Tuy nhiên,do vấn đê chốngbán phá giá cònmới trong khoahọc pháp lý vàviệcnghiêncứukinhnghiệm của các nước, việc tiếp nhậnpháp luật cùa WT0 vào phápluật nội địa còn nhiều hạn chếnêncácquyđ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin camđoan đây là côngtrình nghiên cứucủa riêng tôi Các số liệunêutrongluận án làtrung thựcvà chính xác Cáckết quảnghiên cứu nêu trong luận án chưa từng được aicông bố trong bấtkỳ côngtrình nào khác
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 3NHỮNG TỪ VIÉT TẮT TRONG LUẬN ÁN
GATS : Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của
WTO năm 1994ITC : Úy ban thương mại quốctế Hoa Kỳ
Nghị định 90/2005/NĐ-CP : Nghị định số 90/2005/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 11/07/2005 quy định chi tiếtthi hành một
sô điềucủaPháp lệnh chống bán phá giáhànghóa nhập khẩu vào Việt Nam
Nghịđịnh 04/2006/NĐ-CP :Nghịđịnh số04/2006/NĐ-CP cùa Chính phù ngày
09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng,nhiệm vụ và cơ cấuto chức cùa Hội đồng xữ
lý vụ việc chống bán phá giá, chông trợ cấpvà tự
Nghị định 06/2005/NĐ-CP :Nghịđịnh số 06/2006/NĐ-CP của Chính phù ngày
09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tố chức của Cục Quản lý
Pháp lệnh chống bánphá giá :Pháplệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày
29-4-2004về việc chống bán phá giá hàng hóa nhậpkhâuvào Việt Nam
Trang 41.1 Khái niệm về bánphá giá hànghóa nhập khẩu 81.2 Cơ sởkinh tế- pháp lí cho việc xác định bàn chất củabán phá giá
1.3 Nhucầuápdụng pháp luật chống bánphá giá tạiViệtNam 41Chương 2: CĂN cú XÁC ĐỊNH HÀNG HÓANHẬP KHÂU BÁN PHÁ GIÁ, XÁCĐỊNH THIỆTHẠI THỤCTẾ CỦANGÀNH SÀN XUÂTTRONGNƯỚCTHEO
2.1 Cáccăn cứ đểxácđịnh hàng hóa nhập khẩu bán phá 552.2 Xácđịnhthiệt hại cùa ngành sản xuất trong nước 842.3Xác định mối quan hệ nhânquàgiữa bán phá giá và thiệt hại đáng kể 98Chương 3: THÙTỤC ĐIỀUTRA, xửLÝ vụ VIỆC CHỐNG BÁNPHÁ GIÁ
3.1 Thủ tục điều tra vụ việc chống bán phá giá 1053.2 Thủ tục xừ lí vụ việc chống bán phá giá 135
Chương 4: CÁC CO QUAN THỤC THI PHÁP LUẬTVÀMỘT số ĐỀ XUÂT HOÀNTHIỆNPHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI VIỆTNAM 1704.1 Các cơ quan thực thiphápluật chống bán phá giá 1704.2 Những vấn đề đặt ra từ thựctiễn đốivới việcthựcthi pháp luật
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Khicạnh tranh trong thươngmạitrở thànhvấn đề toàncầuthìpháp luật điềutiết cạnh tranh cũng không còn là vấn đề nội bộcùa cácquốcgia Vìthế, các chế địnhvề phòng vệ thương mại đã trở thànhnộidung quan trọng trong khuôn khồ pháp luật về thương mạiquốc tếcùa Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trong đó, chếđịnh phápluật vêchôngbánphá giá luôn cóvị trí quan trọngvàđược các nước áp dụng kháphổ biếnđe bảo vệcác ngànhsàn xuấttrong nước trước áplực cạnh tranh từ hànghóa nhậpkhẩubán phá giá Tại Việt Nam, pháp luật về chống bán phá giá đã cónhững bước pháttriển nhấtđịnh với việcbanhành Pháp lệnh chống bánphá giá hànghóa nhậpkhẩu vào Việt Namnăm 2004 Lần đầu tiên các quy định về bánphá giá và chống bánphá giá được ghi nhậntrongmộtvănbảnphápluật có giá trị pháp lý cao là Pháp lệnh
Tuy nhiên,do vấn đê chốngbán phá giá cònmới trong khoahọc pháp lý vàviệcnghiêncứukinhnghiệm của các nước, việc tiếp nhậnpháp luật cùa WT0 vào phápluật nội địa còn nhiều hạn chếnêncácquyđịnhtrongPháplệnh chống bánphá giácòn nhiều điếmchưa hợp lý, các quy định còn đơngiàn và mangtính nguyên tắc, nhiềunội dung quan trọng chưa được quy địnhhoặc chưa đượcgiài quyết triệt đe.Sự đơn giàn và thiếu hoàn chỉnhcùa pháp luật là một trongnhững nguyên nhân lớn làmgiảm khả năng thựcthicủapháp luật chống bán phá giá hàng hóanhập khẩu.Từ khi được ban hành cho đến nay, Pháplệnh chống bánphá giáchưa được áp dụng trongthực tiễn Nghị quyết 08/NQ/TWngày 05 tháng 02năm 2007 của Ban chấp hành trung ương ĐàngCộng sản Việt Nam về một số chủ trương, chính sáchlớnđenềnkinhtếphát triền nhanh,bền vững khi Việt Namlà thành viêncủa Tô chức Thương mạithế giới có nhận định một trong những thách thức lớn đốivới ViệtNamlà nước ta
phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trên cá ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp
và quốc gia Cácsán phàm và doanh nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các
sán phàm và doanh nghiệp nước ngoài không chì trên thị trường thế giới mà ngay trên thị trường trong nước [2, tr 1], Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện cáccông cụpháp
lýcần thiêt vàphụ hợpvới cácnguyên tắc,quyđịnhcùaWT0 nhằm bảo vệ sản phẩm,doanhnghiệp Việt Nam ngay trên thị trườngtrong nước trước những hànhvi cạnh
Trang 6tranh khôngcông băng cùa doanh nghiệp nước ngoài là một trong nhữngnội dung quan trọngđàmbảocho hội nhậpkinh tế quốc tếthành công.
Việt Namđã chính thức trởthành thànhviên cùaWTOvào năm 2007 Yêu cầu
vềsự tương thích giữa pháp luật nội địa và các chuẩn mựcpháplýcùa WT0 làmột trong nhữngđòihỏi buộc chúng taphải camkết vàtriệtđểtuânthủ Hiệp định chống bán phá giá củaWT0 năm 1994 (ADA)đã quy định những căn cứ xác địnhhiện tượngbán phá giá, xác định thiệt hại vật chất và đặt ra những nguyên tắcchoviệcđiều tra, xửlý vụ việcchống bánphágiá Cácquyđịnhnày đã và đang trở thành chuẩnmực chung cho pháp luật củacác quốc gia thành viên Các quốc gia cóquyền xây dựng quy trìnhđiều tra, xừlý vụ việc và xây dựng bộ máy thựcthi pháp luật dựatrên những nguyên tắcđã được ghi nhận trong ADA Hiện nay, cácvấn đề pháp lý về chống bán phágiá đang được các quốc gia thành viên WTO đềxuấtsửađổi và hoànthiện trong cácvòng đàm phán Doha Dù kếtquà đàmphán chưađạtđược sựthống nhấtcần thiết để sửa đổi phápluật song cũngcho thấy khảnăng phát triểncủalĩnhvực pháp luật này Việc nghiên cứuvà tiếp thu pháp luậtcùa WTOvàopháp luật ViệtNam
và địnhhướngcho sự pháttriển của lĩnhvực pháp luật nàytrong tương lai làcần thiếtkhông chì nhằmbảo đảmsự tương thích mà cònđảm bào khả năng thực thi cùa pháp luật trênthựctế
Nghiêncứu về bản chấtpháp lýcủahành vibán phá giá hàng hóa nhậpkhẩu vàchông bán phá giá tạiViệt Nam đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cà về lý luậnvàthực tiễn
do chúngta tiếpcận lĩnh vực pháp luật này trong bối cảnh đặc biệt.Các quy địnhtrong Pháp lệnh chống bánphá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 được xâydựng từ kết quả tiếpthu một cách đơn giảnvà chưađầy đù phápluật WT0cũng nhưpháp luật các nước nêncácvấn đề lýluậnvềvấnđềnàyvẫncòn bò ngỏ trong khoahọc pháp lý
Từnhững lý do trên tác giả đã lựa chọnđề tài “ Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam” làm đềtàiluận án Việcnghiên cứucơ sờ lý luận vàcác vấnđềđặt ra từ thựctiền pháp luật chống bánphá giákhông chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còncó giá trị thựctiễnsâusắc
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chínhcùaluậnán lànghiêncứumột cách có hệ thốngcácvấn đề lý luận đế làm rõbảnchấtpháplývà kinhtếcùabán phá giá hànghóanhậpkhẩu; nghiên cứucácquy định của pháp luậtchống bán phá giáhàng hóa nhập khẩu vào Việt Namnhăm đưa ra những đánh giá có cơ sờ khoa học và thực tiễn về thựctrạngpháp luật;
Trang 7luận ánphân tích nhữngyếu tố ảnh hường đến việc thực thi pháp luật nhằm lý giải về tình trạngpháp luật đã không được ápdụngtrong thời gian có hiệu lực vừaqua và dự báo những khó khăn cần giải quyết khi tổchứcthực thi pháp luật Thông qua luận án,tác già mong muốngóp phần hoànthiện một bướclý luận, các quyđịnhcủapháp luật
vàđưa ra một sốgiải pháp nhàm nâng cao năng lực ápdụng phápluật chống bán phá già hàng hóa nhập khẩu vào ViệtNam.Theođó, đề tàicócác nhiệm vụ sau:
1 Nghiên cứu các cơ sở kinh tế pháp lý về bánphá giá, phân tích bảnchấtcủa hiện tượng bán phá giá và tácđộng nhiều mặt của nó đếnsựphát triển thị trường của quôcgia nhậpkhâu,đồngthờinghiên cứuvề nhu cầu điều chỉnh củapháp luật chống bánphá giá tại Việt Nam
2 Trêncơ sởnghiên cứuhiệntrạngphápluật chốngbán phá giábao gồm cácquy địnhvêcăn cứxác định bánphá giá, xácđịnh thiệt hại đáng kề vàquanhệ nhân quả; các quy địnhvề thủ tục điều tra, xửlý vụviệc vàáp dụng các biệnpháp chống bánphágiá,luận án sẽ nêulên những nội dung chưa được pháp luậtgiải quyết hoặcgiải quyết chưa triệtđể cũng như các nội dung chưa phù hợp với pháp luật WTO để đưa racác giải phápkhắcphục
3 Nghiêncứubộ máythựcthipháp luật chống bánphá giá tạiViệt Nam Trên
cơ sở phân tích và đối chiếu với địnhhướnghoànthiện bộ máy nhànước hiện nay, luận án cónhữngphân tích về đặctrưng và những bất cậpcùa hệ thống cơ quanchống bánphá giá hiện nay để đưa ra nhữngkiếnnghịhoàn thiện pháp luậtchống bánphá giá và cơ chếthực thitại ViệtNam và các kiến nghị nhằmnâng cao nâng lực ápdụng pháp luật trong lĩnh vực này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiêncứucủa luận ánlà cơ sở kinh tế- pháp lývề bán phágiá, thựctrạng pháp luật vànhữngvấn đềđặt ra từ thực tiễn có ảnhhưởngđến khả năng ápdụng phápluật chống bánphá giá nhằm hoàn thiện về mặt lýluận và các quyđịnh cùa pháp luật vê chống bánphá giá hàng hóa nhậpkhẩuvào Việt Nam
Luậnán giới hạn nghiên cứu việcứngdụng các nguyên lýkinhtế vào khoa họcpháp lý đê xácđịnhbảnchất pháp lýcủahiện tượng bánphá giá,theođó đặtragióihạn điêu chinh cùaphápluật, nghiên cứu thục trạng phápluật chổng bán phá giá tại Việt Nam trên cơ sởso sánh với cácquy định tương ứng cùaADAvà phápluậtcủa mộtsốquốc giatiên phong trong lĩnh vực pháp luật này là Canada, EU và Hoa Kỳ.Do phápluật chống bánphá giá Việt Namchưa đượcáp dụng trên thực tếnên luậnán không có điêu kiệnnghiên cứuthực tiễn xửlý vụviệc mà chỉ tập trung phân tích các
Trang 8vấn đề đặt ra từ thực tiễn có ảnh hưởng đến năng lực áp dụng pháp luật và đưa ra các kiếnnghị nhằm hoànthiện pháp luật và tăngcườngkhả nàng thi hành của pháp luậttrênthựctế.
về cơ chế thực thi pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam, dogiới hạnvê dung lượng cùaLuậnán nên tác giảchitập trung phân tích hệthống và mối quan hệ
vềthấm quyền giữa các cơ quan điều tra, xửlý vụ việc chống bán phá giá theo phápluật hiện hành Trên cơ sở đó, tác giả đưa ranhững đánh giá về tính hợp lý,hiệu quà
và đềxuấtphươnghướng hoàn thiện bộ máy thực thipháp luật,
4 Tinh hình nghiên cứu
Bán phá giá vàáp dụng các biệnpháp chống bánphá giá là đề tàiđã được một sốnhàkhoa học nghiên cứu Đã có một số sách và một số đềtài chuyên khảovềvấn đề này, như“Bán phá giávà biện phápchốngbánphá giá hàngnhậpkhẩu”của tác giảĐoàn Văn Trường do Nhà xuất bàn thống kêxuấtbảnnăm1998; Đe tài nghiên cứukhoa học cấp bộ của Vụ chính sách đa biên -Bộ thương mại “ cơ sở khoahọc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàngnhập khấu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhậpkinh te quốctế” được nghiệm thu năm 2000;đề tàinghiên cứu khoa họccấp bộ doVCAD chủ trì “ Các giài pháp ứngphó của Việt Nam đối với việc chống bán phá giátrongthương mại quốctế”đãđược nghiệmthu năm2005 Ngoàira,trongquátrìnhsoạnthảoPháplệnh chống bánphágiá, Bộ thương mạitổchức nhiều cuộc hội thảovề vấnđề này, như cuộc hội thảo về pháp luật chống bán phá giá cùaHoa Kỳ và EUvàocuốinăm 2003;hộithào về nâng cao năng lực chống bán phá giá cho Việt Nam trong quá trình hộinhập kinhtế thế giới do Quỹ xâydựng năng lựcquànlý quốcgia có hiệuquả Việt Nam-Australianăm2005;Hội thào về Pháp luậtvà thực tiễnchống bán phá giá tại Liên minh Châu Âu do Nhà pháp luậtViệt -Pháp tổ chức tại Hà Nội và Thành phốHồ Chí Minhvàonăm 2004
Bên cạnh các sách chuyênkhảo và các đề tài khoa học, còn có một so bàiviếtcùa các nhà luật họccũng như kinh tế vềphá giá trongthương mại quốctế như: Tác giảLê XuânTrường Trường vàNguyễn Đình Chiến với bài viết “Để áp dụng thành công thuế đối kháng, thuế chốngbán phá giá ở ViệtNam” đăng trên Tạp chíTài chính
sô 4 năm 2003; "Bàn vê chông phá giá trong nềnkinh tếthịtrường” cùa tácgiãĐoànVăn Trườngđãng trên Tạpchí Nghiêncứukinh tếsố 227 tháng 4 năm1997; “Góp ý
dựthào Pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩuvàoViệt Nam” cùaVũ Thái Hàđăng trên Tạp chí Nghiên cứulập phápsố 9năm 2003; “Bán phá giátrongthươngmại quốctếvàthực tiễnViệtNamcủa tác giảNguyễn Quốc Thịnh, “Camkết
Trang 9theo pháp lệnh chống bánphá giá cùa EU”đăngtrênTạp chíCộng sảnsố9năm2004;
“Các vụ kiện chống bán phá giá -một chẳngđường nhìnlại”; “Các vụ kiện chống bán phá giá-những đặcđiểm cần lưuý đối với các DNViệt Nam”cùa tác già Đinh Thị
Mỹ Loan trên Tạp chí Thương mại cácso44/2005, số 1+2/2006và Tạp chí Cộng sản điện từ 2006
Ngoàira,vấnđềbánphá giá cũng được đề cậptrongmột so công trình nghiêncứu vềcạnhtranhnhư:“Cạnhtranhvàxây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Namhiện nay” của Viện nghiên cứu Nhànước vàpháp luậtdo PGS Nguyễn Như PhátvàPGS Trần Đình Hảo chủbiên do Nhà xuất bànCông an nhândân xuất bànnăm2001;
“Tiến tới xây dựng phápluật về cạnh tranh và chống độc quyềntrong điềukiện chuyển sang nền kinh tế thị trường” của PGSNguyễn Như Phát và Thạc sỹ BùiNguyên Khánh do Nhà xuấtbản Côngan Nhândàn xuất bànnăm 2001 về đề tài cao học luật, có hai đề tài nghiên cứu về vấnđềnàylà; 1) “Pháp luậtvề chống bán phá giátrongngoại thương một so vấnđề lý luận và thực tiễn” của tác già NguyênVănNiêm
đãbào vệ thành công năm 2003 tạiTrường Đại họcLuậtThành phố Hồ ChíMinh; và2) “Pháp luật chống bánphá giá hàngnhậpkhẩu tại Việt Nam - những vấnđềlýluận
và thựctiễn” của NCS thựchiện năn 2004
Vấn đê pháp luật chống bănphá giá của WTOvà của các nước còn được nghiên cứu tương đối sâuvà toàndiện trongcác tác phẩm của các tác giả nước ngoài như: Policy makersdumping ontradecủa Casey J.LartigueJr được công bo năm 2002 tại cato Institutes, Washington D.C; Trade remedies and WTO disputes settlement:whyare so few challenged của ChadP.Bown đượccôngbố năm 2004; The politics behindthe Application ofantidumping Laws to nonmarket economies:Distrust and informal constraints cùaCythia Horne được côngbo năm2001;Legal and economicinterfacesbetween antidumping and competition policycủa JosesTavares de Araujo Jr đượccông bo năm2001; Antidumping: how works and who gets hurtcủa J MichaelFinger được công bo năm1993,Cải cáchhiệpđịnh chống bán phá giá: conđường chocác đàm phánWT0 cùa các tácgiả Lindsey BrinkvàDanIkensoon đăng trên tạp chíphân tích chínhsách thương mạicủa ViệnCasto số21 năm 2002; Luật chống bánphá giá mới trong quá trình đàm phán của M Koulen được công bố năm 1995;Hệ thống thươngmại thể giớicùa John H.Jackson được dịch sangtiếng Việt do Nhà xuất bàn Thanhniênxuấtbảnnăm2001
Các côngtrìnhnghiên cứu trêncủa các tác giảđãtiếp cậnvấn đềphấp luậtchốngbánphá giá ờnhiêugóc độ khác nhauvà lànhững tàiliệu quíbáu cho chúng tôitrong
Trang 10quá trình nghiên cứuđề tài của mình.Tuynhiên, đềtài màchúng tôi lựachọn chi tập trung nghiên cứu các quy định cùa pháp luậtViệt Namvềbánphá giá và chống bánphá giá Chođen nay,vấn đề chống bánphá giá hàng hóanhậpkhấuvào Việt Nam nói chung và pháp luật về vấn đề nàynóiriêng.là mảng đề tàichưa được nghiên cứu ở bậcnghiên cứu sinh tạiViệt Nam.
Đe tài mà tác giả nghiên cứu làsựpháttriểnmột bước củaluậnvăn cao học cùa mình Ởluận văncao học tácgiả tập trung nghiên cứu những nộidung cơ bản của pháp luậtViệt Nam vềchống bánphá giá Luậnán được nghiêncứu mộtcách có hệ thống và toàndiện cơsờ kinhtếvàpháp lý để xác định bảnchấtcùa hiệntượng băn phá giá; nghiên cứu tổng thể và sâu về các chếđịnhcụ the trong pháp luật chống bán phá giá làm cơ sở đánh giá vê sựtươngthích của pháp luật Việt Nam với pháp luậtWTO, đánh giá khả năng áp dụng của pháp luật trong thực tiễn và đưaranhững đề xuất nhằm hoànthiệnpháp luật và cơchế thựcthi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được trình bàytrêncơ sởlý luậncủa chủnghĩa Mác - Lê ninvề Nhànước và Phápluật, quanđiếm của Đảng và Nhà nước về phát triểnkinhtếvà hội nhậpkinh tế quốc tế Nộidung cùa luậnán được nêuvà phàn tích dựa trên cơ sở cácvăn bàn phápluật của Nhà nước,các vănbànhướng dẫn áp dụng pháp luậtvàcác tàiliệu pháplý
Luận án sừ dụngphương pháp nghiêncứu chủyếu là phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sữ Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: tổnghợp, phântích,sosánh, đôi chiếu lịch sử
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
về mặt lý luận:đâylàluận án nghiên cứumột cáchcó hệ thống,toàndiệnvề pháp luật chống bán phá giá hànghóanhậpkhẩu vào Việt Nam Các kiến nghị, kếtluận nêu ra trong luận án là những luận cứ khoa học của tác giả Có thể nóiđây làcông trình khoahọcđược nghiêncứu một cách nghiêm túc, có hệ thống vàđề cập đến nhiều vấn đềvề pháp luật chống bánphá giá tại ViệtNam màtừ trước đến nay chưađược giải quyết hoặcgiảiquyết chưa triệt để Đó là vấn đề về quá trìnhnhận thức về bánphá giá trong khoahọcpháplýcủaViệt Nam, cơ sở kinhtế - pháp lý choviệc xácđịnhbảnchất của hiệntượng bán phá giá hànghóanhậpkhẩu, những thànhtựu vàtồntại trong pháp luật chống bánphá giá cùa Việt Nam
Nội dung và kết quả nghiên cứu cùa luận áncó thểsử dụng làm tài liệu tham khảo hữuích trong việc nghiên cứu về lý luận vàpháp luật chống bán phá giá, làmtài
Trang 11liệu giảng dạy và học tập chosinh viên đại học chuyên ngành luật họchoặckinh tế đối ngoại.
Vê thực tiễn: nhữngnghiên cứu, kết luận, đềxuấtcủaluận án còncó ý nghĩatrongviệc hoàn thiệnpháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam vànâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này
7 Cơ cấu cùa luận án
Cơ cấucùaluận ánđượcquyết định bởimụcđích,nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Luậnánbaogồmcác phần sau:
- Lờinói đẩu
- Phần nội dung gồm bốn chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và pháp luật chông bán phá giá hàng hóa nhập khấu tại Việt Nam.
Chương 2: Các căn cứ xác định hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, xác định thiệt
hại thực té của ngành sàn xuất trong nước theo pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Thù tục điều tra, xứ lý vụ việc chống bán phá giá theo Pháp luật Việt
Trang 12Chương1:NHỮNGVẤNĐỀ LÝ LUẬNVỀBÁNPHÁGIÁ HÀNG HÓANHẬP KHÂUVÀPHÁP LUẬTCHÓNG BÁNPHÁGIÁ HÀNG HÓA NHẬP
KHÂU TẠI VIỆTNAM
1.1 KHÁI NIỆM VÈ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓANHẬP KHẤU
1.1.1 Cácquanniệm về bán phágiá hànghóa nhập khâu
Có nhiều cáchhiểu khác nhau vềbán phá giá, dưới góc độhọcthuật, bánphá giá hàng hóa nhập khẩuđược hiếu ngắn gọn làbán hàng ra nước ngoài vớigiá thâphơn giá bán tạithị trường nội địa Ví dụ Từ điển kinh tế họchiệnđại cho ràng bán
phá giá (dumping) được hiếu là việc bán một hàng hoá ờ nước ngoài với mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước[57, tr282]; TheoTừ điển chínhsách thương mại: phágiá được hiếu là thực tiên bán hàng của một công ty với giá bán ra nước ngoài thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước (giá nội địa của
nước xuất khấu) [35, tr 82]; cuốn Black’ Law dictionary định nghĩaphá giá là
hành vi bán hàng hoá ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa
[93,tr 518].Theocách hiêu này, bán phágiáhàng hóa nhập khẩu là sựphân biệtgiá cùacùng loại sản phẩm tiêu thụ trên thịtrường nướcxuất khấuvà tiêu thụ trên thị trườngnước nhập khẩu Dođó, để xác định việcbán phágiá,người ta phải tínhtoánđượcgiáxuất khẩuvà giá bántrên thịtrường xuất khâu cùa hàng hóa (còn gọi
là giá nội địa)
Dưới góc độpháp lý, khái niệm pháplý về bán phá giá lầnđầu tiên được ghinhậntrongđạoluật thuếhải quanCanada được thông qua ngày 10 tháng 8năm
1904 Sau đó, New Zealand và úc cũngban hành các văn bản pháp luật về chốngbán phá giá vào năm 1905 và 1906 Khichống bán phá giá đã trở thành một nộidung quan trọng trong pháp luậtthương mại quốc tế thì kháiniệm bán phá giá cũng được ghinhậntạiĐiều VI Hiệp định chungvề thuế quan và thương mại nám 1947 (gọi tắtlà GATT) và trong Hiệpđịnh thực thi Điều VIcủa GATT 1994cùa Tốchức thương mại thế giới (WTO)1 Điều 2.1 của ADA quy định: trong phạm vi
Hiệp định này, một sàn phàm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông
thương mại cúa một nước khác với giá tháp hơn trị giá thông thường cùa sán phãm
đó) néu như giá xuất khâu cua sản phấm được xuất khấu từ một nước này sang một
1 Còn gọi là Hiệp định chổng bán phá giá cua WTO (viết tắt ADA) Điều 2.1 cùa ADA lặp lại khái niệm bán phá giá được quy định trong diêu VI cùa GATT 1947 Điều VI 1 cùa GATT 1947 quy định"các thành viên ký kêt cua GATT thừa nhận răng bán phá giá, nghĩa là các san phám ctia một quỏc gia đtra vào giao lưu thưong
Trang 13nước khác thấp hơn mức giá có thê so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu
dùng tại nước xuất khau theo các điều kiện thương mại thông thường, về cơ bản,
khái niệmpháp lý giống với cáckháiniệm học thuật khi cho rằngbán phá giá làhiện tượng phânbiệt giá song căncứ để xác định không còn là giá bán cùahàng hóa trên thịtrườngxuất khẩu vàtrên thị trường nhập khẩumà là giá xuất khẩu (giá bánvào thị trườngnhập khẩu)và giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu.Giátrị thông thường không phải là giá nội địa của hàng hóabị điều tra mà là giá cóthề
so sánh được của hàng hóa tương tự đượctiêudùng tạinước xuất khẩu Giá thông thường được hiểu là “mức giá chuẩn” mà các DN ápdụng cho cácgiao dịch mua bán trên thịtrường nước xuất khẩu Để có thểxácđịnh được “mức giá chuẩn” trong mọi tình huống,các nhà làm luật đã đặt ra nhiềutiêu chuẩn và phương pháptínhtoán phức tạp và mềm dèo Nhữngthay đổi trong kháiniệm pháplý về bán phá giá
đã giải quyết đượctrường hợp không thể xác định đượcgiá bántrên thịtrường nộiđịa của hànghóa bị điều tra dochúng được sản xuất chi để xuất khẩuhoặc giábánhàng hóa trên thị trường nội địa không bình thường do thấp hơn chi phí sản xuấthoặc là giá bánđộc quyền
Ketquà sosánh haichi số giátrên chưa phảnánh ưu thế cạnhtranhcùa hàng hóa nhậpkhẩu so với hàng hóa nội địa của nước nhập khấu màchỉ cho thấy hiệntượng phânbiệtgiá của sảnphấm nhậpkhẩu Muốn xác địnhưu thế cạnhtranhvê giá củahàng hóa nhậpkhấu, cẩntiến hành so sánh giữa giá xuất khẩu của hàng hóa nhậpkhẩuvà giá báncùahàng hóa cạnh tranh nội địa Kết quà sosánh có thể là2:
2 Các tình huống này được đặt ra trong điều kiện hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa cạnh tranh nội địa chì cạnh
Thứ nhất, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào thấp hơn giá thôngthường trên thịtrường xuất khẩu nhưngvẫncaohơn giá cùa sản phẩm cạnhtranh nộiđịa Trongtình huống này, hiện tượngbán phá giá vẫn tồntại song hàng hóa nội địa đang có lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nhập khấu.Dođó, việc hànghóanhập khẩu bánphá giá không thế gâythiệt hạihoặc đedọa gâythiệt hạicho ngành sàn xuất trong nước
Thứ hai, giá xuấtkhau củahàng hóa nhậpkhẩu thấp hơn giá báncủa sản phẩmcạnhtranh nộiđịa nêncólợi thế cạnh tranhvề giá Khiđó, cácDNnội địasản xuất sản phấm cạnhtranh bị đayvào tình trạng hoặc phải hạ giá bán đế giữkhách hàng hoặc mấtthị phầnvới giá bán hiện tại.Trong tìnhhuống này, có hai giảđịnhđược đặt ra:
Trang 14- Giả địnhhànghóanhậpkhẩukhông bán phá giá (giáxuấtkhẩu khôngthấp hơn giá thông thường) Giá cùahàng hóa nhập khau có lợithếcạnh tranh do chi phí sản xuất thấp hơncủa sảnphẩm nội địa Thị trườngnhập khấu đang được hưởng lợi
từ hàng hóanhậpkhẩu vì người tiêu dùng cócơ hội mua hàng hóa giá rẻ
- Già định có hiện tượng bán phá giá (giá xuấtkhẩu thấp hơn giá thông thường) thì hiện tượng bán phá giá đang tạo lợi thế cạnhtranh mộtcáchkhông côngbằng chohàng hóa nhập khẩu trước hàng hóa nội địa Các biện pháp chôngbán phá giá cầnđượcáp dụng đế bàovệ ngành sản xuất nội địatrước thiệt hại dobánphá giá gây ra
Nhưvậy,hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩukhông đương nhiên đưa đến kết quả làhàng hóa nhập khẩu có lợithế cạnh tranh so với sản phẩmcạnh tranh nội địa Ngược lại, khihàng hóanhậpkhẩu có ưu thế cạnhtranh về giá so với sảnphẩmnội địa, không nên vội vàng kết luận có hiện tượng bánphá giá.vấn đề được đặt ra làcầncó cơ chế để phân biệthiện tượng bán phá giá hàng hóanhập khấu vớiviệc hàng hóa nhập khấu được bán với giá rẻ do có lợi thế cạnh tranh lànhmạnh; cân phân biệt bán phá giá cókhảnănghay không có khả năng gây thiệthại cho ngànhsànxuất nội địa
Tại Việt Nam, các nhà làmluật cónhững quan niệmkhác nhau vềbán phá giá
Sự khác nhaunày được the hiện qua hai văn bàn pháp luật làPháplệnh giá năm 2002(gọi tătlà Pháplệnh giá) vàPháplệnh chống bánphá giá hànghóanhậpkhấuvào ViệtNam năm 2004 (gọi tắtlàPháplệnh chống bánphá giá hànghóanhập khẩu)
Trong Pháplệnh giá năm 2002, bánphá giá được hiểulà hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm
lĩnh thị trường, hạn che cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp cùa to chức, cá nhăn sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích cùa Nhà nước [81, k3 đ4].Vớikháiniệm trên, hành vi bánphá giá được xácđịnh từhai dấuhiệu:
- DNđãbán hàng hóa, dịch vụ với giá quáthấpso với giá thông thường cùa nótrên thị trường ViệtNam.Phương thức đểxác định bán phá giá theo pháp lệnh giá là
sosánh hai chỉ số giá: giá bán thực tếvà giá thông thường của sàn phẩm bị điều tra.Tuy nhiên,hai chỉ số này đều được xác định từ thị trường Việt Nam Dođó,hànhvi bánphá giá trong Pháp lệnh giá khôngphài là hiện tượng phân biệtgiá mà chi là việcbán hàng hóa, dịchvụ với mức giá khôngtheo đúng giá trị thông thường cùa sản phẩm
Trang 15- Mục đích cùa hành vi là chiếmlĩnh thịtrường,hạn chế cạnhtranh đúng phápluật,gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp cùatổ chức,cá nhân kinh doanh khác, lợi íchcủa Nhà nước.Do đó,nếu chưa xác định được mụcđích củahành vi thì chưa thểkếtluậnDNđã bánphá giá hàng hóa, dịchvụ.
Khoản 1 và 2Điều 1 Pháplệnh giá quyđịnh: Pháp lệnh này quy định quản lý nhà nước vê giá và hoạt động về giá của tố chức, cá nhân hoạt động sàn xuất kinh doanh', vàPháp lệnh này áp dụng áp dụng đoi với to chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam [81, kl, 2 Đ 1] Cân cứ vào quyđịnh này, tác giả cho rằng cần phải làmrõ một số vấn đề liên quanđếnviệcáp dụng quyđịnh về bán phá giátrong Pháp lệnhgiá.(1) Văn bànnày chỉ giới hạnđối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhânhoạt động sản xuấtkinh doanh tại Việt Nam màkhông phânbiệt về nguồn gốc củahànghóa,dịch vụ, nên quy định về bán phá giá có thể áp dụng đối với sàn phẩmnội địa (đượcsản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam) vàsản phẩm nhập khẩu.Tuy nhiên,đối với hànghóanhập khẩu, các quy định vềbánphá giáchỉ điềuchỉnh hành vi tiêu thụ hàng hóa đó trên thị trường việt Nam mà không áp dụngđối với việc nhập khẩu chúng (2) với hàng hóa nhập khẩu, Pháplệnh giá được
áp dụng đốivới các tố chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh chúng tại Việt Nam đã
có hành vi bán hàng với mức giá quá thấpsovới giá thôngthường Do đó,việc bánphá giá hàng hóa vào Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ khôngchịu sự điều chỉnh cùaPháp lệnh giá năm 2004 Chì khi hàng hóađược lưu thông trên thịtrườngViệt Nam và người kinh doanh chúng cóhànhvibán hànghóa quă thấp so với giá thông thường thì các quy định về bánphá giá được ápdụng đềxữ lýngườithực hiện hànhvi (3) Theo Pháp lệnhgiá,việc chống bán phá giá là một trongnhững nộidung cùahoạt động quản lý nhà nước về giá, tuy nhiên, cóthể thấyrằng các quyđịnh
về chống bánphá giátrong văn bảnnày chủ yếunhằm thực hiệnchứcnăngquản lýcạnh tranh bằng cáchngàn chặnvà xừ lýhành vi hạnchếcạnhtranh về giá trên thịtrường Hành vibán phá giáđãđược Pháplệnh giá mô tà dưới gócnhìn của quan hệcạnh tranhtrên thị trường (hành vi có mục đích chiếmlĩnh thị trường, hạn chê cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp cùa tồ chức, cá nhân sàn
xuất, kinh doanh khác và lợi ích cùa Nhà nước).
Mặc dù Pháplệnh giá năm 2002 có giới hạnđiềuchỉnhnhư trên, songđây là vănbàn phápluật đầutiên đưa rakháiniệmbán phá giá hànghóa,dịch vụ Mặt khác,dovăn bànnày có thể áp dụng đối với hànghóanhập khẩu khi được lưu thông trên thịtrường ViệtNam nên việc áp dụng cácquy định về bánphá giá có những ànhhường
Trang 16nhấtđịnh đến quanhệ thương mạiquốc tế.Đánh giá về khái niệm này,chúngtôi cho rằngkháiniệm bán phá giá được ghi nhận trongpháplệnh giá đãbộclộ những hạn chế cả về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng Đồng thời, khái niệmnàycũngcho thấy những khác biệt đáng kếgiữa bán phá giá trong thương mại quốc te và trong quanhệ thươngmại nội địa,cụ thế:
Thử nhất, khi sử dụng giá thông thường cùa hàng hóa nhập khấu trên thị trường Việt Nam làm cơ sở đểxácđịnhhành vi, nhà làm luật đã quanniệmbánphá giá là việc
DN bánhànghóa,dịch vụ với giáthấp một cáchbất thường.Quanniệm nàyhoàntoàn không khôngthe ápdụng đối với hành vi kinh doanh hànghóa nhậpkhẩu trên thịtrường Việt Nam vàcũng khôngphù họp với chính sách và pháp luậtcạnh tranháp dụng chocác quan hệ cạnh tranh trongmột quốc gia.Với hàng hóanhập khẩu, chúng
ta không thể xácđịnh đượcgiá thông thường mà chỉ có thê xácđịnh đượcgiá xuất khẩuvà giá tiêu dùng cùa nó trênthịtrườngViệt Nam - vói tư cách làthị trường nhậpkhẩu Một khi chưa làm rõđượckhái niệm giá thông thường trên thị trườngViệt Namcủa hàng hóa nhậpkhấu thì chưa thế xácđịnhhànhvibán phá giá trên thực te Nếu sử dụng một giá trị nào đó trên thị trường Việt Nam làm giá thôngthường cho hàng hóa nhập khấuđểkết luận chúng bán phá giáthì việc sử dụng ấy chắcchắn tạoranhữngxung đột giữaViệt Nam và các nước có liên quan
Thứ hai, Trongpháp luật cạnhtranh có quyđịnh về hànhviđịnh giáhủy diệt(định giá cướp đoạt) Luậtcạnhtranh năm 2004 quyđịnh vềhành vibánhànghóa, cung ứngdịch vụvới mứcgiá thấp hơn giá thànhtoàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranhcùa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường,vị trí độc quyền để hạn chế cạnhtranh Tronglý thuyết cạnh tranh vàpháp luật cạnhtranh, có hai vấn đề cần lưu ý đối với hành vi này là (1) hành vi định giá hủy diệt chỉápdụngđốivới các doanhnghiệpthốnglĩnh hoặcdoanh nghiệpđộc quyền.Bởilẽ,các doanh nghiệp chỉcóthể loại bỏđối thủ cạnh tranh, gâyra hậu quả hạnchế cạnh tranh trên thịtrườngbằngviệc bánhàng hóa,dịch vụ dưới giá thành khi chúng khà năng chi phốithịtrườngbằngvị tríthống lĩnh hoặc độcquyền (2) Cơ sờ để xác địnhhành vi là giá bán và giá thành toàn
bộ củasảnphẩm Vì vậy, kháiniệmbánphá giátrong Pháp lệnh giá khôngphù hợpvới các nguyên lý căn bàn cùa pháp luậtcạnh tranhcà về chù thể áp'dụng và căn cứxácđịnh hành vi
Thứ ba,việc sử dụng mục đích chiếm đoạt thịtrường,gâyhạn chế cạnh tranh trên thị trường, gây thiệt hại chocáctổchức cá nhânkhác, gáy thiệt hạicho Nhà nước
là căn cứ xácđịnhhành vi chothấy cácnhà làm luật đãđánh đồng bán phá giá với
Trang 17hànhvi định giá hủy diệt đã đượcquyđịnhtrongphápluậtcạnh tranh Quan niệm nàycho thấysự khác biệt về cơ sởđe xácđịnh hành vibán phá giá trong thương mại nội địa và thương mại quốctế Trong thương mại quốc te, người thực hiện hành vi bán phágiá hànghóanhậpkhau làDN xuất khấu nướcngoài Việc truy tìmmụcđích thực sự củachủ thế bên ngoài lãnh thố củaquốc gia nhập khẩukhông thethực hiện được Vìvậy, chínhsách vàpháp luật thương mại quốc tế không sừ dụngmục đích làm căn cứ
đếxácđịnhhiệntượngbán phá giá mà sừ dụng thiệt hạivật chất do bán phá giá gây ralàm cơ sở để quyếtđịnh áp đụng biện pháp chống bán phá giáđối với hàng hóa nhậpkhẩu
Từ những nghiên cứu về hoàn cảnh xây dựng Pháplệnh giá, chúng tôi cho rằng cáchạnchế trong những quyđịnhvềbánphá giá trong vànbảnnàycó thể được lýgiải
từ cácnguyênnhânsau:
- ViệtNambiếtđenpháp luật chống bán phá giá khi các hàng hóa có xuất xứtừ Việt Nambị kiện bán phá giátại các nước khác Tính đến tháng 9 năm 2009,tổngsố
vụviệc phòngvệthương mại mà các nướcđiềutra đối với hànghóa xuấtxứ từ việt Nam là 37 vụ(chủ yếulà điều tra vềbán phágiá)trong khi chúng ta chưa từngđiều tra
về bán phá giá đốivới hàng hóa nhậpkhẩuvào Việt Nam Vì vậy, các nhàkhoa học,các cơ quannhà nước,cácDNđãdành nhiêu nỗ lực đế tìm kiếmcác giải pháp ứngphó với những vụ kiện chống bánphá giávới tư cách bị đơnhơnlà xây dựng cơchế
đê chù động khởikiệnhàng hóanước ngoài nhập khẩu bán phá giá vàothịtrườngViệt Nam Vớitâmlý đó,việc tiếp cận các quy định cùapháp luậtquốc tế và các quốc giakhác chù yếunhằm phụcvụ cho công tác kháng kiệnmà chưa có những nỗ lực cẩn thiết đe tiếp nhận những nguyên tắc và lýluận về phòng vệ quốc tế vàopháp luật ViệtNam (PLVN).Trong thậpniên1990,mộtsốnhà nghiên cứu còn đưa ranhữngquanđiểmsai lệchvề bán phá giá, ví dụ, trongsách tham khảoBán phá giá và biện pháp, chính sách chong bán phá giá hàng nhập khẩu,do Nxb Thống kê xuấtbản năm 1998, tác giả Đoàn Văn Trường lại đánh đồnghiệntượng bánphá giá hànghóanhập khẩuvới tình trạng hànghóa nhập lậu bán hàng giá thấp do khôngchịuthuế nhập khẩuvà khôngphân biệt bánphá giá hàng hóa nhập khẩuvới việchàng hóa đượccác doanhnghiệp có vốnđâu tư nướcngoài sản xuấttại Việt Nambánhàng hóa với giá quáthấp gây thiệt hại chocácdoanhnghiệptrong nước[72, tr 95-132],
- Chù trương về hộinhập kinhtế cùa Đảngvà Nhànước trongthời gian Pháp lệnh giá được xây dựng cóành hưởng nhấtđịnh đến quá trình nhậnthức vềpháp luậtchông bán phá giá Trong suốtthờigian dài từthậpniên 1990, chùtrương hội nhập
Trang 18của Việt Namchủ yếu tập trung vàonhiệm vụ đấy mạnh xuất khấu Việc phát triển ngành sảnxuất nội địa chú trọngđến nhiệm vụ xâydựng những ngành kinhtế mũi nhọn, những mặt hàng chiến lược cho xuất khẩu Nghị quyết 01/NQ-TW cùa BộChính trịngày 18 tháng 11 năm 1996 về mở rộng và nâng cao hiệuquả kinhte đốingoại đã chì rõ 4 phương hướng phát triển kinhtế đối ngoạicho giai đoạn1996 -2000,trong đó, tăng cường xuất khấu là chiến lượctrọngđiểm của kinhtế đối ngoại Việcpháttriển các ngànhkinhtế mũi nhọn đápứngchonhucầu xuất khẩu tậptrung vàocác nhiệm vụ đầu tư, nghiêncứu,phát triểnkỹ thuật, nguồnnhân lựccó tay nghề cao,kinh tê tri thức mà chưa có những quantâm thích đáng mangtính chỉ đạo cho việc
sử dụng các côngcụ bảo hộđược phápluậtquốc tế thừa nhận trong thươngmại quốc
tê Vì thế, cho dù vẫn là nước nhập siêu, song cácchủtrương phát triển ngoại thươngchưadành nhiêu sự quan tâm đến cáctác động của dòng hàng hóa nhập khẩu, đen sự pháttriến của thị trườngvàcủa các ngành kinh tếnội địa.Tìnhtrạngnàyđã có tác động không nhỏ đến tháiđộ chù động haythụ động củaDN, cùacác cơ quan Nhànước và của các nhà khoa học về khảnăng áp dụng pháp luật chống bán phá giánóiriêng và pháp luật về bảo hộ thương mại nói chung Trong 15nămđẩu xâydựng kinh
tế thị trường, chếđịnh về phòng vệthương mạichưa được đầu tư nghiên cứu và xâydựng tại Việt Nam Quyđịnhvêbánphá giá trongLuậtthương mại năm 1997 và Pháplệnh giáchỉ là những quyđịnhđơnlẻtrongpháp luật thươngmại vàchếđịnh vềquản
lý giá mà chưa trờ thành một chế địnhpháp luậtriêng biệt Với chủtrươngvà tìnhtrạngpháp luật như trên, việc nghiên cứukhôngđẩy đủ vàtoàn diện về bánphá giá là tấtyểu
- Điều kiện xây dựngthịtrường của Việt Nam là một trong những yếutốlàm hạn chếkhả năng tiếp cận cácchuẩn mực luật phápvàkinh doanh quốctế.Chúngta xây dựng thị trường vàthực hiệnchủ trương hội nhập kinh tế từ những thànhtựu và thất bại của mô hình kinhtế kếhoạch hóa tập trung Thị trườngđược xâydựngtrongbối cành những phương thức, con người quảnlýcủacơchế kế hoạch hóa,thói quenvà lối mòn trong nhận thức về vai trò chi huy kinh tế của nhànước vẫn còn tồn tại.Những yếu kém trongnhận thứcvà sự bào thủtrong tư duykhông chỉ xâmhại đếnsự
tựdo cùa thịtrường, làmcho những thay đổi trong cácchính sách vĩ mô trở thành tuyên ngôn không có giá trị thực tếmà còn càn trở quá trình tiếpthu, vận dụng nhữngnguyênlý và luậtpháp cùa thương mại quốc tế vào phát triển đấtnước Quy địnhvề bánphá giá trongPháplệnh giá là kết quàcủasự nóng vộicầncóphápluật về bánphá giá trong khi cònhạn chế trong nhận thức về vấn đề này
Trang 19Quan niệm thứ hai về bánphá giá được các nhàlàmluật ghi nhậntrongPháp lệnhchống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vàoViệt Namnăm 2004 Theo đó, hàng
hoá có xuăt xứ từ nước hoặc vùng lãnh tho bị coi là bán phá giá khi nhập khấu vào Việt Nam nếu hàng hoá đó được bán với giá thấp hơn giá ựị thông thường Giá trị
thông thường cùa hàng hóa nhập khấu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được
cùa hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa cùa nưởc hoặc vùng lãnh thô xuât khâu theo các điều kiện thương mại thông thường[83, kl đ3J
So sánhvới kháiniệm bán phá giátrong Pháp lệnh giá năm2002, có thể nhận thấyrằng đã có những thay đổicơbàn trong cácquy định của pháp luật về hiệntượng này:
Một là, giá chuân được sừ dụngxác định về việc bán phá giá làgiá thông thường của sàn phấm tương tự trên thị trường xuất khau mà không là giá thông thường trên thịtrường ViệtNamnhư quy định trong Pháp lệnh giá Sẽ không có hiệntượng bán phágiánếu giá xuấtkhẩu cùa hànghóa nhập khẩu vàoViệt Nam không thấp hơn giá bán cùa sản phẩm tương tự trên thị trường xuấtkhẩu cho dùcóthấp hơn giá của sànphẩmcạnhtranh được sàn xuất tạiViệt Nam Mặt khác,bán phá giá khôngphảilà hiện tượng cácdoanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa với mức giágây lỗ nên cơ quan có thẩm quyền sẽ khôngso sánh giá xuất khẩuvớigiáthành sàn xuất cùa hànghóa bịđiều tra Bán phá giá đơn giàn chỉlà hiện tượng phân biệt giáquốc tế, có nghĩa là cùngmộtloại hàng hóa nhưnhauđượctiêu thụở hai thị trường(bao gồmthị trường nước xuất khấu vàthị trường Việt Nam) với những mứcgiákhác nhau một cách bất thường Sự bất thường của hành vi phânbiệtgiá là giá bán vào thị trường nhập khâu thấp hơn giá bán trên thị trường xuất khâu
Hai là, thiệt hại của các tồ chức, cá nhân kinh doanh ViệtNam(ngành sảnxuất nộiđịa) do bán phá giá gây ra khônglà căn cứxác định hiện tượng bán phá giá
màlàmột trongcác điều kiện để áp dụng biện pháp chống bánphá giá Cách tiếpcậnnày phù hợp với quan niệmtruyền thống về bán phágiá và tương thích vớinhững quy địnhtươngtúng trong ADA Khi tách thiệt hại vậtchất ra khỏi kháiniệm bán phágiá thì nội dung điều tra một vụ việc sẽ luôncó hai phẩn cơ bản là điều travể hiện tượng bán phágiá và điểu tra về thiệthạivật chấtcùa ngànhsảnxuất nội địa
Dưới góc độ lịch sử, haikhái niệm khác nhau vềbánphá giá trong hệthongPLVN hiệnnay phản ánh quá trình nhận thức của cácnhà làm luật về chống bán phá giá Tronggiai đoạn đầu, nhà làm luật chưa tiếpnhận một cáchnghiêmtúc các
Trang 20nguyên lý của thương mại quốc tế và các chuấnmực pháp lý quốc têvê vân đê này, chưa xác định mộtcách chínhxác ranh giớivà mối quanhệ giữa các lĩnh vực phápluậtnhư phápluật cạnhtranh, pháp luậtquảnlý giá,pháp luật chốngbán phá giá
Vì vậy, quan niệm vềbán phá giá được ghi nhận trong Pháp Ịệnh giá còn sơ khai và không cógiá trị thực thi Trong giai đoạnthứ hai, khivấnđề chống bán phá giáđượcnghiên cứu nghiêm túc vànhucầu xây dựng che định phápluật về vấn đềnày này đanglà yêucầucần thiết phục vụ cho công tácđàmphán và thamgiatổ chứcthương mại thế giới thì nhà làm luật Việt Namđã tiếp nhận khá đầyđùnhững nguyên lý của pháp luật chống bán phágiá đê xây dựng nên Pháp lệnh chốngbánphá giá hàng hóa nhậpkhẩu Khái niệm bánphá giá đượcghi nhận trong vãnbànphápluậtnày không phảnánh nhậnthức riêng cócùa nhà làm luậtViệt Nammà làkét quà cùa quá trình tiếp nhận pháp luật WTO vào pháp luậtnội địa
Quá trình tiếp nhận pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu có những đặcthù vàcó những ành hưởng nhấtđịnh đến nhận thức của Việt Namvề kháiniệm bán phá giá vàpháp luật chống bán phá giá Nhữngảnh hưởng đó bao gồm:
Thứ nhất,nhà làm luật Việt Nam đã tiếp thu một cách thụ động kháiniệm bán phá giá đã được ghi nhận trongpháp luật WTO Qua hơn một thế kỷ phát triển (tính từnăm 1904)3, pháp luật chống bán phá giá đã ưở thành khungpháp lý cho thương mại toàncầu bằng ĐiềuVI cùa GATT 1947và ADA.Với nguyên tắc luật quốc gia củacácnước thành viênphải phù hợp vớicác hiệp định của WTO,khái niệmbán phá giáđượcghinhận trong ADA đã trở thành chuẩn mực pháp lý cho pháp luật cùa các nước thànhviênWTO.Do đó, kinh nghiệm cho thấy, các đạo luật về chong bán phá giá cùa các nước thường lặp lại tất cà các nguyên tắc của Hiệp định chong bán phá giá, thậm chí
lấy lại nguyên văn Hiệp định trong trường hợp nhiều nước chỉ mới ban hành luật này sau khi gia nhập WTO [47, tr 19] Việc đưa ra khái niệmpháplý chuẩn về bán phá giákhôngphái làviệc khó khănđốivới nhàlàmluật Việt Nam Tuynhiên, Phápluậtcùa WTO chỉ quy định kháiniệm và những căn cứ đế xác định hiện tượng hàng hóa nhậpkhấu bánphágiá Cácvấn đềvề phương pháp xác định, cáchthức tính toáncác yếu tố cấu thành hiện tượng bán phá giá sẽ do pháp luật quốc gia quy định Như vậy, sự tươngthích về kháiniệm khôngcónghĩa là phương thứctính toán và quy trình điều traviệcbán phá giá cùa hànghóanhậpkhẩu phải đồngnhất Các phương thức để tính toán giá thông thường, giá xuất khẩu, biên độ phá giá có thể có những khác biệt nhất định giữa cácnước thành viên cùa WTO Dođó,đặc trưngtrong phấp luật chốngbán
Trang 21phá giá cùa từng quốc gia không thể hiệnở cáckháiniệm mà ở những đặc thù trongquy trình và cách thức điêu tra một vụ việcbánphá giá.
Hiện nay, vấnđề hoàn thiệnpháp luật chống bán phágiá đang là một trong nhữngnội dung đấu tranh giữa hai nhóm quốc gia pháttriển vàđang phát triểntại cáccuộc đàm phán về tự dohóa thương mại TrongHội nghị Bộ trưởng WTO tại Seattle năm 1999, các nướcnghèo đòi hỏi sửa đổi, củng cố các điều khoản trongkhung pháp luật về chống bán phá giá đe tránh lạm dụng và yêucầuxác lập một chế độ đặcbiệtđế
hỗtrợ họ Tại đoạn 28 cùa Tuyên bo Doha cấp Bộ trưởng, các nước nhất trí rangviệcđàm phán nên làm rõ và hoànthiệncác quy địnhtrongADA Trong suốt thờigiandiễn
ra Hội nghị Bộ trưởng WTO tạiDoha, chống bánphá giá bị nhìnnhậnnhư một vấnđề gây chia rẽ giữa một bên làcác nước đangpháttriển với mộtbênlà các nước côngnghiệp phát triển khác [47, tr 20-21], Cuộctranh luận giữa các nước không tập trung vào kháiniệmbán phá giá mà vềcách thứcđiều tra để xác địnhviệc bán phá giá Nóitómlại, trong bối cảnh pháp luật chong bánphá giá đã được quốc tế hóa thìsẽ không còn những tranh cãi giữa các quốc gia vàcác nhàkhoa học về khái niệmbán phá giá
Sự khác nhau chì còn làcác phưong tiện kỹ thuật và phương phápđểxácđịnhcáccăn
cứpháp lý cùahiệntượngbánphá
Thứ hai, trình độ phát triền khác nhau giữacác nước gâyra những hạn chế và khó khăn trong nhận thức về tự do hoáthương mại nói chungvà bánphá giá nói riêng.Trong quá trình phát triền củapháp luậtchống bánphá giá của WTO, cóhai vấnđề được đặt ra:
(1)Ánh hường củaphápluật chống bán phá giá củacác nước phát triển (đặc biệt
là HoaKỳ) đến pháp luật chống bánphá giá củaWTO.Vớiưu thế về vốn,trình độcông nghệ, thị trường,các nước tư bảnphát triển và các tập đoàn tư bàn xuyênquốcgia đang chi phôi toàncầu hóa [90, tr 82], Các lực lượng nàyluôncó xu hướng áp đặtnhững chuẩnmựccho tự do thương mại vàthiếtlập các biện pháp pháp lý và kinh tế
để bàovệ nó.Mặc dù khungkhổpháp lý của các tồ chức thương mại quốc tế làkếtquàđàm phángiữa các nước thànhviên, song thực tế cho thấy,sự ảnh hưởng từ phápluật cùacác nước phát triểnđenpháp luật thương mại quốctếlà khá lớn Trong đó, khái niệmbánphá giáđược ghi nhậntrong ADA chỉ là sự lặp lại quan niệm về bán phá giá đã được các nước phát triền ghi nhận trong pháp luật của họ trước đó Nóicáchkhác, pháp luậtcùa WTO (trong đó có khái niệm bán phá giá) đượcxây dựng từ những nguyên lý thương mại -pháp lý cùa các nướcpháttriển Với kinhnghiệm của mình, các quốcgia pháttriển luôn tạora nhữngkhoảngtrống tinh vi trong kháiniệm
Trang 22trên bằng việc đưa ra nhữngcăn cứ pháp lý cótính định tính và luôn có ngoại lệ như giá trị thôngthường,điềukiện thương mại thông thường, giácó thề sosánhđược vớimục đích có thể sử dụng linh hoạt trong các tranh chấp quốctế Các khoảng trốngnàythườngbị lạmdụng để bảohộ ngành sảnxuất trongnước trướcáp lực cạnh tranh
từhàng hóa nhập khẩu (ngay cả khi ưu thế cạnh tranhcủahànghóa nhậpkhấu có được
từ lợi thế so sánh) Đẻ có thể pháthiệnvàkhai thác triệt đểnhững khoảng trống pháp
lý nhằm bảo hộ nền kinh tế trongnước, các cơ quancóthẩm quyền vànhững ngườithựcthipháp luật cần am hiểu sâu sắcpháp luật và dày dạnkinhnghiệm trongviệc điều travàxử lý vụ việc Các nướctham gia vào WTOkhikhung pháp luậtvề chống bán phá giá đã ổn địnhnhưViệtNam thường bị buộc phải tiếpnhận những nguyên tắc sẵn có như điều kiệnđểtrở thànhthành viên của tồchức này Chúngtacó thểxâydựng một đạo luật vớinhững nguyêntắc và những khái niệm pháp lýhiệnđại, phùhọp với chuẩn mựcquốc tế ngay cả khi nhận thức về bánphá giá và chống bánphá giáchưa thực sựđầy đủvà toàndiện Trong bối cảnh ấy,việc khaithác cáckhoảng trốngtrong pháp luật chống bán phágiánóichung và trong các căncứ cấu thành nên khái niệmbánphá giá không đơn giản
(2) Các chuẩn mực của tự do thương mại là những điểm nối kết thương mại của toàn cầu hóa màbấtcứ quốcgianào khi muốn tham gia phảiđáp ứng Cácquốc giađang phát triền hoặc đang trongdanh sách những nước nghèovì bị hạnchế về nhậnthức và có vị thế thấp phải chấp nhận những tiêuchuẩncùa toàn cẩu hoáđã đượccácnước pháttriển đặt ra Các quốc gia đi sau (trong đó cóViệt Nam) với quanniệm đi tắt đónđầu luôn có mongmuốn tận dụng mọi cơ hội của toàncầuhóa đểpháttriển cho
dù cácđiêukiện vềnhậnthức và vật chất chưađược chuẩn bịchuđáo Sauhơn 20năm đối mới cơ chế quản lý kinh tế,Việt Namđãhoànthành cơ bản chiến lượchội nhập về mặt tổ chức.Cũng trong thời gian đó,đềđáp ứng những điềukiệncho việcgia nhập vào thịtrường chung, chúng ta phải tiếp thu khốilượngquá lớnvềcác tiêuchuẩn pháp lý - kinh tế của thương mại quốctế mà phápluật chống bán phá giá làđiển hình Cho dù có khả nănglĩnh hộithì chúng ta cũngkhông đù thời gian để hiểucặnkẽ tất cà các nội dung củaADA Việc xây dựng pháp luật chống bán phá giá đôi khi chỉ
là nghĩa vụ đế đàmbảo tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tếdiễn ra theo đúng lộ trình đãđặt ra Vì thế, nội dung cùaPháp lệnh chống bánphá giá chì là sự tiếp thu các nội dung cơbảncủa ADA,luật mẫuvề chống bánphágiá của WTO mà chưa khai thác được quyềnsáng tạo trongphạmvichophépcủa cácđịnhchếquốctế
Từ những phântích trên, tác giàcó mộtsố kết luậnbanđầu như sau:
Trang 231 Các quan điểmvềkháiniệm bán phá giá trong khoa học pháp lý và trongthươngmại quốc tế đều thống nhất rằngbán phá giá là hiện tượng phân biệt giá quắc
té.Nhàlàm luật củacácnước tiênphong đã ứngdụng và phát triền quanniệm về bán phá giá trong cáclý thuyết thương mại quốc tế để xây dựng nêncấu thành pháplýcủa hiệntượngbán phágiá
2 Phá giá với tư cách là một vấn để thương mại tần tại trong một thời gian dài,
nhưng phá giá chỉ trở thành vấn đề trong chính sách thương mại quắc tế sau chiến
tranh thế giới lần thứ nhất và đặc biệt trong thời kỳ đại khủng hoảng của những năm
30[35, tr 69] Chốngbánphá giá đã trở thànhmột nộidung trong khung pháplý quốc
tế bangsự ghi nhận cùaĐiều VI GATT 1947 và sự ra đời cùaADA năm 1994 Hiệnnay, trongkhoahọc pháplý không có những mâuthuẫnhay xung độtvề khái niệm bánphágiá Phápluậtcủa WTO đãưở thànhchuẩnmực chung cho phápluật của cácnước và là căn cứ pháplýcơ bàn cho các nghiêncứutrong khoa họcpháplývềvấn đề này Sự khác biệt trong pháp luậtcủacác nướcchủ yếulà cách thứctính toánnhững yếutốcấu thành nên hiệntượngbánphá giá
3.Khái niệm bánphá giá đã khang định những quanniệmđánh đồng bán phá giávới hiệntượng bánhànghóathấp hơn chi phí sản xuấtlàsai vàcũng là cơ sở để phânbiệt bán phá giá với việc chínhphủ của cácquốc giatrợ cấp xuất khấu trái với thông lệchung Tác động cùa việc bán phágiávà cùa trợ cấp xuấtkhấu tới thịtrường nhậpkhấu có thềlà giống nhau songbán phágiá đượcgiả thiết làhành vi của DN nước ngoài phânbiệtđoi xử về giá và các doanh nghiệpnàysử dụng chínhnguồn lực cùa mình để trợ giá Ngược lại, trợ cấp được già thiết làviệc chính phủ trực tiếp hoặc gián tiếpthanh toáncác khoản trợ giá xuất khẩu cho các DN
4.TạiViệt Nam, cácnhà làmluật có những thay đổitrong quanniệm về bánphá giá Những thay đồi đó được phảnánhquasự ra đờicùa hai vănbảnpháp luật làPháp lệnh giá được banhànhnăm 2002 và Pháplệnh chống bánphá giáhàng hóanhậpkhẩu vào Việt Nam được banhànhnăm2004 Khái niệmbán phágiá trongPháplệnhchống bánphá giá hànghóa nhập khẩu được đánh giá là hoàn chỉnh vàphùhợpvớipháp luậtWT0
1.1.2 Tác động cũabán phá giá hàng hóa nhập khấu đối với thịtrườngnhập khấuTác động cùahiện tượng bánphá giá được nhìn nhậncàgóc độ tích cựcvà tiêu cực bangviệc phântích ảnhhưởng cùa nó đối với lợi ích củangườitiêu dùng, nhà sản xuất cóliên quan và các DN kinh doanh sàn phẩm cạnhtranhnội địa
Trang 24Việc hàng hóa nhập khâu bán phá giá có những ảnh hưởng đáng kê đên người tiêu dùng cùa nước nhập khấu cà trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngan hạn,việc bán phá giá đãtối đa hóa lợi ích cho ngườitiêu dùngvìhọ có cơ hội mua đượchàng hóanhập khẩugiá rẻ.Với tâm lý vị lợi, ngườitiêu dùng luôncóxuhướng lựa chọnhàng hóaphù hợp với nhucâu sử dụng ở mức giáthấp nhất có the Sựxuấthiện củahàng hóa nhập khẩu phá giá trên thị trườngđã làm tăng khả năng thỏa mãn nhucầucủahọ Phân tích thị trường trong trạngthái tĩnh, dùng phương pháp nhân
độthỏa dụng củatừng cá nhânthành độ thỏa dụng cùa cà thị trường, có thể thấy, hiện tượng bán phágiá có khả năng làm tăng thặng dư tiêu dùngtại nước nhập khấu Với nguyên tắc, trong kinh tế thị trường, lượng hàng hóa người ta mua phụ thuộc vào giá cả của nó [55, tr 102], hiện tượngbán phá giá của hàng hóa nhập khấu có the là độnglựckíchthích tiêu dùng Theo đó, bằng việc tốiđa hóa độ thỏadụngchongườitiêu dùng, hàng hóanhập khấu phá giá tác độngđến nhucầucùa người tiêu dùngqua hiệu ứngthunhập Tronggiáo trình Kinhtế học tập 1, hai nhà kinhtếhọc Paul A Samuelson - Wiliam D Nordhalls khắng định rằng hiệu ứng thu
nhập phán ánh tác động cùa sự thay đối giá cà đến lượng cẩu của hàng hóa bằng
cách làm tăng hoặc giảm thu nhập thực tế của người tiêu dùng [55,tr 178] Một khigiá củahàng hóa có xu hướnggiảm, sẽ làm tăng hiệu ứng thu nhập củangười tiêudùng, từ đó tăng lượng tiêu thụ hàng hóa Ngoài ra, việcbán phá giá hànghóanhậpkhẩu còn làmtăng mức độ cạnh tranh trên thị trường Việc hàng hóa nhập khấu phá giá với giá bánrèhơn so với hànghóanội địa đã tạora sức épcho ngànhsàn xuấtnội địa trong việctìm phương cách nâng cao khảnăng cạnhtranh theonguyên tắc giá cả là tín hiệu đồi với người sán xuất và người tiêu dùng. Khi hàng hóa nhậpkhẩucó giá rẻ hơn,hànghóa nội địa trờ thành mặt hàng có giá cao tươngdối Với sự tácđộng cùahiệu ứngthay thế, người tiêu dùngcó xu hướng dùng hàng hóa nhập khau vớigiá rẻ hơnđế thỏa mãnnhu câu cùa mình và đẩycácDN nội địavào tình trạnghoặc tìm cáchgiảmchi phí để tăng khà năngcạnhtranhvềgiá, hoặc mất kháchhàng.Mứccạnhtranhtăng sẽ có tác dụng làm giảmsức ỳ của các DN nội địa, làmgiảm khảnăng bóclột khách hàng của các DN nội địavới giàthiếtrằng trước khi có hiện tượng bán phá giá cùa hàng hóa nhập khẩu, các DN này đang
có vịtrí độc quyền
Trongdài hạn, quyền lợi của người tiêudùng cóthểbị xâm hại nếuDN nướcngoàibán phá giá hàng hóa đethực hiện chiến lược chiến đoạt thị trường bằng cách định giá hủy diệt ngành sản xuấttrong nước Mặc dù bán phá giáđem lại lợi ích
Trang 25cho người tiêu dùng ở hiện tại,song khi đãchiếm đoạt được thị trường nhậpkhấu, giá của hànghóa nhập khẩusẽ tăng vọt trongtươnglai đểcác DN lấy lạinhữnggì
đã mất từ việc phágiá Người tiêu dùng lạitrởthành nạnnhâncùa mức giá độcquyên do các DN nướcngoài ấn định Sự suy đoán vêkhả nặng giá tăng trong tươnglaihoặcsàn lượnghàng hóanhập khẩu sẽ giảmđể chi phốicungcầulà mộttrong những căn cứđề kết luận về bản chất hạnchế cạnh tranhcùa hành vi bán phágiá có mục đích cướp đoạt thị trường[60, tr 59 - 60]
Tác động cùa bán phá giá đối với các DN có liên quan tại nước nhập khẩu
Các DN có liên quan được xác địnhlànhữngDNcủa nước nhập khẩu hoạt động ởngànhsản xuât khác có sừ dụng hàng hóa nhập khấu làmnguyênliệu sản xuất Khihànghóa nhậpkhấu bánphágiá, các DNnói trên có được nguồn nguyên liệu rè để sản xuât,kinh doanh, từđó góp phần thúc đẩy tăng trưởng chongành sản xuấtmà
họhoạt động
Tác động của bán phá giá đến ngành sàn xuất nội địa kinh doanh sàn phẩm
cạnh tranh với hàng hóa nhập khấu (gọi tắt là ngành sản xuất nội địa hoặc DN sán xuất nội địa).Tácđộngtiêu cực củabán phá giá hàng hóanhậpkhauchù yếu đượcchứng minh bằng những thiệt hạimà ngành sản xuất nội địa phải gánhchịu Các
DN sàn xuất nội địa vàngười lao động trongcác DN này là nạn nhàn thực tếvà trực tiếp của việc hàng hóa nhập khấubánphá giá Neu mức phágiá làm giá cạnh tranh cùa sàn phấmnhập khâu thấp hơn chi phí sản xuất của hàng hóa nội địa, DNnội địa sẽbị đẩyvào tình trạng cạnh tranhkhônglốithoát,hoặc chịu lỗđểchạyđua theo mứcgiá phá giá, hoặc mấtkhách hàng.Trong trường hợp mức phá giá làm giácạnh tranhcùahàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá bán hiện tại nhưngkhông thấp hơn chi phí sàn xuất của hàng hóa nội địa thì thiệthại mà ngành sản xuất nội địa phải chịu là sựsuy giảm lợi nhuận, suy giảmlợi tức đầu tư Tuy nhiên, trong trườnghợpnày có hai khảnăng trái ngược nhau xảyra:
Thứ nhất, việc suy giảmlợi nhuận của ngành sản xuất nội địa làcần thiết cho lợiích chung cùa thịtrườngnướcnhậpkhẩu do các DN nội địađang chi phối thị trường Hàng hóa nội địa đang được bánvới mức giá độc quyền nên việc bán phá giá củahàng hóa nhậpkhâu có thêgiải phóng khách hàng khỏi tình trạng bị bóc lộtcho dù gây thiệt hại cho ngànhsànxuất nội địa
Thứ hai, sự suy giảm lợi nhuận làm giảm tính hấp dẫn về đầu tư cùa thịtrường nội địa Khi mức phá giá đẩy mặt bằng giá hàng hóa cạnh tranh với hànghóa nhậpkhẩu trên thị trường nhập khẩu xuống gần bằng chi phi phí bình quân (giá
Trang 26thành cùa hàng hóa) sẽ làm giảm khả năng có lợi nhuận xuống mức tối thiểu.Đương nhiên, sức hấp dẫn các nguồn vốn đầu tư vào ngành sản xuất nội địa sẽ giảmcho dù việc bán phá giá không đủ để loạibỏ các DNđang hoạt động.
Như vậy, việcbán phá giá củahàng hóa nhậpkhẩu vừa.có những tác độngtích cực, vừa có tác độngtiêucựccho thị trườngcủanước nhập khấu Vì thể, khitiến hành xừ lý hành vi phágiá, Nhà nước bị đặt vàotình trạng phải giãi quyết xung đột giữa quyền lợicủa người tiêu dùng đang được thụhưởng (hiện tại đang
mua được hàng hoá giá ré) vàlợi ích cùa nhà sàn xuấttrong nước(phải hạ giá thành đế có thế cạnh tranh với hàng hoá đang phá giá, và việc mất dẩn thị phán của họ). Vấn đề là Nhà nước phải lựachọn lợiích cơ bản cần được bảo vệ.Đôi khi, trong các vụ việc chống bán phá giá,các lực lượng thịtrườngvói lợiích đối lậpluônđấu tranh với nhauvà tạora những áp lực không nhỏ để buộc cơ quan có thẩm quyềnđưa ra cácquyết sách phù hợp với lợi ích củahọ
1.2 CơSỞKINHTÉ- PHÁP LÝ CHOVIỆCXÁC ĐỊNH BẢN CHẤT CỦABÁNPHÁ GIÁ HÀNGHÓA NHẬP KHẤU
Trong quá trình phát triểncủa pháp luậtchống bán phá giá tại các nước pháttriền, quanniệm vềsự không lành mạnhcùabán phá giá hàng hóa nhậpkhẩuđã có
sự thay đổi Vàothời sơ khai, các nhà kinh tế đã cảnhbáo vói các nhà lập pháprang việchàng hóa nhập khẩubán phá giá là nguy hại bời chúng cản trờ việchình thành ngành sản xuất nội địa hoặc tiêu diệt đối thù Trong cuốn sách Hệ thốngthương mại thế giới,tác giảJohn H Jacksonđã tríchdẫn nhữngghinhậncùanhà kinh tế học người Canada JacobViner vềnhữngtuyên bố của Alexander Hamilton
trong các cuộc tranh luận tại Mỹ vào năm 1791, cành báo về các thủ pháp cùa các
đôi thù cạnh tranh bán hạ giá tại các nước khác nham vô hiệu hóa những no lực
đâu tiên đê đưa (một DN) vào một lãnh vực mới bằng những hy sinh tạm thời,
được đên bù, có thê băng những khoản bồi thường rất lớn của chính phù nước đó [44, tr 347].Do đó, đãcó quan điểm cho rằng việc bán phá giá hàng hóa nhậpkhẩu làkhông lành mạnhbời nó là hành vi định giá hủy diệt (Predatory pricing) Hiệnnay,bánphá giá lạiđượcnhìn nhậnlà hành vi phânbiệt giá quốctếvà chỉ bị
xử lý nêu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệthại cho ngành sản xuất của nướcnhập khẩu [35, tr 198],Sự thay đổi trên đãdẫnđếnnhững thay đổi trong cấuthành pháp
lý của kháiniệmbán phá giá Nhiều nguyên lý trong kinh tế học đãđượcsử dụng
để xácđịnh bànchat pháp lý vàcấu thành pháp lý củaviệcbánphá giá bao gồmlý thuyếtvềhànhviđịnh giáhùy diệt (còn gọilà định giá cướpđoạt), cácnguyên lý
Trang 27của thương mại tự dovà lý thuyết về hành vi phân biệt giá.Các lý thuyết nàyđược
sử dụng để lý giảicơ chế hình thành việcbán phá giá,đặtra cơ sở pháp lý - kinh tê
để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và xác định giới hạn cùaviệc xử lýcáchànhvi bán phá giá trong thươngmạiquốc tế
1.2.1 Bán phá giá được hìnhthành trong môi trườngcủathương mại tự doQuá trìnhtoàn cầu hoá kinh tếvớisự ra đời cùa nhiều tổ chức kinh tế quôctế
và hình thànhnên nhiều vùng thịtrườngkhu vựcvà quốctế rộng lớn thôngquaviệcxoá bò cácrào cản thuế quan vàphi thuế quan Quan hệthương mại quốc tế được biểu hiện thông qua sựdịchchuyển các giátrị thương mại dướihình thức hànghoá hoặcdịchvụgiữathị trường cùacác nước vớinhau dựatrên quy chếTối huệquốc(MFN) và quy chế Đãingộ quốcgia(NT). Hai quy chếnày đảmbảo cho nguyêntắctự do vàbình đắng thựcsựphát huyđược hiệuquả trong thương mạiquốc tế cũngnhư bảođàmcho hàng hoá đượclưu thông một cáchtựdo trên tinhthần không phân biệt đối xử.Thươngmại tự do tấtyếu làm phát sinh môi trườngcạnh tranh quốctế.Cuộccạnh tranhquốctế diễnrabằng sựphát huyvà phối hợp lợi the so sánhcủa các quốc gia.Đe có thể tồntại, cácnướccầncóđược những ngành kinhtếmũi nhọn, cólợi the so sánh để tranhgiành cơ hội phát triển Đồng thời, quá trình lưuchuyển tự do của thương mạisẽ đưa đến chongười tiêu dùngcủa mọi quôc gia những sảnphấmcóchấtlượng với giá tối ưu
Tiên trình cắt giàm thuế quanvà xóabỏ cáchàng rào phi thuế quan trong các cam kết thương mại quốc tế, các ràocản từchiphí vận chuyển ngày càng bị xóa mờ; sự phát triển củathông tinliên lạcđãlàm chosự cạnh tranh giữa sàn phẩm nộiđịa và sảnphẩm nhập khẩu,giữa các sản phẩm nhập khẩu với nhau ngày cànggay gắt Cạnh tranh quốctế được xem như động lựcquan trọng cho sựphát triền cùa các dòng thương mại Tuy nhiên, cạnhtranh sẽchỉ trở thành độnglựcphát triển khicác nguyênlý vận hành cùa thương mại tự do được Nhà nướcvà DNcủa các quốc giatôn trọng Nhà nước không chi giảm thiểu đến mức thấp nhất sự can thiệp vào các dòng thương mại mà còn không được dùngcácbiệnpháp kinh tế nhưtài trợ bấtchính đê làm méomótương quan cạnhtranh trên thịtrường quốc tế Các DNcần tôn trọng các nguyêntăc vê cạnhtranh công bằng, bình đẳng Trong quan hệ cạnhtranh, cạnh tranhvề giá cả đề tranh giành khách hàng luôn được coi là nội dungquan trọngđược phápluật cạnh tranh cùacác quốc gia và các chính sách cạnh tranhtrong thương mại quốc tế quantâm
Trang 28Khi môi trường cạnhtranhđược hình thành và sự can thiệp cùanhà nướcgiảm đi, tấtyếu sẽ xuất hiệnkhuynh hướng lạmdụng tự do đề cạnh tranhkhông lành mạnh hoặc hạn chếcạnh tranh mà tiêu biểu là hiện tượng bán phá giá củahàng hóa nhập khau Sự thúc giục củalợi nhuận, của nhu cầu bành trướng thị phầnvàbăng khảnăng sángtạo, các DN luôncó xuhướng thực hiện những hành vi cạnhtranh bất chính nhằm loạibỏ đối thủhoặc chiếm đoạt thị phần.
Nhưvậy, bàn chất cạnh tranhkhông lành mạnh của hành vi bán phágiá được nhìnnhận dưới góc độ của lý thuyết về tự do hóathươngmại là sự lạm dụng tựdo
đếxâm hại đếnthươngmại tựdo bằng cách tranhgiành thị trườngcủa các đốithú cạnhtranh, cụ thể là các DNcạnh tranh nội địa Sự suy giảm của ngành sản xuất nội địaở hiện tại hoặc tươnglai do bán phá giágây ra là bằng chứng chứngminh rằng quốc gia nhậpkhẩu đã bịcàntrở khả năng phát triểnlợi thế sosánh Việc áp dụng cácbiện pháp chống bănphá giá được đặtra nhằm bào vệ thươngmại tự do, bảo vệ lợi the so sánh cùa quốc gia nhập khẩu đang bị đe dọa bởi hànhvibánphá giá hànghóa nhập khấu
Với tưcách là hiện tượng xảy ratronggiao thương quốc tế, hànhvibán phágiá và các lýthuyết về nó chịu ảnh hườngtừ những đặcthùcủa thương mạiquốc
tế Nhữngảnh hưởng nàyđược phân tíchdưới hai góc độ
Thứ nhất, thương mại quốc tề có hai đặc diêm quan trọng tạo nên sự khác biệt với thương mại trong nước cùa bất cứ quốc gia nào Trước hết, mỗi nước đểu có
đơn vị tiền tệ riêng cùa mình Nhà sản xuất ở bất cứ nước nào đều muốn được trà
liền cho hàng hóa, dịch vụ mình sàn xuất ra bằng tiền của nước đó và người mua
cũng muốn sừ dụng tiền tệ của nước mình đế trà cho hàng hóa và dịch vụ mà họ muốn sử dụng Sau nữa, chủ nghĩa dân tộc và các mục tiêu chính trị luôn được đưa vào trong các mối quan hệ giữa các quốc gia [34, tr 425-426] Hai đặcđiềm trên của thươngmại quốcte đã làm phátsinh những tranh luận về bản chất bất chính củahànhvi bán phá giá Ngoài những quan điềm truyền thống cho rằng bán phá giá
làsự lạm dụng tự dothương mại đe thực hiện mục đích chiếmđoạt thị trường, còn
có quanđiềm cho rằng phá giáxuất phát từ sự khác biệt giữa chính sách pháp lý và
kinh tế quốc dân giữa hai thị trường quốc gia. Quan điếmnày được đưa ratừNhàkinh tế học Gabrielle Marceau và được tríchdẫntrong cuốn Từ điển chính sáchthương mại quốc tế của tác giả WalterGoode [35, tr 83] Bà cho rằngnhữngkhác biệtquốc gia là điều bình thườngvà hợplý trừ phi các nước có thỏathuận về tiêuchuẩn quốc tế Những khácbiệt trong chínhsách kinh tế quốc dân đãảnh hường
Trang 29đến cách thức phân bổ chi phívà quanniệmvề cácbộ phận của giá thành sản xuất, ảnhhườngđến chiếnlượcđịnh giá trên các thị trườngkhác nhau Sự khác biệt trong chính sách pháp lý có thểtạo nên cách thứctính toán về giá thông thường và giáxuất khẩukhácnhaụ.Điềunày có thể chi phối kết quà cùacuộc điêu travà dễ dàng kếtluận hàng hóa nhập khẩucó bán phá giá vấn đê đượcđặtra làmột khibán phá giá là kết quàtấtyếucủa sựkhác biệt trong chính sách pháp lý vàkinhtế cùa hai quốc gia thì pháp luậtkhông thểlênánnếuchưa gây ra hậuquà xấu cho nềnkinhtếcùa nước nhập khau.
Mặt khác, từ lýthuyết về lợithếso sánhvà thực tiễn phát triếncùa toàn cầu hóa, mỗi quốcgia đềucónhững đặcthù về tập quán, dân cư, tự nhiên ; cósự khác nhau trong cấu trúc và giátrị của các loạichi phí sản xuất, kinh doanh; có những tiêu chuấn chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùngđối với một loại sản phẩm khácnhau Những khác biệt trên đãdẫnđến hiện tượng dịbiệt sànphẩm cho dù chúngcó cùngmụcđích sử dụng4và phân hóa vềgiá thành sản xuất, giá giao dịch giữa sản phấm xuất khấu vàsàn phẩm tiêu dùng trong nội địa Sự biến động trong tỷ giá hối đoái thường có những tác độnglàm tăng hoặc giảm sứccạnh tranhvê giá củahànghóalưuthôngtrênthịtrườngquốctế Dođó,các căn cứ đế xác định bán phá giá luôn ở trong tình trạng động, tứclàcắc chi phí sàn xuất và giáthị trường luôn thay đối theothời gian và theo điều kiện thị trường.Từ nhiều thông
số vềgiá mua bán hàng hóa trên thị trường nội địa và các thông số vềgiáxuất khẩu khôngđồng nhất, cơ quan cóthẩm quyềnphải tính toánbiên độ phá giácho mỗiloại sảnphẩm của từng DN xuấtkhẩu Điều đócho thấy việc điều tra về bán phá giá không đơn giản Ket quả cùa những khác biệt trên làcác nước chỉthốngnhất về khái niệmmàchưacósự thống nhất về phương pháp thốngkê, tính toángiáthôngthường,giá xuât khau và biênđộ phá giá
4 Có thể nhận thấy ngày càng có sự khác biệt giừa hàng hóa được sán xuất đẻ tiêu thụ trong nước và hàng hóa xuất khấu, có sự khác biệt giừa hàng hóa xuất khẩu vào nhừng thị trường khác nhau của một DN cho dù chúng
Thứ hai, đặc thùcủa tựdothương mại cóảnh hường đến giớihạn củapháp luậtchống bán phágiá và các lýthuyết vềbán phá giá Pháp luật cùaWTO và cùa các nước chìđêcập đên bán phá giá hàng hóa nhậpkhau mà chưa bànluận đếnbán phá giá dịch vụtrong thương mại quốc tế Điều này có thể đượclý giải tứ nhiềunguyên nhân khácnhau
Một là, từ sự khác nhau giữakhái niệmhànghóavàdịch vụ Cho đen nay,chưa cómộtđịnh nghĩavềdịch vụ đượcchấp nhận trên phạm vi toàncầu Tính vô
Trang 30hình vàkhó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp cùacác loại hình dịchvụlàm cho định nghĩa về dịch vụ trở nên khó khăn.Hơnnữa,các quốc giakhác nhau
có cách hiểu về dịchvụ không giống nhau, phụ thuộc vào trìnhđộ phát triểnkinh tếcùa mỗi quốc gia.Ngay càtrong Hiệp định chung về thương mạidịch vụ của WTO(GATS)cũng chỉ đưarakhái niệm dịch vụ bằng cách liệt kê 12 ngành lớnvà155 phân ngành dịchvụ khác nhau.Khi phân biệt với hàng hóa, các nhàkinh tế đãnhận dạng dịch vụ bằng ba đặc trưnglà(i) tính vô hình cùa dịch vụ; (ii) quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêudùng dịch vụ xày ra đồngthời;(iii)không the Ịưu trữ dịchvụ Vìthe, khó có the lượng hóa các tiêu chuẩn đê xác định chất lượngdịch vụ một cách trực tiếp haythống nhất các nguyêntắc xácđịnh chi phí, giáthành cùa dịch vụ trên phạm vi toàn cầu trong khinhữngvấn đề nóitrên có thềthựchiệnđược trong thịtrường hàng hóa Chodù dưới góc độ kinh tế, không có sự
khác biệt giữa sàn xuất hàng hóa và dịch vụ bởi cả hai đều được điều chỉnh bởi tập hợp các mục đích, các động lực và các hạn chế tương tự [78,tr 30] Tuy nhiên,thương mạihàng hóa và thương mại dịchvụ cónội diênvà ngoại hàm khác nhau nên quy che pháp lýđế điềuchỉnhchúng cũng phải được thiếtkếkhác nhau.Những chuânmực trong việc xăc định tínhlành mạnh của thương mại hàng hóa dường như
đã được địnhhình rõ nét Trong khiđối vớithương mại dịch vụ còn là vấn đề củatương lai
Hai là, trong hơn 100 năm hình thành và phát triến, pháp luật chốngbán phá giá hàng hoá đượcxây dựng trên cơ sờnguyên tắc đối vật Nguyên tắc này xuấtpháttừ bàn chấtvật chất hiệnhữu cùa hànghoá và nhẩnmạnhđếnđốitượng xử lý của các biện pháp chống bán phágiá làhànghoá [44,tr 375], Khi hàng hóanhập khâu bán phá giá gây thiệt hại cho ngànhsàn xuất trong nước, pháp luật được sử dụng để xửlýhàng hoá nhập khẩu mà không xừ phạt ngườiđã thực hiện hành vi.Các biệnpháp được sừdụng không nhằm mục đíchloạibòsảnphẩm bị bán phá giá
ra khởi thị trường, cũng không để trừng phạt chủ thềthực hiện hành vi mà chỉ làloạibỏhoặc ngăn chặn thiệt hạido hành vi phá giá gây ra cho ngành sản xuất trong nước Trong khi đó, việccung ứngdịch vụ luôn gắn liền với nhân thân, trình độ, trìthức của ngườicungứng dịch vụ Sự chuyến giao dịch vụ giữangười cung ứng
và ngườitiêudùngdiễn ra ngay khi dịchvụ được sản xuất Vìthể nguyêntắc đối vật khó có thê áp dụng khi chưacónhữngtiêuchuẩn phântách đối tượng phá giá
và chù thểthựchiện hành vi
Trang 31Ba là, từ góc độ lịch sử, saunửa thế kỷđấu tranh và đàm phán, cácnướcthamgia thànhlập WTO đã hình thành được khung pháp lýcơ bản cho tự do thươngmạitrên thị trường hàng hóa Những vấn đề cùa tự do thương mại đốivới dịch vụ bắtđầu được quantâmmột cách đúngmứctrong vòngđàm phán Uruguay với sự ra đờicủa GATS5.Tuy nhiên, cho đến nay, các nội dung về việc mờ cừathịtrường dịch
vụ vẫn đang được đàm phán Mặt khác,sự phức tạptrong việcxácđịnh khái niệm dịch vụ, các loạidịchvụ và kéotheo là việc xây dựng những chuân mực chung cho thương mạidịchvụ đãgây ra những khó khăn choquá trình thiêt lập cáckhung pháplýchung trong lĩnh vực này Có nhiều nội dung cùathương mại dịch vụchưa hình thànhvà vấn đề bán phá giá cũng đang nằm trong tình trạngtương tự
5 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ là một trong các kết quá của Vòng Uruguay, có hiệu lực ngày 1 tháng
1 năm 1995 Hiệp định này bao gôm tât cà thương mại dịch vụ trừ các quyên hàng không song phương và các dịch vụ mua bán do các cơ quan chính phú thực hiện.
6 Hiến chương cùa Tố chức thương mại quốc tế (ITO)
Tất nhiên, GATS cũng đòi hói là chí sau thời gian 1 nãm, kể từ ngày bất đầu thực hiện cam kết, các nước mới được sử dụng biện pháp này Hiện nay, việc cụ thế hóa các quy định tại điều X cúa GATS về các biện
Vấn đề bán phágiá dịch vụ đãtừng được bàn luậntrong quá trìnhdự thàoHiếnchươngHavana6 Theo đó, bánphágiádịch vụ đượcquan niệm từ việc sử dụng cácthỏa thuận phân biệthoặc trợ giá trong cácđiềukhoản vềdịchvụ vận tài biển Thực chất khiđềcập đến phágiá tronglĩnh vực dịch vụ, Hiến chương lên án hànhvi này donótạo cho sànphẩmnhững lợi the bất chính từ việc phá giá chi phí vận chuyển tàu biển Như vậy, cách hiểu về phá giá dịch vụ theo Hiến chươngHavana đượcgiới hạn rấthẹp chỉtrong lĩnh vực vận chuyền tàu biếnmà không bao gồm hếtcác ngành dịch vụ trong thương mại quốc tế Cho đếnnay, kháiniệm phá giá dịch vụ chỉ có giátrị nghiêncứu về lý thuyết mà khôngđược phản ánh trong các quytắc về chống bán phágiá hiệnhànhcùa WTO và cùa cácnước Đe bảo vệ các nhà cung cấpdịch vụ nội địatrước sựcạnh tranh cùa dịch vụ nhậpkhau, Điều
X cùa GATS về “cấcbiệnpháp tựvệ khẩncấp”cho phépcác nước thành viên thayđổi hoặc rút các cam kết cụ thể trong trường hợp khẩn cấp7 [28,tr 25] TạiViệt Nam, vân đề bán phá giá dịch vụ được đề cập đến trongPháp lệnhgiánăm 2002 Tuy nhiên, vãnbàn này vẫnchưacó giảithíchchínhthứcvề các căn cứ để xác định việc bán phá giá dịch vụ Trênthực te,chưaxảyra vụ tranhchấp về phá giá dịchvụđược cơ quancó thẩmquyền thụ lý, giải quyết.Vì vậy, mặcdù vẫn còn hiệu lực, song quy địnhcùa pháplệnh giá vềbán phágiá dịch vụ vẫn chỉ có giátrịthamkhào về học thuật mà chưa đem lại hiệu quả điềuchinh trên thực tế
Trang 321.2.2, Lý thuyết về phân biệtgiá được sử dụng làm nền tảng lýluận đểxây dựngcấu thành pháp lý vàxác địnhbảnchất hạn chế cạnhtranhcủahành vi bán phá giá
Lý thuyếtvề hành vi phân biệt giá làmột trong những cơ sờ lý luận để xây dựng nên chế định về hànhvi hạn chế cạnhtranh cùa pháp luật cạnh tranh Khinhìn nhậnbán phá giálà một dạng hạnchế cạnh tranh trong thương mạiquốctế, phápluật chống bánphá giá đã sử dụng lýthuyết này để lý giãi về nguồngốcvà xây dựng nên cấu thành pháp lý cùa hành vibán phá giá Phân biệt giá được hiểulàviệcDN áp dụng các mức giá khác nhau chonhữngkhách hàng có giao dịch như nhau Nói cách khác,phân biệt giá là hành vi của người bán hàng hóa áp dụng
những mức giá khác nhau tùy theo loại khách hàng mà không dựa vào sự chênh
Thứ hai, các giao dịch bị phân biệt giá phảilàcác giaodịch tương tự nhau Căn cứnày đượcxâydựng từ nguyêntắc DN được quyền định giátheo nội dung của giao dịch DNcó quyềnáp dụngnhững mức giá khácnhau cho các giao dịchkhông giốngnhau về đối tượng,giá trị,thời điểm giao kết và thực hiện giao dịch Thông thường, các giao dịch được coi là tương tự nhau khi đáp ứng đủ các điềukiện sau:
- Đốitượng của cácgiao dịch lànhữngloại hàng hóa, dịchvụ tương tự nhau Tính tương tựđược xem xéttừcácthuộc tínhcùa sản phẩm, thành phần vật lýhay hóahọc,các đặc diêmhoạt động hay chức năng của sản phàm
- Cácgiaodịchđược dùng đê so sánh tronglý thuyết phân biệt giá phải tươngđươngvề giá trị Giá trị họp đồng phụthuộc vào trịgiácùa sản phấm vàso lượng,khôi lượng được muabán trong giaodịch.Trongthực tế, các DNcó thềthực hiện nhữngchiến lượcdành ưu đãi cho các giao dịch có giá trị lớn8, cótính thường xuyênhoặc thưởngtàng trưởng9
- Thời điếm xác lập các giao dịch: cùng với thời gian và các biến động thị trường, cácđiềukiệnvề quanhệ cung cầu, mức độ cạnh tranhtrênthịtrường và chiến
K Còn gọi tính kinh tế nhờ quy mô dẫn đến việc giâm giá thành đơn vị của sán phẩm được mua bán.
9 Thướng tăng trường là việc DN thực hiện các kế hoạch chiết khẩu cho những khách hàng có sự gia tăng về
Trang 33lược kinh doanh của DN sẽ thay đôi Các giaodịchcho dù tươngtự về sàn phẩm và giá trịnhưng được xác lập ở những điềukiệnthịtrường không giống nhau thìcó thể sẽ
áp dụngcácđiềukiệnthương mại (trong đó cógiá cà) khác nhau Do đó, muốnxác địnhsựphânbiệt giá cần phảixácđịnhvề thời gian mà các giaodịch giữa DNvàkhách hàng được xác lập.Các giao dịch chỉđượccoi lànhưnhau khichúngđược xác lập ở nhữngthời điểm mà điểu kiện thịtrường giống nhau.Điều nàykhôngcónghĩalà chúng phải được hình thành tạicùngmột thời điểm Thời điểmxác lập có thểkhácnhau nhưng trong khoảng thờigianđó, điềukiệnthịtrườngchưa thay đổi, hoặc nếucó thayđồi thì mức độ thay đổi chưa đủ để làm chođiềukiện thương mại phải khác nhaugiữa các giao dịch [60, tr 180-182]
- Các giao dịch đượcdùng đếso sánh phải nằm ờ nhữngcông đoạn tương đươngcủa quá trình phân phối, tiêu thụ (tươngxứngvề cấpđộ thương mại) Neu một giao dịch đang ở cấp bán buôn,thì giao dịch còn lại cũng là giao dịch ờ cấp độbán buôn.Neulà giaodịch bán lẻ, tấtcảgiao dịch được so sánhcũngở những cấp
độ bánlètươngứng
Thứ ba, cósự phân khúc thị trường đếngăn chặn khả năng thông đồnggiữacác nhóm khách hàng nói trên hoặc ngăn chặn hành viđầu cơ làm vô hiệu việc phân biệt giá Neu cósự thông đồng giữa cácnhóm khách hàng nói trên hoặc cólượngđâucơsẵn sàng mua hàng hóa ờ khu vực thị trường có giáthấp đe bán lại trênthị trường có giá cao thì mục đích củaviệc phân biệt giá không thế đạt được Muốn việc phân biệt giá đạt đượcmụcđích, người thực hiện hành viphải cókhả năng phânkhúc thị trường Thông thường,cácDN lợi dụng các ràocản cósẵntrên thị trườngnhư chi phí, thời gian vận chuyến,tính ỳcủakháchhàng đe ngăn chặnkhả năng thôngđồng hoặc khả nàng đầu cơ nói trên Trongthương mại quốc tế, khigiaodịch mua bánđược thực hiệnqua biên giớihữu hình vàvô hình của thị trường các nước thì luôn tồntạinhữngrào cànngăn trở việc dịch chuyểnngượccủahàng hóa xuấtkhẩu về thị trường xuất khẩu
Thứ tư, lý thuyết phânbiệtgiá cònđặt ra yêucầuvềtính chiến lượccủa hành
vi phânbiệtgiá Theo đó, bán hàng đơn lè có sự khác biệt về giá giữa các nhóm
khách hàng cụ thê chua cấu thành sự phân biệt giá bởi sự khác biệt đó có the do năng lực đàm phán của khách hàng; là những phàn ứng với những thay đồi nhất thời trên thị trường; hoặc là một hành động đế tạo sự chú ý khi gia nhập thị trường [26, tr 276 -277] Chỉcấuthànhhànhvi phân biệt giá nếu việc áp dụng
Trang 34các mứcgiá khácnhau có tínhhệ thống hoặc phản ánh chiến lược bănhàng lâudàicủaDN.
Trong thương mại quốc tế, bánphá giá bị coi làhành vi phân biệt giá nên lý thuyếtvề phân biệt giá được pháp luật sử dụng đểxácđịnhcấuthành pháp lý cùahành vi bán phágiá Việcápdụnglýthuyết về phân biệt giá vào phápluật chốngbán phá giá đã đưa đếnnhững kết quả sau:
(1)Bán phágiá là việc các DN nướcngoàiáp dụng mức giá mua bán khácnhau đốivới cùng loại hànghóa trên hai vùng thịtrường làthịtrường nhập khẩuvàthị trường của nướcxuất khau Trong đó, giá xuất khẩu thấp hơn giá bán trênthịtrường xuất khau Việc điêu tra về hành vi bán phá giá là quátrình xác định và sosánh giá trong hai nhóm giao dịch tương tự nhau trên hai vùng thị trường khác nhau, baogồm: giao dịch mua bánngoại thương giữacácDN xuấtkhấu và DN nhập khấu (giá sử dụng là giáxuất khấu);và giao dịch mua bán hàng hóa tươngtự trênthị trường nước xuất khẩu(giá thông thường)
(2)Đặc thù củamậu dịch quốc te là sự trao đoi hàng hóa, dịch vụqua biêngiới của cácquốc gia Cho dù các nước đãcónhững co gắng để xây dựng các nguyêntắc chung cùa thươngmạiquốc tế, song trênthực tế, luôn tồn tại nhữngđặc thùriêngvề thị hiếu cùa người tiêudùng, năng lực sản xuất của DN,cơ cấu chi phí,
hệ thống kế toán, tập quán kinh doanh tiêudùng, về tiền tệ, tỷ giá hối đoái, tươngquan cạnhtranh trên thị trường của từng quốc gia Vì vậy, sự khác biệtvề chùngloại sản phẩm, giá trị,điều kiện thị trường trong các giao dịch xuất khấu và giaodịchnội địa là phổ biếntrong thương mại quốc tế.Đe đảm bảo cho cácgiao dịchđượclựa chọntương tự nhau và việc sosánh công bằng,pháp luật phải có cơ chế chỉnhlýthích hợp những sai sốtrên Ví dụ, nếu hànghóa tronggiao dịch nội địa cócác khác biệt với hàng hóa tronggiaodịch xuất khấu, cơ quan điều tra phảiđiềuchình về giá trị bằng cách khấutrừ hoặc cộng thêm một số loại chi phí nhất định nào đó đềquyđổi chúng về mộttiêuchuẩn chung
(3)Khi điều travụ việc chống bán phá giá hànghóa nhập khẩu, cơ quan có thẩm quyền cùa cácquốcgia không thể căncứ vào mộtvàigiaodịch cụ thề để đưa
ra kết luận màcần có sự tínhtoán, tổng hợp nhiềugiao dịchxuất khẩu và giao dịchnội địa trong một khoảng thời gian đù dài nhằm chứngminhvề tần suất thực hiệnviệc phânbiệt giá nhưmột chiến lượccùa cácDN
Lý thuyêt phânbiệt giá không chì được sừ dụng đểxác địnhcấu thànhpháplý
mà còn được dùng đe giới hạn mức độ can thiệp cùa nhà nướcđối với hành vibán
Trang 35phágiá Từ việc phântíchnhững lý do để DN thựchiện chiến lược phân biệt giá(tươngứng là bán phá giá), cácnhà kinh tế đã cho rằng khôngphải mọi hiện tượng bán phágiá đềulà bất chínhvà đángbị xử lý.Cáclýthuyếtkinhtếđã đưa ra một
số khà năngcó the xảy ra hiện tượng bán.phá giá
Một là,bán phá giá để tốiđa hóa doanh thu và lợi nhuận Khi hànhvi bán phá giá được thựchiện vớimục đích tối đa hóa lợi nhuận và doanh thu thì đương nhiênmứcđộ phá giá sẽ không gây lỗ cho DN Tức là, giá xuất khâuchỉthấp hơn giá bán nội địa cùa hànghóa tương tựmà không thấp hơn chi phí sản xuất củasản phẩm bịbán phá giá Đe tối đa hóa lợi nhuận bằng cách bán phá giá, các DN có hai cách định giá:
-DNđịnh giá theo khả năng thanh toán cùa người tiêu dùngtại cácvùng thịtrường Với nhữngnhómkhách hàng khác nhau, người tacó thể đođược độ co giãncủa cầu theo giá khác nhau [55, tr 135]'° Tương ứng với từngđộ co giãn cùa cầu theo giá là khà nâng thanh toán của mỗi nhómkhách hàng Nếu khảnăng thanhtoán cùa từng nhómkhách hàng không giốngnhau, DN có thể ápdụng các mức giákhác nhau để thu hút lượngkhách hàng cao nhất có thể nhằm tối đa hóadoanhthu
vàlợinhuận Trong tìnhhuống này mục tiêu tối đa hóalợinhuận được xác định bằngcáchsosánhchiếnlược áp dụng hai giá với chiến lược một giá Kinhtểhọc đưa rahai nguyên lý: (1) mồi nhóm khách hàng có độ co giãn của cầu theo giá khác nhau, các DN có thể bằng cách định giá bằng doanh thu biên do mỗi nhóm
mang lại, sẽ thu được lợi nhuận cao hơn ở trường hợp mà tính một giá đồng nhất', (2) băng cách định giá môi đơn vị sàn pham bằng với số tiền tối đa mà moi khách hàng săn sàng thanh toán, các DN chiếm được tất cá thặng du của người tiêu dùng" mà mỗi người tiêu dùng có thể có được nếu mua với mức giá thống nhất [55,
tr 186] [57, tr 812-813] Neu hàng hóa đượcbán với giá thống nhất cho cả haivùngthị trường, sẽ có những khách hàngờ thịtrường nhậpkhẩu đãkhông mua hàng hóa
vì cho rằng giá bán làquá cao gâyra tổn thấttải trọng choDN Lúc đó, thặngdư trên thị trường bằng tổnglợi nhuận của DN(thặng dư cùa DN) vàthặngdư cùangười tiêu dùng Trong trường hợp có sự phân biệt giátheokhả năngthanh toán cùa khách hàng, cho dù tất cả các giao dịchmua bán được thiết lập và diễn ra để
10 Độ co giãn cua cầu theo giá đo lường mức độ thay đồi cùa lượng cầu về một hàng hóa khi giá cùa hàng hóa đó thay đoi Định nghĩa chính xác cùa dộ co giãn theo giá là phần ưăm thay đối của lượng cầu trên phần trăm thay đôi cúa giá Độ co dãn theo giá (độ nhạy cám của cầu) với sự thay đối cua giá cùa các hàng hóa la vô cùng khác nhau.
" Thặng dư tiêu dùng là chênh lệch giừa độ thỏa dụng cùa một hàng hóa với tống giá trị thị trường cùa hàng hóa
Trang 36làm lợi cho đôi bên,song lạikhôngcótốnthấttải trọng nên toàn bộ thặng dư có được từ thị trường được chuyến cho DNdưới dạng lợinhuận.Nhưvậy, phân biệtgiá giữa các nhóm khách hàng có thế làchiếnlược tănglợinhuận bằng cách tăng doanh thu dựa trênsự gia tăng củatổng sảnlượngtiêu thụ trên thực tế[60, tr 188],Trong thương mại quốc tế, nếu khách hàng trên thị trường nhập khẩu cóđộnhạycảm với giá cao hơn và mứcgiá sẵn sàngthanh toán cùa họ thấp hơn so vớithị trườngnội địa thì các DN xuất khấu phải cânnhấc đến chiến lược cạnh tranh giáhợp lý đểxây dựng hoặc giữ thị phần.Khi đó,giáxuất khẩu có thểthấp hơngiábán hàng hóa tương tự trên thịtrườngnội địa và hiện tượng băn phá giá xàyra.
- DN xuâtkhấu có vị thế độc quyền trên thị trường nước xuấtkhẩu trong khiphải cạnh tranhtrên thị trường nước nhập khẩu Theođó, DN độc quyền ở thị trườngnội địa có the lợi dụngvị thế của mìnhđếấn định giá bán độcquyền trong nước Mặtkhác, vì phải cạnh tranh ở thị trường nước xuất khẩu12, DN chỉ có thểbán với giácạnh tranh [6, tr 2-3] DNđãtối đa hóa lợi nhuậnbằng giá độc quyềntrên thị trường nội địa Trong trường hợp này, giáxuất khẩu vẫn đem lạilợi nhuậncho DN cho dù thấp hơn giá báncủa sản phấmtương tự trên thị trườngtrong nước
12 Cạnh tranh với nhửng DN sàn xuầt hàng hóa tương tự ở nước nhập khẩu hoặc những nhà xuất khẩu cạnh tranh
Việc phân tích các tình huốngtrên cho thấy hành vi bán phá giá hàng hóa nhậpkhấu có thế chỉ là các chiến lược định giá đế tối đa hóa doanh thu vàlợi nhuậnmà chưa có mục đích tiêu diệtDN cạnh tranhtại nước nhập khẩu
Hai là,bán phá giá đe thực hiện chiến lược đòn bẩy trong cạnh tranh Các DN xuất khẩucó thể xuất khẩuhàng hóa với mứcgiá thấp hơn giá thành sản xuất đề chiếm lĩnh thịtrường và khoản lỗsẽ đượcbù banglợi nhuận của hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nộiđịa Trong trườnghợp này, hành vibánphá giá được thực hiệnnhăm chiếmđoạt thị phần trên thị trường nhập khấu.Theo đó, các DN xuất khẩu cóthê thựchiện các chiến lược cạnhtranh trên thị trườngxuất khấu đểthuđượclợi nhuận độc quyền (có thể bằng các thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận giảm sàn lượngđể chi phối giá ) Đồng thời, xuất khẩu vớimứcgiá lỗ đểgiànhưu thếcạnhtranhvề giá với các DN sản xuấthàng hóa cạnhtranhcùanước nhập khẩu và các
DN xuất khấuhàng hóa cạnh tranh từ nước thứ ba Với mức giá có ưu thếtrongcạnhtranh, DN xuất khẩugiànhđượcthị phần,thậm chí có thểloại bỏđược các đối thùcạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu Tuy nhiên, nếutính tổng thể, DN không bịlỗ dođãđược bùkhoảnlỗ trong hoạt động xuất khẩu bằng lợi nhuận độc
Trang 37quyên trênthị trường nội địa Tiêu biếuchochiến lược đòn bấy làviệc địnhgiáxuất khấu theo chiphíbiến đối bình quân.Thông thường, cơ cấu chi phícùa sản phẩm được phânchia thành chi phícố địnhvà chiphí biến đổi13 [57, tr 382,1072], Tống của hai loạichi phí trêntính theo đơn vị sảnphấm đượcgọi là chi phí bình quân,về nguyên tác,giá củasàn phẩm được xácđịnh theo chi phíbình quân Tuy nhiên,với những DN sản xuất sảnphẩmđể tiêu thụ nội địa vàxuất khẩu, họ có thểthực hiệnchiến lược phân biệt giá bángcách phân bổ toàn bộ chiphí cốđịnhcho quá trình sàn xuất vào giá thành của sàn phẩm tiêuthụ nội địa Dođó, sốsản phấmđược dùng đế xuấtkhấu được coi nhưsàn lượngsản xuất thêm.Giá thành củasàn phàm xuất khẩu chỉ còn là chi phí biến đoibình quân (không bao gồm chiphí cốđịnh bình quân) Trong tình huống này, dùgiá trên thị trường nội địa cao hơn và giá xuât khau lại thấp hơn chiphí bình quân, song DN vẫn có đượclợi nhuận từ haithị trường[44,tr 343-344], Mặc dù hànhvi bán phá giá đã cấu thành, song người chịu thiệt hại trựctiếp làngười tiêu dùngtrênthị trường xuấtkhẩu và cácDN cạnhtranh trên thị trường nhập khẩu.
13 Chi phí cố định (fix cost) là chi phí cua các yếu tố sán xuất cố định (yếu tổ sán xuất không thay đồi theo sán lượng) như chi phí nhà xướng, chi phí quàn lý chung ; Chi phí biên đối (variable costs) là chi phí biến đồi theo
Ba là, bánphágiá hànghóa để thực hiện cácchiến lượccủng cố thịtrường tiêu thụ CácDNcó the thực hiện việc bánphá giá với mứcgiá xuấtkhẩu gâylỗ (thấp hơn giá thànhcủa hàng hóa) để tạo thói quen tiêu dùngtrên thịtrường nhập khẩu nhằm mở rộng thị trường; hoặc giữchân những khách hàng cókhả năngchuyển sang nhà cung cấp khác [44, tr 345-346], Với tình huốngnày, việcphân biệt giá bằng cách bán phá giá hàng hóanhập khấu chi có thếdiễn ra trong ngan hạn với hy vọng lượnghànghóabán được trong tương lai với giá bình thường đủ
để bù đắp phần lỗ
Do ánh hưởng bời quan niệm của thời trung cô về giá cà công bằng nên các chính sách nên táng cũa thương mại quốc tể đã luôn coi bán phá giá ít nhiều mang bàn chất không lành mạnh do đã phân biệt đối xử về giá[44, tr 345].Tuy nhiên,với những phân tích vê đặc trưng và mục đích cùaviệc phân biệt giá,hành vi áp dụng các mức giá khác nhau cho các nhóm khách hàng hoặc chocác vùng thịtrường đôi khi chỉ là kếtquả ngẫunhiên do tác độngcủa các điều kiện kháchquan hoặc là kết quả cùa những chiến lược kinh doanhhợp lý của DN Pháp luậtchi nên cấm đoán hoặc ngănchặnhậu quà của hành vinếu nó gắn với chiến lược đòn bẩy hoặcchiếm giữthị phần bởi nó được thực hiệnvới mục đích ngăn càn sự pháttriển
Trang 38hoặctiêu diệtđối thủ cạnh tranh Từ quanđiếmnày, pháp luậtđã đặt ranguyên tắc
biện pháp chống bán phá giá chi được thực hiện khi nó là nguyên nhăn gây ra thiệt
hại cho ngành sán xuất trong nước và chì áp dụng ở mức độ đủ loại bò hoặc ngăn chặn thiệt hại.
1.2.3.Lý thuyết về địnhgiá hủy diệt (predatorypricing)làcơ sở lýluậnđểxemxétkhả năng gây hại củabán phá giá đối với thị trường nội địa của nướcnhập khẩu
Từsơ khai, phápluật bán phá giá cùa cácnước tiên phong như Canada, Hoa
kỳ đã gắn liềnbán phágiávớihành vi định giáhủy diệtvà việc chốngbánphágiácũng đengănchặnkhả năng hủydiệt ngành sản xuất nội địa củanước nhập khẩu.Như hầu hêt các chếđịnh khác trong pháp luật cạnh tranh,cheđịnhvềhànhvi định giá hủy diệt được xây dựng từ những luậnthuyết của kinhtế học Cho đến nay,
dù chưa có sự thống nhât tuyệtđối về tác hại cùa định giá hủy diệtvà giớihạnđiều chỉnh cùa pháp luật, song cáclýthuyết kinhtếcũngđã có quanđiểm thống nhấtvề khái niệm của hànhvi.Theođó,định giá hủy diệt làviệccác DNcó quyền lựcthịtrường ấn định giá bán sàn phẩm thấp một cách bất hợp lý trongkhoảng thời gian đùdàinhằm loạibỏ đối thủcạnhtranh ra khỏi thịtrường hoặc(và) ngăn càn không cho các đối thủ cạnh tranhmới gia nhập thịtrường Sau khi hoàn tất mụcđích ngăncản hoặc loại bỏ,DNnày sẽ tăng giá mộtcách đáng kể nhằm bùđắp lại các khoản lỗ vàcác khoảnlợi nhuận đã bò qua bờimức độcạnh tranhtrênthị trường đã bịgiảm [57, tt808],
Lý thuyết địnhgiá hủy diệt ra đời từnhậnthức giá cà hoạt động như một tín hiệu đồi với người sản xuất và tiêu dùng, khi giá cùa hàng hóa hạ xuống sẽ khuyến khích tiêu dùng và không khuyêt khích sản xuất [55, tr 70-71] CácDN lôi kéo kháchhàng của đốithủ bằngcáchhạ giáthấp tươngđối so với đốithù cạnh tranh.Một DN ápdụng giá bán hàng hóa,dịch dụquá thấp để buộc cácđối thù chấp nhận
lỗđể chạy đua vềgiá thìmức giá đó được coi làcó khả năng hủy diệt
Mức giá có khả nănghủydiệt đối thủ có thể là kết quà củaquá trìnhcạnhtranhlành mạnh và cũng có the là kết quảcùa hành vi hạn chế cạnh tranh Sẽ làcạnh tranhlành mạnh nêu cácDN hạ giábán hàng hóa màvẫn có đượclợi nhuậnbángcách giảm chi phí sànxuất, kinh doanh cho dù đối thủ có phải rời bỏ thị trường[26, tr 292].Sẽ làhạn chế cạnhtranh nếu DNchấp nhận lỗhoặc không cólợi nhuận đê đay giá thị trường xuống mức không thể cólãi trong một thờigian nhằm làm suy yếu hoặc loạibỏđốithủ cạnhtranh[57, tr808], vấn đề đặtra là cần
Trang 39cócơchế đế phân biệt hai trường hợp trênđể vừangăn chặnnhững hành viđịnh giá hủy diệt mà vẫn tôn trọngquyển được cạnh tranh lànhmạnh cùa DN.
Đegiải quyếtvấn đề này, lýthuyếtvềđịnh giáhủy diệt đã đặt ra hai căn cứcấu thành hành vi: DN thực hiện hànhviphảicộ khả năngchi phối giá thịtrường; mức giá bán thựctế cùa hàng hóa, dịchvụ thấp mộtcáchbất hợp lý
Thứ nhất, khảnăng chi phối giáthị trường được hiểu là việc DN định giáthấp đã làmcho mặt bằng giá trên thị trường liên quan hạ xuốngtương ứng DN có khả năngnày khi có quyền lực thị trường và hành vi bán sàn phẩm với giá thấp được thực hiện như một chiến lược kinh doanh trong một thời gian đáng kể.Với hành viđịnh giá hủy diệt,DN chi phối giá thịtrườngqua hai giai đoạn:
- Giai đoạn hùỵ diệtđối thủ bằng cách đẩy mặt bằng giá thị trường xuống thấphơn chiphísàn xuất.Vớinguyên lý vềđộ codãn chéo củacầu theo giá, khi giá bán củamột DN được đặt thấphơn của đối thù cạnh tranhsẽ tăngmức thỏa dụng cho người tiêu dùng và làm giá bán của các đối thủ cạnh tranh sẽ trờ nêncao tương đối nên lôi kéo khách hàngvềphíamình kể cà những khách hàngcùađối thù Sự suy giảm lượng khách hàngsẽlà tín hiệu đòi hỏi cácDNkhácphải cóhành động kịp thời để duy trìthị trường Tuynhiên, phản ứngcùa họ sẽ phụ thuộc vào khả năngduy trìgiábánlỗ của DN thực hiện hànhvi.VớinhữngDN chưa đủ khả năng chi phốithị trường, chiến lược bánlỗ cùa họ chưa thế tạo nên ảnh hưởng lớn và lâudài đen mặtbằng giácùa thị trường Trong trườnghợp này, nếukhôngcócáclý do khách quannào khác thì việc bánlỗ là chiến lược cạnhtranhliều lĩnh vàmạo hiểm bởi nósẽ hủy diệtDNthực hiện hành vi trước khi gâytổn hại cho đối thù cạnhtranh Với DN có quyền lực thịtrường,bằng sức mạnh tài chính, côngnghệ và thịphần, DN có thể áp đặt mức giávới
độ chênh lệch lớnso với giá của đối thù vàduy trìtrongthời gian đủdài Phản ứngcùa đôi thủ sẽ là chạy đua về giá nếu muôn tiếptục tồn tại Khi đó, sứcmạnh thịtrường tiếptục được khaitháccho đến khi các đối thù yếu hơn rời bỏ thị trường.Tronggiaiđoạn này, việc định giá được thực hiện nhằm củng co vị trí cùa DN,thậm chínhằm tạo the độc quyên trênthị trường
-Giai đoạn đặt giá độc quyềnđe bù lỗcác chi phí đã bỏ ra trong giai đoạn thứ nhât khi tình trạng cạnh tranhtrên thị trường bịhạnchế và không thể phụchồi Khi đãtrờ thànhđộc quyền,DN khaithác lợi thế độc quyền đểáp đật mứcgiá caonhằm bóclột khách hàng
Khả năng chi phối giá của một DN cònphảiđượcchứng minh quachiến lược định giá của DNđótrên thị trường thôngqua nănglựckéo dàithời gian áp đặt giá
Trang 40bánquá thấphoặcgiámua quácao Sẽ chí có thể tác động đến giá thị trường để
húy diệt đôi thú khi có đủ cơ sở đế kết luận việc bán hàng hóa với giá thấp là một chiên lược bán hàng mà không phái là những phán ứng tự vệ một cách thuần túy trước áp lực cạnh tranh về giá từ các đối thù khác hoặc không là một phương thức cạnh tranh trong khoáng thời gian ngắn hoặc không là những sự kiện diễn ra một
cách ngâu nhiên gan liên với những hoàn cành kinh doanh cụ thế đang xảy ra trên
thị trường vào bất kỳ một thời điếm nào [26, tr 303] Việc định giá thấp cho một lượng hàng hóa khôngđáng kể trên thị trường,diễnra trong một vàigiao dịch hoặc trong khoảngthời gian tươngđốingắn khó có thể tác độngđến mặt bằnggiá trênthịtrường Trongtrường hợp này, lượngkhách hàng chuyểnhướng tiêu dùng chưa
đủ lớn để tạo áp lực buộc đốithù hạgiá bán Phần lớn nhu cầucùathịtrườngvẫn phụthuộc vàokhảnăng cung ứng hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh Sẽ cấu thành chiến lược bán hàng khi việc định giá thấp bất hợplý là một phần củachương trìnhđịnh giá ápdụng trên toàn bộhoặc phần lớn thị trường trong khoảngthờigian đù dài Vì thế, để xác địnhhành viđịnh giá hủy diệt cầnphân tíchlượng hàng hóa vàkhoảng thời gian diễn ra việc bán hàng với giá thấp
Thứ hai, xác định sựbất hợp lýcủa giá bán thực tếnhàm phân biệt định giáhủy diệt với bánsàn phẩm với giá thấp hơn đốithủ để cạnh tranh lành mạnh Vớiquanniệm nếu không có cáchoàn cảnhbất thường thìmột DN chì tiếp tụchoạtđộng nếu giá bánsản phấm có thebù đắp được cácchi phí sàn xuất nên về cơbản định giáhủy diệt là việcDN chấp nhận lỗđegiànhkhách hàng Vì vậy, định giáhủy diệt được xác định từkết quảso sánh giá bán thực tếvới giá thành của sànphẩm (chi phí sànxuất).Khi giá bán thực tế thấp hơn chi phí sàn xuấtthìkết luận
có dấu hiệu về hành viđịnh giá hùy diệt
Tuy nhiên, việc so sánh giữa giá bán thực tếvà giá thànhcủasản phẩm chỉcho thấydấuhiệu kháchquan của hành vi mà chưachứng minhđượcmục đíchtiêudiệt đối thủ cùa DN Cácnhà kinhtế học cho rằng việc DNchấp nhận lỗ khibán sàn phẩm có the làđịnh giáhủy diệt nhưngcũng có the chì là những phản ứnghợp
lý trước hoàn cành đặc biệt của tình hình kinh doanh hoặc của thị trường cạnh tranh Trong cuônKinh tehọc (phần phân tích chi phí), hai nhàkinhte Paul A Samuelson và Wiliam D Nordhalls đã đưa ra những trường hợpDN chấp nhậnbán