1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong tố tụng hành chính

82 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Nội dung về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính có được đề cập trong các công trình khoa học sau: Luận văn cử nhân: “Thủ tục giám đố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Mục lục

Lời mở đầu 3 Chương 1 Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 7

1.1 Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 7 1.1.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính7 1.1.2 Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 8 1.1.3 Ý nghĩa của nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 10 1.2 Lược sử các quy định của pháp luật Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 12 1.3 Pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 15 1.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn thụ lý vụ án 15 1.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn lập hồ sơ vụ án 16 1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 26 1.3.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc tổ chức đối thoại giữa các đương sự khi có yêu cầu 27 1.3.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 29 1.3.6 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử 30 1.3.7 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc tham gia xét xử vụ án hành chính 31 1.3.8 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính 42

Chương 2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính - Thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện 46

2.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 46

Trang 3

2.1.1 Những kết quả đạt được 46 2.1.2 Những vướng mắc, bất cập về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong

Tố tụng hành chính 47 2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 59 2.2.1 Những kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 59 2.2.2 Kiến nghị các biện pháp đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 61

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình cải cách tư pháp để hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới Đây là một cơ hội, đồng thời cũng là một thách thức đối với các cán bộ, công chức ngành tư pháp Việt Nam Để thực hiện mục tiêu trên, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với nội dung chính: Xác định Toà án giữ vai trò trung tâm, hoạt động xét

xử là trọng tâm Đây là những bước đi đầu tiên nhằm phát triển hệ thống tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp Thể hiện tinh thần của Nghị quyết, trong những năm vừa qua, nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật mới Trong đó, có ý nghĩa quan trọng nhất đối với ngành tư pháp và tạo ra sự thay đổi tương đối đối với hệ thống Toà án Việt Nam chính là Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm

2014 Sự thay đổi trong hệ thống tư pháp yêu cầu đội ngũ Thẩm phán Việt Nam cần phải hoàn thiện kiến thức và kỹ năng trong quá trình tố tụng Trong đó, vị trí và vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hành chính là mắt xích không thể thiếu công cuộc cải cách tư pháp

Tố tụng hành chính là một ngành luật còn non trẻ, chỉ mới ra đời từ năm 1996, trễ hơn nhiều so với ngành luật tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Tuy nhiên, đây là hoạt động cho thấy Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhân dân có quyền phản đối những quyết định hành chính, hành vi hành chính không hợp pháp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình và của người khác Chính

vì vậy, hoạt động của Thẩm phán khi giải quyết các vụ án hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết xung đột trong mối quan hệ của chính quyền và nhân dân, xây dựng niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều trường hợp Thẩm phán áp dụng không thống nhất các quy định pháp luật, tính độc lập khi xét xử không được đảm bảo hoặc áp dụng không đúng, không đầy đủ các thủ tục tố tụng Bên cạnh đó, trong năm 2015, Quốc hội đã tiến hành trưng cầu ý kiến người dân trong việc sửa đổi các quy định của Luật Tố tụng hành chính Gắn liền hoạt động Toà án, hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hành chính

Trang 5

Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính” làm khoá luận tốt nghiệp Thông qua đề tài này, tác giả muốn làm

rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án hành chính,

từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế định này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nội dung về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

có được đề cập trong các công trình khoa học sau:

Luận văn cử nhân: “Thủ tục giám đốc thẩm vụ án hành chính - Thực trạng và hướng hoàn thiện” (2013) của tác giả Lê Thị Phương; “Thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính: Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” (2013) của tác giả Nguyễn Thuỳ Linh; “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” (2013) của tác giả Nguyễn Thục Đoan; “Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính” (2013) của tác giả Trương Thị Thương;

“Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Thu Hân; “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính - Lý luận và thực tiễn” (2014) của tác giả Võ Thị Phi Liễu…

Luận văn thạc sĩ: “Chứng cứ trong vụ án hành chính” (2012) của tác giả Nguyễn Sơn Lâm; “Đối thoại trong tố tụng hành chính” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Trang; “Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh” (2013) của tác giả Trần Văn Quân; “Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh” (2013) của tác giả Phạm Thị Yến Mai; “Chứng minh trong vụ án hành chính” (2014) của tác giả Phan thanh Hà…

Các bài báo “Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán và yêu cầu hoàn thiện pháp luật” của Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiện; “Thực trạng đội ngũ Thẩm phán nước ta Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm” của tác giả Đỗ Gia Thư,

“Đổi mới chế độ Thẩm phán, Hội thẩm toà án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp” của Tiến sĩ Vũ Gia Lâm; “Thực trạng của việc giao nộp, thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính và môt số kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Sơn

pháp luật” của tác giả Nguyễn Sơn Hà; “Trao đổi về bài "Đối thoại trong tố tụng hành chính”" của tác giả Nguyễn Hoàng Lâm; “Đối thoại trong quá trình giải quyết

vụ án hành chính” của tác giả Lê Thu Hằng

Trang 6

Các công trình khoa học nêu trên chỉ đề cập đến một phần nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong một giai đoạn nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hanh chính và đề xuất để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hành chính mà chưa nghiên cứu trực tiếp đến nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán một cách toàn diện

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn phân tích các nội dung cơ bản trong các quy định pháp luật về nhiệm

vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung, hoạt động tố tụng hành chính nói riêng, đồng thời đề xuất các ý kiến góp phần hoàn thiện các chế định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hành chính

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam, của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi giải quyết các vụ án hành chính, đồng thời đánh giá phần nào việc áp dụng những quy định này trong thực tiễn giải quyết vụ án hành chính kể từ khi Luật Tố tụng hành chính 2010 có hiệu lực đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp luật và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Luận văn nghiên cứu, khai thác những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính với mục đích hoàn thiện nhận thức về vị trí, vai trò, hoạt động của Thẩm phán khi giải quyết vụ án hành chính

Bên cạnh đó, luận văn cũng nêu ra những vướng mắc trong thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, đồng thời cũng đưa ra những kiến nghị, góp phần hoàn thiện các quy phạm pháp luật, hỗ trợ Thẩm phán thực hiện tốt các hoạt động tố tụng hành chính, bảo vệ công bằng xã hội

Trang 7

7 Tóm tắt nội dung đề tài

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung

sẽ được trình bày trong hai chương chính:

Chương 1: Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong Tố tụng hành chính

Chương 2: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong Tố tụng hành chính – Thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện

Ở chương 1, tác giả giải thích khái niệm, những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính Trong đó, tác giả khái quát những nội dung cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết vụ án hành chính Ở chương 2, tác giả liên hệ một phần thực tiễn việc giải quyết vụ án hành chính kể từ khi Luật Tố tụng hành chính 2010 có hiệu lực đến nay, từ đó tiến hành đánh giá, phân tích những điểm cần tiếp thu, những điểm còn hạn chế và bàn về thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hành chính Cuối cùng, tác giả đưa ra một số biện pháp, kiến nghị để phần nào hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tiễn khi giải quyết vụ án hành chính

Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực nhưng do hạn chế về trình độ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn của tác giả nên đề tài khó tránh thiếu sót nhất định Vì vậy, tác giả kính mong nhận được ý kiến và góp ý từ các Thầy Cô để khoá luận có thể hoàn thiện hơn

Trong quá trình thực hiện khoá luận, tác giả rất biết ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, Thầy Cô trường Đại học Luật TP.HCM Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy Dương Hoán - là người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trang 8

Chương 1 Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

1.1 Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

1.1.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

Đề có thể hiểu rõ khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, trước hết, chúng ta cần làm rõ khái niệm Thẩm phán Theo Điều 65 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2 của Luật này và các luật có liên quan” Như vậy, Thẩm phán là những người đạt được những yêu cầu nhất định

do pháp luật quy định, được chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm và thực hiện nhiệm vụ xét xử Bên cạnh đó, Thẩm phán còn thực hiện những nhiệm vụ khác được quy định trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân và các luật có liên quan Việc tách riêng nhiệm

vụ xét xử và các nhiệm vụ khác thành hai khoản khác nhau trong cùng một điều luật cho thấy những nhiệm vụ khác cũng quan trọng không kém so với nhiệm vụ xét xử

Đó là các công việc bổ trợ cho công tác xét xử như ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và cả những công việc nằm ngoài phạm vi tố tụng như xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền, bồi dưỡng cán bộ Toà án Đồng thời, quy định này cũng đã tạo tiền đề cho những cơ chế mở rộng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, xây dựng một ngành Toà án ngày càng độc lập, trong sạch và vững mạnh

Trong từng hoạt động tư pháp, Thẩm phán được quy định những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt, “nhiệm vụ” là “công việc phải làm

chung nhất về mặt ngôn ngữ, nhiệm vụ của Thẩm phán là những công việc mà Thẩm phán phải hoàn thành nhằm giải quyết những yêu cầu của Nhà nước và công dân trong thời gian thực hiện một công tác tư pháp; còn quyền hạn là phạm vi, mức

độ mà Thẩm phán được phép tác động lên các đối tượng có liên quan khi thực hiện

Trang 9

nhiệm vụ của mình Nhiệm vụ và quyền hạn là hai mặt của cùng một vấn đề Khi giải quyết một vấn đề, Thẩm phán cần thực hiện những công việc cụ thể và các công việc cụ thể đó chỉ được thực hiện trong một giới hạn nhất định mà pháp luật cho phép Những nhiệm vụ, quyền hạn này sẽ không có hiệu lực pháp lý nếu không được trao cho Thẩm phán bởi chủ thể có thẩm quyền Do đó, những nhiệm vụ, quyền hạn này được nhân dân, nhà nước trao cho Thẩm phán bằng hệ thống luật nội dung cũng như luật tố tụng với các quy phạm pháp luật trong Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Nghị định và các văn bản pháp luật khác Khi tiến hành hoạt động tố tụng, pháp luật trao cho Thẩm phán quyền năng pháp lý để thực hiện các công tác nghiệp

vụ và đồng thời, pháp luật cũng giới hạn phạm vi mà các quyền năng pháp lý đó được tác động

Từ đó, ta có thể định nghĩa “Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố

tụng hành chính là những quy định pháp luật tố tụng hành chính cho phép Thẩm phán được làm/không được làm các hoạt động nhất định khi thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính”

1.1.2 Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

Trong hoạt động xét xử tại toà án, nhiệm vụ chung của Thẩm phán chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo vệ công lý và bảo đảm trật tự an toàn xã hội Trong tố tụng hành chính nói riêng cũng như các lĩnh vực tố tụng khác nói chung, Thẩm phán là trung tâm của toà án, là người đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ, giúp cho các vụ án được giải quyết đúng trình tự, đúng pháp luật Hoạt động của Thẩm phán gắn với vụ án kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến khi các bản án, quyết định giải quyết vụ án được thực hiện, kết thúc một quy trình tố tụng Sự có mặt của Thẩm phán xuyên suốt quá trình tố tụng là cơ sở đảm bảo cho việc đưa ra các phán quyết hợp tình, hợp lý và hợp pháp Bên cạnh đó, với sự nổi trội của tính chất xét hỏi trong mô hình tố tụng hỗn hợp trong hệ thống tư pháp của nước ta, Thẩm phán càng thể hiện rõ vai trò là người có trách nhiệm chính trong suốt quá trình giải quyết vụ án, từ thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ cho đến điều khiển phiên toà diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán vừa mang tính tập thể, vừa mang tính cá nhân Cụ thể, trong giai đoạn xét xử vụ án hành chính, Thẩm phán vừa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ toạ, vừa thể hiện vai trò của thành viên Hội đồng xét xử Còn trong các hoạt động tố tụng khác, họ có vai trò là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, chịu trách nhiệm cá nhân đối với những hành vi pháp lý do mình thực hiện Tuy

Trang 10

vậy, khi thực hiện quyền mang tính tập thể (thông qua Hội đồng xét xử) thì Thẩm phán cũng đóng một vai trò nhất định

Với từng hoạt động tố tụng khác nhau, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán cũng có những điểm khác biệt Đối với hoạt động tố tụng hình sự, Thẩm phán có nhiệm vụ xét xử các hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không hàm oan người vô tội Đối với hoạt động tố tụng dân sự, Thẩm phán có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp về các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, dân sự, thương mại, kinh tế và lao động giữa các bên đương sự Trong hoạt động tố tụng hành chính, Thẩm phán là người giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự Song, khác với nguyên đơn dân

sự và bị đơn dân sự, với bị cáo và người bị hại, người bị kiện và người khởi kiện trong vụ án hành chính có vị thế chênh lệch rất lớn Bởi vì, một bên đương sự thường là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng bị quản lý hành chính, bên còn lại là

cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền quản lý nhà nước Chính vì vậy, vai trò của Thẩm phán trong việc đảm bảo giải quyết vụ án hành chính một cách công bằng, không bị sự chi phối của một bên đương sự là nổi trội hơn so với hai thủ tục

tố tụng còn lại

Quá trình giải quyết vụ án hành chính cũng có một số đặc điểm như giải quyết tranh chấp trong tố tụng dân sự, cụ thể: Thứ nhất, một trong các phương pháp điều chỉnh của tố tụng dân sự là phương pháp định đoạt cũng được sử dụng trong tố tụng hành chính đối với quan hệ giữa các đương sự Các đương sự được Toà án đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ luật định một cách bình đẳng Thứ hai, Luật Tố tụng hành chính tạo điều kiện cho các đương sự đối thoại để hiểu rõ những vướng mắc cũng như ý kiến của hai bên về đối tượng khởi kiện Sau quá trình đối thoại, Toà án không công nhận sự thoả thuận của các đương sự, nhưng nếu khúc mắc của hai bên không còn thì một trong hai bên có thể chấm dứt việc khởi kiện thông qua các hành

vi mà pháp luật quy định Còn so với tố tụng hình sự, hoạt động đối chất cũng được tiến hành nhằm tìm ra sự thật trong lời khai của các đương sự; đồng thời, Toà án có vai trò trọng tâm trong hầu hết các hoạt động tố tụng: xác minh, thu thập chứng cứ,

ra các quyết định giải quyết vụ án, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, Do

đó, quá trình giải quyết vụ án hành chính đòi hỏi vừa có những yếu tố của tố tụng dân sự, vừa có những yếu tố của tố tụng hình sự Thẩm phán, người đóng vai trò quyết định khi giải quyết các vụ án hành chính cần phải có một vốn kiến thức pháp

lý nhất định (từ quản lý môi trường, cấp giấy phép lao động, giấy phép đầu tư và nhiều lĩnh vực khác) cũng như khả năng nghiệp vụ linh hoạt, vững vàng khi đang giải quyết khiếu kiện hành chính liên quan

Trang 11

Chính vì vậy, khi thực hiện các hoạt động tố tụng hành chính, Thẩm phán cần vừa mềm dẻo, linh hoạt, vừa phải cương quyết, cứng rắn, phù hợp với tính chất của

có thể thực hiện tốt chức năng xét xử của mình, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong xã hội và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của các thế hệ trẻ trong tương lai, đòi hỏi phải có một hệ thống quy phạm pháp luật vững chắc, quy định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong từng lĩnh vực cụ thể Bởi lẽ các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chính là nền tảng, là một cơ chế bảo đảm để Thẩm phán thực hiện trọng trách được giao Không chỉ vậy, các quy định này còn thể hiện nghĩa vụ của các chủ thể khác trong việc phối hợp, giúp đỡ Thẩm phán thực hiện quyền tư pháp

Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được quy định trong pháp luật về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 1993 là văn bản đầu tiên quy định những nhiệm vụ, quyền hạn chung của Thẩm phán, cụ thể: Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ do

không được tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc các dịch vụ khác mà pháp luật

3 Điều 9 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm của toà án nhân dân ngày 14 tháng 05 năm 1993

4 Điều 10 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm của toà án nhân dân ngày 14 tháng 05 năm 1993

5

Điều 11 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm của toà án nhân dân ngày 14 tháng 05 năm 1993

Trang 12

không vô tư trong khi làm nhiệm vụ đó6

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm của Toà án nhân dân năm 2002 bổ sung thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn khác, bao

gồm: gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành

mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật và quy định những việc mà Thẩm phán không được làm Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 đã đồng nhất nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán với nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án: “Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy

Đồng thời, chức năng của Thẩm phán cũng được mở rộng với một số quy định mới như: Bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua việc ra quyết định xử lý vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực này, kiến nghị sửa đổi các văn bản pháp luật trái với Hiến pháp

và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

Việc được tăng thêm nhiều nhiệm vụ, quyền hạn là một cơ hội nhưng cũng là một thử thách đối với Thẩm phán nói riêng và các công chức khác của ngành Tòa

án nói chung trong việc củng cố niềm tin của nhân dân khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, vào bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nhà nước, xã hội Mỗi hoạt động pháp lý của Thẩm phán đều nhân danh Nhà nước, nhân danh công lý và có thể ảnh hưởng đến số phận pháp lý của các chủ thể khác trong

xã hội Vì vậy, bản thân các Thẩm phán cần phải xác định được nhiệm vụ, quyền hạn của chính mình trong từng lĩnh vực cụ thể Có như vậy, Thẩm phán mới có thể

sử dụng nhiệm vụ, quyền hạn của mình như một phương tiện hữu hiệu nhất thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, công bằng xã hội

Dựa theo các giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, có thể phân chia nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính thành các nhóm sau:

- Nhóm nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn thụ lý vụ án: bao gồm xem xét đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện, yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện, xem xét thụ lý

vụ án, lập hồ sơ vụ án Đây là nhóm nhiệm vụ, quyền hạn làm tiền đề cho việc Thẩm phán có tiếp tục tiến hành các hành vi tố tụng tiếp theo hay không

- Nhóm nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án: bao gồm lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định

Trang 13

đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Các quy định này giúp cho Thẩm phán kiểm tra các điều kiện để mở phiên toà xét xử vụ án, chuẩn bị các thủ tục cần thiết để xét xử vụ án hành chính (nếu vụ án được đưa ra xét xử)

- Nhóm nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn xét xử vụ án: bao gồm quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; các thủ tục khi tiến hành phiên toà, nghị án và tuyên án Đây là các quy định giúp Thẩm phán một lần nữa xác định lại sự thật của vụ án, từ đó đưa

ra các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, quyết định quyền và nghĩa vụ pháp

lý của các đương sự trong vụ án

- Các nhóm quyền khác: bao gổm giám đốc thẩm, tái thẩm; xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo thủ tục đặc biệt Đây là những quy định hỗ trợ cho Thẩm phán, khắc phục các hậu quả xảy ra trong quá trình tố tụng (nếu có)

1.2 Lƣợc sử các quy định của pháp luật Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

Cho đến trước năm 1996, vẫn chưa có một cơ chế hữu hiệu để kiểm soát nạn lạm quyền, sách nhiễu nhân dân trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy rằng Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm 1981 đã được ban hành nhằm giải quyết các khiếu nại hành chính, tranh chấp hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhân dân, tuy nhiên cơ chế này vẫn không thực sự hiệu quả khi vị thế của cơ quan nhà nước và nhân dân không ngang bằng nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp Theo đó, cơ quan nhà nước vừa là người bị khiếu nại, vừa là người giải quyết khiếu nại và nếu kết quả giải quyết khiếu nại không đúng, không đáp ứng được yêu cầu của nhân dân thì không còn một cơ chế nào khác để giải quyết vụ việc này Đáp ứng nhu cầu đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã quyết định và nhấn mạnh: “xúc tiến việc thiết lập hệ thống toà hành chính” trong hệ thống Toà án nhân dân để xét xử các khiếu kiện hành chính Theo đó, ngày 26 tháng

10 năm 1995, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân, thành lập hệ thống Toà hành chính trong mô hình tổ chức cuả Toà án nhân dân tối cao và Toà án nhân dân cấp tỉnh; đồng thời giao trách nhiệm xét xử các khiếu kiện hành chính cho hệ thống Toà án nhân dân Tiếp đến,

Trang 14

vào ngày 21 tháng 5 năm 1996, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá IX, Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 1999 và năm 2006) Đây là hai văn bản pháp lý đầu tiên và vô cùng quan trọng, thiết lập nền tảng cho Toà án và Thẩm phán xét xử các vụ án hành chính

Việc giải quyết các tranh chấp hành chính bằng con đường tư pháp là một thiết chế mới có thể bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân và đánh dấu sự phát triển của ngành Toà án nhân dân Có thể nói, việc thiết lập và vận hành mô hình Toà hành chính thuộc hệ thống Toà án nhân dân chính là một bước trên con đường hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 đã quy định Thẩm phán có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong một số trường hợp;

- Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

- Thay đổi, huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

Trang 15

Nam So với pháp lệnh trước đó, Luật tố tụng hành chính đã bổ sung các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn cho Thẩm phán:

- Lập hồ sơ vụ án: là một quy định mới trong Luật Tố tụng hành chính (Điều 113) Trong đó, nhiệm vụ của Thẩm phán giai đoạn này bao gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án và xác minh, thu thập chứng cứ Các vấn đề liên quan đến việc xác minh, thu thập chứng cứ của Thẩm phán nói riêng, của các chủ thể khác nói chung được quy định tại Chương V (nguồn chứng cứ, các biện pháp thu thập chứng cứ, xác định chứng cứ; nghĩa vụ chứng minh của Toà án)

- Đối với quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Luật đã quy định một chương riêng (từ Điều 60 đến Điều 71) bổ sung quy định về thẩm quyền áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; bổ sung mới một biện pháp khẩn cấp tạm thời, thủ tục áp dụng và thời hạn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

- Đối với việc ra quyết định đưa vụ án hành chính ra xét xử, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, Luật đã hoàn thiện hơn các trường hợp đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án; hậu quả của việc ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét

xử, quyết định định chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, thời điểm tiến hành ra các quyết định

- Tổ chức việc đối thoại giữa các đương sự: Đây là một quy định mới trong Luật Tố tụng hành chính Việc đối thoại này có phần nào giống đối chất trong tố tụng hình sự ở việc cho các bên trực tiếp làm rõ các mâu thuẫn trong lời khai, vừa

có phần giống quy trình hoà giải giống tố tụng dân sự khi giúp các bên hiểu rõ hơn

về nhau Cuộc đối thoại thành công có thể giải quyết tranh chấp giữa các bên mà không cần tiến hành phiên toà nếu người bị kiện huỷ bỏ, chấm dứt đối tượng khởi kiện rút đơn khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu

Ngoài ra, luật còn hoàn thiện thêm các quy định về việc ra quyết định đưa vụ

án ra xét xử, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quy trình, thủ tục tại các phiên toà, phiên họp giải quyết vụ án hành chính, công việc mà Thẩm phán phải làm trong từng giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, xét

Trang 16

lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử

1.3 Pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

Các quy định hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn bao quát về hoạt động của Thẩm phán khi giải quyết vụ án hành chính, thực hiện từng hành vi tố tụng cũng như hình dung được quá trình, diễn biến, thủ tục giải quyết vụ án hành chính Điều 36 Luật Tố tụng hành chính đã xác định các nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán bao gồm: lập hồ sơ vụ án; quyết định

áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án; tổ chức việc đối thoại giữa các đương sự khi có yêu cầu; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định triệu tập những người tham gia phiên toà; tham gia xét xử vụ án hành chính; tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử

1.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn thụ lý vụ án

Thụ lý vụ án là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án Sau khi được phân công giải quyết vụ án, trong vòng 5 ngày làm việc, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để thực hiện một trong các thủ tục sau: Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết; hoặc chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác hoặc trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính Thẩm phán cần phải xem xét đơn khởi kiện có hợp pháp và có căn cứ để thụ lý vụ án trên các phương diện:

Thứ nhất là hình thức đơn khởi kiện Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện có

đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 105 Luật Tố tụng hành chính hay không Nếu có thiếu sót trong nội dung đơn khởi kiện, Thẩm phán yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện bằng thông báo trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể

từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Toà án

Thứ hai là kiểm tra đơn khởi kiện có nằm trong các trường hợp trả lại

đơn khởi kiện hay không Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định tại

Điều 109 Luật Tố tụng hành chính Quy trình này nhằm loại bỏ bớt những khiếu

Trang 17

kiện không đủ điều kiện và căn cứ để Toà án giải quyết cũng như giảm thiểu sự chồng chéo trong các quy định của pháp luật

Thứ ba là xem xét các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Cùng với

việc xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cũng cần phải xem xét các tài liệu, chứng

cứ kèm theo đơn khởi kiện để có quyết định phù hợp Đối với các đơn khởi kiện có kèm theo đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán cần phải xem xét và có thông báo trả lời trong thời hạn luật định

Sau khi xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, nếu vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của mình, Thẩm phán kiểm tra trong trường hợp cụ thể, người khởi kiện có phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm hay không Nếu người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán thông báo cho họ nộp tiền tạm ứng án phí và giải thích cho người khởi kiện biết thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí; hậu quả của việc không nộp tiền tạm ứng án phí Khi người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì thụ lý vụ án Nếu họ thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán

thoả mãn các điều kiện nêu trên, Thẩm phán chính thức tiến hành thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục chung

1.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn lập hồ sơ vụ án

Lập hồ sơ vụ án là một hoạt động của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử sơ thẩm Đây là một quy định mới so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 Trong giai đoạn này, Thẩm phán được phân công giải quyết

vụ án “sắp xếp theo một trình tự nhất định các tài liệu, các giấy tờ, văn bản có giá trị chứng cứ do các đương sự, cá nhân, tổ chức cung cấp hoặc do Toà án tự tiến hành

:

1.3.2.1 Thông báo về việc thụ lý vụ án

Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo cho bên bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn

8 Điều 37 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 21 tháng 05 năm 1996

9 Trường đại học luật TPHCM (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt nam, NXB Hồng Đức, tr 275

10

Điều 113 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 18

kiện11 Sau đó, Pháp lệnh số 29/2006/PL-UBTVQH11 ngày 05 tháng 4 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

đã quy định Toà án phải thông báo cho người bị kiện và người có quyền và nghĩa

vụ liên quan biết về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 5 ngày làm việc Kế thừa quy định trên, Luật Tố tụng hành chính đã quy định trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải có văn bản thông báo cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc đã thụ lý vụ án Nội dung của văn bản thông báo phải có đầy đủ các yếu tố quy định tại khoản 2 Điều 114 Luật Tố tụng hành chính

Sau khi Thẩm phán nhận được văn bản ghi ý kiến (đề nghị Toà án cho biết, đọc, xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện hoặc các yêu cầu khác) hoặc văn bản xin gia hạn thời hạn nộp văn bản nêu ý kiến của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Thẩm phán xem xét giải quyết yêu cầu này Còn nếu hết thời hạn luật định, những cá nhân, tổ chức trên đây không gửi văn bản nêu ý kiến mà không có lý do chính đáng thì Toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung

1.3.2.2 Xác minh, thu thập chứng cứ

Xác minh, thu thập chứng cứ là tổng thể các hoạt động tố tụng của Toà án nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án, từ đó xác lập các căn cứ cần thiết, khách quan

hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu, lập hồ sơ vụ án cũng như cả quá trình giải quyết vụ

án hành chính

Theo quy định trước đây, Thẩm phán chỉ tự mình hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp cần thiết Nếu như Thẩm phán cảm thấy không cần thiết thì sẽ không chủ động đi xác minh, thu thập chứng cứ Điều này dẫn đến thực trạng nhiều Thẩm phán ngại việc, không đi tìm kiếm chứng cứ và cũng ngại đụng chạm khi yêu cầu cơ quan Nhà nước giao nộp chứng cứ Do vậy, quyền lợi của các đương sự không được bảo đảm và họ cũng không có bất cứ cơ chế nào để yêu cầu Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ cũng như cơ chế để khiếu nại về hành vi này Để khắc phục hạn chế này, Luật Tố

11 Khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 21 tháng 05 năm 1996

12 Trưởng Đại hoc luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, NXB công an Nhân

dân, Hà Nội, tr.195

Trang 19

tụng hành chính đã quy định Thẩm phán phải tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ khi:

- Thứ nhất, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hành chính chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án yêu cầu đương sự giao nộp

bổ sung chứng cứ

- Thứ hai, khi đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tự mình hoặc uỷ thác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ

Thẩm phán có thể tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hành chính kể từ khi thụ lý vụ án để có thể bảo vệ hiện trạng ban đầu của các chứng cứ và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu cần thiết Khi tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải đảm bảo chứng cứ có đủ các điều kiện sau: liên quan đến việc làm sáng tỏ các tình tiết trong

vụ án; khách quan, có thật và được thu thập theo trình tự, thủ tục hợp pháp Bên cạnh đó, các chứng cứ cần được đảm bảo phải được lấy từ các nguồn của chứng cứ quy định tại Điều 75 Luật Tố tụng hành chính, bao gồm: các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; vật chứng; lời khai của đương sự, của người làm chứng và người giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá, thẩm định giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật có quy định Ngoài ra, để đảm bảo không bỏ sót các chứng cứ cần thiết, Thẩm phán cần xác định chính xác và đầy đủ các đối tượng khởi kiện của vụ án và các đương sự của vụ án, những người tham gia tố tụng khác, tạo điều kiện để họ thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình Từ

đó, Thẩm phán mới có thể nhận định các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, còn thiếu những tài liệu, thông tin, chứng cứ nào để tiến hành lựa chọn biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ thích hợp Thông qua việc xác minh, thu thập chứng cứ, Thẩm phán có thể có một cái nhìn toàn diện về vụ án hành chính, xác định được các tình tiết khách quan, các sự kiện trong vụ án và phát hiện các sai sót trong thủ tục tố tụng (nếu có) Thẩm phán có thể tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ bằng một hoặc nhiều biện pháp sau đây:

Thứ nhất là biện pháp lấy lời khai của đương sự13

Các đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan Đây là những người trực tiếp lên quan đến vụ án hành chính, chịu tác động trực tiếp từ

13

Điều 79 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 20

phán quyết của Toà án sau này Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự chỉ khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương

sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể

tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương

sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán có thể tự mình ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản hoặc yêu cầu Thư ký Toà án thực hiện công việc này Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Toà

án, trong trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án Sau khi lấy lời khai, Thẩm phán xem xét các yếu tố hợp pháp cuả biên bản ghi lời khai: người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản; bảo đảm quyền yêu cầu được ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai của đương sự; chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và dấu của Toà án; đóng dấu giáp lai (nếu cần); xác nhận của người làm chứng hoặc của Ủy ban nhân dân, cơ quan công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản (nếu biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Toà án) Việc lấy lời khai của đương sự chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó Ưu điểm của việc Thẩm phán trực tiếp lấy lời khai của đương sự là thì kịp thời yêu cầu đương sự bổ sung nội dung khai báo; nếu có điểm không rõ thì hỏi ngay và thông qua thái độ của đương sự, khả năng chuyên môn, nghiệp vụ để có những cách hỏi và nội dung hỏi phù hợp để phát hiện

sự thật

Thứ hai là lấy lời khai của người làm chứng14 Theo yêu cầu đương sự hoặc trong trường hợp cần thiết cần làm rõ các tình tiết của vụ án mà Toà án đã thu thập được, Thẩm phán có thể yêu cầu lấy lời khai của người làm chứng Người làm chứng là những người biết về các tình tiết của vụ án, lời khai của họ là một nguồn chứng cứ quy định tại Điều 80 Luật Tố tụng hành chính Với vị thế là “người ngoài cuộc”, lời khai của họ sẽ có một mức độ trung thực, khách quan nhất định Đồng thời, việc lấy lời khai của người làm chứng cũng giống như việc khảo sát lấy ý kiến của nhiều người về cùng một vấn đề Từ đó, Thẩm phán có thể so sánh giữa các bản

tự khai của những người làm chứng khác nhau để tìm ra sự thật của vụ án Tuy nhiên, Thẩm phán cũng cần hết sức tỉnh táo trong việc “khảo sát” lời khai của những người làm chứng Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành

14

Điều 80 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 21

như việc lấy lời khai của đương sự quy định tại Điều 79 của Luật Tố tụng hành chính

Thứ ba là biện pháp đối chất Đây là biện pháp nghiệp vụ mà Thẩm phán áp

dụng để hỏi cùng một lúc với cả người khởi kiện, người liên quan, người làm chứng

của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau Việc đối chất chỉ được thực hiện đối với các vấn đề còn mâu thuẫn Do đó, trước khi tiến hành đối chất, Thẩm phán cần phải nghiên cứu kỹ các lời khai trước đó của những người tham gia tố tụng, xác định các mâu thuẫn, lập danh sách các vấn đề cần đối

chất để việc đối chất được thực hiện có hiệu quả Việc đối chất phải được ghi thành

biên bản, có chữ ký của những người tham gia đối chất

Thứ tƣ là xem xét, thẩm định tại chỗ16 Đây là biện pháp thu thập chứng cứ

mà Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án thực hiện nhằm xem xét tại chỗ

Ví dụ: tranh chấp hành chính về cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng trái phép Công trình này không thể di chuyển được nên khi muốn thu thập chứng cứ thì phải tiến hành xem xét tại chỗ hiện trạng công trình Hoạt động này giúp Thẩm phán đưa

ra những nhận định đúng về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, xem xét những yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ hay không Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định; phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận

15 Nguyễn Thị Thu Hân (2014), “Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính”, tr.29.

16 Điều 82 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

17 Trưởng Đại hoc luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, NXB Công an Nhân

dân, Hà Nội, tr.28

Trang 22

Thứ năm là trƣng cầu giám định18

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định Việc giám định thường được thực hiện với các đối tượng cần sử dụng đến khoa học chuyên môn như: giám định chữ ký, con dấu Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Trong trường hợp chứng cứ bị nghi ngờ là giả mạo, người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại Trường hợp không rút lại, Thẩm phán có thể quyết định trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo theo quy định tại Điều 83 Luật Tố tụng hành chính Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Toà án chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình sự Những chứng cứ đã qua giám định bởi các chuyên gia có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

về lĩnh vực nhất định có giá trị chứng minh rất cao, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong quá trình giải quyết vụ án hành chính của Thẩm phán và Hội đồng xét xử

Thứ sáu là quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản19 Đối với các

vụ án hành chính có liên quan đến giá trị tài sản (bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra ), Thẩm phán ra quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự hoặc khi Toà án xét thấy cần thiết Hội đồng định giá do Toà án quyết định thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng là đại diện cơ quan tài chính và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan

Thứ bảy là ủy thác thu thập chứng cứ Trong trường hợp việc thu thập

chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, Thẩm phán có thể ra quyết định

ủy thác để Toà án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 86 Luật Tố tụng hành chính lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án hành chính Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ Toà án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định

ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Toà án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản cho Toà án đã ra quyết định ủy thác và nêu rõ lý do

Trang 23

Thứ tám là yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ Theo

Điều 8 và Điều 9 Luật Tố tụng hành chính, cung cấp chứng cứ là quyền của đương

sự khi muốn chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, đồng thời cũng là nghĩa vụ của đương sự và các tổ chức, cá nhân khác khi được Toà án yêu cầu cung cấp chứng cứ, tài liệu Trường hợp không cung cấp được thì phải có văn bản cho đương sự, cho Toà án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính Nếu xét thấy cần thiết, Thẩm phán sẽ yêu cầu các cá nhân, tổ chức cung cấp các tài liệu, chứng cứ cần thiết để giải quyết vụ án hành chính Các cá nhân, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật

Để tạo điều kiện cho Thẩm phán có thể thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn trong khâu xác minh, thu thập chứng cứ, Luật Tố tụng hành chính đã quy định thêm các biện pháp xác minh thu thập chứng cứ; bao gồm: Lấy lời khai của đương sự; định giá tài sản, thẩm định giá tài sản và đối chất Việc bổ sung các quy định này đã làm việc thu thập chứng cứ có hiệu quả hơn cũng như phù hợp với việc mở rộng phạm vi yêu cầu khởi kiện của vụ án hành chính, trong đó có yêu cầu bồi thường do quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật gây ra Luật Tố tụng hành chính đã có một bước tiến bộ hơn về trình tự xác minh, thu thập chứng cứ của Thẩm phán và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự trong vụ án hành chính Sau khi xác minh và thu thập đủ các chứng cứ cần thiết, Thẩm phán cần tiến hành đánh giá chứng cứ Nhằm xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ, Thẩm phán phải đánh giá từng chứng cứ riêng lẻ cũng như xem xét mối liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ dựa trên cơ sở những hiểu biết về những tình tiết, sự kiện đã thu thập được, các quy định của pháp luật

1.3.2.3 Nghiên cứu hồ sơ vụ án

Hoạt động tố tụng hành chính của nước ta sử dụng mô hình tố tụng viết, tức là phụ thuộc nhiều vào hồ sơ vụ án Do đó, nghiên cứu hồ sơ vụ án là một trong những bước đầu tiên và quan trọng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án hành

Trang 24

chính Nghiên cứu hồ sơ vụ án có thể được thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Quá trình này vận dụng nhiều kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kỹ năng tư duy, phân tích của Thẩm phán như: đọc, phân loại, sắp xếp hồ sơ, phân tích vụ án, xác định các vấn đề cần chứng minh Trong giai đoạn này, Thẩm phán có các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất là nghiên cứu nội dung vụ án Trong giai đoạn này, Thẩm phán thực hiện các công việc chính nhƣ sau:

Một là kiểm tra các điều kiện khởi kiện, thụ lý vụ án bao gồm: thầm quyền giải quyết vụ án; tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính và thời hiệu khởi kiện vụ án Để xác định một khiếu kiện hành chính có thuộc thẩm quyền

giải quyết của Toà án mình hay không, Thẩm phán cần phải xác định ba loại thẩm quyền: Thẩm quyền loại việc, thẩm quyền Toà án theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp Toà án Đối với Thẩm quyền loại việc, Thẩm phán căn cứ vào Điều 28 Luật Tố tụng hành chính, Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính và Nghị quyết

Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính để xác định các khiếu kiện hành chính này có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, bao gồm: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội

bộ của cơ quan, tổ chức; khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng trở xuống và khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Sau khi đã xác định các khiếu kiện này là đối tượng được phép khởi kiện trong vụ án hành chính, Thẩm phán căn cứ Điều 29, Điều 30 Luật Tố tụng hành chính để xác định Toà án nơi mình đang công tác có nằm trong cùng địa giới hành chính và có cùng cấp với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền ban hành ra các đối tượng khởi kiện tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính hay không, tức là xác định

khởi kiện vừa có đơn khởi kiện, vừa có đơn khiếu nại, Thẩm phán hỏi đương sự

Trang 25

xem muốn giải quyết theo thủ tục nào20 Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án khác thì trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án ra quyết định chuyển

Trong tố tụng hành chính, Toà án không xem xét về tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính mà chỉ xem xét tính hợp pháp của quyết định, hành

vi đó Đối với quyết định hành chính, tính hợp pháp được xem xét về hai yếu tố sau:

- Thứ nhất, về mặt hình thức của quyết định gồm: trình tự, thủ tục ban hành, thời hiệu, thẩm quyền và hình thức ban hành quyết định hành chính;

- Thứ hai, về mặt nội dung, Thẩm phán cần xét xem căn cứ các văn bản pháp luật ban hành ra quyết định, nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và nội dung của nó có phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành hay không Tính hợp pháp của hành vi hành chính được xem xét dựa trên thẩm quyền thực hiện hành vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phạm vi hành chính của chủ thể đã thực hiện hành vi hành chính; hoặc, hành vi hành chính đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng với quy định pháp luật khi giải quyết các quan hệ hành chính bị khiếu nại

Đối với thời hiệu khởi kiện vụ án - một trong những yếu tố đầu tiên cùng với thẩm quyền Toà án để xác định việc thụ lý, giải quyết vụ án hành chính đó có đúng thủ tục hay không, làm cơ sở để ra các quyết định sau này, Thẩm phán dựa vào các quy định tại Điều 104 Luật Tố tụng hành chính và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP để xác định thời hiệu khởi kiện của vụ án hành chính

Hai là xác định nguồn luật và các quy định pháp luật liên quan đến vụ án đang giải quyết Phạm vi quản lý Nhà nước ở nước ta là rất rộng, bao trùm tất cả

các mặt của đời sống xã hội, có thể kể đến các lĩnh vực như: Đất đai, môi trường, hộ tịch, thuế, xuất nhập khẩu, bầu cử, giải quyết vụ việc cạnh tranh, xử phạt vi phạm hành chính… Trong mỗi lĩnh vực lại có những phạm vi nhỏ hơn nữa và để điều chỉnh các quan hệ xã hội này, các cơ quan nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật quy định, hướng dẫn, thi hành các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính Việc giải quyết vụ án hành chính cần phải dựa trên các quy định của pháp luật về tố tụng cũng như việc áp dụng luật nội dung của lĩnh vực quản lý hành chính có liên quan Chính vì vậy, việc nghiên cứu

Trang 26

các văn bản pháp luật cũng như các tài liệu khác về lĩnh vực bị khiếu kiện là một yếu tố quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Có hiểu rõ pháp luật quy định về vấn đề đó như thế nào thì Thẩm phán mới biết việc ban hành ra quyết định, hành vi đó là đúng hay sai; quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện đã

bị xâm phạm tới mức độ nào; có thể áp dụng những biện pháp nào để xử lý; áp dụng

những quy định pháp luật nào để giải quyết vụ án

Ví dụ, đối với khiếu kiện hành vi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Thẩm phán cần nghiên cứu các văn bản sau đây: Luật Xử lý

vi phạm hành chính năm 2012; Luật giao thông đường bộ năm 2008; Nghị định số 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt ngày 13 tháng 11 năm 2013, Thông tư số 08/2009/TT-BGTVT hướng dẫn việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô

tô ba bánh và các loại xe tương tự để vận chuyển hành khách, hàng hóa và một số văn bản khác

Ba là đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của yêu cầu từ đương sự Việc đảm

bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng phải căn cứ vào các quy định của pháp luật Luật tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn quy định thủ tục, điều kiện để giải quyết các yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án hành chính như: yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ do bản thân đương sự không thể tự thực hiện, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tổ chức đối thoại,

bồi thường thiệt hại…

Bốn là xác định tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng Người

tham gia tố tụng bao gồm: người khởi kiện, người bị kiện người có quyền và nghĩa

vụ liên quan, người làm chứng, người giám định và người phiên dịch Việc xác định

tư cách của người tham gia tố tụng là một yếu tố quan trọng để xác định quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia vào vụ án hành chính Khi xác định tư cách tố tụng, Thẩm phán cần xác định hai yếu tố là thành phần người tham gia tố tụng và năng lực tố tụng hành chính của người tham gia tố tụng Mỗi đương sự có những quyền

và nghĩa vụ pháp lý khác nhau, việc Thẩm phán xác định sai tư cách của đương sự

sẽ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó; đồng thời cũng

vi phạm thủ tục tố tụng, dẫn đến việc bản án, quyết định đã ban hành để giải quyết

vụ án có thể bị khiếu nại, phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, gây tốn thời gian, công

sức, tiền bạc của các chủ thể liên quan đến vụ án

Trang 27

Thứ hai là nghiên cứu thủ tục tiến hành giải quyết vụ án Thẩm phán có

nhiệm vụ kiểm tra các quá trình giải quyết vụ án trước khi chính thức nhận được hồ

sơ như: kiểm tra điều kiện thụ lý vụ án, nội dung và hình thức đơn khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp có đúng thủ tục, quy trình được quy định trong Luật Tố tụng hành chính hay không Nếu có thiếu sót, theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, Thẩm phán tiến hành cho đương sự bổ sung đơn khởi kiện; trả lại đơn khởi kiện; giải quyết các khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện và các vấn đề liên quan

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hành chính, ngay cả khi vụ án chưa được thụ lý Trước khi mở phiên toà, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên toà do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định Theo Điều 60 Luật Tố tụng hành chính, nếu có yêu cầu của đương sự, Thẩm phán có thể tiến hành xem xét để tạm thời giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây hậu quả không thể khắc phục được bằng cách áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau

- Cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định

Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 trong vấn đề bảo vệ kịp thời chứng cứ, Luật Tố tụng hành chính quy định trước khi mở phiên Toà, khi Toà án nhận được đơn yêu cầu áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm theo chứng cứ của đương sự, trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận đơn, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ

22

Điều 62 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 28

án phải ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Trường hợp không chấp nhận thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ

lý do cho người yêu cầu biết Bên cạnh đó, luật còn quy định thủ tục áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm nội dung đơn yêu cầu, các tài liệu phải nộp kèm theo để các Thẩm phán áp dụng một cách thống nhất Ngoài ra, Luật Tố tụng hành chính còn bổ sung một biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Thẩm phán có thể áp dụng đối với các hành vi hành chính

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Trường hợp từ chối áp dụng thì phải cho người yêu cầu biết

và ghi rõ lý do vào biên bản phiên Toà Toà án phải cấp hoặc gửi ngay quyết định

áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp

Kế thừa Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, Luật Tố tụng hành chính quy định nếu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng với yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba thì Toà án phải bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 Quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm của Thẩm phán và các thành viên trong Hội đồng xét xử nói chung khi giải quyết vụ án hành chính, hạn chế trường hợp áp dụng tuỳ tiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội

1.3.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc tổ chức đối thoại giữa các đương sự khi có yêu cầu

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 trước đây có quy định: “Toà án tạo điều kiện cho các bên thoả thuận về việc giải quyết vụ án” Xét thấy quy định này là không phù hợp vì luật hành chính là một ngành luật công, việc

xử lý các quyết định hành chính, hành vi hành chính do các chủ thể quan lý nhà nước ban hành không thể áp dụng các biện pháp thoả thuận như các vấn đề dân sự Đồng thời, xét về bản chất, hoạt động thoả thuận do pháp luật quy định nhằm mục đích để các bên đương sự hiểu rõ về đối tượng khởi kiện Do đó, Luật Tố tụng hành chính đã kế thừa và sửa đổi quy định này cho thích hợp hơn: “Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện cho các bên đương sự đối thoại về

23

Điều 12 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 29

yêu cầu từ phía đương sự và xét thấy cần thiết Như vậy, đối thoại là một thủ tục không bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Tuy nhiên, pháp luật về

tố tụng hành chính hiện chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về thủ tục, trình

tự đối thoại bao gồm: chủ thể tham gia đối thoại, nội dung đối thoại, quy trình đối thoại hay có cần lập văn bản khi thực hiện đối thoại hay không, kết quả đối thoại có

ý nghĩa gì trong việc giải quyết vụ án hành chính hay không và nhiều vấn đề liên quan khác

Mặc dù, vậy, đã có không ít vụ án hành chính được giải quyết sau khi thủ tục

một bộ phận các Thẩm phán đã có những bước đi đầu tiên trong hiện thực hoá cơ chế đối thoại tại Toà án Với bản chất là giúp cho các bên đương sự tự nhận thấy sai sót và tự nguyện sửa chữa, giải quyết hoà bình vướng mắc trong mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, thủ tục đối thoại sẽ có phần tương tự với thủ tục hoà giải trong tố tụng dân sự Như vậy, trong phiên đối thoại, một số nhiệm vụ cơ bản mà Thẩm phán phải thực hiện sẽ bao gồm:

Thứ nhất, trước khi tổ chức đối thoại, Thẩm phán cần nghiên cứu hồ sơ vụ

án, xác định những nội dung còn mâu thuẫn giữa các bên, những điểm chưa rõ trong

vụ án, thái độ của các bên về hành vi của bên còn lại nhằm tìm ra hướng tháo gỡ khúc mắc trong phiên đối thoại Bên cạnh đó, Thẩm phán cũng cần tìm hiểu nhân thân của các bên đương sự tham gia để lựa chọn ngôn hành, phương pháp, kỹ thuật đối thoại phù hợp, hiệu quả

Thứ hai là triệu tập đương sự Sự có mặt của các đương sự là điều kiện bắt

buộc để cuộc đối thoại diễn ra hiệu quả Vì vậy, Thẩm phán có thể gửi thông báo hoặc giấy triệu tập nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung đối thoại thành phần người tham gia để các đương sự biết Thẩm phán cần lựa chọn thời gian hợp lý để các đương sự đều có thể có mặt tại toà Thông thường, việc đối thoại diễn ra ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Thứ ba, trước khi phiên đối thoại bắt đầu, Thẩm phán phổ biến cho các đương

sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án và quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia đối thoại Đây là một thủ tục cần thiết trong việc bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các đương sự, nhất là trong mối quan

24 tac-doi-thoai-trong-giai-quyet-vu-an-hanh-chinh-va-nhung-de-xuat-kien-nghi-4051] (truy cập ngày

[http://vksdanang.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Trao-doi-nghiep-vu/Hieu-qua-tu-cong-28/5/2015)

Trang 30

hệ quản lý nhà nước không bình đẳng giữa cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền và nhân dân

Thứ tƣ, trong quá trình đối thoại, Thẩm phán cần chú ý lắng nghe phần trình

bày của các bên, đối chiếu với những lời khai trước đó Từ đó, Thẩm phán có thể phát hiện mâu thuẫn trong lời khai của từng đương sự và giữa các đương sự với nhau Ngoài ra, đối với các đương sự có thái độ vòng vo, không hợp tác hoặc muốn che dấu sự thật khách quan của vụ án, Thẩm phán cần hướng đương sự tập trung trình bày nội dung tranh chấp, yêu cầu giải thích những mâu thuẫn trong các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự này đã giao nộp Quan trọng nhất, Thẩm phán cần phải giữ thái độ khách quan, không thiên vị, không e ngại Có như vậy, đương sự mới có thể đặt lòng tin vào Thẩm phán, có thái độ hợp tác, tự nguyện trong việc cùng nhau tìm cách khắc phục những thiếu sót đã gây ra

1.3.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên toà ra phải ra một trong các quyết định: đình chỉ xét xử sơ thẩm, tạm đình chỉ xét xử sơ thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử Tại phiên toà, khi có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục nghị án tại phiên toà

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 117 Luật Tố tụng hành chính, đối với vụ án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và trong thời hạn 60 ngày

kể từ ngày thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, trước khi mở phiên toà, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên toà có thẩm quyền ra quyết định tạm đình giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính; Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình giải quyết vụ án tại phiên theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Luật Tố tụng hành chính Khi các căn cứ tạm đình chỉ không còn, Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung

Đình chỉ giải quyết vụ án là việc Toà án có thẩm quyền sau khi thụ lý vụ án và phát hiện những căn cứ theo quy định của Luật tố tụng hành chính đã ra quyết định

tại khoản 1 Điều 117 Luật Tố tụng hành chính và trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày

25 Trường đại học luật TPHCM (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt nam, NXB Hồng Đức, tr

280

Trang 31

thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, trước khi mở phiên toà, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên toà có thẩm quyền ra quyết định đình giải quyết vụ án khi

có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 120 Luật Tố tụng hành chính; Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình giải quyết vụ án tại phiên toà theo quy định tại khoản 2 Điều 139 Luật Tố tụng hành chính Khi ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, Toà án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu

1.3.6 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc ra quyết định đƣa vụ án

ra xét xử

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 117 Luật

Tố tụng hành chính, nếu xét thấy đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử và không gặp phải các căn cứ phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Đối với thủ tục phúc thẩm, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, nếu xét thấy đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử và không gặp phải các căn cứ phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải gồm những nội dung sau:

- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;

- Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;

- Tên, địa chỉ của những người tham gia tố tụng;

- Nội dung việc khởi kiện;

- Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có)

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định Thẩm phán ra quyết định có trách nhiệm kiểm tra chính xác các nội dung được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trang 32

1.3.7 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc tham gia xét xử vụ án hành chính

1.3.7.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Trong giai đoạn xét xử, tuỳ vào từng điều kiện luật định, Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình với tư cách Thẩm phán Chủ toạ phiên toà hoặc thành viên Hội đồng xét xử So với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm

1996, Luật Tố tụng hành chính đã quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm Mỗi hoạt động tại phiên toà đều được quy định tại một điều luật với các chỉ dẫn cụ thể, giúp nâng cao hiệu quả xét xử cũng như xác định rõ ràng hơn các nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tại phiên toà

Thứ nhất là thủ tục khai mạc phiên toà Chủ toạ phiên toà là người khai

cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án và lý do vắng mặt, Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại

sự có mặt của những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án và kiểm tra căn cước của đương sự Việc kiểm tra của Chủ toạ để đảm bảo sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Bởi lẽ nếu như họ vắng mặt, trong các điều kiện khác nhau, Chủ toạ có nhiệm vụ dẫn dắt những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đưa ra những quyết định hoặc thực hiện những hành vi tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật Nếu phiên toà được tiếp diễn, Chủ toạ phiên toà phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác Để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, Thẩm phán với tư cách Chủ toạ phiên toà sẽ tiến hành phổ biến các quy định tại các Điều từ 49 đến 58 của Luật Tố tụng hành chính để những

cá nhân, tổ chức trên có thể nắm rõ

Thứ hai là các trường hợp ra quyết định hoãn phiên toà Hội đồng xét xử

có quyền hoãn phiên toà khi có các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 129, khoản 4 Điều 129, khoản 1 Điều 130, khoản 1 Điều 131, khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 134, khoản 2 Điều 135, điểm b khoản 1 Điều 136, điểm c khoản 1 Điều 136, khoản 3 Điều 138 và khoản 1 Điều 142 Luật Tố tụng hành chính

26

Khoản 1 Điều 142 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 33

Việc ra quyết định hoãn phiên toà phải tuân thủ thời hạn, nội dung quyết định hoãn phiên toà quy định tại Điều 137 Luật Tố tụng hành chính Quyết định hoãn phiên toà chỉ hợp pháp về mặt hình thức khi được Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội

ra quyết định hoãn phiên toà Quyết định hoãn phiên toà được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Toà án gửi ngay cho

họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp nếu có thay đổi Quyết định hoãn phiên toà phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị

án và phải được lập thành văn bản

Trong giai đoạn này, do một số Hội thẩm nhân dân không nắm rõ thủ tục tố tụng, Thẩm phán có trách nhiệm trong việc đảm bảo các thủ tục tố tụng được diễn

ra hợp pháp, công bằng Vì vậy, Thẩm phán với vai trò là Chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ phải nhắc nhở Hội thẩm biết khi các trường hợp phải hoãn phiên toà xảy

ra Việc đảm bảo phiên toà diễn ra theo đúng trình tự pháp luật là vô cùng cần thiết Bởi lẽ, nếu có vi phạm về thủ tục tố tụng thì vụ án có thể sẽ bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc bị giám đốc thẩm Điều này không chỉ gây tốn thời gian, tiền bạc của các tổ chức, cá nhân tham gia vụ án, nguồn kinh phí của cơ quan nhà nước, thậm chí còn làm sụt giảm chất lượng xét xử và lòng tin của nhân dân đối với ngành tư pháp nói riêng, vào cơ quan nhà nước nói chung

Thứ ba là giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám

định, người phiên dịch Sau khi giới thiệu những người tiến hành tố tụng, người

giám định, người phiên dịch, Chủ toạ phiên toà hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không và lý do yêu cầu thay đổi Nếu có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số, xem xét, quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu theo các quy định tại các Điều 41, 42, 43,

44 của Luật Tố tụng hành chính; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do

và ghi vào biên bản phiên toà Trong trường hợp phải thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án và Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên toà

27

Khoản 3 Điều 138 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 34

Thứ tƣ là tiến hành thủ tục hỏi Để việc hỏi diễn ra có hiệu quả, Thẩm phán

cần chuẩn bị tốt các câu hỏi kết hợp với phương pháp hỏi phù hợp và kỹ năng hỏi

tốt, đúng trọng tâm, hướng đương sự trả lời đúng vào câu hỏi

Một là hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu Điều 145 Luật Tố

tụng hành chính quy định các đương sự bao gồm người bị kiện, người khởi kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện Đối với người khởi kiện, Chủ toạ phiên toà hỏi về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn

bộ yêu cầu khởi kiện Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, Chủ toạ phiên toà hỏi về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ

sự có sự thay đổi, bổ sung yêu cầu và việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu độc lập ban đầu thì Hội đồng xét

xử chấp nhận yêu cầu của đương sự Trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn

bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu của đương

sự

Hai là nghe ý kiến trình bày của những người tham gia tố tụng Sau khi giải

quyết việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nghe ý kiến trình bày của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Trong giai đoạn này, Hội đồng xét xử phải nắm rõ được tình tiết vụ án thông qua lời trình bày của người

bị kiện, người khởi kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định Trước khi bước vào giai đoạn hỏi các đương sự và nghe các đương sự tranh tụng, Hội đồng xét xử cần nắm rõ yêu cầu của các đương sự và các tình tiết chung trong hồ sơ vụ án, đồng thời nắm rõ các căn cứ pháp lý mà các đương sự đã nêu ra và các vấn đề có liên quan để tiến hành so sánh, đối chiếu những gì đương sự trình bày xem có mâu thuẫn không Nếu có thì Hội đồng xét xử

có thể chuẩn bị các câu hỏi trong lượt hỏi của mình nhằm giúp cho việc giải quyết

vụ án được công bằng, đúng đắn Thông thường, trong phần này, các đương sự sẽ

trình bày yêu cầu của mình và căn cứ pháp lý cho các yêu cầu đó

Ba là tiến hành việc hỏi tại phiên toà Sau khi nghe phần trình bày của đương

sự, Hội đồng xét xử tiến hành hỏi những người tham gia tố tụng theo thứ tự sau: Thẩm phán chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến Hội thẩm nhân dân, người bảo vệ

28

Điều 145 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 35

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cuối cùng là Kiểm sát viên Đối tượng bị hỏi là người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người giám định Những nội dung mà ý kiến các bên mâu thuẫn với nhau thì phải tổ chức đối chất để xác định sự thật Việc hỏi phải tiến hành dứt điểm từng vấn đề, từng nội dung Thẩm phán tiến hành hỏi riêng từng người bị hỏi và chỉ hỏi về những vấn đề

mà họ trình bày chưa rõ hay có mâu thuẫn với những gì họ đã khai trong bản tự khai hoặc với phần trả lời của những người bị hỏi khác, xác định đầy đủ các tình tiết của

vụ án bằng cách nghe ý kiến và đối chiếu các ý kiến này với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được Theo các Điều 149, 150, 151 Luật Tố tụng hành chính, đối với người

bị kiện, người khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan, Thẩm phán có quyền hỏi riêng từng người tham gia tố tụng trên về những vấn đề mà họ hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của những người tham gia tố tụng và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này

Theo quy định tại các Điều 144, 152, 156 Luật Tố tụng hành chính, để đảm bảo tính khách quan của người làm chứng, trước khi hỏi về những vấn đề mà họ biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án, Chủ toạ phiên toà có thể quyết định những biện pháp cần thiết để những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan Trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì Chủ toạ phiên toà có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng Trước khi hỏi người làm chứng, Chủ toạ phiên toà phải hỏi rõ về quan hệ giữa

họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ toạ phiên toà có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi Thẩm phán có quyền hỏi từng người làm chứng, yêu cầu họ trình bày rõ những tình tiết của vụ án mà họ biết, tập trung vào làm rõ những tình tiết có

ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án và những tình tiết mới phát sinh (nếu có) Sau khi người làm chứng trình bày xong thì Thẩm phán chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ chưa trình bày hoặc trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những

Trang 36

người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định không tiết lộ những thông tin

về nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên toà nhìn thấy họ

vấn đề được giao giám định và đảm bảo cho người giám định được giải thích bổ sung về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận giám định, đảm bảo Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ, có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án Trong trường hợp người giám định không có mặt tại phiên toà thì Chủ toạ phiên toà công bố kết luận giám định Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà Việc hỏi người giám định tập trung vào những nội dung chủ yếu được trình bày trong kết luận giám định, đặc biệt

là những nội dung có thể dẫn đến những ý kiến đánh giá khác nhau

Đối với việc hỏi người đại diện theo uỷ quyền của đương sự, Thẩm phán phải chú ý phạm vi được uỷ quyền Theo pháp luật tố tụng hành chính, người đại diện theo uỷ quyền của đương sự chỉ được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương

sự trong phạm vi được uỷ quyền Do đó, nếu Thẩm phán hỏi những vấn đề vượt quá phạm vi được uỷ quyền thì những vấn đề đó cũng không có giá trị pháp lý tại toà

Bốn là công bố các tài liệu của vụ án 30 Hội đồng xét xử công bố các tài liệu

của vụ án trong các trường hợp sau đây:

- Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên toà mà trong giai đoạn chuẩn

Trang 37

Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, của người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình tại phiên toà, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 153

được đưa ra để xem xét tại phiên toà Hội đồng xét xử có thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên toà được nếu thấy cần thiết32

Năm là kết thúc việc hỏi 33 Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem

xét đầy đủ thì Chủ toạ phiên toà hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu

đó là có căn cứ thì Chủ toạ phiên toà quyết định tiếp tục việc hỏi

Thứ năm là phần tranh luận Tranh luận là một giai đoạn trong quá trình xét

xử sơ thẩm vụ án hành chính Lúc này, Hội đồng xét xử tiếp tục nghiên cứu, kiểm tra tài liệu chứng cứ tại phiên toà Hội đồng xét xử phải bảo đảm quá trình tranh luận cần thể hiện sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ một quan hệ pháp luật hành chính bất bình đẳng giữa một bên là cơ quan quản lý nhà nước, bên còn lại là đối tượng bị quản lý Có như vậy, người khởi kiện mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như Toà án

có thể xây dựng được niềm tin của nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính

Những người được tham gia tranh luận bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Như vậy, trong quá trình này, Chủ toạ phiên toà chỉ có nhiệm vụ bảo đảm quá trình tranh luận được diễn ra có hiệu quả, không thể cắt ngang phần tranh luận trừ trường hợp những ý kiến tranh luận không có liên quan đến vụ án Ngoài ra, Thẩm phán cần phải lắng nghe sự tranh luận của đương sự, nghiên cứu nội dung tranh luận cũng như có những ghi chép cần thiết để có hướng giải quyết vụ án một cách đúng đắn và khách

31 Điều 154 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

32 Điều 155 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

33

Điều 157 Luật Tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010

Trang 38

quan Trong quá trình tranh luận, có trường hợp đương sự liên tục lặp đi lặp lại một vấn đề vì quá bức xúc hoặc không có khả năng giải thích rõ ràng ý kiến của mình Khi đó, Thẩm phán cần bình tĩnh lắng nghe cũng như đưa ra lời khuyên, giải thích cho đương sự hiểu vấn đề cần phải tranh luận, hướng đương sự làm rõ các mâu thuẫn

Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý

Những ý kiến không có liên quan đến vụ án không được luật quy định là những ý kiến nào Tuy nhiên, những vấn đề nêu trên thường bao gồm: không liên quan đế việc giải quyết vụ án, đánh giá chứng cứ, cơ

sở pháp lý của các yêu cầu từ đương sự Sau khi tranh luận, Chủ toạ phiên toà đảm bảo cho Kiểm sát viên phát biểu ý kiến

Thứ sáu là nghị án và tuyên án Nghị án là quá trình Hội đồng xét xử đưa ra

kết luận cuối cùng về việc giải quyết vụ án, hình thành phán quyết của toà án dựa trên những diễn biến tại phiên toà cũng như những những tài liệu đã nghiên cứu trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm Giai đoạn này cần bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền trong xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số Các vấn đề cần phải kết luận trong vụ án bao gồm: các chứng cứ tại phiên toà có sức thuyết phục không, cơ sở pháp lý, quyền và nghĩa vụ các đương sự cần phải được giải quyết như thế nào Sau khi có được kết luận, các thành viên Hội đồng xét xử tiến hành biểu quyết theo thứ tự sau: Hội Thẩm nhân dân biểu quyết

quả thảo luận của Hội đồng xét xử phải được ghi trong biên bản và ký tên bởi Hội đồng xét xử Thời gian nghị án không quá 5 ngày làm việc

Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử trở lại phòng xử án để tuyên án Trong trường hợp Hội đồng xét xử không tuyên án ngay thì thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát biết thời gian và địa điểm tuyên án; nếu có đương sự vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên án Việc tuyên án do Chủ toạ hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử thực hiện bằng hình thức đọc bản án Toà án bảo đảm việc tuyên án được công khai để các đương sự và các chủ thể có quyền kháng nghị biết

Trang 39

nội dung vụ án, bảo đảm quyền kháng cáo của đương sự và quyền kháng nghị của các chủ thể khác

Trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm có những quyền sau:

- Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;

- Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;

- Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố một số hoặc toàn bộ các hành vi hành chính là trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người

có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;

- Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết lại vụ việc theo quy định của Luật cạnh tranh;

- Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; buộc cơ quan lập danh sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri theo quy định của pháp luật;

- Buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật gây ra;

- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước

Trang 40

Chủ toạ phiên toà cùng các thành viên khác của Hội đồng xét xử bảo đảm hình thức, nội dung của bản án đúng quy cách; việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của toà án (nếu có) theo quy định của Luật Tố tụng hành chính

1.3.7.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

Xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc

dung đơn kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể có thẩm quyền:

- Đối với đơn kháng cáo, Thẩm phán xem xét các yếu tố sau: chủ thể có quyền kháng cáo (Điều 174 Luật Tố tụng hành chính), hình thức và nội dung đơn kháng cáo (Điều 175 Luật Tố tụng hành chính) và thời hạn kháng cáo (Điều 176 Luật Tố tụng hành chính) Đối với các trường hợp kháng cáo quá hạn, Toà án sẽ thành lập một Hội đồng gồm 3 Thẩm phán để xem xét giải quyết

- Đối với đơn kháng nghị, Thẩm phán xem xét các yếu tố sau: chủ thể có quyền kháng nghị (Điều 181 Luật Tố tụng hành chính), hình thức và nội dung quyết định kháng nghị (Điều 182 Luật Tố tụng hành chính) và thời hạn kháng nghị (Điều

183 Luật Tố tụng hành chính)

Nếu việc kháng cáo, kháng nghị được Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận thì Thẩm phán tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, các Thẩm phán chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân Bởi lẽ, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, việc nhận định và giải quyết vụ án đòi hỏi người có trách nhiệm giải quyết cần có một tư duy pháp lý nhất định mà chỉ có những người làm công tác Thẩm phán chuyên nghiệp mới có thể đảm nhiệm được, trong khi Hội thẩm nhân dân là những người không chuyên trong lĩnh vực xét xử Các thủ tục trong phần chuẩn bị khai mạc phiên toà, thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm, thủ tục hỏi và công bố tài liệu, xem xét vật chứng, tranh luận, nghị án và tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Trường Đại hoc Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại hoc Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2012
18. Trường Đại học Luật TPHCM (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt nam, NXB Hồng Đức, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt nam
Tác giả: Trường Đại học Luật TPHCM
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2012
19. Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, Hà Nội.Báo in, tạp chí khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2010
20. Nguyễn Sơn Hà (2013), “Những điều kiện bảo đảm cho Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” , Nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều kiện bảo đảm cho Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” , "Nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội
Tác giả: Nguyễn Sơn Hà
Năm: 2013
21. Lê Thu Hằng (2011), “Đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính”, Nghề luật, Học viện tư pháp, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính”, "Nghề luật, Học viện tư pháp
Tác giả: Lê Thu Hằng
Năm: 2011
22. Phạm Công Hùng (2012), “Một số vấn đề về trình tự, thủ tục và kỹ năng xét xử vụ án hành chính tại phiên toà sơ thẩm”, Tạp chí Toà án nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về trình tự, thủ tục và kỹ năng xét xử vụ án hành chính tại phiên toà sơ thẩm”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Phạm Công Hùng
Năm: 2012
23. Nguyễn Hoàng Lâm (2012), “Trao đổi về bài "Đối thoại trong tố tụng hành chính", Tạp chí Tòa án nhân dân, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về bài "Đối thoại trong tố tụng hành chính
Tác giả: Nguyễn Hoàng Lâm
Năm: 2012
24. Nguyễn Sơn Lâm (2014), “Thực trạng của việc giao nộp, thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính và môt số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Toà án nhân dân, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng của việc giao nộp, thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính và môt số kiến nghị hoàn thiện”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Sơn Lâm
Năm: 2014
25. Mai Văn Thắng (2014), “Bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán ở Liên bang Nga và một số gợi ý cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán ở Liên bang Nga và một số gợi ý cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Mai Văn Thắng
Năm: 2014
26. Nguyễn Văn Tuân (2011), “Bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 1Các tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Năm: 2011
27. Phan Thanh Hà (2014), Chứng minh trong vụ án hành chính, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng minh trong vụ án hành chính
Tác giả: Phan Thanh Hà
Năm: 2014
28. Nguyễn Thị Thu Hân (2014), Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thu Hân (2014), "Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hân
Năm: 2014
29. Toà án nhân dân tối cao (2013), “Báo cáo số 78/BC-TA Tổng kết thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 78/BC-TA Tổng kết thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2013
30. Toà án nhân dân tối cao (2015), “Báo cáo số 04/BC-TANDTC Tổng kết 3 năm thi hành Luật tố tụng hành chính” ngày 29 tháng 01 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 04/BC-TANDTC Tổng kết 3 năm thi hành Luật tố tụng hành chính
Tác giả: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w