1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh

63 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH (10)
    • 1.1. Một vài khái niệm có liên quan về vị trí thống lĩnh thị trường (10)
      • 1.1.1. Vị trí thống lĩnh thị trường (10)
      • 1.1.2. Căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường (12)
      • 1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường với cạnh tranh (15)
    • 1.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (15)
      • 1.2.1. Khuynh hướng lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (15)
      • 1.2.2. Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (23)
  • CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN (36)
    • 2.1. Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (36)
    • 2.2. Pháp luật Việt Nam về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (37)
      • 2.2.1. Căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường (37)
      • 2.2.2. Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (40)
    • 2.3. Những vấn đề còn tồn tại khi áp dụng pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh tại Việt Nam (44)
    • 2.4. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (52)
      • 2.4.1. Nguyên tắc khi xây dựng và áp dụng các quy định chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh (53)

Nội dung

lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh nói riêng ra đời, đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của các hành vi như Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn 2006, Phân tích và luận giải các quy định củ

LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

Một vài khái niệm có liên quan về vị trí thống lĩnh thị trường

1.1.1 Vị trí thống lĩnh thị trường

Cạnh tranh đóng vai trò quyết định trong sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường Như Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Như Phát từng nói: nếu quan hệ cung cầu là cốt lõi vật chất và giá cả là diện mạo thì cạnh tranh chính là linh hồn của thị trường Dưới tác động của cạnh tranh, cơ cấu và sức sống của nền kinh tế được đổi mới, mang lại cho đời sống xã hội sức sống mạnh mẽ và những chuyển động linh hoạt Cạnh tranh đồng thời thúc đẩy sự phát triển xã hội và phân bổ lại nguồn lực theo hướng hiệu quả, tập trung vào các chủ thể sử dụng nguồn lực có hiệu quả và từ đó hình thành các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, được gọi trong kinh tế học là các doanh nghiệp có vị thế thống lĩnh trên thị trường.

Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường xuất hiện trong các quy định và chính sách cạnh tranh của nhiều quốc gia và tổ chức kinh tế như Canada, Ấn Độ, EU và UNCTAD Theo UNCTAD Model Law, vị trí thống lĩnh thị trường là trường hợp một doanh nghiệp bằng chính khả năng của nó hoặc cùng hành động với các doanh nghiệp khác để có được vị trí có thể kiểm soát một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ Điều 79 Luật Cạnh tranh Canada quy định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ được xem xét khi một hoặc nhiều doanh nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình, một phân đoạn kinh doanh, trên toàn lãnh thổ Canada hay tại bất kỳ khu vực nào của nó Tòa án Tư pháp Châu Âu trong án lệ United Brands v Commission xác định đó là vị trí của sức mạnh kinh tế mang lại cho doanh nghiệp khả năng ngăn cản hiệu quả cạnh tranh được duy trì trên thị trường liên quan và hành động độc lập gây ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là người tiêu dùng Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ độc quyền hoặc vị trí độc quyền được sử dụng để chỉ các tình huống liên quan đến kiểm soát thị trường và ảnh hưởng tới cạnh tranh.

(monopoly) được dùng chung để chỉ những thực thể kinh tế mà hành động của nó có

1 Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 10

2 UNCTAD: Model Law on Competition, p.2

3 United Brands v Commission, Case 27/76 [1978] ECR 207, [1978] 1 CMLR 429

5 khả năng loại bỏ cạnh tranh trên thị trường Nhìn chung, dù được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau thì vị trí thống lĩnh thị trường cũng đều được nhìn nhận là vị trí của sức mạnh kinh tế gần như tuyệt đối cho phép doanh nghiệp kiểm soát thị trường, đồng thời gây ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh và thoát khỏi cạnh tranh thực chất

Vị trí thống lĩnh thị trường gắn với sức mạnh thị trường, được UNCTAD định nghĩa là khả năng nâng hoặc duy trì giá cao hơn mức cạnh tranh trong một khoảng thời gian nhất định; tương tự, Bộ Tư pháp và Ủy ban Thương mại công bằng Mỹ cho rằng quyền lực thị trường là khả năng duy trì giá trên mức giá cạnh tranh trong một giai đoạn đáng kể mà vẫn thu được lợi nhuận Để có thể chi phối thị trường, một doanh nghiệp thống lĩnh phải nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể trong một thời gian nhất định Dẫu rằng trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo, các chủ thể vẫn có thể tác động đến giá cả, nhưng để thao túng và chi phối giá cả thì sức mạnh kinh tế sở hữu phải đủ lớn và tồn tại lâu dài; quyền lực thị trường cần được xem xét cả ở mức độ có thể khuynh đảo cạnh tranh và độ bền của nó Các tổn thất xã hội gánh chịu sẽ tỷ lệ thuận với khả năng tồn tại quyền lực thị trường của doanh nghiệp thống lĩnh Trong tất cả các cuộc điều tra hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vấn đề nền tảng là xác định sức mạnh thị trường mà doanh nghiệp nắm giữ.

Lý thuyết cạnh tranh không chỉ thừa nhận vị thế dẫn đầu của một doanh nghiệp trên thị trường mà còn phân tích khả năng khống chế thị trường khi các nhóm doanh nghiệp hành động cùng nhau Theo UNCTAD, luật mẫu về cạnh tranh nêu rõ các trường hợp nhóm doanh nghiệp liên kết, phối hợp hành động để đạt vị trí có thể kiểm soát trên thị trường liên quan đối với một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ nhất định.

Xem xét khía cạnh “cùng hành động” dưới góc độ lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cho thấy sự khác biệt với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Điểm mấu chốt để phân định giữa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của nhóm doanh nghiệp và một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí để hành động tập thể Các doanh nghiệp có quyền lực thị trường có thể hành động tương tự nhằm hạn chế cạnh tranh trong cùng một khoảng thời gian, nhưng nếu không có thỏa thuận thì hành vi đó được xem như hành động đồng thuận ngầm hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh tùy theo quy định pháp lý tại từng địa phương.

4 UNCTAD, tlđd (2), Box 8: Abuse dominant position and abuse of market power, p.55

5 Market power & Monopoly power: http://www.justice.gov/atr/public/reports/236681_chapter2.htm, truy cập ngày 10/5/2015

Nhóm 6 là tập hợp các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Mục tiêu của nhóm doanh nghiệp dẫn đầu này là thiết lập một thị trường được xem như độc quyền nhóm, nơi hai hoặc nhiều doanh nghiệp kiểm soát phần lớn thị trường và tạo ra các điều kiện mà họ có thể kiểm soát hoặc điều khiển thị trường, như trong trường hợp độc quyền.

Trong bối cảnh biến động của thị trường và sự thúc đẩy của cạnh tranh lành mạnh, doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp hoàn toàn có thể đạt được vị thế chi phối và kiểm soát thị trường liên quan, đây là quyền lợi hợp pháp được pháp luật bảo đảm đồng thời là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh – như việc loại bỏ đối thủ nhằm độc quyền thị trường – là hành vi cần bị lên án và loại bỏ nhằm duy trì môi trường cạnh tranh công bằng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường.

1.1.2 Căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường

Xác định thị trường liên quan là một bước phân tích quan trọng để đánh giá khả năng doanh nghiệp gây hạn chế cạnh tranh Trong các cuộc điều tra hành vi hạn chế cạnh tranh, khi thị trường có quy mô nhỏ và doanh nghiệp nắm thị phần lớn, doanh nghiệp đó có thể được xác định ở vị thế thống lĩnh Nói cách khác, thị trường liên quan đóng vai trò làm cơ sở để đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp.

Theo UNCTAD, thị trường liên quan là điều kiện chung cho quá trình trao đổi hàng hóa giữa người bán và người mua, xác định ranh giới nhóm mua và bán một sản phẩm cụ thể và không chịu cạnh tranh từ các khu vực khác Nó đòi hỏi mô tả rõ ràng về sản phẩm và khu vực địa lý tương ứng, nơi người bán và người mua tương tác để hình thành giá cả và đầu ra Thị trường liên quan bao gồm tất cả các hàng hóa và dịch vụ có thể thay thế hợp lý, cũng như các đối thủ cạnh tranh kế cận mà người tiêu dùng có thể chuyển sang trong ngắn hạn khi có sự hạn chế hoặc tăng giá mang tính lạm dụng.

Thị trường liên quan là tập hợp các hàng hóa và dịch vụ do các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng trong một khu vực địa lý cụ thể Thị trường này được hình thành từ hai yếu tố cơ bản: thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.

Thị trường sản phẩm liên quan

Thị trường sản phẩm liên quan là tập hợp các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và mức giá Việc nhận diện thị trường này dựa trên hai yếu tố chính: khả năng thay thế hợp lý giữa các sản phẩm và độ co giãn của nhu cầu Người tiêu dùng có sẵn sàng chọn sản phẩm tương tự khi giá tăng trong một khoảng thời gian nhất định hay không là thước đo quan trọng Do đó, để xác định khả năng thay thế, người ta xem xét hai yếu tố cơ bản: mức độ tương đồng về đặc tính và mục đích sử dụng, cùng với sự nhạy của cầu với biến động giá.

Tính chất của sản phẩm gồm đặc tính và mục đích sử dụng; hàng hóa, dịch vụ được xem là có thể thay thế nhau về đặc tính khi chúng có nhiều đặc tính hóa học, vật lý, tính năng kỹ thuật và tác dụng phụ đối với người dùng giống nhau Việc xem xét đòi hỏi phân tích các yếu tố vật chất cấu thành nên sản phẩm để nhận diện đặc trưng lý hóa giống hệt hoặc tương đồng giữa các sản phẩm; tương tự đối với mục đích sử dụng, phải chứng minh được mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ thay thế là hoàn toàn giống nhau Quá trình xem xét này dựa trên quan điểm của người tiêu dùng – chủ thể trực tiếp sử dụng các sản phẩm Bản chất của việc xem xét tính chất của hàng hóa thay thế là nhằm mục đích tìm kiếm sự tương tự giữa các sản phẩm khác nhau để đáp ứng cùng một nhu cầu sử dụng.

Để xác định phản ứng của người tiêu dùng trước sự thay đổi giá cả hàng hóa, cần phân tích độ co giãn của nhu cầu bằng cách xét thái độ của người tiêu dùng với một giả định tăng giá đối với các sản phẩm đang được xem xét về khả năng thay thế Khả năng thay thế theo giá đóng vai trò then chốt, vì dù hai sản phẩm có nhiều đặc tính và công dụng tương tự, sự chênh lệch giá quá lớn có thể loại bỏ khả năng thay thế Điều kiện để kiểm tra này là các hàng hóa, dịch vụ có sự tương đồng về đặc tính lý hóa và được người tiêu dùng thừa nhận là có chung mục đích sử dụng Khi người tiêu dùng cho thấy sẵn sàng chuyển sang lựa chọn khác khi giá tăng, và sự tương đồng về tính chất được xác nhận, kết luận là các sản phẩm này thuộc cùng một thị trường sản phẩm liên quan.

8 Nguyễn Ngọc Sơn (2005), “Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 11(63)/2005, tr.27

Thị trường địa lý liên quan

Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh

1.2.1 Khuynh hướng lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Như đã đề cập, vị trí thống lĩnh thị trường không bị lên án khi nó là kết quả của những nỗ lực cạnh tranh lành mạnh và đóng góp vào sự phát triển bền vững của thị trường, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và sự đa dạng sản phẩm Pháp luật cạnh tranh tập trung ngăn chặn và xử lý hiện tượng lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh, làm tổn hại môi trường kinh doanh và quyền lợi người tiêu dùng Vì vậy, mục tiêu của luật là bảo vệ tính cạnh tranh, đảm bảo sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới và duy trì mức độ cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Trong khuôn khổ mười trường cạnh tranh và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, bài viết phân tích cơ chế định giá của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh so với các doanh nghiệp bình thường để làm rõ khuynh hướng lạm dụng vị thế thống lĩnh nhằm trục lợi bất chính Trên cơ sở đó, bài viết lý giải bản chất của chiến lược loại bỏ đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp dẫn đầu thị trường thường sử dụng để duy trì và củng cố vị thế của mình, đồng thời xem xét tác động đến cạnh tranh lành mạnh và lợi ích của người tiêu dùng.

1.2.1.1 Cơ chế định giá của doanh nghiệp

Kinh tế học chỉ ra rằng cơ chế định giá của doanh nghiệp chịu sự tác động của hai yếu tố chủ chốt: quy luật cung cầu và chiến lược giá mà doanh nghiệp áp dụng Quy luật cung cầu xác định mức giá chịu tác động bởi sự biến động của nguồn cung và nhu cầu trên thị trường, trong khi chiến lược giá quyết định cách thức tiếp cận khách hàng, định vị sản phẩm và tối ưu hóa lợi nhuận Vì vậy, để định giá hiệu quả, doanh nghiệp cần kết hợp phân tích cung cầu với mục tiêu cạnh tranh và bối cảnh thị trường, từ đó xây dựng chính sách giá phản ánh giá trị, chi phí và tiềm năng doanh thu.

Cầu về một loại hàng hóa thể hiện khối lượng hàng hóa mà người tiêu dùng mong muốn và sẵn sàng mua ở các mức giá xác định Với mỗi mức giá cụ thể sẽ có một lượng hàng hóa mà người tiêu dùng quyết định mua, bởi cầu thực chất là mối quan hệ giữa mức giá và lượng hàng hóa mà người tiêu dùng mong muốn và có khả năng chi trả Trong kinh tế học, lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn lòng mua ở một mức giá được gọi là lượng cầu hay mức cầu về hàng hóa Người ta dùng một biểu đồ (đồ thị cầu) để mô tả mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu.

Hình 1: Đường cầu về một loại hàng hóa

Tại mức giá P1 lượng cầu là Q1 mức giá P2 lượng cầu là Q2

13 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), Giáo trình Kinh tế vi mô, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.51

Đường cầu D là một đường thẳng dốc xuống, biểu thị sự phụ thuộc của lượng cầu Q vào mức giá P: khi mức giá P giảm từ P1 xuống P2 thì lượng cầu tăng từ Q1 lên Q2 Nói cách khác, lượng cầu về một hàng hóa sẽ tăng khi mức giá của nó giảm xuống và ngược lại Quy luật này được giải thích dựa trên hai cơ chế là hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập Khi giá hàng hóa giảm xuống, giá tương đối của hàng hóa đó so với các hàng hóa khác giảm, khiến người tiêu dùng thay thế bằng hàng hóa đó (hiệu ứng thay thế), đồng thời do thu nhập vẫn giữ nguyên nên sức mua thực tế tăng lên và lượng cầu tăng (hiệu ứng thu nhập) Ngược lại, khi giá hàng hóa tăng lên, sức mua của người tiêu dùng giảm so với thu nhập và các hàng hóa khác, khiến lượng cầu giảm và người tiêu dùng tìm kiếm các sản phẩm thay thế.

Cung cấp hàng hóa cho biết số lượng hàng hóa mà nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng và bán ra ở các mức giá khác nhau Với mỗi mức giá xác định, sẽ có một lượng hàng hóa mà người bán sẵn lòng cung ứng – kinh tế học gọi đó là lượng cung hay mức cung hàng hóa Cung thể hiện mối quan hệ giữa lượng cung và các mức giá cụ thể Giống như cầu, người ta dùng biểu đồ để mô tả mối quan hệ giữa hai đại lượng này và trực quan hóa sự thay đổi của lượng cung theo mức giá.

Hình 2: Đường cung về một loại hàng hóa

Với mức giá P1 lượng cung là Q1 mức giá P2 lượng cung là Q2

14 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr 55

Giữ nguyên các yếu tố khác, lượng cung của một mặt hàng sẽ tăng khi giá của nó tăng và ngược lại Đường cung S là một đường dốc lên phản ánh sự tăng của lượng cung từ Q1 lên Q2 khi giá P1 tăng lên P2 Đối với nhà sản xuất, mục tiêu lớn nhất là tối đa hóa lợi nhuận: khi giá hàng hóa tăng, lợi nhuận tăng và khuyến khích nhà sản xuất mở rộng sản lượng để cung cấp nhiều hàng hóa hơn ra thị trường Lợi nhuận cao cũng thu hút các nhà đầu tư mới gia nhập thị trường Ngược lại, với mức giá thấp, lợi nhuận giảm và các nhà sản xuất có xu hướng giảm lượng cung ra thị trường.

Khái quát từ hai quy luật trên, ta rút ra kết luận rằng xu hướng vận động của người mua và người bán trên thị trường là đối lập: người mua mua nhiều khi giá thấp và giảm mua khi giá cao; ngược lại, người bán tăng cung khi giá cao để tối đa hóa lợi nhuận và giảm cung khi giá thấp Sự tương tác giữa cung và cầu dẫn thị trường liên tục dịch chuyển về trạng thái cân bằng, nơi tổng cung từ nhà sản xuất bằng tổng cầu của người tiêu dùng và hình thành mức giá thị trường.

Hình 3: Cân bằng cung – cầu trên thị trường

Trên một thị trường có tính cạnh tranh, có nhiều người mua và nhiều người bán, không có sự can thiệp của nhà nước, giá cả thị trường sẽ có xu hướng hội tụ về mức cân bằng—mức giá tại đó lượng cầu bằng lượng cung Mức cân bằng cho phép thị trường tự điều chỉnh, thúc đẩy giao dịch hiệu quả và duy trì tính thanh khoản, phản ánh đúng quan hệ cung cầu trong nền kinh tế.

15 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr 59

Chiến lược giá của doanh nghiệp

Cơ chế định giá của doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu mà còn bị chi phối bởi chiến lược giá được thiết lập cho từng thời kỳ Cung và cầu là các yếu tố thuộc thị trường, trong khi chiến lược giá hình thành dựa trên ý chí chủ động của doanh nghiệp, trên cơ sở đánh giá chi phí sản xuất và mức độ cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, định giá phản ánh cả diễn biến thị trường lẫn cách doanh nghiệp cân nhắc chi phí, lợi nhuận mong muốn và cạnh tranh để xác định mức giá phù hợp với mục tiêu kinh doanh.

Tổng chi phí (Total Cost – TC) để sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định là tổng chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi thực hiện một quy trình sản xuất ở một điều kiện kỹ thuật hoặc công nghệ nhất định; chi phí này thường bao gồm các loại chi phí cố định và biến đổi liên quan đến quá trình sản xuất, cùng với chi phí liên quan đến nguyên vật liệu, lao động, vận chuyển và quản lý sản xuất.

2 Chi trả cho người lao động và các phúc lợi khác

4 Tiền mua máy móc, thiết bị

Tùy thuộc vào khối lượng hàng hóa muốn sản xuất, doanh nghiệp phải đầu tư chi phí cho nguyên vật liệu và tiền công cho người lao động tương ứng Kinh tế học gọi những khoản phí thay đổi theo sản lượng là chi phí biến đổi (Variable Cost – VC); sản lượng càng lớn thì VC càng cao và ngược lại Ngược lại, đầu tư của doanh nghiệp vào mặt bằng, nhà xưởng sản xuất và máy móc thiết bị lại là những chi phí không đổi theo biến động của sản lượng – chúng được gọi chung là chi phí cố định (Fixed Cost – FC).

Trong ngắn hạn, tổng chi phí sản xuất sẽ bằng chi phí biến đổi cộng với chi phí cố định:

Trong thực tế, khi đề cập đến chi phí sản xuất, người ta thường nói đến mức chi phí bình quân để sản xuất một đơn vị sản phẩm, được gọi là chi phí bình quân hay chi phí tổng cộng (Average Total Cost - ATC) ATC phản ánh tổng chi phí trên mỗi đơn vị và được hình thành từ hai thành phần chính: chi phí cố định bình quân (AFC) và chi phí biến đổi bình quân (AVC) Do đó ATC = AFC + AVC và sự biến thiên của ATC theo mức sản xuất phản ánh quy mô và hiệu quả chi phí của quá trình sản xuất.

16 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr.139

Tương quan cạnh tranh trên thị trường

Tương quan cạnh tranh trên thị trường là yếu tố tác động mạnh nhất đến chiến lược giá của doanh nghiệp, phản ánh mức độ cạnh tranh và giúp doanh nghiệp nhận diện vị thế của mình trong cuộc ganh đua với các đối thủ Vì vậy, chiến lược giá của mọi doanh nghiệp phải dựa trên sự phân tích và đánh giá kỹ lưỡng tương quan cạnh tranh trên thị trường, nhằm tối ưu hóa mức giá, tăng cường khả năng cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng doanh thu.

Trên thị trường thiếu cạnh tranh, mức giá của doanh nghiệp sẽ bao gồm chi phí và một mức lợi nhuận phù hợp; ngược lại, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, chiến lược giá phải vừa đảm bảo lợi nhuận vừa duy trì vị thế trên thị trường Doanh nghiệp cần xác định mức giá cạnh tranh với các đối thủ sao cho vẫn bù đắp chi phí sản xuất và có lợi nhuận Tương quan cạnh tranh là xuất phát điểm cho những chiến lược giá mà doanh nghiệp xây dựng và thực thi trên thực tế Xu hướng chung khi đối mặt với cạnh tranh là bán hàng ở mức giá thấp và chấp nhận lợi nhuận ít hơn để bán được sản phẩm Tuy nhiên, hành vi hạ giá của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ khác biệt so với các doanh nghiệp bình thường Tùy vào mong muốn về tương quan cạnh tranh sau khi hạ giá, mức giá có thể chỉ làm khó khăn cho đối thủ hoặc thậm chí loại bỏ họ khỏi thị trường.

1.2.1.2 Bản chất lạm dụng trong hành vi loại bỏ đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đại học Kinh tế - Luật Tp. Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh tranh
Tác giả: Đại học Kinh tế - Luật Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
3. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội (2009), Giáo trình Kinh tế Vi mô, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Vi mô
Tác giả: Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
4. Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật Cạnh Tranh, Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh Tranh
Tác giả: Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2014
5. Bùi Xuân Hải (2004), “Mục tiêu và phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 2/2004, tr. 43 – 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu và phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2004
6. Phạm Hoài Huấn (2010), “Bình luận khi Megastar bị khiếu nại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, số ngày 14/05/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khi Megastar bị khiếu nại”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
Tác giả: Phạm Hoài Huấn
Năm: 2010
7. Phạm Hoài Huấn (2011), Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá, Luận văn thạc sỹ Luật, trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá
Tác giả: Phạm Hoài Huấn
Năm: 2011
8. Phạm Hoài Huấn (2012), “Hành vi định giá hủy diệt trong pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số tháng 8 năm 2012, trang 35 – 39 9. Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngđể hạn chế cạnh tranh về giá, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi định giá hủy diệt trong pháp luật cạnh tranh”, "Tạp chí Nhà nước & Pháp luật", số tháng 8 năm 2012, trang 35 – 39 9. Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), "Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường "để hạn chế cạnh tranh về giá
Tác giả: Phạm Hoài Huấn (2012), “Hành vi định giá hủy diệt trong pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số tháng 8 năm 2012, trang 35 – 39 9. Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến
Nhà XB: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
10. Lê Nết (2005), “Khái niệm kiểm soát kết nối thị trường đóng góp ý kiến cho nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 3(28)/2005, tr. 41 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm kiểm soát kết nối thị trường đóng góp ý kiến cho nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Nết
Năm: 2005
11. Trần Hoàng Nga (2011), Pháp luật chống định giá lạm dụng của EU, Hoa Kỳ, Việt Nam – So sánh và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống định giá lạm dụng của EU, Hoa Kỳ, Việt Nam – So sánh và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng Nga
Năm: 2011
14. Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nhà xuất bản Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh
Tác giả: Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2006
15. Nguyễn Ngọc Sơn (2005), “Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh 2004”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 11(63)/2005, tr. 25 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh 2004”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Năm: 2005
16. Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Luật Cạnh tranh năm 2004 và hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2(69)/2006, tr.25 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cạnh tranh năm 2004 và hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Năm: 2006
17. Nguyễn Ngọc Sơn (2008), “Hành vi định giá hủy diệt và việc ứng dụng trong Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19(135)/2008, tr.25 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi định giá hủy diệt và việc ứng dụng trong Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Năm: 2008
18. Nguyễn Ngọc Sơn (2010), “Megastar có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh Việt Nam”: www.marketing-branding.vn/d/6530/megastar-co-dau-hieu-vi-pham-luat-canh-tranh-vn.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Megastar có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Năm: 2010
19. Lê Văn Sua (2009), “Nhìn lại vụ việc Tân Hiệp Phát Nhìn lại vụ việc giữa công ty Tân Hiệp Phát và công ty liên doanh bia Việt Nam – những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại vụ việc Tân Hiệp Phát Nhìn lại vụ việc giữa công ty Tân Hiệp Phát và công ty liên doanh bia Việt Nam – những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh
Tác giả: Lê Văn Sua
Năm: 2009
1. Cục quản lý Cạnh tranh (2010), Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w