàn bộ, sẽ dùng giá bán trong chính giao dịch trực tiếp với khách hàng làm căn cứ so sánh Giá bán được thể hiện trong hợp đồng giao dịch giữa doanh nghiệp thống lĩnh và khách hàng của họ

Thứ hai, xác định giá thành toàn bộ của sản phẩm Tại khoản 1, Điều 23, Nghị

định 116/2005/NĐ-CP quy định giá thành toàn bộ bao gồm chi phí cấu thành giá thành sản xuất sản phẩm và chi phí lưu thông sản phẩm Giá thành toàn bộ được hiểu là “giá vốn” của doanh nghiệp, được cấu thành từ các chi phí trong quá trình sản xuất, lưu thông hay giá nhập vào của sản phẩm Mức giá này được doanh nghiệp sử dụng để tính giá bán ra, nhờ phần chênh lệch giữa giá bán và giá thành toàn bộ mà doanh nghiệp có được lợi nhuận

Giá thành toàn bộ của sản phẩm được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Chi phí

cấu thành giá thành là những chi phí cơ bản cần bỏ ra để tạo thành sản phẩm hoặc

giá mua sản phẩm để bán lại Tại Điều 24, Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi

phí này bao gồm chi phí vật tư trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản

xuất chung (ii) Chi phí lưu thông là chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng

hóa dịch vụ Theo quy định tại Điều 25, Nghị định 116/2005/NĐ-CP chi phí lưu

thông bao gồm các chi phí như tiền lương, các khoản phụ cấp, hoa hồng đại lý, môi

giới, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, các chi phí khác… Những chi phí này có tính

biến động rất cao, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiến lược kinh doanh của doanh

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Cạnh tranh (Luật số 27/2004/QH11) ngày 03/12/2004 Khác
2. Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/6/2005 Khác
3. Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 26/11/2014 Khác
4. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 9 năm 2005 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh Khác
5. Nghị định 119/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 12 năm 2011 về sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP Khác
6. Nghị định 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm 2014 về quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
7. Nghị định 07/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 11 năm 2015 về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w