Từ sự chỉ đạo của Đảng trong vấn đề cải cách tư pháp cho thấy cần phải sửa đổi các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm c
THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA CƠ QUAN KIỂM LÂM
Quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ
Thẩm quyền là quyền xem xét để đi đến kết luận và ra quyết định về một vấn đề Theo nghĩa rộng, thẩm quyền là quyền thực hiện những hành vi và ra quyết định pháp lý nhất định của chủ thể theo quy định của pháp luật Nói cách khác, thẩm quyền là quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được thực hiện một việc hoặc một công việc trong phạm vi pháp luật cho phép; phạm vi này là giới hạn của thẩm quyền.
Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền được xác định và phân định giữa các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng Theo quan điểm của tố tụng hình sự, thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ để thực hiện các hoạt động tố tụng và ra các quyết định tố tụng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được luật tố tụng hình sự quy định.
Điều tra là quá trình tìm tòi, xem xét nhằm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội; thẩm quyền điều tra tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ nhằm tìm hiểu hành vi phạm tội, làm rõ chứng cứ xác định tội hay vô tội, xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, xác định hậu quả của tội phạm để thực hiện các biện pháp đảm bảo bồi thường, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa Để thực hiện các hoạt động trên, cơ quan điều tra và điều tra viên có quyền ban hành các quyết định tương ứng, quyền này được Nhà nước giao không chỉ cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Điều tra viên mà còn cho một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Thẩm quyền điều tra tố tụng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động quyết định của các chủ thể nhất định theo quy định của pháp lệnh tổ chức điều tra.
3 Trích từ điển Luật học, NXB Bách khoa 1999 Tr 459
4 Trích từ điển Luật học, NXB Bách khoa 1999 Tr 8 tra hình sự thể hiện qua việc tìm tòi, xem xét để biết rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra
Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Kiểm lâm là hoạt động mà pháp luật cho phép Cơ quan Kiểm lâm thực hiện khi tiến hành điều tra và xử lý các tội phạm xảy ra trong lĩnh vực Quản lý và Bảo vệ rừng 5
Vì vậy khi thực hiện quyền điều tra, Cơ quan Kiểm lâm phải áp dụng các biện pháp nhằm phát hiện, nghiên cứu, củng cố, ghi nhận và thu giữ chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Kiểm lâm khác với thẩm quyền của các cơ quan khác, như Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, điều tra tất cả các tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan khác.
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao
Pháp luật tố tụng hình sự giao cho Cơ quan Kiểm lâm thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự trong lĩnh vực Quản lý và Bảo vệ rừng, một lĩnh vực đặc thù do cơ quan Kiểm lâm quản lý; vì vậy mọi hành vi phạm tội xảy ra trong lĩnh vực này sẽ được Kiểm lâm chủ động nắm bắt thông tin nhanh chóng, kịp thời và tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật nhằm lập lại trật tự trong quản lý và bảo vệ rừng Việc giao thẩm quyền điều tra cho Kiểm lâm nhằm tránh chồng chéo thẩm quyền, mang lại hiệu quả và tiết kiệm thời gian cũng như chi phí cho công tác điều tra Đồng thời, việc giao cho Kiểm lâm có thẩm quyền điều tra lĩnh vực Quản lý và bảo vệ rừng thể hiện sự nghiêm túc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng theo Kết luận 79-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, giữ nguyên quyền hạn và quy định rõ hơn nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra của cơ quan Kiểm lâm để đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm và tránh chồng chéo Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định.
Khi phát hiện các hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong phạm vi quản lý của mình, Kiểm lâm có thẩm quyền tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, thu thập chứng cứ và phối hợp với các cơ quan chức năng để điều tra, xử lý theo luật định; hồ sơ vụ việc được chuyển giao đầy đủ để tiếp tục các thủ tục tố tụng, đồng thời Kiểm lâm tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát và bảo vệ rừng nhằm ngăn ngừa tái phạm và bảo vệ nguồn tài nguyên.
5 Kết luận số 79-KL/TW ngày 12/2/2014 của Bộ chính trị - Tr 02
Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị (Tr02) nêu rõ: đối với tội phạm ít nghiêm trọng, trong trường hợp phạm tội quả tang, có chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Điều 21 Pháp lệnh điều tra hình sự năm 2004 quy định về trình tự, thẩm quyền và thời hạn tố tụng liên quan đến hoạt động khởi tố và điều tra.
1 Cơ quan Kiểm lâm khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại các điều 175,189,190,191,240 và 272 của
Trong Bộ luật hình sự, Cục trưởng Cục Kiểm lâm, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm và Hạt phúc kiểm lâm sản được giao quyền thực thi các quyền hạn quy định tại điều 8, nhằm đảm bảo công tác quản lý và bảo vệ rừng được thực thi đúng thẩm quyền.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và 2015, Cơ quan Kiểm lâm được giao thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự thuộc lĩnh vực Quản lý và bảo vệ rừng khi phạm tội ít nghiêm trọng, xảy ra quả tang và có chứng cứ cùng lai lịch người phạm tội rõ ràng; hồ sơ điều tra sau khi hoàn tất sẽ được chuyển tới Viện kiểm sát để truy tố Tuy nhiên thực tế, Cơ quan Kiểm lâm chưa thực hiện đầy đủ chức trách được giao, dù số vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng Kiểm lâm vẫn có quy mô đáng kể Mục đích mà Đảng và Nhà nước giao cho Kiểm lâm là tránh chồng chéo thẩm quyền và nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án hình sự trong lĩnh vực Quản lý và bảo vệ rừng; nếu Kiểm lâm thực hiện tốt công tác điều tra, sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời đảm bảo xử lý vụ án nhanh chóng và kịp thời.
Trong thời gian qua, khi lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự, có nhiều ý kiến cho rằng quyền hạn điều tra của một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cần được mở rộng Ngày 12/3/2014, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 92-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, xác định một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp là phân biệt thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tố tụng; đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo hướng cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, còn các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ.
7 Bộ luật TTHS năm 2003, khoản 1 điều 111
8 Pháp lệnh điều tra hình sự 2004, khoản 1 điều 21
9 Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị xác định giao cho một số cơ quan thực hiện một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và không chồng chéo nhiệm vụ Các cơ quan được giao nhiệm vụ này vốn thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, nhưng nay được bổ sung nhiệm vụ điều tra để huy động sức mạnh tổng hợp tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt ở những lĩnh vực có tính chất đặc thù và tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo, nơi khi xảy ra các vụ án hình sự cơ quan điều tra chưa thể tiếp cận ngay.
Tại Điều 34 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự 2015 quy định:
Khi Kiểm lâm thực hiện nhiệm vụ quản lý mà phát hiện tội phạm quy định tại các Điều 232, 243, 244, 245, 313 và 345 của Bộ luật hình sự, Cục trưởng Cục Kiểm lâm, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm và Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Qua nghiên cứu, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự liên quan đến Cơ quan Kiểm lâm Luật này xác định phạm vi và thẩm quyền của cơ quan điều tra hình sự đối với các vụ án thuộc lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời quy định trình tự, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan liên quan để bảo đảm hoạt động điều tra được thống nhất và hiệu quả Việc nêu rõ thẩm quyền điều tra đối với Cơ quan Kiểm lâm nhằm tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý các vụ việc phạm tội trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Thực tiễn áp dụng thẩm quyền điều tra của Cơ quan Kiểm lâm
Đối với cơ quan Kiểm lâm, thực tiễn kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra cho thấy, dù được Nhà nước phân công nhiệm vụ khởi tố và điều tra ban đầu các vụ án hình sự ít nghiêm trọng khi có quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, vẫn có nhiều vụ án đủ điều kiện theo luật nhưng cơ quan Kiểm lâm không thực hiện quyền năng pháp lý để tiến hành điều tra, sau đó kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố; đồng thời họ thường khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT để tiếp tục điều tra.
14 Bộ luật TTHS năm 2015, điểm b, khoản 1 điều 164
Theo số liệu khảo sát từ năm 2010 đến 2014, lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc đã khởi tố 966 vụ án hình sự Các vụ án do Kiểm lâm điều tra thường chỉ tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu rồi chuyển sang cơ quan điều tra chuyên trách để tiến hành điều tra; không có vụ án nào Kiểm lâm tiến hành điều tra rồi kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát truy tố (mặc dù có nhiều vụ án đủ các điều kiện theo quy định đó là tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ lai lịch người phạm tội rõ ràng) Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra nói chung và Cơ quan Kiểm lâm nói riêng chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong quá trình điều tra vụ án hình sự vì còn nhiều vấn đề chưa được quy định cụ thể trong luật.
Dù có nhiều thế mạnh về chuyên môn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, Cơ quan Kiểm lâm còn chưa được xác định đầy đủ về tổ chức và tư cách tham gia tố tụng, cũng như thẩm quyền tố tụng, khiến cho luật pháp chưa thể hiện một cách rõ ràng và đầy đủ vai trò của cơ quan này trong hoạt động tố tụng Ví dụ, Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa quy định rõ tư cách tố tụng của người có thẩm quyền thuộc các cơ quan này, và câu hỏi họ có phải là chủ thể trong hoạt động tố tụng hình sự hay không vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn Từ đó cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa thực tiễn công tác quản lý, bảo vệ rừng và khung pháp lý hiện hành, đòi hỏi làm rõ thẩm quyền, tư cách tố tụng của Cơ quan Kiểm lâm trong hệ thống luật để bảo đảm hiệu lực của các quy trình tố tụng liên quan.
Điều 111 quy định cho cơ quan có thẩm quyền được tiến hành các hoạt động điều tra và kết thúc điều tra vụ án hình sự để chuyển Viện kiểm sát truy tố Theo Bộ luật tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng ở giai đoạn điều tra gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Điều tra viên; vì vậy khi cơ quan Kiểm lâm tiến hành tố tụng sẽ không có các chức danh pháp lý này, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện một số hoạt động điều tra theo quy định số 16 Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra chưa đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm lâm khi được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Do vậy, cần xem xét bổ sung khía cạnh pháp lý cho Kiểm lâm tham gia vào quá trình điều tra, hoặc xác định rõ phạm vi, thẩm quyền của họ để đảm bảo thực thi đúng quy định và nâng cao hiệu quả công tác điều tra.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã kịp thời bổ sung những thiếu sót của Bộ luật năm 2003 bằng cách quy định cụ thể quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong đó có Cơ quan Kiểm lâm Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cho thấy pháp luật đã quy định rõ thẩm quyền tiến hành điều tra các vụ án hình sự và sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành điều tra vẫn phụ thuộc vào tổ chức thực thi và điều kiện thực tế.
Nguyễn Duy Giảng (2014) phân tích nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp điều tra Bài viết nhấn mạnh vai trò của các cơ quan liên quan và các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động điều tra, nhằm tăng cường hiệu quả và tuân thủ nguyên tắc tố tụng Được đăng trên Tạp chí Khoa học, nội dung mang tính tham chiếu cho các nghiên cứu và thực tiễn tố tụng hình sự tại Việt Nam.
Cơ quan Kiểm lâm dù là cơ quan quản lý, nhưng trên thực tế đã không thực hiện đầy đủ các biện pháp điều tra theo đúng quy định của pháp luật, dẫn tới việc các vụ án tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng chưa được Kiểm lâm điều tra và xử lý, khiến vụ án bị kéo dài thời hạn giải quyết Vì vậy mục tiêu xử lý các vụ án nhanh chóng, kịp thời của Đảng và Nhà nước chưa được thực hiện nghiêm túc Điển hình là vụ phá rừng xảy ra ngày 21/3/2014 tại tiểu khu 658, xã
Trong quá trình tuần tra tại xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, lực lượng chức năng bắt quả tang ông Agai trú tại làng Tang, xã Mô Rai có hành vi chặt phá 8.000 m2 rừng sản xuất tại vị trí X 0507077, Y 1592985 thuộc khoảnh 2, tiểu khu 658 Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy xác định qua các biện pháp nghiệp vụ việc phá rừng trên do ông Agai thực hiện; ông Agai có hộ khẩu thường trú tại địa phương và lai lịch rõ ràng Theo quy định, Hạt Kiểm lâm huyện Sa Thầy phải khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra và kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát truy tố 17.
Theo thống kê từ năm 2010-2016 trên địa bàn tỉnh Gia Lai, cơ quan Kiểm lâm đã khởi tố 162 vụ án hình sự, trong đó có 24 vụ thuộc trường hợp “Tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ lai lịch người phạm tội rõ ràng”, nhưng đơn vị này không tiến hành điều tra theo luật định và kết thúc điều tra chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát truy tố 18 vụ; tại địa bàn Kon Tum trong cùng thời kỳ, Kiểm lâm khởi tố 114 vụ, trong đó có 9 vụ thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng với phạm tội quả tang và chứng cứ lai lịch người phạm tội rõ ràng, nhưng vẫn không tiến hành điều tra theo luật định.
Theo thống kê, mỗi năm ngành Kiểm lâm khởi tố hàng ngàn vụ án hình sự Trong số này có hàng trăm vụ ở mức độ ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang và có chứng cứ lai lịch người phạm tội rõ ràng, nhưng Kiểm lâm lại không tiến hành các hoạt động điều tra mà kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố và chỉ khởi tố vụ án rồi chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra và xử lý.
17 Phục lục 1 Vụ án hình sự xảy ra tại địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
18 Trích Báo cáo Chi cục Kiểm lâm Gia Lai (2010-2016)
19 Trích Báo cáo Chi cục Kiểm lâm Kon Tum (2010-2016)
Vào ngày 07/10/2016, trong quá trình tuần tra, Hạt kiểm lâm huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai) đã phát hiện ông Rơ Mah Then, trú tại làng O, xã Ia O, có hành vi phá rừng trái phép bằng rìu, rựa trên diện tích 8.500 m² tại tọa độ 0389807.
1535886 thuộc tiểu khu 365 thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ IAGRAI quản lý
Ngày 19/01/2017, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện IAGRAI ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01 về tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 189 Bộ luật hình sự, với hành vi của ông Rơ Mah Then được xác định thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang và có chứng cứ, lý lịch người phạm tội rõ ràng; vì vậy lẽ ra Hạt kiểm lâm huyện IAGRAI phải căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 để khởi tố bị can, tiến hành điều tra và kết thúc điều tra chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát nhân dân huyện IAGRAI để truy tố theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong vụ án này Hạt kiểm lâm huyện IAGRAI chỉ khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện IAGRAI để điều tra, vi phạm quy định của pháp luật và kéo dài thời gian giải quyết vụ án; như vậy mục đích giải quyết án nhanh, gọn, kịp thời của Đảng và nhà nước chưa được thực hiện nghiêm túc.
Qua nghiên cứu, nguyên nhân cho thấy quy định của pháp luật tố tụng hình sự vẫn còn thiếu cụ thể cho các cơ quan thực thi nhiệm vụ, khiến quá trình điều tra và xử lý vụ án gặp nhiều vướng mắc khi vụ án được giải quyết theo trình tự tố tụng và buộc các cơ quan như Cơ quan điều tra, điều tra viên và các cơ quan được giao tiến hành các hoạt động điều tra phải tuân thủ đầy đủ Bộ luật tố tụng hình sự Vi phạm thủ tục, trình tự đúng luật có thể là căn cứ để cấp phúc thẩm hủy án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Mặt khác, cán bộ pháp chế của các cơ quan này chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác điều tra hình sự, nên còn nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng tố tụng; từ đó họ không tiến hành công tác điều tra mà chỉ khởi tố vụ án và chuyển cho Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật.
20 Phụ lục 02 Vụ án hình sự xảy ra tại địa bàn huyện IAGRAI, tỉnh Gia Lai
Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong đó có cơ quan Kiểm lâm, chưa thực hiện quyền năng pháp lý được luật cho phép vì lo ngại trách nhiệm pháp lý và do các quy định tố tụng hình sự chưa có hướng dẫn cụ thể để cơ quan này thực hiện quyền năng điều tra Việc khởi tố vụ án hình sự hiện nay chủ yếu dựa vào dấu hiệu tội phạm và chưa tiến hành xử lý đối với người phạm tội cụ thể (chưa khởi tố bị can); do vậy, nếu việc khởi tố không chính xác cũng không làm ảnh hưởng đến cá nhân cụ thể và chưa phải chịu trách nhiệm pháp lý về những oan sai có thể xảy ra Vì vậy, Kiểm lâm không tiến hành điều tra các vụ án theo quy định mà chỉ khởi tố vụ án rồi chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
Thực tiễn thi hành pháp luật tại địa phương và số liệu thống kê trên phạm vi cả nước cho thấy kể từ khi Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Pháp lệnh điều tra hình sự năm 2004 có hiệu lực, ngành Kiểm lâm chưa tiến hành điều tra cũng như chưa kết thúc điều tra một vụ án nào để chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố theo quy định của pháp luật, trong khi số lượng vụ án đủ điều kiện để cơ quan kiểm lâm tiến hành điều tra lại rất lớn.
Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thẩm quyền điều tra của Cơ quan Kiểm lâm
Như đã phân tích, luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định thẩm quyền điều tra vụ án hình sự cho các cơ quan không phải là cơ quan điều tra chuyên trách; các cơ quan như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư là cơ quan chuyên môn, quản lý hành chính trong các lĩnh vực có tính chất đặc thù nên không được đào tạo sâu về nghiệp vụ điều tra và không nắm vững đầy đủ các quy định tố tụng, dẫn tới lúng túng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Đối với các vụ việc ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, họ lẽ ra phải tiến hành các hoạt động điều tra và kết luận điều tra chuyển cho Viện kiểm sát truy tố; tuy nhiên, như đã phân tích, cơ quan Kiểm lâm thường chọn phương án khởi tố vụ án rồi chuyển hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra Như vậy, pháp luật tố tụng đã quy định cụ thể rõ ràng, nhưng thực tế Kiểm lâm chưa thực hiện đầy đủ quyền năng pháp lý này để giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án hình sự thuộc lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng Do đó, để bảo đảm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất, cần có quy định chế tài xử lý đối với những người có trách nhiệm trong ngành Kiểm lâm khi không tiến hành điều tra, xử lý các vụ án hình sự thuộc trách nhiệm điều tra, xử lý của mình nhằm đảm bảo giải quyết nhanh chóng, kịp thời.
28 Bộ luật TTHS 2003, điểm a khoản 1 điều 111, Bộ luật TTHS 2015, điểm a, khoản 1 điều 164
Việc chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án (đối với tội phạm nghiêm trọng trở lên) gây nhiều khó khăn cho các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, bởi trong lĩnh vực quản lý đặc thù của Kiểm lâm, Cảnh sát biển và Bộ đội biên phòng—những lực lượng hoạt động ở vùng sâu, vùng xa và vùng biển đi lại khó khăn—nên việc điều tra, thu thập chứng cứ và thu giữ vật chứng là những nhiệm vụ điều tra ban đầu gặp nhiều thách thức Mặc dù quy định về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Kiểm lâm đã được nêu rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự, thực tế cơ quan Kiểm lâm không thực hiện điều tra đầy đủ như quy định, dựa trên số liệu thống kê trên toàn quốc.
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 hiện vẫn có hiệu lực, nhưng cơ quan Kiểm sát chưa thực hiện điều tra và chưa kết thúc điều tra bất kỳ vụ án nào Vì vậy đề xuất sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự và Luật điều tra hình sự theo hướng thu hẹp quyền hạn của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và chỉ giao cho họ thẩm quyền khởi tố tất cả các vụ án hình sự thuộc quyền quản lý của họ; sau khi khởi tố vụ án, hoàn tất các thủ tục và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về tiến tới tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối.
Từ phân tích trên đề xuất tiếp tục sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Luật tổ chức điều tra hình sự 2015 theo hướng:
“Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Kiểm lâm được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1 Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì các cơ quan của Kiểm lâm có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự”
Việc duy trì quy định cho cơ quan Kiểm lâm và các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động điều tra đối với các tội ít nghiêm trọng khi phạm tội quả tang và có chứng cứ cùng lý lịch người phạm tội rõ ràng Đòi hỏi phải quy định rõ các cơ quan được giao nhiệm vụ là chủ thể thực hiện quyền năng pháp lý trong Bộ, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của quá trình điều tra Việc này tăng cường sự minh bạch, tránh chồng chéo thẩm quyền và tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các hoạt động điều tra trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và an ninh trật tự.
29 số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm thuộc Bộ NN&PTNT cho thấy việc áp dụng luật tố tụng hình sự được các cơ quan này thực hiện nhằm bảo đảm đúng quy định của pháp luật và phù hợp với Kết luận số 92-KL/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49 Kết luận nêu rõ giữ nguyên quyền hạn và quy định rõ hơn nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan và Kiểm lâm.
Vấn đề chưa có sự thống nhất giữa Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tổ chức điều tra hình sự trong việc Bộ luật tố tụng hình sự giao cho Cơ quan Kiểm lâm tiến hành điều tra tất cả các vụ án hình sự thuộc trách nhiệm quản lý nhưng Luật tổ chức điều tra hình sự lại hạn chế một phần thẩm quyền điều tra của Cơ quan Kiểm lâm Từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức điều tra hình sự năm 2015 theo hướng giao cho Cơ quan Kiểm lâm khởi tố thêm các Điều 233 (Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng), Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã) vì đây là lĩnh vực quản lý của lực lượng Kiểm lâm, nếu không quy định cụ thể trong luật tổ chức điều tra hình sự sẽ dẫn đến khó khăn trong việc phân định thẩm quyền xử lý
Vì vậy đề xuất sửa Điều 34 Luật tổ chức điều tra hình sự theo hướng:
“1 Cơ quan Kiểm lâm khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại các Điều 232, 233, 234, 243, 244, 245,
313 và 345 của Bộ luật hình sự ” Để các Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ điều tra, xử lý các vụ án hình sự Đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với những vụ án do Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra, sau đó Kết thúc điều tra chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố Trong trường hợp này nếu phải trả hồ sơ điều tra bổ sung thì nên quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự về việc sẽ trả hồ sơ cho Cơ quan nào? (Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra đã tiến hành điều tra và Kết thúc điều tra hay chuyển Cơ quan điều tra có thẩm quyền)
Để kịp thời chuyển hóa tội phạm từ các hành vi vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng sang các tội xâm phạm sở hữu và nâng cao hiệu quả truy tố các vụ án liên quan, cần đề xuất sửa đổi Luật tổ chức điều tra hình sự 2015 và Thông tư liên ngành số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSTC-TATC ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật hình sự Việc chuyển hóa tội danh sẽ phù hợp với tính chất hành vi và tạo cơ sở xử lý hình sự chặt chẽ hơn, đồng thời cần giao cho Kiểm lâm khởi tố các vụ án liên quan vì bản chất đây là hành vi xâm phạm lĩnh vực Quản lý và Bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, Nhà nước và Bộ NN&PTNT cần xây dựng các giải pháp và kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng Kiểm lâm, đồng thời triển khai các đề án đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức Kiểm lâm giai đoạn 2015- để nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ rừng.
Năm 2020 thay thế đề án số 288/ĐA-BNN-TCLN ngày 06/9/2010 của Bộ NN&PTNT cho giai đoạn 2011-2015, trong đó tập trung cho công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên ngành điều tra đối với cán bộ công chức Kiểm lâm làm công tác pháp chế và đối với lãnh đạo Cơ quan Kiểm lâm được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.
Qua nghiên cứu thẩm quyền điều tra và thực tiễn áp dụng thẩm quyền của Cơ quan Kiểm lâm trong các vụ án hình sự liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng cho thấy, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam giao cho cơ quan này một số hoạt động điều tra đối với các vụ việc ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang và có chứng cứ, lai lịch người phạm tội rõ ràng; tuy nhiên thực tế vì nhiều lý do đã được phân tích, Cơ quan Kiểm lâm vẫn chưa thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm được giao Do đó, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng thu hẹp quyền hạn của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong đó có Cơ quan Kiểm lâm, và chỉ giao cho họ quyền khởi tố vụ án cũng như chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết, nhằm thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.
“nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại Cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối”
Tiếp tục giao cho các cơ quan này quyền điều tra đối với một số vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang và có chứng cứ, lai lịch người phạm tội rõ ràng; đồng thời nghiên cứu sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật một cách cụ thể và rõ ràng để các cơ quan này thực hiện tốt nhiệm vụ theo tinh thần Kết Luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, với nội dung giữ nguyên quyền hạn và quy định rõ hơn nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan và Kiểm lâm.
QUYỀN KHỞI TỐ BỊ CAN VÀ HỎI CUNG BỊ CAN CỦA CƠ
Quy định của pháp luật về quyền Khởi tố Bị can, hỏi cung Bị can của Cơ
2.1 Quy định của pháp luật về quyền Khởi tố Bị can, hỏi cung Bị can của Cơ quan Kiểm lâm
Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học luật Hà Nội năm
Khởi tố bị can là hình thức pháp lý trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội Khi có đủ căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, mở đầu quá trình điều tra và xác minh hành vi phạm tội Quy trình khởi tố bị can là bước quan trọng trong tố tụng hình sự, đảm bảo việc xem xét, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của người bị tình nghi, đồng thời xác định trách nhiệm hình sự dựa trên cơ sở chứng cứ thu thập được.
Theo Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự của Viện khoa học Pháp lý-
Theo quy định năm 2003 của Bộ Tư pháp, khởi tố bị can là quyết định của cơ quan điều tra khi xác định có đủ căn cứ cho rằng một người đã thực hiện hành vi phạm tội Đây là căn cứ pháp lý để cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết theo quy định của pháp luật và tiến hành các biện pháp điều tra đối với người đó (31).
Khởi tố bị can được coi là một hình thức pháp lý do cơ quan có thẩm quyền xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, và nó là căn cứ pháp lý để cơ quan điều tra cùng Viện kiểm sát áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng đối với bị can, trừ trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và quả tang.
Khởi tố bị can là quyết định bằng văn bản của cơ quan điều tra đối với một người khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tiến hành các hoạt động điều tra liên quan đến bị can.
Những nhận thức trên cho thấy các khái niệm được trình bày từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau có cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu đa dạng theo từng lĩnh vực và ngành đào tạo Tuy nhiên, về nội dung khái niệm Khởi, vẫn có các điểm chung ở mức ý nghĩa cơ bản như sự bắt đầu, quá trình khởi động và sự thay đổi ban đầu, dù cách diễn đạt và phạm vi áp dụng có thể khác nhau giữa các bối cảnh nghiên cứu Sự đa dạng cách trình bày này phản ánh tính đặc thù của từng lĩnh vực và nhu cầu lý giải cụ thể, vì vậy người đọc cần xem xét ngữ cảnh để vận dụng khái niệm cho mục tiêu học thuật và thực tiễn Do đó, cần hệ thống hóa các yếu tố cốt lõi của khái niệm Khởi và xác định rõ phạm vi áp dụng trong mỗi bối cảnh để đảm bảo tính nhất quán khi trình bày.
30 Đại học luật Hà Nội (1999), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, NXB CAND, Tr181
31 Bộ tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2005), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Tư pháp,
Cuốn sách "Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự", do 32 Học viện tư pháp biên soạn năm 2006 và được NXB Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành, trang 273, trình bày các kỹ năng thực thi quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong tố tụng hình sự Đây là nguồn tham khảo có giá trị cho giảng dạy và học tập về tư pháp và pháp luật hình sự, hỗ trợ người làm công tác tư pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền công tố và giám sát tuân thủ pháp luật.
Theo Võ Khánh Vinh (2004) trong Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, các tài liệu pháp lý thống nhất ở ba yếu tố: chủ thể bị khởi tố, thẩm quyền khởi tố và căn cứ pháp lý Qua phân tích, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về khởi tố bị can như sau: khởi tố bị can là quá trình xác định một cá nhân có dấu hiệu phạm tội và bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự dựa trên căn cứ pháp lý được quy định, nhằm đưa vụ việc vào giai đoạn điều tra.
Khởi tố bị can là một hoạt động tố tụng được thể hiện bằng văn bản mang tên Quyết định khởi tố bị can; quyết định này là cơ sở pháp lý để xác định một người là chủ thể của tội phạm và cho phép áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự như cưỡng chế, điều tra đối với họ.
Khởi tố bị can là hành vi tố tụng đầu tiên trong quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền điều tra và có trách nhiệm thu thập chứng cứ Trong giai đoạn điều tra, người có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một cá nhân cụ thể hoặc một pháp nhân có hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong pháp luật hình sự.
Khởi tố bị can là bước trong tố tụng nhằm xác định có hay không tội phạm xảy ra; nếu có, nó làm rõ ai là người thực hiện hành vi phạm tội để từ đó có căn cứ điều tra và xử lý theo đúng quy định của pháp luật Quá trình khởi tố nhằm bảo đảm quyền lợi của người bị cho là phạm tội, đồng thời tránh làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình điều tra và xét xử.
Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lý do Bộ luật tố tụng hình sự quy định về hình thức, nội dung, căn cứ, thẩm quyền và thủ tục ban hành nhằm xác định một người là chủ thể của tội phạm; đây là cơ sở pháp lý để cơ quan điều tra và Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp tố tụng đối với bị can Đồng thời, quyết định này là sự bảo đảm của Nhà nước đối với mọi công dân để không ai có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và tiến hành điều tra nếu chưa khởi tố bị can.
Ngay sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can được tiến hành như một biện pháp điều tra nhằm thu thập và mô tả lời khai theo trình tự tố tụng hình sự, làm rõ hành vi phạm tội của bị can và của những người đồng phạm, đồng thời thu thập các tin tức, tài liệu khác có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm.
Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra do cơ quan có thẩm quyền tiến hành, bằng cách thu thập và mô tả theo trình tự tố tụng hình sự lời khai của bị can về vụ án, hành vi phạm tội của bị can và những người đồng phạm, cùng với các tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm 34.
Hỏi cung bị can là hoạt động điều tra công khai, trực diện nhằm phát hiện, thu thập và củng cố chứng cứ để làm rõ toàn bộ sự thật về hành vi phạm tội của bị can và các đồng phạm, đồng thời cung cấp thông tin cho công tác điều tra, xử lý vụ án và công tác phòng ngừa tội phạm.
Hỏi cung bị can là một biện pháp thu thập chứng cứ phổ biến và bắt buộc trong quá trình điều tra vụ án hình sự, và bị can là người đã thực hiện hành vi phạm tội cũng như nắm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án Sau khi xác định được bị can và có quyết định khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can phải được tiến hành ngay nhằm đảm bảo tính khách quan và hiệu quả của quá trình điều tra; đây là yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ điều tra và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập lời khai có giá trị Thông thường, sau khi nhận quyết định khởi tố bị can, bị can sẽ ở trong trạng thái hoang mang, dao động Trong suốt quá trình điều tra – xử lý vụ án hình sự, nếu không tiến hành hỏi cung bị can thì cơ quan điều tra gặp khó khăn khi thu thập đầy đủ chứng cứ và có thể không thể kết thúc điều tra vụ án cũng như xử lý đúng người đúng tội.
Bị can trước pháp luật
Thực tiễn thực hiện quyền Khởi tố Bị can, hỏi cung Bị can của Cơ quan Kiểm lâm
2.2.1 Thực tiễn thực hiện quyền Khởi tố Bị can của Cơ quan Kiểm lâm
Qua nghiên cứu hoạt động điều tra các vụ án hình sự của lực lượng Kiểm lâm trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum từ năm 2010 đến 2016, cho thấy công tác phát hiện và điều tra vi phạm lâm nghiệp ngày càng được tăng cường, tập trung chủ yếu vào các hành vi khai thác, vận chuyển và buôn bán lâm sản trái phép Kết quả cho thấy tỉ lệ khởi tố và xử lý các vụ án hình sự liên quan đến lâm sản có chuyển biến tích cực, đồng thời sự phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm với các cơ quan chức năng được đẩy mạnh hơn Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế về nguồn lực, kinh phí và thủ tục điều tra phức tạp, nhưng các kết quả nghiên cứu gợi ý cần đầu tư thêm trang thiết bị, nâng cao năng lực điều tra và tăng cường phối hợp liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng và bảo vệ tài nguyên lâm nghiệp.
+ Số liệu Khởi tố Bị can của lực lượng Kiểm lâm tỉnh Gia Lai 41 :
Năm Tổng số vụ án Điều 175 Điều 189 Điều 190 Điều 240 Khởi tố bị can
01( bị Viện kiểm sát hủy bỏ)
Năm 2013 23 vụ 12 vụ 08 vụ 02 vụ 01 vụ 0
Năm 2016 30 vụ 10 vụ 18 vụ 02 vụ 0
+ Số liệu Khởi tố Bị can của lực lượng Kiểm lâm tỉnh Kon Tum 42 :
Năm Tổng số vụ án Điều 175 Điều 189 Điều 190 Điều 240 Khởi tố bị can
Năm 2010 18 vụ 05 vụ 09 vụ 01vụ 03 vụ 0
41 Thống kê số liệu khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Chi cục Kiểm lâm Gia Lai
42 Thống kê số liệu khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Chi cục Kiểm lâm Kon Tum
Năm 2011 09 vụ 03 vụ 05 vụ 01 vụ 0
Năm 2013 18 vụ 08 vụ 09 vụ 01 vụ 0
Năm 2015 16 vụ 05 vụ 09 vụ 01 vụ 01 vụ 0
Năm 2016 19 vụ 07 vụ 10 vụ 01 vụ 01 vụ 0
Thực tế, trong nhiều năm qua, mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự trao quyền cho Cơ quan Kiểm lâm khởi tố bị can đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, nhưng khảo sát tại Gia Lai và Kon Tum nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung cho thấy hầu như chưa có cơ quan Kiểm lâm nào tiến hành khởi tố bị can vì nhận thức về các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến khởi tố bị can chưa đầy đủ, gây khó khăn cho quá trình thực thi quyền khởi tố của cơ quan này Điển hình cho thực trạng này là vụ việc vào khoảng 21h ngày 07/8/2010, tổ tuần tra của Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang đã phát hiện và bắt giữ Nguyễn Trường Sơn.
Người sinh năm 1985, trú tại thôn Phú Yên, xã Hra, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã có hành vi điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 82K-1819 để vận chuyển 0,685 m3 gỗ dổi Sau khi lập biên bản thu giữ lâm sản, Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang phát hiện trên xe còn có một bộ hồ sơ liên quan đến Nguyễn Trường Sơn, người đã bị UBND huyện Đắk Pơ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản theo quyết định số 57/QĐ-UBND ngày 26/5/2010 của Chủ tịch UBND huyện Đắk Pơ.
Nguyễn Trường Sơn, sinh năm 1985, trú tại thôn Phú Yên, xã Hà ra, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, bị xử phạt 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng chẵn) vì đã có hành vi vận chuyển 2,115 m3 gỗ đẽo, nhóm III (dổi) trái pháp luật Vụ việc xảy ra lúc 20h ngày 25/4/2010 tại xã An Thành, huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai.
Căn cứ Điều 3, khoản 8 Nghị định 159/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ quy định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, và căn cứ Điều 175 Bộ luật hình sự về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép tái phạm, đã có cơ sở khởi tố vụ án hình sự về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”; sau khi xác minh nhân thân, lý lịch của người phạm tội, ngày 15/8/2010 Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang đã ban hành Quyết định khởi tố vụ án số 01/QĐ-KL về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo Điều 175 Bộ luật hình sự, và cùng ngày Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang đã ra Quyết định khởi tố bị can số 01/QĐ-KT đối với bị can Nguyễn Trương Sơn về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Ngày 18/8/2010 Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang đã chuyển các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và biên bản hỏi cung đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang; qua nghiên cứu, việc khởi tố vụ án của Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang có căn cứ và đúng pháp luật, nhưng quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Trường Sơn lại không được Viện kiểm sát phê chuẩn, không đúng quy định tại điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự; ngay trong ngày 18/8/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang đã ban hành văn bản số 01/VKS yêu cầu Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang chuyển công văn đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cùng các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc khởi tố bị can Nguyễn Trường Sơn đến Viện kiểm sát huyện Mang Yang để xét phê chuẩn theo điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự; ngày 19/8/2010 Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang có công văn số 01/CV-HKL về việc trao đổi việc giải quyết vụ án, trong đó nêu rõ tại khoản 3 điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố bị can và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn”, Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang cho rằng Bộ luật tố tụng hình sự chỉ bắt buộc cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố bị can và các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn, và Bộ luật không quy định cho các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định khởi tố bị can và các tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát để xét phê chuẩn.
Sau khi nhận được công văn trên của Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang đã căn cứ vào các điều 36, 112 và 126 của Bộ luật Tố tụng hình sự để ban hành Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố bị can của Hạt kiểm lâm đối với Nguyễn Trường Sơn do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự, và yêu cầu Cơ quan kiểm lâm chuyển giao hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang để xử lý theo quy định của pháp luật tại Điều 43.
43 Phụ lục 5 Vụ án “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” xảy ra tại địa bàn huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai
Vụ việc trên cho thấy các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc khởi tố bị can, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về phạm vi và thẩm quyền Có ý kiến cho rằng khi các cơ quan này tiến hành khởi tố bị can mà không cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, vì vụ án được cho là phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang và chứng cứ cùng lai lịch người phạm tội rõ ràng; tuy nhiên quy định về phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với các trường hợp này lại không được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự Hiểu như vậy vô hình chung có thể dẫn tới vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cũng như quyền nhân thân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
2.2.2 Thực tiễn thực hiện quyền hỏi cung Bị can của Cơ quan Kiểm lâm
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự cho phép Cơ quan Kiểm lâm có quyền hỏi cung bị can nhưng khi tiến hành thực hiện thì phải căn cứ vào các quy định cụ thể của từng điều luật quy định về vấn đề hỏi cung bị can cũng như các văn bản dưới luật để thực hiện Do pháp luật chưa quy định cụ thể, đồng bộ nên Cơ quan Kiểm lâm gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện quyền hỏi cung bị can, đơn cử như việc tống đạt các quyết định, việc triệu tập, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, việc đảm bảo quyền bào chữa cho Bị can đó là các vấn đề còn nhiều bất cập khi cơ quan Kiểm lâm thực hiện quyền hỏi cung Bị can Ngoài ra vấn đề trách nhiệm pháp lý khi thực hiện hành vi tố tụng trên cũng chưa có quy định nếu để xảy ra oan sai ai là người chịu trách nhiệm bồi thường theo Luật bồi thường trách nhiệm nhà nước
Liên quan đến vấn đề hỏi cung bị can thì thấy rằng: Trong một số vụ án bị can có mời người bào chữa, hoặc người thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì pháp luật Việt Nam quy định đây là những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, tuy nhiên trong Bộ luật không quy định cho những cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải có trách nhiệm yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình 44 Như vậy việc bảo đảm quyền bào chữa đối với bị can do các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra theo Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 vô hình dung không được thực hiện và như vậy là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cũng như vi phạm quyền nhân thân của bị can được pháp luật tôn trọng và bảo vệ
Giả thuyết đặt ra khi các cơ quan này chỉ định luật sư bào chữa cho bị can trong quá trình điều tra vụ án hình sự hoặc luật sư do bị can mời thì việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa để luật sư thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng có thể không được đảm bảo, bởi lẽ tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa; nếu từ chối cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lý do.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trao thẩm quyền cho Cơ quan Kiểm lâm điều tra các tội ít nghiêm trọng trong các trường hợp phạm tội quả tang, có chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng; tuy nhiên, hiện hành chưa quy định họ được xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho bị can bị khởi tố bởi cơ quan này, dẫn tới vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và quyền bào chữa của bị can, bị cáo Sự tham gia của luật sư trong những trường hợp bắt buộc có luật sư nhằm làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án, giúp chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hỗ trợ về mặt pháp lý cho bị can khi cần thiết 46
Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa, hoặc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa Điều 74 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở.
Đầu mối chính của quá trình điều tra là Cơ quan điều tra, cơ quan được giao thực hiện một số nhiệm vụ để tiến hành các hoạt động điều tra, hoặc từ khi có quyết định tạm giữ Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ phạm vi thẩm quyền, thời điểm và phương thức tiến hành các hoạt động điều tra nhằm bảo đảm quá trình tố tụng diễn ra đúng quy định của pháp luật Các hoạt động này được thực hiện trên cơ sở quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời nhằm thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và đảm bảo tính khách quan của kết quả điều tra Việc nắm vững khung pháp lý và trình tự tố tụng hình sự giúp quá trình giải quyết vụ án được diễn ra một cách hiệu quả và công bằng.
2015 đã quan tâm đến việc đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, người bị bắt, tạm
44 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, khoản 2 điều 57
45 Bộ luật TTHS 2003, khoản 4 điều 56
Trong bài viết "Đảm bảo quyền bào chữa trong TTHS Việt Nam" của Chu Hồng Thanh (2002), đăng trên Thông tin Khoa học Pháp lý số 05+06, tác giả phân tích cách thức đảm bảo quyền bào chữa trong tố tụng hình sự ở Việt Nam và nhấn mạnh sự bảo vệ quyền lợi của người bị tình nghi, bị can và bị cáo khi cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Bài viết cho thấy sự cần thiết của các biện pháp trợ giúp pháp lý và các thủ tục bảo vệ quyền bào chữa trong quá trình điều tra và các giai đoạn tố tụng hình sự, nhằm tăng tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của hệ thống tư pháp Việt Nam.