1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thủ trưởng CQĐT – lý luận và thực tiễn

93 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 903,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những bất cập, vướng mắc đó chủ yếu tập trung ở việc phân định chưa rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính và quản lý tố tụng của Thủ trưởng CQĐT, nhiệm vụ của Thủ trưởng CQĐT quá nặn

Trang 1

KHOA LUẬT HÌNH SỰ   

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN ĐIỀU TRA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

SVTT: TRẦN THỊ THƠM

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN ĐIỀU TRA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

SVTH : TRẦN THỊ THƠM

Khóa : 2007 – 2011 MSSV : 3220181 GVHD: ThS LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011

Trang 3

quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu đó Khóa luận này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2011

Sinh viên Trần Thị Thơm

Trang 4

Bộ luật tố tụng hình sự

Cơ quan điều tra CQĐT

Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự PLTCĐHS Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Phó TT CQĐT Tiến hành tố tụng THTT

Trang 5

1.1 Những vấn đề cơ bản về chức danh Thủ trưởng Cơ quan điều tra 5

1.1.1 Khái niệm về Thủ trưởng cơ quan điều tra 5

1.1.2 Lịch sử hình thành chế định Thủ trưởng CQĐT 8

1.1.2.1 Những quy định của pháp luật tố tụng về chức danh Thủ trưởng CQĐT trước khi có BLTTHS năm 2003 và PLTCĐTHS năm 2004 9

1.1.2.2 Những quy định của pháp luật tố tụng về Thủ trưởng CQĐT từ khi có BLTTHS năm 2003 đến nay 15

1.2 Tiêu chuẩn, thủ tục và thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng CQĐT 17

1.2.1 Tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT 17

1.2.2 Thủ tục bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT 19

1.2.3 Thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng CQĐT 20

1.3 Vị trí và vai trò của Thủ trưởng CQĐT trong tố tụng hình sự 22

1.3.1 Vị trí 22

1.3.2 Vai trò 24

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG VIỆT NAM VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN ĐIỀU TRA 26

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan Điều tra 26

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT trong việc thực hiện chức năng quản lý đối với CQĐT 26

2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong việc thực hiện chức năng tố tụng 33

2.1.2.1 Khi điều hành việc thực hiện điều tra vụ án hình sự 33

2.1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT khi tự mình trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra 47

Trang 6

2.2.3 Trách nhiệm khi trực tiếp áp dụng các biện pháp điều tra 54

Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN

56

3.1 Kết quả công tác của Thủ trưởng Cơ quan điều tra 56

3.2 Hạn chế trong quy định của pháp luật và những khó khăn, bất cập trong

thực tiễn 56

3.2.1 Hạn chế trong quy định của pháp luật 56

3.2.1.1 Quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 57

3.2.2 Những khó khăn, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với hoạt động của Thủ trưởng CQĐT 59

3.2.2.1 Khó khăn trong việc phối hợp hoạt động giữa Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT với Điều tra viên 59 3.2.2.2 Nhiệm vụ của Thủ trưởng Cơ quan điều tra quá nặng nề 61 3.2.2.3 Khó khăn trong việc phối hợp hoạt động với các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác 61 3.2.2.4 Vấn đề nghiệp vụ của Thủ trưởng Cơ quan điều tra còn hạn chế 63 3.2.2.5 Một số bất cập khác 64

3.3 Một số biện pháp hoàn thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Thủ trưởng Cơ quan điều tra 67

3.3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động của Thủ trưởng Cơ quan điều tra 67 3.3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định về Cơ quan điều tra 68 3.3.4 Kiến nghị hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT 72

Trang 7

KẾT LUẬN 80

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

- Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội…rất đáng tự hào Tuy nhiên, bên cạnh đó tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng với diễn biến phức tạp, tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao, các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật Đồng thời, việc nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân; bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân…là những đòi hỏi quan trọng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, nhận thức và sự

quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, chất lượng hoạt động tư pháp nâng lên một bước Năm 2003, BLTTHS đã được sửa đổi, theo đó có sự phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh tư pháp trong các cơ quan THTT, đặc biệt là sự phân định rõ tư cách tố tụng của thủ trưởng các cơ quan tư pháp với các cán bộ nhân viên của các cơ quan này, trong đó có sự ghi nhận và cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT trong TTHS tại Điều 34 BLTTHS năm 2003 Trong giai đoạn hiện nay, Thủ trưởng

Cơ quan điều tra (CQĐT) vẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật hiện hành mà chủ yếu là BLTTHS năm 2003 và PLTCĐTHS năm 2004

Chúng ta có thể thấy rằng trong nhiều năm qua, pháp luật TTHS nước ta đã

có nhiều tiến bộ trong việc quy định, phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người THTT nói chung và Thủ trưởng CQĐT nói riêng Có thể nói, đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động TTHS đạt hiệu quả Tuy nhiên, còn nhiều quy định bất cập;

Trang 9

một số quy định vướng mắc khi triển khai thực hiện trong bối cảnh hiện nay Những bất cập, vướng mắc đó chủ yếu tập trung ở việc phân định chưa rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính và quản lý tố tụng của Thủ trưởng CQĐT, nhiệm vụ của Thủ trưởng CQĐT quá nặng nề, việc phối hợp hoạt động với các chủ thể THTT khác trong quá trình giải quyết vụ án của Thủ trưởng CQĐT còn gặp nhiều khó khăn…

Từ thực tiễn đó, tác giả nhận thấy rằng, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT để phân định thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng của chức danh trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trong thực tiễn Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải

cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã xác định: “Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”[8] là một

trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp hiện nay Đây chính là lý do

mà tác giả chọn đề tài: “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT – Lý luận và thực tiễn” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

- Tình hình nghiên cứu đề tài

Mặc dù còn nhiều bất cập trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng nhiệm vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT, nhưng cho đến nay hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập chuyên sâu đến vấn đề này, chỉ có một vài bài viết ngắn đề cập chung chung như bài viết của tác giả

Đỗ Văn Đương về việc “Cần phân định rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm

và quyền hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự” được đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 18-20/2008, trang 18-23; hay bài “Phân định thẩm quyền trong tố tụng hình

sự Việt Nam” của tác giả Trần Văn Độ đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số

4/2010

Trang 10

Tuy nhiên, các bài viết này chỉ đề cập một cách chung nhất về các bất cập hiện nay trong công tác của Thủ trưởng theo Điều 34 BLTTHS Do vậy với khóa luận này tác giả cố gắng nghiên cứu một cách cơ bản, tương đối hệ thống về quy định của pháp luật, thực trạng hoạt động và định hướng hoàn thiện chế định về Thủ trưởng CQĐT ở nước ta hiện hành

Do hiểu biết và khả năng nhận thức còn hạn chế nên khi nghiên cứu tác giả sẽ vận dụng một cách khoa học các nguồn tài liệu sẵn có và tất nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn

- Đóng góp của đề tài

Thông qua đề tài này, tác giả góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và những quy định của pháp luật về chế định Thủ trưởng CQĐT hiện nay Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung nghiên cứu những bất cập trong quy định của pháp luật cũng như những bất cập trong thực tiễn hoạt động và các kiến nghị hoàn thiện chế định này

Ở chương 1, tác giả trình bày những khái quát chung về chức danh Thủ trưởng CQĐT trong pháp luật TTHS Việt Nam, như sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của chế định này qua các giai đoạn cụ thể Đồng thời, đi vào phân tích để xác định được khái niệm, vai trò, vị trí pháp lý của chức danh Thủ trưởng CQĐT trong TTHS và những tiêu chuẩn, thủ tục bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT

Ở chương 2, tác giả trình bày những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT trên cơ sở phân tích nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT với tư cách là người đứng đầu một

cơ quan nhà nước và với tư cách là một người THTT

Ở chương 3, xuất phát từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của Thủ trưởng, tác giả đánh giá những mặt đã đạt được, những bất cập trong quy định của pháp luật và trong thực tiễn hoạt động của Thủ trưởng CQĐT Qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Thủ trưởng CQĐT

Trang 11

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Với phạm vi nghiên cứu có hạn, tác giả chỉ tập trung làm rõ những vấn đề về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT trong TTHS mà không

đề cập đến các hoạt động tư pháp khác Trong đó, tác giả đề cập đến những hoạt động chính của Thủ trưởng CQĐT trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bao gồm hoạt động quản lý và hoạt động tố tụng (thực hiện hoạt động điều tra), nêu bật những hạn chế còn tồn tại không chỉ trong lĩnh vực lập pháp mà cả trong thực tiễn áp dụng,

đồng thời đề ra những kiến nghị khắc phục theo ý kiến chủ quan của mình

- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là hai phương pháp được

sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra, tùy từng vấn đề mà tác giả vận dụng các phương pháp khác nhau như phương pháp phân tích, tổng hợp,

so sánh, diễn dịch, quy nạp, thống kê, trích dẫn…

- Kết cấu đề tài

Đề tài ngoài lời nói đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo bao gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về chức danh Thủ trưởng Cơ quan điều tra

trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam về nhiệm vụ,

quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan điều tra

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số biện pháp hoàn thiện

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC DANH THỦ TRƯỞNG CƠ

QUAN ĐIỀU TRA TRONG PHÁP LUẬT TTHS VIỆT NAM

Để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm ở nước ta thì nhiệm vụ đặt ra là phải không ngừng tăng cường đổi mới, hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các cơ quan và các chủ thể bảo vệ pháp luật, trong đó có CQĐT và chức danh Thủ trưởng CQĐT Bởi đây là cơ quan và chủ thể có nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân

Chính vì vậy, mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định đổi mới hoạt động của CQĐT và Thủ trưởng CQĐT là một nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp được ghi nhận trong Nghị quyết Số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Và đặc biệt trong Nghị quyết số

08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, tăng cường phối hợp hợp giữa CQĐT chuyên trách với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để phục vụ tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm; sắp xếp củng cố lại CQĐT; quy định rõ nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT và ĐTV; kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra và trinh sát…”[7] là một nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp hiện nay

Nhằm góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về chức danh Thủ trưởng CQĐT, ở chương I này tác giả sẽ tập trung làm rõ những vấn đề về lịch sử hình thành và phát triển, khái niệm, cơ cấu tổ chức và vị trí, vai trò, chức năng của

đối tượng này trong bộ máy Nhà nước cũng như trong hoạt động tố tụng

1.1 Những vấn đề cơ bản về chức danh Thủ trưởng Cơ quan điều tra

1.1.1 Khái niệm về Thủ trưởng cơ quan điều tra

CQĐT là cơ quan nhà nước được thừa nhận là cơ quan THTT, có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng mà chủ yếu là hoạt động điều tra nhằm ngăn chặn

Trang 13

tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và kịp thời mọi hành vi phạm tội và kẻ phạm tội, thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội và không làm oan người vô tội; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Và theo quy định của PLTCĐTHS thì các CQĐT được tổ chức thành ba hệ thống là CQĐT trong Công an nhân dân; CQĐT trong Quân đội nhân và CQĐT của VKSNDTC và VKS quân sự trung ương Trong CQĐT có các chức danh: Thủ trưởng, Phó TT CQĐT, ĐTV và các cán bộ giúp việc, đứng đầu mỗi CQĐT là Thủ trưởng CQĐT Như vậy, Thủ trưởng CQĐT là người THTT thuộc CQĐT và là người đại diện cho CQĐT Mặc dù đây là một chức danh quan trọng trong ngành tư pháp, là người lãnh đạo điều hành CQĐT, nhưng cho đến nay, trong các văn bản pháp luật chưa thấy xuất hiện khái niệm chính thức nào về Thủ trưởng CQĐT Chúng ta chỉ thấy một số quy định về chức danh này tại Điều 33, 34 BLTTHS năm 2003 và khoản 4 Điều 1 PLTCĐTHS năm 2004, qua đó chúng ta thấy rằng: Thủ trưởng CQĐT là người đứng đầu lãnh đạo CQĐT Như vậy, về mặt quản lý hành chính và cả quản lý về nghiệp vụ thì Thủ trưởng là một cá nhân, là người lãnh đạo, điều hành CQĐT, là người đại diện cho CQĐT về mọi mặt Tổ chức và hoạt động của Phó TT CQĐT và ĐTV đặt dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng CQĐT Thủ trưởng là người phải chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của CQĐT do mình lãnh đạo

Trong hoạt động TTHS, Thủ trưởng CQĐT là một chức danh tư pháp độc lập,

là người THTT quy định tại Điều 33 BLTTHS, được hình thành từ con đường bổ nhiệm, có những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật Theo pháp luật hành chính thì Thủ trưởng CQĐT là người lãnh đạo CQĐT

Cho nên, từ các quy định của pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về

Thủ trưởng CQĐT như sau: “Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để lãnh đạo điều hành Cơ quan điều tra và thực hiện những chức năng, nhiệm vụ tố tụng theo quy định của pháp luật”

Từ khái niệm trên ta thấy Thủ trưởng CQĐT vừa có chức danh hành chính vừa

có chức danh tố tụng Điều này thể hiện ở chỗ từ bản thân từ “hành chính” có nghĩa

Trang 14

là quản lý, chỉ đạo, điều hành và thể hiện quyền lực được trao Mỗi một tổ chức, cơ quan, đơn vị, dù bất kỳ trong lĩnh vực thuộc khu vực công (lập pháp, hành pháp hay

tư pháp) hay tổ chức thuộc khu vực tư cũng phải có chủ thể có thẩm quyền đứng đầu để quản lý Đó là một chức danh “hành chính” CQĐT là cơ quan mang quyền lực nhà nước, sự thể hiện một chức danh quản lý và tố tụng thực hiện các chức năng nhiệm vụ của cơ quan này là không thể thiếu được Vì vậy, chức danh Thủ trưởng CQĐT trước hết phải được hiểu là chức danh “hành chính”

Bên cạnh đó, khái niệm “tố tụng” nghĩa là quá trình tiến hành toàn bộ những hoạt động do pháp luật quy định để đảm bảo xử lý vụ án được nhanh chóng, chính xác và nghiêm minh BLTTHS cũng đã ghi nhận thẩm quyền của chức danh Thủ trưởng CQĐT với tư cách là người THTT Cho nên, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Thủ trưởng CQĐT phải thực hiện chức năng tố tụng để tiến hành hoạt động điều tra Do đó, ngoài chức danh hành chính thì Thủ trưởng CQĐT còn mang chức danh tố tụng Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động lập pháp của Việt Nam cũng như nhiều nước cho thấy, việc phân định rạch ròi các khái niệm, nhất là khái niệm trong quản lý nhà nước là không thể thực hiện được Khi chúng ta càng cố gắng phân định ranh giới thì sẽ làm cho cách tiếp cận và giải quyết vấn đề thêm phức tạp Do đó, việc phân định rõ chức danh tố tụng hay chức danh hành chính của Thủ trưởng CQĐT chỉ có ý nghĩa tương đối Chức danh của Thủ trưởng CQĐT cần được nhìn nhận trong từng hoàn cảnh cụ thể mà đó có thể là chức danh “hành chính” hay chức danh “tố tụng”

Như đã phân tích ở trên thì Thủ trưởng CQĐT là người đứng đầu CQĐT và chịu trách nhiệm về hoạt động của CQĐT Thông qua các quy định của pháp luật về

Cơ quan THTT và người THTT ta thấy chức năng của Thủ trưởng CQĐT và CQĐT

có nhiều điểm tương đồng Thủ trưởng CQĐT đại diện cho cơ quan mình quản lý

để tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp điều tra hợp pháp

do BLTTHS quy định (ví dụ: Khởi tố bị can, hỏi cung bị can, thực nghiệm điều tra…) để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu

Trang 15

quan áp dụng các biện pháp ngăn ngừa Để thực hiện chức năng của CQĐT và Thủ trưởng CQĐT được pháp luật tố tụng trao các quyền hạn sau:

+ Khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

+ Tiến hành các hoạt động điều tra do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;

+ Áp dụng các biện pháp ngăn chặn khi có đủ căn cứ luật định;

+ Ra những quyết định cần thiết để giải quyết vụ án như: quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ điều tra khi có căn cứ luật định;

+ Làm bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố bị can nếu có đủ chứng cứ để xác định

có tội phạm và người phạm tội

1.1.2 Lịch sử hình thành chế định Thủ trưởng CQĐT

Nhằm cung cấp kiến thức tổng quan cho quá trình tìm hiểu về bản chất của chế định Thủ trưởng CQĐT theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam qua các thời kì, ở tiểu mục này tác giả sẽ tập trung làm rõ các vấn đề về lịch sử hình thành

và phát triển của chức danh Thủ trưởng CQĐT Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu về lịch sử hình thành chế định này sẽ đạt được những ý nghĩa khoa học quan trọng sau:

+ Góp phần tìm hiểu lịch sử hình thành các chức danh khác của những người THTT nói chung vì giữa Thủ trưởng CQĐT và những người THTT khác có mối liên hệ khá mật thiết Và trong quá trình nghiên cứu lịch sử hình thành pháp triển của Thủ trưởng CQĐT chúng ta sẽ có những so sánh với các chức danh khác như Viện trưởng VKSND hay Chánh án TAND…

+ Đặc biệt hơn khi tìm hiểu về lịch sử hình thành chế định Thủ trưởng CQĐT giúp chúng ta tìm ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình hoàn thiện pháp luật TTHS Bởi khi nghiên cứu chế định này chúng ta thấy được mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, giữa những quy định mới và quy định cũ Thông qua những tài liệu liên quan còn giúp chúng ta có kiến thức toàn diện hơn về những lần cải cách, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về Thủ trưởng CQĐT Tìm ra những điểm

Trang 16

mới, tích cực cũng như những điểm còn hạn chế, tiêu cực gây ảnh hưởng đến hoạt động của Thủ trưởng CQĐT từ đó kế thừa những kinh nghiệm lập pháp trước đó để xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS nói chung cũng như các quy định về thủ trưởng CQĐT nói riêng

1.1.2.1 Những quy định của pháp luật tố tụng về chức danh Thủ trưởng CQĐT trước khi có BLTTHS năm 2003 và PLTCĐTHS năm 2004

Trước khi có BLTTHS năm 2003, các văn bản pháp luật TTHS ở nước ta chưa

có điều khoản quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người THTT nói chung, của Thủ trưởng CQĐT nói riêng Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn phát triển của luật TTHS, tùy theo bối cảnh kinh tế - xã hội, phương thức tổ chức bộ máy nhà nước, nhận thức và sự phát triển chung của xã hội mà phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng có nhiều thay đổi

Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đến trước năm 1988

Xuất phát từ nhận thức và tầm quan trọng của việc sử dụng lực lượng vũ trang trong việc giành chính quyền, từ đó khi Cách mạng tháng Tám nổ ra ngày 16/4/1945 Tổng bộ Việt Minh đã ra chỉ thị về việc tổ chức các Ủy ban dân tộc giải phóng với bốn nhiệm vụ cụ thể trong đó có:

+ Bảo vệ trật tự trị an và diệt trừ Việt gian;

+ Phân xử các việc xung đột, xích mích trong nội bộ quần chúng nhân dân tr.32]

[47-Như vậy, có thể thấy tư tưởng về tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chính quyền, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân đã xuất hiện trước cả khi giành chính quyền

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập cùng với việc phá hủy đến tận gốc rễ bộ máy hành chính quan liêu, bộ máy tư pháp quân đội nhà nghề, nhà tù và trại tập trung của chế độ

Trang 17

thực dân phong kiến, thải hồi bọn tông lý, quan lại, mật thám chúng ta phải khẩn trương xây dựng bộ máy hành chính nhà nước cách mạng nhằm đè bẹp sức phản kháng của bọn thực dân phong kiến đã bị lật đổ, củng cố thành quả cách mạng, xây dựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cơ quan công an là một bộ phận của bộ máy nhà nước, là công cụ đắc lực của chuyên chính vô sản được giao nhiệm vụ điều tra nhằm giữ vững chính quyền, giữ gìn an ninh trật tự cho đất nước Vì vậy việc sớm thành lập cơ quan công an để thực hiện nhiệm vụ này đặc biệt là trong bối cảnh nhà nước Cách mạng còn non trẻ là hết sức cần thiết Trong thời kỳ này các tổ chức tiền thân của lực lượng Công an đã được thành lập Tại miền Bắc thành lập Sở liêm phóng Bắc bộ; tại miền Trung thành lập sở trinh sát; tại miền Nam thành lập quốc gia tự vệ cuộc…có nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và từ đây hoạt động điều tra bắt đầu hình thành

Sau khi các hoạt động dần dần ổn định, ngày 20/7/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 131/SL thành lập tổ chức tư pháp công an Có thể nói, tổ chức

tư pháp công an là tổ chức CQĐT đầu tiên trong lực lượng công an thực hiện những nhiệm vụ điều tra theo quy định của pháp luật Trách nhiệm điều tra vụ án hình sự

về tội phạm xảy ra được giao cho Ủy viên tư pháp công an Các Ủy viên tư pháp công an gồm có: chủ sự và phó chủ sự phòng chính trị - phòng tư pháp; trưởng ban

tư pháp; quận trưởng công an các quận ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn; trưởng ty công an các tỉnh

Các chức danh trong ngành Công an lúc đó được giao nhiệm vụ với tư cách là

Ủy viên tư pháp công an là các cán bộ lãnh đạo như Trưởng ty, Trưởng ban chính trị và các trưởng ban khác…được Bộ nội vụ chỉ định Các Ủy viên tư pháp công an nói trên có toàn quyền điều tra các vụ phạm pháp và chịu sự kiểm soát, chỉ đạo của Chưởng lý, Biện lý Bên cạnh các chức danh ủy ban Tư pháp công an, trong ngành Công an còn có các cán bộ thực hiện nhiệm vụ điều tra, xét hỏi theo pháp luật TTHS, họ chỉ làm việc với tư cách là người giúp việc cho Ủy viên tư pháp công an

Trang 18

Ngày 12/5/1951, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 05/CT về nhiệm

vụ và tổ chức của công an, trong đó quyết định thành lập phòng chấp pháp trực thuộc Ty bảo vệ chính trị Phòng chấp pháp đã thay thế cho tổ chức Tư pháp công

an và đảm nhận cả hai nhiệm vụ điều tra tố tụng và điều tra trinh sát, bắt – hỏi cung các vụ do thám, phản động quan trọng ở Trung ương và địa phương

Sau đó, ngày 16/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành sắc lệnh số 141/SL về việc tách phòng chấp pháp ra khỏi Ty bảo vệ chính trị và thành lập vụ chấp pháp trực thuộc Thứ bộ công an Tại các Ty công an có ban chấp pháp

Từ ngày 01/9/1959, Phòng chấp pháp trực thuộc Bộ công an cũng đã được sửa đổi thành Vụ chấp pháp (bí danh là Vụ 4) theo tinh thần của Công văn số 806 mà

Bộ công an gửi đến các ban ngành địa phương Đến năm 1961, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/CP – theo đó Vụ chấp pháp sẽ đổi tên thành Cục chấp pháp

Trong suốt thời kỳ 1954 - 1988, trong khi tên gọi của CQĐT có sự thay đổi khá nhiều và tên gọi của các chủ thể thực hiện nhiệm vụ truy tố, xét xử ngày càng được chuyên môn hóa (kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm) thì tên gọi của các cán

bộ trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý CQĐT vẫn gắn liền với tên gọi của cơ quan thực hiện chức năng này Trong bộ máy cơ quan chấp pháp thành lập theo sắc lệnh 141/SL ngày 16/122/1953 gọi là “Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục chấp pháp” ở

Bộ, “Trưởng phòng, Phó trưởng phòng chấp pháp” ở địa phương Và “cán bộ chấp pháp” cũng chỉ làm việc với tư cách giúp việc cho Cục trưởng, Phó cục trưởng cục chấp pháp, Trưởng phòng, phó trưởng phòng chấp pháp (từ năm 1954 – 1981); Trong Cơ quan an ninh điều tra xét hỏi và Cơ quan cảnh sát điều tra xét hỏi thành lập theo Nghị định số 250/CP ngày 12/6/1981 gọi là “Cán bộ xét hỏi” (từ năm 1981

- 1988) Còn tên gọi chức danh “Thủ trưởng CQĐT” (để chỉ người đứng đầu quản

lý CQĐT như hiện nay) được hình thành bắt đầu kể từ khi có BLTTHS năm 1988 Cũng chính vì tên gọi như vậy mà người đứng đầu quản lý Cơ quan công an hoặc

Cơ quan chấp pháp, Cơ quan điều tra xét hỏi khi tiến hành hoạt động của mình

Trang 19

không cần có chức danh pháp lý, không cần được bổ nhiệm và cũng không cần có

sự chuyên môn hóa trong công việc Tất nhiên, từ việc những người này không có một danh nghĩa pháp lý cụ thể thì dẫn đến việc họ không phải chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả hoạt động, như vậy chất lượng hoạt động của CQĐT và hoạt động điều tra sẽ không được nâng cao

Có thể nói, giai đoạn này hệ thống CQĐT đã được hình thành hoạt động thường xuyên và có nề nếp theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, do thời kỳ này nước ta chưa có BLTHS nên hoạt động tố tụng của CQĐT được thực hiện trên cơ

sở các luật tổ chức và các bản hướng dẫn đơn lẻ của cơ quan có thẩm quyền Liên quan đến vấn đề quy định nhiệm vụ, quyền hạn của người THTT đặc biệt là người quản lý CQĐT thì pháp luật tố tụng giai đoạn này có đặc điểm sau:

+ Thứ nhất là, chưa có văn bản cụ thể quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu quản lý CQĐT

+ Thứ hai là, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng hành chính và chức năng

tố tụng của người đứng đầu quản lý CQĐT

+ Thứ ba là, người đứng đầu quản lý CQĐT chịu trách nhiệm về hoạt động tố tụng của CQĐT, có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng quan trọng (trừ việc

ra các phán quyết về vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử theo nguyên tắc khi xét

xử thẩm phán và hội thẩm độc lập, chỉ tuân theo pháp luật) ĐTV chỉ thực hiện hoạt động tố tụng theo sự phân công của người đứng đầu quản lý CQĐT.[35]

Buổi đầu khi nhà nước còn non trẻ nhưng trong tổ chức và hoạt động của CQĐT và những người làm nhiệm vụ giải quyết vụ án hình sự cũng đã có chuyển biến mạnh mẽ về tên gọi và chuyên môn Tuy nhiên, thời kỳ này do yêu cầu của cuộc các mạng nên hoạt động xây dựng pháp luật chỉ có những quy định mang tính nguyên tắc, còn các tiêu chuẩn của cán bộ quản lý CQĐT chưa được quy định cụ thể; nhiều người chưa được đào tạo về pháp luật, nghiệp vụ vì thế phần nào còn hạn chế trong công tác chuyên môn Cho nên đây được coi là thời kỳ sơ khai để phát triển thành chế định Thủ trưởng CQĐT như hiện nay

Trang 20

Giai đoạn từ năm 1988 – Ban hành BLTTHS đầu tiên đến trước năm 2003

Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước nhà được thống nhât

và cùng tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa Trước yêu cầu nâng cao hiệu lực quản

lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong quản lý nhà nước, đòi hỏi Nhà nước ta phải xây dựng bản hiến pháp mới – Hiến pháp 1980 Cùng với hiến pháp 1980, Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của đảng

đã khẳng định vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của pháp chế Xã hội chủ nghĩa: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Từ đó, hàng loạt văn bản pháp luật mới của nhà nước trên những lĩnh vực

khác nhau đã được ban hành từng bước đáp ứng yêu cầu thống nhất về pháp luật: Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981; Bộ luật hình sự 1985….Riêng về pháp luật TTHS thì năm 1988 cũng đã xây dựng được

bộ luật đầu tiên với hiệu lực pháp lý cao thay thế các văn bản pháp luật cũ về TTHS trước đây như Luật, sắc luật, sắc lệnh…Đó là BLTTHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam do Quốc hội khóa VIII thông qua ngày 28/6/1988 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1989 BLTTHS năm 1988 là Bộ luật đầu tiên pháp điển hóa các quy định của pháp luật trước đó về trình tự, thủ tục tố tụng đối với việc giải quyết các vụ án hình sự; về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các

cơ quan THTT; về quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng BLTTHS năm 1988 hầu như kế thừa pháp luật TTHS trước đó về thẩm quyền của người THTT Trong bộ luật này chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của người THTT; hầu như các quyền hạn chủ yếu liên quan đến thủ tục điều tra đều thuộc Thủ trưởng CQĐT; còn ĐTV chỉ thực hiện các biện pháp điều tra mang tính nghiệp vụ còn thực chất ĐTV không tự mình quyết định được bất cứ điều gì về vụ án

Sau khi ban hành BLTTHS năm 1988, dựa trên những quy định có tính chất nguyên tắc của Bộ luật này Hội đồng nhà nước đã ban hành PLTCĐTHS năm 1989 Theo Pháp lệnh này thì người đứng đầu CQĐT là Thủ trưởng, Phó TT CQĐT;

Trang 21

những cán bộ điều tra trong cơ quan này gọi là ĐTV, đồng thời đã quy định rất cụ thể những tiêu chuẩn để bổ nhiệm chức danh trên

Theo BLTTHS năm 1988 và PLTCĐTHS năm 1989 thì Thủ trưởng CQĐT là người có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, khám xét, thay đổi ĐTV trong trường hợp BLTTHS quy định; trực tiếp tiến hành điều tra; ra quyết định đình chỉ điều tra Như vậy, quyền năng tố tụng chủ yếu thuộc về Thủ trưởng CQĐT thế nhưng khi quy định về những người THTT tại Điều 27 BLTTHS thì Thủ trưởng CQĐT không phải là người là người THTT Bên cạnh đó còn có điều vô lý là trong khi Thủ trưởng CQĐT không phải là ĐTV lại có quyền trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra Trong CQĐT còn có một loại chủ thể khác là Phó TT CQĐT, trong PLTCĐTHS quy định: Phó TT CQĐT có quyền xử lý vật chứng (Điều 58); ra lệnh bắt bị can để tạm giam (Điều 62); ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 63); Ra lệnh tạm giữ (Điều 68)…Ngoài ra, khi Phó TT CQĐT được Thủ trưởng ủy quyền thì chủ thể này còn có toàn quyền như Thủ trưởng CQĐT (Điều 22 PLTCĐTHS năm 1989) Tuy nhiên, cũng như Thủ trưởng, Phó TT CQĐT không được quy định là người THTT theo quy định tại Điều 27 BLTTHS năm 1988 thì lại

có quyền năng tố tụng hơn cả ĐTV Như vậy, quyền năng tố tụng của Thủ trưởng

và Phó TT CQĐT đã làm mất đi và thủ tiêu quyền tố tụng của ĐTV Mặt khác, Điều

94 của BLTTHS năm 1988 chỉ quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT và ĐTV mà chưa quy định một cách đầy đủ và cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của những người này; đặc biệt chưa có sự phân biệt giữa chức năng quản

lý và chức năng tố tụng của Thủ trưởng CQĐT

Có thể nói, BLTTHS năm 1988 là Bộ luật TTHS đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Bộ luật đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Tuy nhiên, Bộ luật còn tồn tại những điều bất

Trang 22

hợp lý như trên nên đã ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng của Thủ trưởng CQĐT, do

đó cần thiết phải được sửa đổi theo hướng quy định lại nhiệm vụ quyền hạn của người THTT và bổ sung thêm chức danh Thủ trưởng, Phó TT CQĐT vào đội ngũ những người THTT

1.1.2.2 Những quy định của pháp luật tố tụng về Thủ trưởng CQĐT từ khi

có BLTTHS năm 2003 đến nay

Cùng với công cuộc cải cách kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã được Đảng và nhà nước ta tích cực triển khai và coi đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Trong bối cảnh đó, Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, đồng thời nhiều quy định văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động tố tụng cũng được ban hành như: Luật tổ chức tòa án nhân dân 2002; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002; Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân 2002; Pháp lệnh kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân 2002 Vì vậy yêu cầu sửa đổi BLTTHS năm 1988 vừa để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách tư pháp, vừa đáp ứng yêu cầu thống nhất hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng Ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ I, khóa XI BLTTHS được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2004 BLLTTHS này thay thế BLTTHS năm 1988 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990, ngày 22/12/1992 và ngày 9/6/2000 Kế thừa những quy định của pháp luật TTHS trước

đó và tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm mới xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở nước ta, BLTTHS năm 2003 đã hoàn thiện một cách đáng kể các quy định về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT:

- Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật TTHS chức danh Thủ trưởng, Phó TT CQĐT được công nhận là người THTT quy định tại Điều 33 BLTTHS năm 2003 Nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chủ thể này được quy định tập trung, cụ thể tại Điều 34 Bộ luật Đồng thời, trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể của quá trình giải

Trang 23

quyết vụ án hình sự nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT cũng

có quy định rõ ràng

- BLTTHS năm 2003 đã có quy định phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó TT CQĐT với nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của ĐTV Đồng thời có sự phân định ở mức độ nhất định giữa chức năng quản lý và chức năng tố tụng cụ thể là:

+ Khi thực hiện chức năng quản lý Thủ trưởng CQĐT trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động điều tra của CQĐT, phân công Phó TT, ĐTV trong việc điều tra các vụ

án hình sự và kiểm tra hoạt động của họ, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó TT và ĐTV; giải quyết các khiếu nại

tố cáo theo thẩm quyền

+ Khi tham gia hoạt động tố tụng với tư cách là người tiến hành điều tra vụ án hình

sự, Thủ trưởng CQĐT được ra các quyết định tố tụng liên quan đến việc giải quyết

vụ án như: quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; áp dụng thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; truy nã bị can, trưng cầu giám định, kết luận điều tra…Ngoài ra, Thủ trưởng còn có quyền trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra, thực hiện việc cấp thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa khi được yêu cầu

Việc đổi mới quy định về chức danh Thủ trưởng CQĐT của BLTTHS năm

2003 đã khắc phục những thiếu sót của pháp luật TTHS trong giai đoạn trước Đồng thời, việc Bộ luật quy định như trên đã tạo điều kiện cho Thủ trưởng CQĐT thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm tố tụng của mình góp phần giải quyết vụ án hình sự kịp thời, đúng đắn và hiệu quả; phù hợp với những nội dung cải cách tư pháp đã được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng; giải quyết đúng đắn vấn

đề phân cấp thẩm quyền của các trình tự TTHS, chức trách của Cơ quan THTT và trách nhiệm của người THTT trong việc làm oan sai, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh

Trang 24

Dựa trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã được sửa đổi , bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 Đồng thời, căn cứ vào BLTTHS năm 2003

Ủy ban thường vụ quốc hội đã ban hành PLTCĐTH năm 2004 ngày 20/8/2004 quy định tổ chức bộ máy, thẩm quyền điều tra cụ thể của CQĐT; nhiệm vụ, quyền hạn

cụ thể trong hoạt động điều tra của một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Đồng thời quy định cơ cấu tổ chức trong bộ máy CQĐT gồm Thủ trưởng CQĐT, Phó TT CQĐT và ĐTV (khoản 4 điều 1 PLTCĐTHS); quy định rõ ràng hơn về tiêu chuẩn thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó TT CQĐT (Điều 35 PLTCĐTHS năm 2004)

Ngoài ra còn các văn bản pháp luật khác sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn việc thực hiện pháp lệnh trên như Pháp lệnh sửa đổi PLTCĐTHS năm 2006; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung PLTCĐTHS năm 2009; Nghị quyết 727/2004/NQ – UBTVQH11 thi hành PLTCĐTHS…

1.2 Tiêu chuẩn, thủ tục và thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng CQĐT

Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nhà xuất bản TP.HCM năm 2002 thì các

thuật ngữ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức được hiểu như sau: “bổ nhiệm là việc

cử giữ một chức vụ nào đó trong bộ máy nhà nước”; “miễn nhiệm là việc cho thôi không tiếp tục giữ chức vụ nào đó trong bộ máy nhà nước”; “Cách chức là việc không cho giữ chức vụ đang làm nữa”[57] Như vậy, ta có thể hiểu chức danh Thủ

trưởng CQĐT được hình thành bằng con đường bổ nhiệm, và thôi giữ chức vụ đó bằng con đường miễn nhiệm, cách chức

1.2.1 Tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT

- Thủ trưởng CQĐT là người đứng đầu CQĐT, chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra, vì vậy tiêu chuẩn, điều kiện để được bổ nhiệm làm Thủ trưởng CQĐT phải cao hơn so với việc bổ nhiệm ĐTV Và đòi hỏi Thủ trưởng

CQĐT phải có những “tố chất” đặc biệt, luôn phải nhạy bén, sáng tạo trong công

Trang 25

việc, do đó việc xác định những điều kiện, tiêu chuẩn để bổ nhiệm Thủ trưởng CQĐT rất quan trọng Căn cứ theo quy định tại Điều 35 PLTCĐTHS năm 2004 để được xét bổ nhiệm Thủ trưởng CQĐT phải có đủ hai điều kiện sau:

+ Đã được bổ nhiệm ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp

+ Có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra [13]

Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi ngành mà điều kiện bổ nhiệm Thủ trưởng CQĐT cũng có sự khác biệt Cụ thể, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 PL số 03/2002/PL – UBTVQH11 về Kiểm sát viên VKSND (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì điều kiện để được bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT thuộc VKKSNDTC người đó phải là ĐTV cao cấp, có năng lực tổ chức chỉ đạo hoạt động điều tra; trong trường hợp do nhu cầu công tác, những người đã được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên VKSNDTC đang đảm nhiệm vụ Vụ trưởng, Phó vụ trưởng và tương đương có thể được bổ nhiệm làm Thủ trưởng CQĐT [16];

Theo Điều 6 Quyết định 1252/2004/QĐ- BCA (X13) quyết định của Bộ trưởng Bộ công an, ban hành quy định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó TT CQĐT và ĐTV trong Công an nhân dân thì những cán bộ có đủ các điều kiện sau đây có thể được bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó

TT Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan An ninh điều tra: Đã được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo chỉ huy các chức danh quy định từ Điều 1 đến Điều 3 của quyết định này; và có năng lực lãnh đạo chỉ đạo các hoạt động điều tra [18]

Như vậy, để được xét bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT thì người đó phải đáp ứng được điều kiện về thời gian công tác pháp luật và đáp ứng đủ tiêu chuẩn về năng lực hoạt động thực tiễn Có thể cụ thể hóa những tiêu chuẩn đó như sau:

Thứ nhất, phải là người có phẩm chất chính trị đạo đức: Thủ trưởng CQĐT

phải có lập trường tư tưởng vững vàng, nghiệm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng – nhà nước, các Nghị quyết, chỉ thị của ngành Công

an, Quân đội, Kiểm sát; không bị sa ngã trước cám dỗ của đồng tiền hay những tiêu cực, tệ nạn xã hội, luôn là người đứng ra bảo vệ lẽ phải và sự thật, đấu tranh lên án

Trang 26

những hiện tượng tiêu cực Thủ trưởng CQĐT không được hách dịch cửa quyền với nhân dân, phải có quan điểm khách quan, toàn diện, lập trường tư tưởng vững vàng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Thứ hai, Thủ trưởng CQĐT là người có đầy đủ kiến thức cần thiết về pháp

luật: pháp luật là chuẩn mực, hướng dẫn chức năng tố tụng của Thủ trưởng CQĐT

vì vậy đòi hỏi Thủ trưởng CQĐT phải không ngừng nghiên cứu Trong đó, thủ trưởng CQĐT phải đặc biệt nắm vững về nội dung của BLHS, BLTTHS, PLTCHĐTHS và các đạo luật, văn bản có liên quan đến lĩnh vực mà mình có trách nhiệm quản lý Việc nắm chắc pháp luật sẽ giúp cho Thủ trưởng CQĐT không vi phạm trình tự thủ tục tố tụng, tránh làm oan sai người vô tội, không bỏ sót tội phạm

Thứ ba, có trình độ nghiệp vụ điều tra và có năng lực tổ chức quản lý và chỉ

đạo hoạt động điều tra Để đối phó với CQĐT, người thực hiện hành vi phạm tội luôn tìm cách thay đổi phương thức, thủ đoạn gây án với mức độ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn Do đó, nếu Thủ trưởng chỉ có phẩm chất chính trị tốt và có kiến thức về pháp luật thì vẫn chưa đủ mà cần phải có kiến thức về nghiệp vụ điều tra và năng lực tổ chức quản lý, chỉ đạo hoạt động điều tra Nếu thiếu kiến thức này thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến đến kết quả điều tra và hoạt động của CQĐT Trên đây là những tiêu chuẩn cơ bản đối với Thủ trưởng CQĐT Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu phát hiện nhanh chóng, chính xác các loại tội phạm trong xã hội hiện nay và đặc biệt là điều hành hoạt động của CQĐT, Thủ trưởng phải không ngừng rèn luyện, học hỏi những kiến thức mới và hoàn thiện mình hơn nữa

1.2.2 Thủ tục bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng CQĐT

Sau khi xác định được đối tượng xét bổ nhiệm, việc bổ nhiệm chức danh Thủ trưởng, Phó TT CQĐT các cấp được tiến hành như sau:

- Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách đề nghị

bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó TT Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra thuộc thẩm quyền của Bộ gửi Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực

Trang 27

lượng Công an nhân dân (qua vụ tổ chức cán bộ) để báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm và cấp giấy chứng nhận

- Trưởng phòng các phòng Cảnh sát điều tra, phòng An ninh điều tra cấp tỉnh; Trưởng Công an các huyện lập danh sách kèm theo hồ sơ cần đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó TT Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, ĐTV trung cấp, sơ cấp thuộc đơn vị mình gửi cho phòng Tổ chức cán bộ Công an cấp tỉnh thẩm định, báo cáo Hội đồng tuyển chọn ĐTV của Công an cấp tỉnh xét duyệt; căn cứ vào kết quả xét duyệt của Hội đồng tuyển chọn, phòng tổ chức cán bộ làm thủ tục báo cáo đồng chí giám đốc Công an tỉnh ký quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm và cấp giấy chứng nhận.[18]

Thủ trưởng CQĐT đương nhiên bị miễn nhiệm chức danh Thủ trưởng khi về hưu hoặc chuyển công tác khác, hoặc cũng có thể bị miễn nhiệm vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao; Thủ trưởng CQĐT đương nhiên bị mất chức danh này khi bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân Và tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, Thủ trưởng có thể bị cách chức khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: + Vi phạm trong công tác điều tra hình sự;

+ Vi phạm quy định tại Điều 33 của PLTCĐTHS năm 2004;

+ Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

+ Vi phạm về phẩm chất đạo đức;

+ Có hành vi vi phạm pháp luật khác

1.2.3 Thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng CQĐT

Theo Khoản 2 Điều 35 PLTCĐTHS năm 2004 thì thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp thu hồi Giấy chứng nhận Thủ trưởng CQĐT ở cấp Trung ương trong mỗi ngành do Thủ trưởng ngành quy định cụ thể: trong Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định, trong Quân đội nhân dân do Bộ

Trang 28

trưởng Bộ quốc phòng quyết định, ở VKSNDTC do Viện trưởng VKSNDTC quyết định

Việc bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhận Thủ trưởng và Phó TT CQĐT các cấp của mỗi ngành ở địa phương do thủ trưởng ngành quyết định theo đề nghị của Thủ trưởng CQĐT cấp trên trực tiếp Trong Công an nhân dân thẩm quyền bổ nhiệm được quy định như sau :

+ Bộ trưởng ký quyết định bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó TT

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ công an

+ Bộ trưởng ủy quyền đồng chí Thủ trưởng phụ trách Tổng cục cảnh sát ký quyết định bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhân Thủ trưởng, Phó TT Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh và ĐTV cao cấp lực lượng Công an nhân dân, ĐTV trung cấp, sơ cấp công tác tại các Cục Cảnh sát điều tra

+ Bộ trưởng ủy quyền đồng chí Thứ trưởng phụ trách Tổng cục An ninh ký quyết định bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó TT Cơ quan An ninh điều tra cấp tỉnh và ĐTV cao cấp lực lượng An ninh nhân dân, ĐTV trung cấp, sơ cấp công tác tại cục An ninh điều tra Bộ công an

+ Bộ trưởng ủy quyền đồng chí Giám đốc Công an cấp tỉnh ký quyết định bổ nhiệm

và cấp giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó TT Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, ĐTV trung cấp, sơ cấp ở cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện [18]

Cấp ra quyết định bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó TT CQĐT thì có thẩm quyền miễn nhiệm, cách chức chức vụ đã bổ nhiệm

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh thì thực tế công tác bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó

TT CQĐT theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 1252/QĐ-BAC(X13) ngày 05/11/2004

đến nay vẫn còn một số vướng mắc, như tiêu chuẩn “Đã được bổ nhiệm điều tra viên cao cấp hoặc điều tra viên trung cấp” Nhưng trong thời gian qua, Công an

một số địa phương khi bổ nhiệm hoặc điều động cán bộ từ đơn vị khác về giữ chức

vụ lãnh đạo các phòng PA24, PC14, PC15, PC16, PC17 hoặc trưởng, phó công an

Trang 29

cấp huyện đã chưa tính đến tiêu chuẩn và thủ tục để xét bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó

TT CQĐT Công an cấp tỉnh hoặc cấp huyện cho nên việc tiến hành bổ nhiệm các chức danh tố tụng cho các cán bộ này về sau chỉ mang tính hợp thức, vì có cán bộ chưa được đào tạo chuyên ngành điều tra tội phạm hoặc chưa trải qua công tác thực tiễn trong lĩnh vực này; lẽ ra các cán bộ này phải có thời gian để thực hiện các quy trình bổ nhiệm ĐTV rồi mới bổ nhiệm Thủ trưởng…nhưng trong thực tế phải thực hiện cả hai chức danh cùng lúc để phục vụ công tác Đối với tiêu chuẩn để xét bộ nhiệm về cơ bản đã phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp nhằm chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ theo quy định chung và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao So với thực tế hiện nay thì tiêu chuẩn về ngoại ngữ (biết một ngoại ngữ thông dụng bằng B trở lên) cần có lộ trình thực hiện cho phù hợp, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số cần vận dụng trình độ tương ứng là sử dụng thông thạo tiếng dân tộc thiểu số [30-tr.102-103]

1.3 Vị trí và vai trò của Thủ trưởng CQĐT trong tố tụng hình sự

Các quy định của pháp luật cũng như trong thực tế đã chứng minh, Thủ trưởng CQĐT có một vị trí và đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình tố tụng Khi tham gia vào hoạt động TTHS, những đóng góp của Thủ trưởng CQĐT là yếu tố ảnh hưởng to lớn và xuyên suốt quá trình điều tra vụ án hình sự Ở nước ta, chế định Thủ trưởng CQĐT đã xuất hiện khá sớm với nhiều tên gọi khác nhau Trải qua hơn nửa thế kỷ vị trí, vai trò của Thủ trưởng CQĐT trong hoạt động tư pháp hầu như có nhiều thay đổi Cùng với sự hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì chức danh Thủ trưởng CQĐT có vị trí và vai trò sau:

Trang 30

định của Thủ trưởng CQĐT Bên cạnh đó, toàn ngành Công an, Quân đội, Kiểm sát hoạt động theo cơ chế lãnh đạo theo chiều dọc, CQĐT cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo của CQĐT cấp trên trực tiếp

Trong mối quan hệ với các Cơ quan THTT khác, CQĐT ở ngang cấp, ngang quyền và đặt trong mối quan hệ phối hợp chế ước lẫn nhau Thủ trưởng CQĐT đặt ngang cấp với Viện trưởng VKSND và Chánh án TAND

Tuy nhiên, do đặc thù của ngành Kiểm sát nên các hoạt động của Thủ trưởng CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chịu sự kiểm tra giám sát của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát có quyền phê chuẩn hoặc không phê chuẩn một số quyết định của Thủ trưởng CQĐT, có quyền hủy các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT…theo quy định của pháp luật

Đối với hoạt động xét xử của Tòa án, Thủ trưởng CQĐT quyết định áp dụng các biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành

vi phạm tội trong quá trình điều tra để làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án Nhưng

do Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và quyết định bị cáo có tội hay không có tội, vì thế quyết định của Tòa án phải là quyết định khách quan, chính xác

và độc lập xét xử phải là nguyên tắc hoạt động của Tòa án Khi xét xử vụ án hình

sự, Hội đồng xét xử (thẩm phán và hội thẩm) căn cứ vào tình tiết của vụ án, căn cứ vào pháp luật để xác định tội phạm cũng như hình phạt đối với người phạm tội Các thành viên Hội đồng xét xử không để cho ai vì bất cứ lý do gì chi phối mà xử lý không đúng pháp luật Do đó, mối quan hệ tố tụng này được xác định như sau: Thủ trưởng CQĐT không được can thiệp vào việc xét xử của Tòa án, vì công tác xét xử

đã đựơc Nhà nước giao cho Tòa án Tòa án không lệ thuộc vào ý kiến của CQĐT

mà căn cứ vào pháp luật để xử lý chính xác

Trong mối quan hệ với những người tham gia tố tụng, trong giai đoạn điều tra Thủ trưởng CQĐT ở vị trí không cân bằng về quyền lực với người tham gia tố tụng Thủ trưởng CQĐT mang quyền lực Nhà nước khi tham gia tố tụng, mối quan hệ tố tụng này mang tính chất quyền uy: Thủ trưởng CQĐT là người có quyền đưa ra các yêu cầu, quyết định mà người tham gia tố tụng phải tuân thủ

Trang 31

1.3.2 Vai trò

Thủ trưởng CQĐT là chức danh tư pháp độc lập có vai trò quan trọng đối với hoạt động của CQĐT và trong tư pháp hình sự, Thủ trưởng đồng thời thể hiện ở hai

chức năng: chức năng quản lý và chức năng tố tụng

- Trong hoạt động quản lý, Thủ trưởng có vai trò quyết định trong hoạt động của CQĐT, là người trực tiếp lãnh đạo điều hành CQĐT, bảo đảm cho hoạt động của CQĐT đi đúng quỹ đạo, đạt hiệu quả và thống nhất trong toàn ngành Chức năng quản lý của Thủ trưởng thể hiện thông qua hai hoạt động là: quản lý hành chính và quản lý nghiệp vụ

+ Trong hoạt động quản lý hành chính, Thủ trưởng là người chịu trách nhiệm tổ chức cán bộ và nhân sự của CQĐT, quản lý cơ sở vật chất…nhằm đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của CQĐT

+ Trong hoạt động quản lý nghiệp vụ, Thủ trưởng là người trực tiếp tổ chức chỉ đạo, phân công Phó TT, ĐTV thực hành việc điều tra các vụ án, kiểm tra đối với hoạt động của Phó TT và ĐTV; có quyền thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó TT, ĐTV; thay đổi ĐTV…nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra các vụ án hình sự được thực hiện nghiêm chỉnh và đúng pháp luật

- Chức năng tố tụng của Thủ trưởng CQĐT là chức năng thực hiện việc điều tra vụ

án hình sự Khi thực hiện chức năng này Thủ trưởng có vai trò quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự: Thủ trưởng là người trực tiếp ra các quyết định tố tụng như: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn…

Như vậy, với tư cách là người đứng đầu CQĐT, Thủ trưởng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng của CQĐT trong suốt quá trình điều tra, bảo đảm cho hoạt động điều tra được thực hiện nghiêm chỉnh, truy cứu trách nhiệm hình

sự đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ và nâng cao pháp chế xã hội chủ nghĩa Nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện chức năng của Thủ trưởng CQĐT, BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận nhiệm vụ, quyền hạn và trách

Trang 32

nhiệm của Thủ trưởng CQĐT tại Điều 34, cụ thể hóa về thẩm quyền cũng như trách nhiệm của chức danh này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Có thể nói, từ những khái quát chung như trên tác giả đã giải quyết được những vấn đề mang tính lý luận về lịch sử hình thành và phát triển cũng như về khái niệm, vị trí, vai trò của chức danh Thủ trưởng CQĐT Từ đó góp phần cung cấp cơ

sở lý luận để chúng ta có thể thấy được ý nghĩa quan trọng của chủ thể này trong hoạt động tư pháp hình sự

Trang 33

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG VIỆT NAM VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA THỦ TRƯỞNG CƠ

QUAN ĐIỀU TRA

Thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng, yêu cầu đặt ra đối với BLTTHS

là phải đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, mọi hành vi vi phạm đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác và kịp thời Trên tinh thần đó, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung và quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của các Cơ quan THTT, nhất là xác định cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng chức danh tố tụng, trong đó có Thủ trưởng CQĐT Tại Điều

34 BLTTHS ghi nhận những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo hướng phân định tương đối rõ ràng chức năng quản lý và chức năng tố tụng Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã

xác định “Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn

tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi

và quyết định tố tụng của mình”[8] là một nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp

hiện nay Chính vì thế, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề pháp lý về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT, tác giả sẽ có sự phân

định giữa chức năng quản lý và chức năng tố tụng

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan Điều tra

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT trong việc thực hiện chức năng quản lý đối với CQĐT

Thủ trưởng CQĐT là người lãnh đạo, điều hành CQĐT, thực hiện chức năng quản lý CQĐT về mặt hành chính lẫn nghiệp vụ (quản lý tố tụng) Trong việc thực hiện chức năng quản lý đối với CQĐT, Thủ trưởng CQĐT có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 điều 34 BLTTHS:

Trang 34

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT trước hết thể hiện ở nhiệm vụ: “trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra”(điểm a khoản 1

Điều 34 BLTTHS) Đây là quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT được pháp luật trao cho

Thực hiện hoạt động điều tra là hoạt động chính và thường xuyên của CQĐT

Để hoạt động này được tiến hành một cách khoa học, thống nhất, đúng pháp luật và

có hiệu quả, Thủ trưởng CQĐT với tư cách là người lãnh đạo, điều hành CQĐT phải trực tiếp tiến hành tổ chức và chỉ đạo việc thực hiện chức năng, nghiệp vụ của CQĐT Thủ trưởng phải lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể cho từng ĐTV, từng cán bộ nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của CQĐT

Chỉ đạo được hiểu là việc hướng dẫn cụ thể theo đường lối chủ trương nhất định Như vậy, chỉ đạo là những hoạt động hướng dẫn, dẫn dắt cho biết phương hướng, cách thức tiến hành nhiệm vụ thực hiện hoạt động điều tra của Thủ trưởng CQĐT nhằm giúp Phó TT, ĐTV, cán bộ CQĐT thực hiện chính xác yêu cầu, đòi hỏi công việc và tuân thủ, áp dụng đúng, chính xác pháp luật Thủ trưởng CQĐT thực hiện hoạt động chỉ đạo thông qua các công tác như: ban hành mệnh lệnh, chỉ thị, yêu cầu, hướng dẫn, thông báo, rút kinh nghiệm, nghe báo cáo, kiểm tra…Mục tiêu là nhằm đảm bảo cho các hoạt động nghiệp vụ của Phó TT, ĐTV, các cán bộ CQĐT tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng và quy chế nghiệp vụ, bảo đảm các đề xuất, tham mưu quyết định đúng bản chất sự việc Qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thực hiện hoạt động điều tra khi giải quyết các vụ án hình sự Hoạt động tổ chức, chỉ đạo mang tính đặc thù của ngành Công an, Quân đội, Kiểm Sát là tập trung, thống nhất dưới sự lãnh đạo thống nhất của Thủ trưởng, và

có tính chất chung của các cơ quan THTT là tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật

- Cụ thể hóa hoạt động tổ chức nghiệp vụ, Thủ trưởng CQĐT có nhiệm vụ “quyết định phân công Phó thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên trong việc điều tra vụ án hình sự” (điểm b khoản 1 Điều 34 BLTTHS), còn việc phân công Phó thủ trưởng nào,

Điều tra viên nào là quyền của Thủ trưởng CQĐT xem xét quyết định sao cho khoa học và phù hợp với tính chất, mức độ của từng vụ việc cụ thể

Trang 35

Nguyên nhân là do ở mỗi cấp điều tra, mỗi CQĐT, số lượng án hình sự không phải là con số nhỏ, Thủ trưởng CQĐT không thể tự mình trực tiếp thực hiện việc điều tra đối với tất cả các vụ án hình sự Do đó, Thủ trưởng cần có người giúp việc Phó TT CQĐT là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra và quản lý CQĐT theo sự phân công của Thủ trưởng CQĐT

Có thể nói Phó TT CQĐT là người giúp việc cho Thủ trưởng CQĐT và được bổ nhiệm trong số ĐTV Bên cạnh đó, tại điểm a khoản 2 điều 33 BLTTHS năm 2003

đã ghi nhân tư cách người THTT của Thủ trưởng, Phó TT CQĐT và ĐTV Tuy nhiên, Phó TT, ĐTV chỉ đại diện cho CQĐT thực hiện hoạt động tố tụng khi được trao quyền hay nói cách khác là phải có quyết định phân công của Thủ trưởng CQĐT Do đó, TT CQĐT phải phân công Phó TT, ĐTV đại diện cho CQĐT thực hiện hoạt động điều tra trong từng vụ án cụ thể

Về hình thức, quyết định phân công phải được thể hiện bằng văn bản nhằm đảm bảo phân công trách nhiệm rõ ràng…

Vấn đề đặt ra là khi nào Thủ trưởng CQĐT ra quyết định phân công, trước hay sau khi đã khởi tố vụ án hình sự? Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 150

BLTTHS “khám nghiệm hiện trường có thể được tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự” Quy định này cho chúng ta thấy rằng, trước khi khởi tố vụ án hình sự một

số hoạt động điều tra có thể đã được tiến hành Nghĩa là, sau khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, xác định vụ việc có dấu hiệu phạm tội xảy ra, việc khám nghiệm hiện trường cần được tiến hành khi CQĐT chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án Cho nên, Thủ trưởng CQĐT phải thực hiện việc phân công Phó TT, ĐTV khi có căn cứ xác định vụ việc vi phạm pháp luật có dấu hiệu của vụ án hình sự xảy ra

- Một vấn đề nữa được đặt ra là sau khi phân công Phó TT CQĐT hoặc ĐTV thực hiện việc điều tra vụ án hình sự thì người được phân công có chịu sự kiểm tra, quản

lý nào từ phía người đã ra quyết định phân công mình hay không? Về vấn đề này BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận nhiêm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng CQĐT trong

việc “kiểm tra các hoạt động điều tra của Phó thủ trưởng và Điều tra viên” (điểm c

khoản 1 Điều 34 BLTHS)

Trang 36

Quy định này xuất phát từ yêu cầu của việc thực hiện chức năng quản lý, lãnh đạo, điều hành của Thủ trưởng Vì vậy, Thủ trưởng phải thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra hoạt động của Phó TT, ĐTV trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao Thủ trưởng thực hiện việc kiểm tra thông qua các báo cáo công tác đối với từng vụ án, từng hoạt động Khi có những thắc mắc, nghi vấn có vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của Phó TT, ĐTV, Thủ trưởng CQĐT có thể trực tiếp thực hiện hoạt động tố tụng cần thiết để xác định, làm rõ những thắc mắc, nghi vấn đó nhằm kịp thời uốn nắn và khắc phục những vi phạm có thể xảy ra Thủ trưởng thực hiện việc kiểm tra thông qua các báo cáo, rà soát lại hồ sơ vụ án,…nhằm kịp thời quán triệt quan điểm, đường lối của CQĐT trong việc giải quyết

vụ án, tạo cơ sở cho Phó TT và ĐTV thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

- Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý tố tụng của mình nếu Thủ trưởng CQĐT phát hiện các quyết định của Phó TT CQĐT và ĐTV có vi phạm thì Thủ

trưởng CQĐT có thẩm quyền ra “quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên”

(điểm d khoản 2 Điều 34 BLTTHS) Quyết định không có căn cứ và trái pháp luật được hiểu là quyết định vi phạm pháp luật, quyết định đó không dựa trên các căn cứ

mà pháp luật quy định đồng thời nó đi ngược lại với tinh thần của pháp luật

Quy định này nhằm tạo điều kiện cho Thủ trưởng kịp thời khắc phục những vi phạm có thể xảy ra trong quá trình tố tụng xuất phát từ những quyết định trái pháp luật của Phó TT CQĐT và ĐTV Khi được phân công thực hiện hoạt động điều tra, Phó TT và ĐTV có những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, có quyền ra những quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của mình Những quyết định tố tụng này được ban hành nhân danh CQĐT, do đó Thủ trưởng CQĐT là người đại diện cao nhất cho CQĐT có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp và hợp lý của những quyết định này Khi phát hiện quyết định của Phó TT CQĐT và ĐTV vi phạm pháp luật thì Thủ trưởng có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục, nếu xét thấy cấn thiết, Thủ trưởng ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định đó

Trang 37

nhằm đảm bảo hoạt động tố tụng được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

- Không chỉ kiểm tra hoạt động của ĐTV đã được phân công mà Thủ trưởng CQĐT

còn có quyền ra quyết định “thay đổi Điều tra viên” khi có căn cứ theo luật định

(điểm đ khoản 1 Điều 34 BLTTHS năm 2003)

ĐTV là người THTT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trò rất quan trọng trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ, xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm cơ sở cho việc xét xử của tòa án ở giai đoạn xét xử Bởi vậy sự khách quan, vô tư, công tâm của ĐTV ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư khi làm nhiệm vụ thì họ phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi khi có yêu cầu của Viện kiểm sát, bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…Những trường hợp ĐTV phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi gồm:

+ Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 42 BLTTHS năm 2003 + Đã THTT trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm hoặc Thư ký tòa án

Khi ĐTV từ chối THTT hoặc bị yêu cầu thay đổi thì Thủ trưởng CQĐT có nhiệm vụ xem xét, giải quyết, việc có thay đổi ĐTV THTT hay không là quyền của Thủ trưởng CQĐT Quyết định thay đổi ĐTV do Thủ trưởng CQĐT cùng cấp ra quyết định, nếu ĐTV bị thay đổi là Thủ trưởng thì việc điều tra sẽ do CQĐT cấp trên trực tiếp tiến hành (khoản 2 Điều 44 BLTTHS) Để hạn chế việc thay đổi ĐTV, Thủ trưởng CQĐT cần phải ra quyết định phân công phù hợp, không nằm trong các trường hợp bị thay đổi, bảo đảm sự khách quan vô tư của ĐTV khi THTT, bảo đảm cho hoạt động tố tụng được thực hiện đúng thủ tục, trình tự luật định Sau khi ra quyết định thay đổi ĐTV Thủ trưởng phải ra quyết định phân công ĐTV khác THTT

- Hoạt động TTHS đôi khi cũng có vi phạm, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân Để bảo đảm tính khách quan, chính xác của các hoạt động tố tụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS ghi nhận quyền khiếu nại,

Trang 38

tố cáo của công dân trong hoạt động TTHS và ghi nhận thẩm quyền của CQĐT giải quyết khiều nại, tố cáo trong một số trường hợp Do đó, Thủ trưởng CQĐT còn có

nhiệm vụ “giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra”

(điểm e khoản 1 Điều 34 BLTTHS)

+ Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp (điều 74 HP

1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001) và pháp luật ghi nhận Tại Điều 31 BLTTHS ghi

nhận nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS: “Công dân, cơ quan,

tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc thẩm quyền của cơ quan đó…”[3]

“ Khiếu nại trong tố tụng hình sự” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo thủ tục

quy định tại chương XXXV của BLTTHS, đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.[27] Như vậy, quyền khiếu nại đối với các hoạt động tố tụng của cơ quan THTT là quyền của công dân, cơ quan, tổ chức Trong TTHS, đó là những người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…Họ có quyền khiếu nại đối với tất cả các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan THTT và người tham gia tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan THTT Điều 31 BLTTHS cũng ghi nhận quyền tố cáo của công dân đối với việc làm trái pháp luật trong hoạt động TTHS của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành TTHS hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan THTT Ví dụ: khi hỏi cung bị can, ĐTV đã có hành vi bức cung, dùng nhục hình, bị can có quyền tố áo hành vi

trái pháp luật đó “Tố cáo trong tố tụng hình sự” được hiểu là việc công dân báo cho

cơ quan, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động

tố tụng của người THTT, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra,

mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức[27] Tuy nhiên, theo Điều 334 BLTTHS năm 2003 quy định thì người có quyền tố cáo chỉ là công dân;

Trang 39

người bị tố cáo không phải là bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có hành vi bị tố cáo như quy định của Luật khiếu nại tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung các năm

2004, 2005 mà chỉ là người có thẩm quyền THTT, nếu hành vi của họ gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Cho nên, trong trường hợp công chức của CQĐT mà không phải là người có thẩm quyền THTT có hành vi bị tố cáo thì việc giải quyết khiếu nại

tố cáo được tiến hành theo quy định của Luật khiếu nại tố cáo được sửa đổi, bổ sung chứ không phải theo quy định của BLTTHS

+ Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng CQĐT được quy định tại Điều

329 BLTTHS: Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của ĐTV, Phó TT CQĐT do Thủ trưởng CQĐT xem xét, giải quyết Tuy nhiên, quyết định giải quyết của Thủ trưởng CQĐT không phải là quyết định cuối cùng Đối với khiếu nại trong TTHS, người bị khiếu nại không có quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định tố tụng

và hành vi tố tụng của chính mình Việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cùng cấp hoặc cấp trên Đặc biệt, đối với một số quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người THTT thuộc CQĐT, cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra (như Bộ đội biên phòng, Hải quan, kiểm lâm…), thì luật quy định thẩm quyền thẩm quyền giải quyết thuộc về Viện kiểm sát Cho nên, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng CQĐT cùng cấp thì tiếp tục khiếu nại lên Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết và giải quyết của Viện kiểm sát cùng cấp là giải quyết cuối cùng

Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Thủ trưởng CQĐT được quy định tại khoản

1 Điều 337 BLTTHS Bởi vì, về nguyên tắc thẩm quyền giải quyết tố cáo trong TTHS là: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người THTT thuộc cơ quan có thẩm quyền THTT nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Tuy nhiên, tố cáo hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố giải quyết

+ Thời hạn giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng CQĐT là bảy ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại Như vậy, so với thời hạn giải quyết khiếu nại đối với các quyết định

Trang 40

hành chính, hành vi hành chính thì thời hạn giải quyết khiếu nại trong tố tụng hành chính ngắn hơn rất nhiều

Thời hạn mà pháp luật quy định cho việc giải quyết tố cáo là không quá sáu mươi ngày, đối với vụ việc phức tạp có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của nhiều người hoặc cần phải xác minh tại nhiều địa điểm khác nhau thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá chín mươi ngày

Do tính chất phức tạp của vụ việc hình sự mà thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo dài hơn so với các vụ việc khiếu nại, tố cáo các quyết định hành chính, hành vi hành chính

2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong việc thực

hiện chức năng tố tụng

2.1.2.1 Khi điều hành việc thực hiện điều tra vụ án hình sự

Bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý đối với hoạt động của CQĐT, Thủ trưởng CQĐT còn thực hiện chức năng tố tụng với tư cách là một chủ thể THTT

Và khi điều hành việc thực hiện điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng CQĐT có những nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 34 BLTTHS năm 2003

Thủ trưởng CQĐT có quyền ra các quyết định tố tụng như:

- “Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định không khởi tố vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án” (điểm a khoản 2 Điều 34 BLTTHS)

+ “Khởi tố vụ án hình sự” được coi là thủ tục pháp lý đầu tiên xác định có dấu hiệu

tội phạm để tiến hành các hoạt động điều tra Nó là giai đoạn độc lập, giai đoạn đầu tiên của quá trình TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu phạm tội để quyết định khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình

sự Có thể nói khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động tố tụng khác và quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở phát sinh mối quan hệ pháp luật TTHS.[48-tr.213-215]

+ Thẩm quyền khởi tố vụ án được trao cho nhiều cơ quan khác nhau trong đó có CQĐT Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 BLTTHS thì khởi tố vụ án hình sự không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT Việc khởi tố vụ

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w