1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân tố pháp quyền trong hiến pháp 1946 và sự kế thừa trong lịch sử lập hiến việt nam

82 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 912,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: NHÂN TỐ PHÁP QUYỀN TRONG HIẾN PHÁP 1946 (0)
    • 1.1 Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với Hiến pháp (8)
      • 1.1.1 Ghi nhận về một Nhà nước của dân, do dân và vì dân (11)
      • 1.1.2 Ghi nhận và bảo vệ quyền tự nhiên của con người (12)
      • 1.1.3 Ghi nhận về sự phân chia quyền lực nhà nước và phát huy bản tính cần phải có của các cơ quan nhà nước (13)
      • 1.1.4 Hiến pháp là một văn bản pháp lý có tính tối cao (14)
    • 1.2 Tư tưởng lập hiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm (15)
    • 1.3 Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946 (25)
      • 1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1946 (25)
      • 1.3.2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946 (28)
    • 1.4 Những nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946 (30)
      • 1.4.1 Nhà nước theo Hiến pháp 1946 là nhà nước của toàn thể nhân dân (30)
      • 1.4.2 Hiến pháp 1946 ghi nhận và đảm bảo các quyền tự nhiên của (31)
      • 1.4.3 Hiến pháp 1946 ghi nhận sự phân chia quyền lực nhà nước và phát huy bản tính cần phải có của các cơ quan Nhà nước (35)
      • 1.4.4 Hiến pháp 1946 – văn bản pháp lý có tính tối cao (39)
    • 2.1 Hiến pháp 1959 (42)
      • 2.1.1 Hoàn cảnh ra đời (42)
      • 2.1.2 Sự kế thừa nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946 (43)
    • 2.2. Hiến pháp 1980 (48)
      • 2.2.1 Hoàn cảnh ra đời (48)
      • 2.2.2 Sự kế thừa nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946 (49)
    • 2.3. Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) (54)
      • 2.3.1 Hoàn cảnh ra đời (54)
      • 2.3.2 Sự kế thừa nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946 (55)
    • 2.4 Phương hướng hoàn thiện Hiến pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay (65)
      • 2.4.1 Nhận thức lại bản chất của Nhà nước theo hướng Nhà nước của toàn thể nhân dân (65)
      • 2.4.2 Mở rộng và bảo đảm các quyền tự nhiên của con người; đặt (67)
      • 2.4.3 Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước theo hướng nhận thức lại nguyên tắc tập quyền, vận dụng những hạt nhân hợp lý của cơ chế phân quyền; đồng thời phát huy những bản tính cần phải có của các cơ quan nhà nước (70)
      • 2.4.4 Phải có cơ chế bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp (74)
  • KẾT LUẬN (77)

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Việc nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền và Hiến pháp 1946 đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều những luận bàn từ những t

NHÂN TỐ PHÁP QUYỀN TRONG HIẾN PHÁP 1946

Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với Hiến pháp

Ngay từ thời cổ đại, mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã xuất hiện dưới dạng các quan điểm triết học, chính trị của các nhà tư tưởng, các nhà cầm quyền có tinh thần cải cách Động lực ra đời của hệ tư tưởng này bắt nguồn từ những quan điểm của người xưa rằng: sự công bằng, pháp luật là những thuộc tính vốn có từ ngàn xưa của trời đất Bởi vậy, bạo lực, lộng quyền và hỗn loạn là cái tương phản lại quy luật trên nên phải xóa bỏ 1 Những tư tưởng coi trọng pháp luật trong cai trị và quản lý xã hội đã xuất hiện từ thời cổ đại phương Đông (Trung Hoa) và phương Tây (Hy Lạp) Đó là Tuân Tử, Hàn Phi, Heraclitus, Platon, Aristotle Mặc dù các tư tưởng triết học về nhà nước và pháp quyền đã có từ rất sớm trong lịch sử nhưng lý thuyết triết học về nhà nước và pháp quyền đạt tới trình độ và lý thuyết về nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh thì chỉ bắt đầu từ thời cận đại Tây Âu Qua quá trình lịch sử lâu dài đó, các nhà tư tưởng triết học dần dần tìm thấy câu trả lời cho vấn đề trên bằng việc tổ chức nhà nước thành nhà nước pháp quyền - nhà nước được tổ chức và vận hành bằng những cơ chế bảo đảm quyền lực của nó thuộc về nhân dân, chứ không phải thuộc về người cầm quyền; nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật chứ không phải bằng ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền Nhà nước pháp quyền từ những ý tưởng đã trở thành học thuyết và từ học thuyết đó đã được hiện thực hóa một phần trong các nhà nước tư sản với những bản sắc dân tộc khác nhau Đó cũng là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh chính trị giành quyền lực nhà nước giữa hai giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến Với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và việc thiết lập ở các nước phương Tây chế độ Nhà nước tư sản, học thuyết Nhà nước pháp quyền đã được áp dụng vào việc tổ chức thực thi quyền lực thực tế Như vậy, nhà nước pháp quyền là một học thuyết về việc tổ chức và hoạt động của nhà nước được sinh ra trong phong trào đấu tranh để giải phóng nhân loại khỏi chế độ phong kiến chuyên chế Thích ứng với nhu cầu lịch sử ấy có các nhà lý luận nổi tiếng như: Spinoza, Locke, Montesquieu, Rousseau, Từ giữa thế kỷ XVIII, lý thuyết về nhà nước pháp quyền đã tìm thấy cơ sở triết học của nó trong các quan điểm của các nhà triết học cổ điển Đức, đó là Kant và Hegel Theo Kant thì con người là chủ thể của quyền lực; Quyền lực nhà nước được tạo nên bởi bản tính tuyệt đối của con người, nên nhà nước phục tùng theo pháp luật, tức là phục

1 Nguyễn Văn Thảo - Xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng - Nxb Tư pháp, Hà Nội,

Trong tài liệu 2006, trang 10 nêu bật bản chất tuyệt đối của con người và yêu cầu mỗi cá nhân phải tuân thủ các mệnh lệnh tuyệt đối Theo Hegel, nhà nước pháp quyền là sự thể hiện ý niệm tuyệt đối (đạo đức) và ý chí tự do; theo ông, pháp luật trong nhà nước pháp quyền chính là hiện thực của tự do và tồn tại như minh chứng cho ý chí tự do.

Nhà nước pháp quyền phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với quá trình vận động và biến đổi không ngừng của lịch sử; mỗi thời đại đều đặt ra và làm sáng tỏ thêm khái niệm về nhà nước pháp quyền như một nhà nước đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội, vừa là sản phẩm vừa là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại Do đó, cho đến ngày nay khoa học vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về “nhà nước pháp quyền”; thay vào đó, người ta mô tả nó bằng các thành tố cấu thành để diễn đạt một cách chi tiết, và vẫn còn thiếu một sự xác định tuyệt đối về các thể chế hay yếu tố thiết yếu Với tính chất bất ổn định và luôn phát triển, tùy theo sự nhấn mạnh và nhu cầu của nhà nước pháp quyền ở từng giai đoạn lịch sử, nó thể hiện các đặc điểm rất khác nhau; nhưng tựu trung lại, nhà nước pháp quyền vẫn có một số đặc điểm cơ bản được nhận diện.

Thứ nhất, nhà nước pháp quyền là nhà nước của toàn thể nhân dân, nhân dân phải là chủ thể của quyền lực nhà nước Trong nhà nước pháp quyền, nhân dân có quyền lựa chọn nhà nước, lựa chọn các đại biểu của mình tham gia các công việc nhà nước Khi nhà nước không đáp ứng yêu cầu của nhân dân thì chính nhân dân có quyền thay thế nhà nước bằng một nhà nước khác Đồng thời, trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân mới có quyền kiểm tra và giám sát quyền lực đó Đây là một vấn đề mang tính pháp lý và là một bước tiến lớn lao trong lịch sử nhân loại

Thứ hai, nhà nước pháp quyền là nhà nước có mục tiêu bảo đảm quyền con người Ở một xã hội mà con người là chủ thể thì nhà nước có trách nhiệm phải phục tùng lợi ích của con người, không có điều ngược lại Điều đó có nghĩa là nhà nước thừa nhận và có nghĩa vụ đảm bảo tự do và bình đẳng của con người, không được can thiệp vô hạn vào đời sống cá nhân của con người

Thứ ba, nhà nước pháp quyền là nhà nước chống lạm quyền, nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền Mọi thiết chế quyền lực nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ và bị kiểm soát bởi pháp luật Muốn

2 Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí –

Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp - Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam (Sách chuyên khảo) – Nxb Giáo dục Việt

Nam, Hà Nội, 2010 không có sự lạm dụng quyền lực thì phải sắp xếp quyền lực sao cho quyền lực ngăn chặn quyền lực

Thứ tư, nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, mọi chủ thể phải tuân thủ Hiến pháp Pháp luật mà trước hết là Hiến pháp là cơ sở của mọi hình thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Mọi đường lối, chính sách, quyết định của nhà nước đều phải dựa vào Hiến pháp, phục tùng Hiến pháp cũng như tất cả các mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và cá nhân đều phải dựa trên cơ sở của Hiến pháp Pháp luật của nhà nước pháp quyền phải vươn tới sự đầy đủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, với phương châm: Đối với “cá nhân thì cho phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”, còn đối với “cơ quan nhà nước thì chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định” Pháp luật của nhà nước pháp quyền còn có mục tiêu vì con người, vì quyền con người 3 Vì khi một quốc gia không tôn trọng nguyên tắc pháp trị, thì người bị trị không thể nào được che chở hữu hiệu trước những hành động bột phát của những người cầm quyền Do đó, việc tuân thủ hiến pháp của mọi cơ quan quyền lực nhà nước phải là một đòi hỏi của nhà nước pháp quyền Nói cách khác, việc tuân thủ hiến pháp của các cơ quan nhà nước, kể cả cơ quan quyền lực cao nhất được xem như là một tiêu chí của nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền là một nhà nước bị hạn chế quyền lực, và công cụ để hạn chế này là các văn bản quy phạm pháp luật, đứng đầu là Hiến pháp Hiến pháp là hiện thân của nhà nước pháp quyền và là khuôn khổ pháp lý định hướng mọi hoạt động của hệ thống quyền lực nhà nước Sự hạn chế quyền lực bằng pháp luật làm cho nhà nước thực sự trở thành hiện thân của pháp quyền và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của công dân Mối quan hệ biện chứng giữa Hiến pháp và nhà nước pháp quyền được thể hiện ở các điểm cơ bản như sự đồng bộ giữa Hiến pháp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cùng với cơ chế kiểm tra và giám sát nhằm duy trì cân bằng giữa quyền lực và tự do của người dân.

- Một là, những yêu cầu của nhà nước pháp quyền phải được ghi nhận trong Hiến pháp - Hiến pháp là hình thức pháp lý của nhà nước pháp quyền

- Hai là, tính tối cao của Hiến pháp là đặc điểm quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền - Nhà nước pháp quyền là một nguyên tắc hiến định

- Ba là, hiến pháp đặt nền tảng pháp lý cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền - Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến

- Bốn là, chế độ Hiến pháp góp phần hiện thực hóa lý thuyết nhà nước pháp quyền - Nhà nước pháp quyền là môi trường pháp lý cho sự tồn tại của Hiến pháp 4

3 Nguyễn Đăng Dung – Chính phủ trong nhà nước pháp quyền – Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.59

4 Xem thêm, Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn

Văn Trí – Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp - Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam (Sách chuyên khảo) – Sđd, tr

Hiến pháp ra đời nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ con người, đồng thời là sự hiện thực hóa các lý thuyết về nhà nước pháp quyền của các nhà tư tưởng lịch sử Đây là phương thức quan trọng để tổ chức đời sống xã hội và xây dựng trật tự pháp lý trong một xã hội văn minh Trong nhà nước pháp quyền, Hiến pháp phải đáp ứng các mục tiêu cơ bản như bảo vệ quyền và tự do của công dân, thiết lập kỷ cương pháp lý, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước và đảm bảo công bằng, ổn định xã hội.

1.1.1 Ghi nhận về một Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Với sự xuất hiện của tư tưởng về nhà nước pháp quyền, nhân loại tìm ra câu trả lời đúng đắn rằng, quyền lực nhà nước là của nhân dân và chỉ có nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực đó Chỉ có nhân dân bằng ý chí chung của mình liên hợp lại và lập nên nhà nước Bản thân nhà nước không có quyền mà chỉ được nhân dân ủy quyền Quyền lực của người cầm quyền có thể bị tước bỏ Quyền lực của nhân dân thì không ai có thể tước bỏ Chủ quyền tối cao là sự thể hiện ý chí chung nên không thể tự nó bỏ nó đi được

Nhà nước pháp quyền về mặt lý thuyết, trước hết là nhà nước tạo nên bằng ý chí chung của nhân dân, nhằm bảo vệ tự do và tài sản của mỗi thành viên của nó Mỗi thành viên tuân thủ ý chí chung cũng tức là ý chí của riêng mình mà vẫn tự do Quá trình chuyển nhà nước từ cá nhân vua chúa, từ ý chí tối cao thành nhà nước của nhân dân chính là quá trình xóa bỏ chế độ độc đoán, chuyên quyền và tách nhà nước ra khỏi nhà thờ Các mệnh đề nhân dân vì nhà nước hay “nhân dân của chế độ nhà nước” như một định mệnh được thay bằng nhà nước vì nhân dân hay “chế độ nhà nước của nhân dân” Nhà nước không có mục đích tự thân nào, mà chỉ là công cụ phục vụ nhân dân, phục vụ yêu cầu phát triển của xã hội Tiêu chí đầu tiên của một nhà nước pháp quyền là toàn bộ quyền lực của nó thuộc về nhân dân và trở thành vấn đề mang tính pháp lý Trong nhà nước pháp quyền, về mặt nguyên tắc thì quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân mới có quyền kiểm tra và giám sát quyền lực đó 5

Nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước dân chủ, mà không thể là một nhà nước phản dân chủ Nó là nhà nước của dân, do dân và vì dân Nghĩa là, nhà nước đó được tổ chức trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, không phân biệt giai cấp, đứng trên và dung hòa lợi ích của mọi giai cấp Nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước được phân tích trong mối tương quan giữa nhà nước và pháp luật Nhà nước pháp quyền thể hiện tính dân chủ, tính quy luật

5 Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí –

Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp là nền tảng cho một xã hội dân chủ, được rút ra từ kinh nghiệm thế giới và Việt Nam Hiến pháp phải gắn với nhà nước pháp quyền và được ghi nhận rõ ràng trong văn bản để đảm bảo mọi hoạt động của nhà nước tuân thủ pháp luật Xã hội chỉ có thể tồn tại như một cơ thể sống khi nhà nước pháp quyền hiện diện ở khắp mọi nơi; không có nó, xã hội dân chủ sẽ không thể tồn tại Vì vậy, mục tiêu là mở rộng và củng cố sự hiện diện của nhà nước pháp quyền ở mọi địa bàn và mọi lĩnh vực, và ghi nhận đầy đủ nguyên tắc này trong hiến pháp để bảo đảm tính bắt buộc và thống nhất của hệ thống pháp luật.

1.1.2 Ghi nhận và bảo vệ quyền tự nhiên của con người

Một trong những nội dung quan trọng đầu tiên của Học thuyết “nhà nước pháp quyền” là sự bảo đảm các quyền tự nhiên của con người Tự do, bình đẳng, tôn trọng con người và những hình thức thể hiện khác của bảo đảm nhân quyền là những thành tố đặc trưng mang tính truyền thống của nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền phải thiết lập quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ qua lại, trách nhiệm tương hỗ với nhau Nhà nước pháp quyền được xem như công cụ để thực hiện các lợi ích của cá nhân một cách hiệu quả Quyền con người có giá trị tối cao vì nó xuất phát từ tự nhiên, là điều không thể thiếu được và bất khả xâm phạm cho nên nhà nước phải có nghĩa vụ phục vụ và bảo đảm quyền tự nhiên ấy

Tư tưởng lập hiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm

Vào năm 1858, thực dân Pháp tấn công xâm lược Việt Nam Chưa đầy 10 năm sau, Pháp đã chiếm toàn bộ Nam Kỳ, sau đó tiếp tục xâm chiếm Bắc Kỳ và Trung

Kỳ Sau hơn 25 năm xâm lược bằng vũ lực, Pháp đã chiếm toàn bộ nước ta, biến Nam Kỳ thành thuộc địa, Bắc Kỳ thành xứ bảo hộ và Trung Kỳ thành xứ phụ thuộc Triều đình phong kiến nhà Nguyễn tuy còn đó nhưng không còn quyền lực nào đáng kể, chỉ đóng vai trò hết sức hạn chế dưới sự điều khiển của thực dân Pháp Sau khi đặt ách thống trị lên toàn cõi Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến hành đường lối khai thác thuộc địa trên quy mô lớn với hai cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897- 1914) và thứ hai (1919- 1930) Qua những cuộc khai thác này, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam có nhiều biến chuyển mạnh mẽ Sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế - xã hội đã tạo thành cơ sở vật chất cần thiết để các trào lưu tư tưởng mới của phong trào cách mạng từ bên ngoài tràn vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX Tuy nhiên do đặc điểm của xã hội Việt Nam với sự xuất hiện nhiều lực lượng, thành phần xã hội mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản) với những hoàn cảnh, đặc điểm riêng khác, nên sự tiếp nhận các luồng tư tưởng mới bên ngoài có sự lưỡng lự, phân tán khác nhau 8

Cũng trong thời gian này, nền chính trị và văn hóa chính trị của các nước Đông Á mà tiêu biểu là Trung Quốc và Nhật Bản có sự biến động to lớn Sự biến động ấy đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp vào Việt Nam Tại Trung Quốc, vào thời gian cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho tới năm 1930, công cuộc cách mạng và vận động duy tân, lập hiến đã diễn ra mạnh mẽ nhưng chưa thành công Tuy vậy, tác động của nó đối với Việt Nam không phải là những thành quả hiện thực mà chính là ở tinh thần quả cảm hy sinh, đấu tranh liên tục để ngày càng phát huy tư tưởng tiến bộ của tầng lớp trí thức và những người yêu nước, tiến bộ, quyết tâm giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Ở Nhật Bản, chính sách duy tân mà Minh Trị thiên hoàng tiến hành từ năm 1868 đến năm 1889 đã tác động mạnh mẽ đến giới sĩ phu yêu nước Việt Nam với những thành quả thực tiễn của công cuộc duy tân ở nước này Cùng với đó, bằng phương tiện tân thư, tân báo, tư tưởng phương Tây được truyền bá, thâm nhập vào Nhật Bản rồi sang Trung Quốc và đi vào Việt Nam bằng cách thâm nhập vào tư tưởng và tác phẩm tuyên truyền vận động cách mạng của các nhà yêu nước Việt Nam 9 Trong ba thập niên đầu thế kỷ XX, tư tưởng lập hiến đã bắt đầu xuất hiện trong giới trí thức, sĩ phu yêu nước tiến bộ của Việt Nam Các luồng tư tưởng lập hiến này thể hiện tập trung theo hai xu hướng rõ rệt: một xu hướng lập hiến theo đường lối thỏa hiệp, muốn duy trì sự thống trị của thực dân

8 Phan Đăng Thanh – Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX – Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 21,

9 Phan Đăng Thanh – Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Sđd, tr.63, 64, 77

Pháp ở Việt Nam; và bên cạnh là khuynh hướng kiên quyết chống thực dân Pháp để giành độc lập cho đất nước

* Khuynh hướng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu Cuộc bút chiến đã xảy ra một cách gay gắt giữa Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh về vấn đề trực trị hay quân chủ lập hiến Nguyễn Văn Vĩnh thì chủ trương bãi bỏ chế độ vua quan ở miền Bắc và miền Trung và đặt chúng dưới quyền cai trị trực tiếp của chính phủ Pháp Còn Phạm Quỳnh bênh vực chế độ vua quan cũ, cho rằng mặc dù chế độ này có nhiều tệ nạn, người ta vẫn có thể cải tiến chế độ cũ bằng cách áp dụng chế độ quân chủ lập hiến, nghĩa là ban hành một bản Hiến pháp để hạn chế quyền lực của Hoàng đế Việt Nam Theo tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu thì phải xây dựng một bản Hiến pháp vừa bảo đảm “quyền dân chủ” cho nhân dân, “quyền điều hành đất nước” của Hoàng đế và “quyền bảo hộ của chính phủ Pháp” Như vậy, thực chất tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu dù trình bày theo cách này hay cách khác thì, một người chủ trương xóa bỏ chế độ vua quan, người kia thì chủ trương thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quân chủ lập hiến, vẫn đặt đất nước dưới sự cai trị của thực dân Pháp 10 , và đều cho rằng Việt Nam cần phải có một bản Hiến pháp và Hiến pháp chỉ có được bằng cách cầu xin thực dân Pháp ban bố cho dân An Nam Trong bản Hiến pháp này phải dung hòa được ba loại lợi ích:

+ Nước Mẹ đại Pháp là nước bảo hộ cho dân An Nam và có quyền khai thác thuộc địa

+ Chính quyền phong kiến còn tồn tại nhưng bị hạn chế quyền lực

+ Các quyền tự do dân chủ của nhân dân được mở rộng và bảo đảm

Tuy nhiên, nhìn nhận lại, những tư tưởng mà hai ông đề ra chỉ là sự thỏa hiệp, ảo tưởng, cải lương Ngô Tất Tố cho rằng “đây là sự dung hòa những loại lợi ích vốn không thể dung hòa được” Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu không nhìn thấy được những mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam lúc đó là gì chưa xác định được ai sẽ đứng ra xây dựng bản Hiến pháp này

* Khác với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh chủ trương nhân dân Việt Nam phải đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, sau đó người Việt Nam sẽ tự xây dựng cho mình một bản Hiến pháp dân chủ Không có độc lập, tự do thì không thể có Hiến pháp thực sự Đây là khuynh hướng thứ hai và là khuynh hướng đúng đắn nhất

10 Thái Vĩnh Thắng - Lịch sử lập hiến Việt Nam – Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 11

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều là những người yêu nước, mong muốn tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc, nhưng mỗi người có những chính kiến riêng Phan Châu Trinh được coi là một trong những người tiên phong khởi xướng và truyền bá tư tưởng dân chủ và lập hiến ở Việt Nam, với chủ trương đoàn kết nhân dân để canh tân đất nước, dân chủ hóa xã hội, đập bỏ phong kiến và học theo phương Tây, đồng thời thúc đẩy tự cường dân tộc nhằm giành lại độc lập.

1902, Phan Chu Trinh đã bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây và những tư tưởng cải cách đất nước cua Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Bạch Hai luồng tư tưởng này đã giúp ông đề xướng tư tưởng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Ông là người phản đối kịch liệt chế độ quân chủ chuyên chế, ông thường nói “cái độc chuyên chế cùng cái hủ nho nhà ta đã trở thành chứng bệnh bất trị mà học thuyết tự do, dân quyền Âu Tây là vị thuốc đắng để chữa bệnh đó” 11 Ông đề cao tư tưởng dân chủ và lập hiến, ông viết: “Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng giống với nước ta, bốn mươi năm trước, họ lập ra Hiến pháp cho dân được bầu cử Nghị viện, còn việc chính trị trong nước theo ý của dân, chứ vua không được chuyên quyền cả” 12 Trong bài diễn thuyết này, ông đã nhấn mạnh: “Trong nước có Hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng Hiến pháp, cái quyền của Chính phủ cũng bởi Hiến pháp quy định cho, lười biếng không được mà dẫu có muốn áp chế cũng không chỗ nó thò ra được Vả lại khi có điều gì vi phạm đến luật thì người nào cũng như người nào, từ tổng thống cho đến một người nhà quê cũng chịu theo pháp luật như nhau” So sánh chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ dân chủ, ông viết “So sánh hai chủ nghĩa quân trị và dân trị thì ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm Lấy theo ý riêng của một người hay một triều đình mà trị một nước thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê được no ấm, vui vẻ hay đói khát khổ sở tùy theo lòng của người chăn Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì quốc dân lập ra Hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung của cả nước, lòng quốc dân thế nào thì làm thế đấy, dù không có người tài giỏi thì cũng không đến nỗi phải để dân khốn khổ làm tác giả mọi một nhà, một họ nào” Điều đáng lưu ý trong tư tưởng lập hiến, tư duy pháp quyền của Phan Châu Trinh ở chỗ tuy đánh giá rất cao tư tưởng lập hiến, lập pháp của Montesquieu và của Rousseau nhưng Phan Châu Trinh hoàn toàn chống lại những người tiếp thu một cách máy móc tư tưởng phương Tây Tư tưởng triết học pháp quyền của ông là phải biết gạn lọc những cái tiến bộ tinh túy của tư tưởng dân chủ phương Tây cũng như những yếu tố dân chủ tốt đẹp của công xã nông thôn và đạo đức luân lý thuần khiết của

11 Phan Chu Trinh - Giai nhân kỳ ngộ - Nxb Hướng Dương, Sài Gòn, 1958, tr 39

Phan Chu Trinh trình bày bài diễn thuyết về quân trị và dân trị của chủ nghĩa, cho rằng dân ta khi làm chủ nước nhà có thể dựa vào những giá trị và kinh nghiệm của phương Đông để xây dựng nền hiến pháp và pháp luật phù hợp Tư tưởng của Phan Bội Châu nhấn mạnh đoàn kết nhân dân lao động để đánh đuổi thực dân Pháp và tiến hành đổi mới đất nước sau khi giành được độc lập.

Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, trong đó có tư tưởng lập hiến Nhờ tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã khắc phục được những hạn chế của hai ông

* Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh

- Nguồn gốc hình thành tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh

Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước và những giá trị truyền thống của dân tộc

Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước và đề cao chủ quyền quốc gia, luôn kiên quyết bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và tự do Quá trình phát triển của truyền thống ấy được xây dựng trên nền tảng lòng yêu nước và tư tưởng cải cách, được thúc đẩy bởi các nhân vật cải cách trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng trì trệ Từ năm 1858 đến đầu thế kỷ XX, những phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp và các cuộc vận động cải cách lan rộng khắp cả nước, ghi lại nhiều trang sử hào hùng của dân tộc, song cuối cùng đều thất bại vì còn nhiều hạn chế và bất lực trước những nhiệm vụ lịch sử của đất nước.

Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống của dân tộc và sự bế tắc về tư tưởng, lý luận hay hệ tư tưởng của các phong trào cứu nước giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân Mặt khác, cũng có nghĩa thôi thúc Người ra đi tìm kiếm một mô hình nhà nước, một mô hình xã hội mới cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại và đáp ứng được lợi ích của cả dân tộc Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có định hướng cho một kiểu Hiến pháp dân tộc, dân chủ ở Việt Nam, theo kiểu Việt Nam Những năm bôn ba ở nước ngoài, rồi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, người chiến sỹ cộng sản Nguyễn Ái Quốc, tuy coi mình là một học trò trung thành của Lênin, nhưng vẫn suy nghĩ để định hướng cho một kiểu hiến pháp thích hợp với xã hội và con người Việt Nam, chứ không nhất thiết theo kiểu Cộng hoà Xô - viết Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh thông qua quá trình hoạt động cách mạng đã xác nhận và thực thi bằng Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, là một tư tưởng lập hiến dân tộc dân chủ mang đậm nét sắc thái đất nước và con người Việt Nam Cũng là dân chủ, nhưng dân chủ ở

13 Thái Vĩnh Thắng - Lịch sử lập hiến Việt Nam, Sđd

Việt Nam là hết sức rộng rãi, chưa từng thấy trong lịch sử Điều 1, Hiến pháp năm

1946 quy định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Đặc biệt, tiêu biểu nhất là cuộc Tổng tuyển cử bằng chế độ phổ thông đầu phiếu rất tiến bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài có đức, để gánh vác công việc nước nhà Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết” 14 Điều đó chỉ có ở tư tưởng Hồ Chí Minh, mà xuất phát từ cái bất biến trong tư tưởng lập hiến của Người: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

Nói tóm lại, các giá trị truyền thống Việt Nam, tính nhân nghĩa của con người Việt Nam qua các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước đã góp phần hình thành nên “chất Việt Nam” của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Đây là tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, là động lực giúp Người vượt qua mọi gian nan thử thách, hiểm nguy Đây là nguồn gốc, là một cơ sở quan trọng để hình thành nên tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh

Trên con đường tìm tòi và học hỏi, Hồ Chí Minh kế thừa và tiếp thu tinh hoa tư tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây, làm giàu vốn tri thức chính trị của mình bằng những di sản quý báu của văn hóa nhân loại Người đã tiếp thu phong cách làm việc dân chủ và kế thừa có chọn lọc, đi đôi với phân tích sâu sắc để tìm ra những yếu tố tích cực và hợp lý nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946

1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1946

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, nhà nước non trẻ vừa mới được thành lập đang đứng trước những vô vàn thách thức, khó khăn về đối nội cũng như đối ngoại Đó là, nền tài chính kiệt quệ; 95% dân số mù chữ và vừa trải qua nạn đói năm 1945; nguy cơ ngoại xâm tiếp tục đe dọa; bọn phản động trong nước lợi dụng lúc quân đồng minh sắp vào Đông Dương nổi dậy Lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguễn Trường Tam cầm đầu và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt

20 Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng toàn tập - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 127

21 Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng - Sđd, t.7, tr.150

Cách) do Nguyễn Hải Thần nắm giữ gây rối loạn ra sức chống đối Tổng tuyển cử, đưa ra những yêu sách vô lý như đòi chiếm 1/3 số ghế đại biểu trong Quốc hội, đòi cải tổ chính phủ, đòi giữ các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trong Chính phủ…; thay đổi quốc kỳ, quốc ca; rải truyền đơn, ra báo công khai chống đối Việt Minh và đòi loại bỏ thành phần cộng sản ra khỏi chính phủ, đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chức… Một số lực lượng chống đối khác cũng đã nổi dậy ở một số nơi Trước tình hình đó; Đảng, Nhà nước ta phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, lãnh đạo nhân dân bằng mọi cách giữ vững và xây dựng chính quyền cách mạng

Nhận trọng trách trước Đảng, trước nhân dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã tiến hành một loạt các biện pháp để giữ vững chính quyền Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô lý và chống lại mọi âm mưu phá hoại của Việt Quốc và Việt Cách, đồng thời kiên trì và khôn khéo nhân nhượng để tạo sự ổn định tình hình cho cuộc Tổng tuyển cử Đại diện của Việt Minh và Việt quốc, Việt cách đã thương lượng, ký các văn bản ghi nhận tinh thần, nguyên tắc và các biện pháp hợp tác trong đó có các điểm quan trọng: coi độc lập và đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng tuyển cử, đình chỉ công kích lẫn nhau, thừa nhận 70 ghế trong Quốc hội dành cho hai đảng Việt Quốc (50 ghế) và Việt Cách (20 ghế) mà không phải qua bầu cử, mở rộng Chính phủ lâm thời… Chính vì vậy, ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm có 18 thành viên vẫn do Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch kiêm ngoại giao, Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) là Phó Chủ tịch… 22

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Một trong nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp Người viết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ” 23

Ngày 20-9-1945, Chính phủ lâm thời ra Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tháng 11-1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và bản dự thảo đã được công bố cho toàn dân thảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho bản dự thảo Hiến pháp chứa đựng bao mơ ước của họ về độc lập và tự do

22 Phan Đăng Thanh – Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX – Sđd, tr.421 – 441

23 Hồ Chí Minh - Toàn tập - xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

Ngày 2-3-1946, Quốc hội đã nghe Chính phủ trình bày bản dự thảo Hiến pháp Trên cơ sở đó, Quốc hội (khóa I, kỳ họp thứ nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người là đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái chính trị khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Nhiệm vụ của Ban dự thảo là tổng kết các ý kiến đóng góp của nhân dân và xây dựng bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét và thông qua

Ngày 28-10-1946, tại nhà hát lớn Hà Nội, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I đã khai mạc Sau 12 ngày làm việc khẩn trương, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống 24

Quốc hội thông qua Hiến pháp mang ý nghĩa vô cùng to lớn: tạo cơ sở pháp lý vững chắc, tăng cường sức mạnh tinh thần cho cuộc vận động thế giới ủng hộ cách mạng Việt Nam; khẳng định chính nghĩa của phong trào chống chủ nghĩa thực dân và phù hợp với xu thế thời đại, từ đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận quốc tế Ở trong nước, Hiến pháp thể chế hóa các mục tiêu độc lập dân tộc, dân quyền tự do và hạnh phúc của đại đa số nhân dân Nhờ vậy, nó động viên và tổ chức mọi tầng lớp nhân dân tăng gia sản xuất, củng cố khả năng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Cùng lúc này, thực dân Pháp phản bội các hiệp định đã ký kết với Chính phủ ta, chúng không ngừng khiêu khích và tấn công chúng ta bằng vũ lực, nhằm lập lại ách thống trị của chúng ở Việt Nam Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp tiến đánh các vùng tự do của ta Ở Bắc Bộ và Trung Bộ, hạ tuần tháng 11-1946, thực dân Pháp khiêu khích, tấn công ta ở Hải Phòng và Lạng Sơn… Trước tình hình đó, trong phiên họp ngày 9-11-1946, sau khi tuyên bố Hiến pháp đã trở thành chính thức, Quốc hội ra Nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban thường trực Quốc hội cùng với Chính phủ ban bố và thi hành Hiến pháp khi có điều kiện thuận lợi Theo Nghị quyết của Quốc hội, trong điều kiện chưa thi hành được Hiến pháp thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã quy định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật Ngày 19-12-1946, mười ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Do hoàn cảnh chiến tranh mà Hiến pháp 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện thực hiện Tuy nhiên, Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch

Hồ Chí Minh cùng với Ban thường vụ Quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung của Hiến pháp 1946 để điều hành mọi hoạt động của Nhà nước

24 Thái Vĩnh Thắng - Lịch sử lập hiến Việt Nam, Sđd, tr 20

Trong hoàn cảnh nước nhà vừa giành được độc lập đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn như vậy, Nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ tầm quan trọng phải có ngay một bản Hiến pháp nên đã đặt vấn đề lập hiến lên hàng đầu Bởi vì, có Hiến pháp sẽ là yếu tố đầu tiên để nói rằng Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ Thông qua Hiến pháp, các nước trên thế giới biết được nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ở đâu; hoạt động theo những nguyên tắc nào; nhân dân Việt Nam được hưởng những cái gì; Nhà nước đó còn vua không; còn chế độ nô lệ không… Tất cả những điều đó là yếu tố đầu tiên cho một nhà nước dân chủ Sự ra đời của Hiến pháp còn là cơ sở pháp lý vững chắc nhất để tuyên bố với thế giới rằng: Việt Nam đã độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam đang hưởng độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam có một Nhà nước dân chủ cộng hòa; nhân dân Việt Nam muốn là bạn với các nước trên thế giới và nhân dân Việt Nam quyết đem hết sức lực, của cải, tính mạng để giữ vững nền độc lập, tự do ấy

1.3.2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946

Hiến pháp 1946 bao gồm Lời nói đầu, 7 chương và 70 điều

Hiến pháp 1946 mở đầu bằng việc xác định nhiệm vụ của dân tộc trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Lời nói đầu cũng nêu rõ ba nguyên tắc cơ bản để xây dựng đất nước.

- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo

- Đảm bảo các quyền lợi dân chủ

- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân

Toàn bộ 7 chương của Hiến pháp 1946 đều được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản nói trên Nói khác đi, ba nguyên tắc trên được thể hiện một cách cụ thể trong

Chương I của Hiến pháp thể hiện nguyên tắc đoàn kết toàn dân thông qua ba điều về chính thể Điều 1 khẳng định Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, toàn bộ quyền lực trong nước thuộc về toàn thể nhân dân và mọi người được đối xử bình đẳng, không phân biệt về nòi giống, giới tính, giàu nghèo, giai cấp hay tôn giáo.

Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do dân chủ được thể hiện trong chương II (gồm 18 điều quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân) Trong đó quy định các quyền rất cơ bản như: quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tư hữu về tài sản; các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân; quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia… Công dân có các nghĩa vụ: bảo vệ tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật

Những nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946

1.4.1 Nhà nước theo Hiến pháp 1946 là nhà nước của toàn thể nhân dân

Hiến pháp năm 1946 mở đầu bằng câu khẳng định: Cuộc cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, mang lại tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa Đây là lời khẳng định đanh thép về bản chất chế độ chúng ta — một chế độ do nhân dân làm chủ.

Dân chủ, như chúng ta biết, trước hết là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc: “Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân” Nguyên tắc đó phải được xác định dứt khoát trong Hiến pháp Bởi vậy, trong khi xác định nhiệm vụ trung tâm sau khi giành được chính quyền là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và “kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, Hiến pháp năm 1946 đã xem việc “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” là một trong 3 nguyên tắc cơ bản cần nắm vững khi xây dựng Hiến pháp cách mạng của chúng ta Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc đó, tinh thần “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” được thể hiện đậm nét trong Hiến pháp 1946 Chẳng hạn, “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” 26 ; “Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu” 27 ; “nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra” 28 ; “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” 29 ; “Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra”; “Nghị viện nhân dân họp công khai, công chúng được vào nghe”; “những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”; …

25 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1982 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.7

26 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1982 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) - Sđd, tr.8

27 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1982 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) - Sđd, tr.11

28 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1982 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) - Sđd, tr.11

29 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1982 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) - Sđd, tr.11

Thông qua những điều được ghi trong Hiến pháp này, tinh thần Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong Hiến pháp 1946 được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau: quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm và bình đẳng trước pháp luật; sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước và xã hội thông qua các cơ chế dân chủ và đại biểu; quyền tự do cá nhân, tư tưởng, báo chí, lập hội và tụ họp được tôn trọng trong khuôn khổ pháp luật; nền tảng xã hội công bằng, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia được khẳng định; và mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh và đời sống ngày càng tốt cho mọi người.

- Một là, tổ chức nhà nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” được quy định trong Hiến pháp 1946 không giống hoàn toàn bất cứ một mô hình nhà nước của một giai cấp nào Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí của Người đã tìm ra một mô hình đặc thù của nhà nước Việt Nam phù hợp với điều kiện ở một dân tộc phương Đông muốn thoát khỏi chế độ thực dân nửa phong kiến, muốn xây dựng một cuộc sống đầy đủ, ấm no cho nhân dân, độc lập có chủ quyền cho quốc gia mình mà không phải phụ thuộc vào các nước mạnh khác

- Hai là, khái niệm “nhân dân” trong nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một khái niệm rộng chỉ toàn thể nhân dân không phân biệt giai cấp, tài sản, tôn giáo, gái trai,… Nhà nước của chung dân tộc Việt Nam Điều này hoàn toàn khác với Hiến pháp Liên Xô 1936 lúc bấy giờ, khái niệm “nhân dân” chỉ bao gồm giai cấp công nhân, nông dân và binh sĩ, những người vô sản; và cũng rất khác với nhà nước tư sản chỉ bao gồm những người da trắng có tài sản

Trong Hiến pháp 1946, khái niệm "nhà nước của dân" mô tả một nhà nước mà mọi quyền bính thuộc về nhân dân, và các quyết định trọng yếu về vận mệnh quốc gia—như thành lập các cơ quan nhà nước, quyết định chiến tranh và hòa bình, thông qua hiến pháp hoặc sửa đổi hiến pháp—phải do nhân dân quyết định "Nhà nước do dân" có nghĩa là nhà nước được thành lập từ nhân dân và có thể bị nhân dân thay đổi, bãi miễn các chức danh do dân bầu ra khi không đáp ứng nguyện vọng của nhân dân "Nhà nước vì dân" nhấn mạnh không có đặc quyền hay lợi ích riêng ngoài lợi ích của nhân dân, và mọi cán bộ, công chức nhà nước phải trung thành và tận tụy với quyền lợi của nhân dân.

- Bốn là, một trong những giá trị lớn của mô hình tổ chức nhà nước của

Hiến pháp 1946 khẳng định bản chất phi giai cấp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện một nhà nước mang bản chất dân tộc và không phân biệt giai cấp Đây là một thành công lớn trong quá trình hình thành nhà nước của dân, do dân và vì dân.

1.4.2 Hiến pháp 1946 ghi nhận và đảm bảo các quyền tự nhiên của con người

Một trong những chế định quan trọng chiếm vị trí trung tâm trong mỗi bản Hiến pháp là quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Với vai trò là bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 lần đầu ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ưu điểm nổi bật của Hiến pháp năm 1946 là mặc dù ra đời ngay trong những năm đầu của chính quyền nhân dân và giữa nhiều lo toan, ứng phó với các công việc nội trị, ngoại giao ngổn ngang trăm mối, bản Hiến pháp vẫn dành sự quan tâm đặc biệt cho quyền cơ bản của công dân.

Tuân thủ nguyên tắc: “Đảm bảo các quyền tự do dân chủ” Hiến pháp 1946 rất chú trọng đến chế định công dân Điều đó thể hiện ở chỗ Hiến pháp có 7 chương thì đã dành hẳn chương II gồm 18 điều để quy định về quyền công dân và bảo đảm quyền công dân (Chương II: Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân) Có thể khẳng định rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của công dân được đạo luật cơ bản nhất ghi nhận và bảo đảm, người dân lao động Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nước độc lập có chủ quyền Điều đáng nói ở đây là các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm Hiến pháp 1946 do Quốc hội lập hiến ban hành và chính vì vậy có giá trị bảo đảm rất cao Nếu nhà nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là thuộc nhà nước Còn Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở đây vì Hiến pháp được ban hành bởi Quốc hội lập hiến và người dân có quyền phúc quyết Hiến pháp (Điều thứ 21, 70 Hiến pháp 1946) Có thể nói, nếu so sánh giá trị bảo đảm giữa Hiến pháp và Nhà nước về vấn đề này thì Hiến pháp có giá trị ghi nhận và bảo đảm cao hơn nhà nước Theo đó, nhà nước phải có nghĩa vụ thực thi, không có quyền thay đổi một cách tuỳ tiện những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà quyền thay đổi thuộc về nhân dân 30 Hiến pháp 1946 được đánh giá là một bản Hiến pháp mang tính nhân văn cao cả khi quy định về dân chủ và các quyền con người, quyền công dân

Hiến pháp đặt nghĩa vụ trước quyền lợi, trong đó có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 4) và nghĩa vụ đi lính (Điều 5) là hoàn toàn phù hợp với nhiệm vụ quan trọng và cấp bách lúc bấy giờ là bảo vệ nền độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng của nhân dân Ngoài ra, công dân còn có nghĩa vụ tôn trọng Hiến pháp và tuân theo pháp luật (Điều 4) Các điều còn lại của Chương II quy định các quyền tự do dân chủ của công dân trong các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội và tự do cá nhân Lần đâu tiên trong lịch sử dân tộc, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận trong đạo luật của Nhà nước (Điều 7) Và cũng lần đầu tiên ở nước ta, Hiến pháp quy định phụ nữ được ngang quyền với nam giới về mọi phương diện Các quyền và nghĩa vụ trong bản Hiến pháp này về cơ bản bao trùm được hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế đến xã hội và đặc biệt, lần đầu tiên đàn bà được khẳng định “ngang quyền với đàn ông trên

Trong khuôn khổ Hội thảo do Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học, Văn phòng Quốc hội tổ chức vào tháng 01/2007, bài tham luận của Nguyễn Sĩ Dũng với tiêu đề "Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền" nhấn mạnh rằng Hiến pháp 1946 thể hiện tư tưởng pháp quyền và phát huy các giá trị lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp trong sự nghiệp đổi mới Thông qua việc ghi nhận và thể hiện nguyên tắc đảm bảo các quyền tự do dân chủ, Hiến pháp 1946 đã chứng minh tính chất dân chủ thực sự của nó.

Hiến pháp 1946 ghi nhận và bảo đảm các quyền cơ bản nhất của công dân Những quyền này tương thích với các quyền của con người về chính trị, dân sự, văn hóa, xã hội và tự do cá nhân Nhờ vậy, hiến pháp tạo nền tảng pháp lý cho sự tham gia của công dân vào đời sống chính trị và xã hội và bảo vệ sự tự do cá nhân.

+ Các quyền bình đẳng: Quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều 6), Quyền bình đẳng trước pháp luật, tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều 7), bình đẳng giữa các dân tộc, quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung (Điều 8); phụ nữ bình đẳng với nam giới (Điều 9);

+ Các quyền tự do: tự do ngôn luận, tư do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, tự do tín ngưỡng (Điều 10), tự do về thân thể (không bị bắt bớ, giam cầm nếu không có quyết định của tư pháp), thư tín, nhà ở không ai được xâm phạm (Điều 11);

+ Các quyền dân chủ: mà trước hết là dân chủ trong chính trị Tất cả công dân Việt Nam đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (điều 7); chế độ bầu cử là đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín Tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử (điều 20); quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia (điều 21)

Hiến pháp 1959

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam (20-7-1954) Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Miền Nam còn tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc

Trong bối cảnh Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam cách mạng phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm thống nhất Tổ quốc Việc thực hiện cải cách ruộng đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi quan hệ giai cấp ở miền Bắc: địa chủ phong kiến bị đánh đổ, giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh và tăng cường vai trò lãnh đạo của Nhà nước; giai cấp nông dân bước vào con đường hợp tác hóa, liên minh công nông ngày càng chặt chẽ Những người trí thức cách mạng đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng nước nhà, trong khi các nhà tư sản dân tộc nói chung tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Nhà nước ta, đã hoàn thành sứ mệnh của nó nhưng trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi Vì vậy, trong kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Sau khi làm xong bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958 bản dự thảo đã được thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan quân, dân, chính, Đảng Sau đợt thảo luận này, bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 1 tháng 4 năm 1959 đem công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng Cuộc thảo luận này làm trong bốn tháng liền tại khắp các nơi, trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học và các tổ chức khác của nhân dân, ở thành thị và nông thôn, việc nghiên cứu và thảo luận dự thảo Hiến pháp tiến hành sôi nổi và đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi có đủ các tầng lớp nhân dân tham gia Ngày 18-12-

1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về

Dự thảo Hiến pháp sửa đổi Ngày 31-12-1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp

2.1.2 Sự kế thừa nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946

* Về một nhà nước của toàn th nhân dân: Hiến pháp 1959 đã có nhiều điểm khẳng định lại Hiến pháp 1946 Chẳng hạn, khẳng định Hiến pháp thật sự dân chủ, là sức mạnh động viên nhân dân cả nước phấn khởi tiến lên giành những thắng lợi mới Cũng như Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 khẳng định đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt (Điều 1) Hiến pháp 1959 cũng nhằm tiếp tục khơi dậy và phát huy hơn nữa những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, một khối Bắc Nam thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau không thể chia cắt, như tinh thần yêu nước, đoàn kết, chí khí đấu tranh và nhiệt tình lao động… Mục tiêu lâu dài mà Hiến pháp xác định là “xây dựng thành công một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Châu Á và thế giới” Tất cả những điều đó

Trong chế độ kinh tế, chính trị và xã hội của nước ta, quan hệ giữa các dân tộc được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng và sự giúp đỡ lẫn nhau Đây là cơ sở để mọi dân tộc có cơ hội tham gia phát triển, hưởng thụ thành quả và cùng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước Việc củng cố đoàn kết giữa các dân tộc không chỉ là trách nhiệm mà còn là động lực của sự tiến bộ và ổn định xã hội.

Hiến pháp năm 1959 thể hiện rõ quyền lực thuộc về nhân dân và tập trung quyền lực xã hội chủ nghĩa vào Quốc hội, khẳng định Nhà nước ta là một Nhà nước dân chủ và thống nhất của nhiều dân tộc, nơi mọi quyền lực trong nước thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân; các cơ quan nhà nước dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân, còn toàn bộ nhân viên nhà nước phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng phục vụ nhân dân Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị mọi hành động phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân; do đó Hiến pháp 1959 làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, ghi nhận trách nhiệm của các cơ quan và nhân viên nhà nước trước Tổ quốc và nhân dân, quy định phương thức thực hiện quyền lực nhà nước và khẳng định chế độ dân chủ và sự kiên quyết bảo vệ quyền lực của nhân dân trước mọi hành động xâm hại.

* Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân: Cũng như Hiến pháp

Cả Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đều dành sự chú ý đặc biệt tới quyền và nghĩa vụ của công dân Trong Hiến pháp năm 1959, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định ở một chương riêng, nằm trước các chương quy định về cơ quan nhà nước, cho thấy sự đề cao vai trò của công dân trong hệ thống pháp lý và hoạt động của Nhà nước.

1959 quy định “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” trong chương III, bao gồm 21 điều (từ điều 22 đến 42) Thông qua việc nghiên cứu chế định này, đặt trong mối tương quan với yêu cầu bảo đảm quyền con người của nhà nước pháp quyền, có thể thấy rằng:

- Ngoài những quyền và nghĩa vụ mà Hiến pháp 1946 đã ghi nhận, Hiến pháp 1959 còn quy định thêm nhiều quyền và nghĩa vụ mới mà trong Hiến pháp

1946 chưa được thể hiện như: quyền được bảo hộ của bà mẹ, trẻ em; quyền được bảo hộ hôn nhân gia đình (điều 24); quyền biểu tình (điều 25); quyền khiếu nại tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, cơ quan Nhà nước (điều 29); quyền làm việc (điều 30); quyền nghỉ ngơi của người lao động (điều 31); quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động (điều 32); quyền tự do nghiên cứu khoa học và sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác (điều 34); quyền được chăm sóc, giáo dục của thanh niên (điều 35); nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng;… Như vậy, Hiến pháp 1959 đã có những bước tiến mới trong việc mở rộng và ghi nhận các quyền con người Việc mở rộng này không chỉ phản ánh sự phát triển đi lên của xã hội Việt Nam, mà còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở trong nước cho phép thực hiện

- Một điểm mới nữa của Hiến pháp 1959 là việc bên cạnh việc quy định các quyền của công dân, Hiến pháp còn xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện Hiến pháp không chỉ quy định quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, mà còn quy định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan nhà nước, nhằm phát huy sức sáng tạo to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hiến pháp mới nhằm mục tiêu cao cả là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Cụ thể là trong số 14 điều quy định các quyền tự do dân chủ của công dân thì có tới 9 điều (điều 24, 25, 27, 29, 30,

31, 32, 33 và 34) quy định những bảo đảm kèm theo dưới dạng trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước Ví dụ, điều 25 Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình” đồng thời khẳng định “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó” Đây không đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật lập hiến mà quan trọng hơn là sự nhận thức đúng đắn và thái độ quan tâm của nhà nước về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong nhà nước pháp quyền Bởi vì, trong nhà nước pháp quyền mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ bình đẳng qua lại hai chiều: quyền của công dân là nghĩa vụ của nhà nước và ngược lại Hiến pháp đã ghi nhận cho công dân các quyền thì nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho các quyền ấy được thực thi trên thực tế

- Tuy nhiên, Hiến pháp 1959 đã không kế thừa một số quyền rất tiến bộ trong Hiến pháp 1946 như: quyền tham gia chính quyền và kiến quốc, quyền của công dân thiểu số được nhà nước giúp đỡ về mọi phương diện, quyền tự do ra nước ngoài và đặc biệt là quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia Đây là những quyền thiết yếu của công dân trong nhà nước pháp quyền Vì vậy, việc không kế thừa các quyền này đã làm cho những nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1959 mờ nhạt hơn so với Hiến pháp 1946

* Về cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước: Hiến pháp 1959 được xây dựng theo mô hình của Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa, cùng với nó là nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được đề cao trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Theo tinh thần của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thì chỉ có Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân mới có đầy đủ quyền lực nhà nước và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Các cơ quan cấp cao khác của nhà nước chỉ là cơ quan chấp hành và tư pháp của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nên đều trực tiếp hoặc gián tiếp do nó lập ra và bãi miễn, đều nhận được quyền lực từ nó nên đều phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước nó Tư tưởng phân quyền hầu như bị phủ nhận trong Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, sự phủ nhận tư tưởng phân quyền ở các nước chủ nghĩa xã hội chỉ là phủ nhận sự ngang quyền và sự kiềm chế đối trọng lẫn nhau giữa các cơ quan tối cao của nhà nước, không phải là phủ nhận sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như sự giám sát hoạt động của hành pháp và tư pháp Vì thế, mặc dù khẳng định nguyên tắc thống nhất quyền lực, phủ nhận sự phân quyền, song Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa vẫn đề cập đến các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp, các cơ quan thực hiện các chức năng trên, thẩm quyền của mỗi cơ quan cũng như mối quan hệ giữa chúng, vẫn khẳng định cần phải: “Xác định sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan nhà nước, giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương, giữa các cơ quan quyền lực nhà nước với cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước” 35 Tư tưởng này thể hiện trong tổ chức bộ máy nhà nước ta theo Hiến pháp 1959

Hiến pháp 1980

Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử cách mạng nước ta nói chung, lịch sử lập hiến Việt Nam nói riêng Đó là thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất, cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược chung là xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trước những biến động mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội và những nhiệm vụ cách mạng đang đặt ra, Hiến pháp 1959 không còn phù hợp với tình hình mới và các mục tiêu hiện tại của đất nước Tuy nhiên, quá trình đánh giá và điều chỉnh hệ thống pháp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển và công bằng xã hội sẽ là cần thiết, đồng thời giữ vững nguyên lý xây dựng và bảo vệ quyền lợi của nhân dân trong bối cảnh mới.

Trong suốt 20 năm đất nước bị chia cắt, hai miền Nam và Bắc tồn tại hai chế độ khác nhau và hai nhà nước riêng biệt Hiến pháp năm 1980 được thiết kế để vừa bảo toàn tính chất của một Hiến pháp của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa phù hợp với trình độ phát triển của từng miền.

Sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung cho cả nước, Quốc hội chung của cả nước đã bắt đầu kỳ họp đầu tiên vào ngày 25-6-1976 và kéo dài đến ngày 3-7-1976 Ngày 2-7-1976 Quốc hội đã thông qua các Nghị quyết quan trọng Đó là các Nghị quyết về lấy tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và Thủ đô, về tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong khi chưa có Hiến pháp mới Quốc hội đã quyết định trong khi chưa có Hiến pháp mới, tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta dựa trên cơ sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Quốc hội đã bầu ra các vị lãnh đạo Nhà nước và thành lập ra các cơ quan Nhà nước Trung ương như Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ quốc hội, Hội đồng Chính phủ, Hội đồng quốc phòng, Toà án và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Quốc hội cũng đã quyết định khoá Quốc hội này là khoá VI để thể hiện tính liên tục và nhất quán của Nhà nước… Cũng vào ngày 2-7-1976 Quốc hội khoá VI đã ra Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội làm Chủ tịch Sau một năm rưỡi làm việc khẩn trương, uỷ ban đã hoàn thành dự thảo Bản dự thảo được đưa ra cho cán bộ Trung, cao cấp thảo luận vào tháng 2-1978 Từ tháng 8-1979 bản dự thảo được đưa ra cho toàn dân thảo luận Tháng 9-1980, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp kỳ đặc biệt để xem xét và cho ý kiến bổ sung, sửa chữa dự thảo trước khi trình Quốc hội thảo luận, thông qua Sau một thời gian thảo luận Quốc hội khoá VI, tại kỳ họp thứ 7 ngày 18-12-1980, đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980

2.2.2 Sự kế thừa nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946

* Về một nhà nước của toàn th nhân dân: Hiến pháp 1980 khẳng định bản chất nhà nước ta là nhà nước chuyên chính vô sản…thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động (điều 2) Tất cả các cơ quan nhà nước phải hết lòng phục vụ nhân dân, nghiêm cấm mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền (điều 8) Như vậy, Hiến pháp 1980 đã quy định một cách mạnh mẽ và toàn diện hơn bản chất và mục đích nhà nước ta Tất cả các quy định đó thể hiện xu hướng tập quyền, tập trung quyền lực vào Quốc hội Nhưng đồng thời cũng cần phải nhận thấy rằng tập quyền càng cao bao nhiêu thì sự phân công lao động quyền lực lại càng không rõ bấy nhiêu trong bộ máy nhà nước và đi cùng với nó là chế độ trách nhiệm tập thể được đề cao, trong khi trách nhiệm cá nhân lại không được quy định rõ ràng trong Hiến pháp Đồng thời trong chương I Hiến pháp 1980 còn quy định những nguyên tắc và quy định quan trọng xác lập những mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội, bảo đảm cho việc thực thi và tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp với bản chất đó (điều 4, 5, 7, 8, 12, 13)

* Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân: Hiến pháp 1980 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương V bao gồm 27 điều Chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1980 được kế thừa và phát triển từ Hiến pháp 1946, 1959 Những quy định mới về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện sự đa dạng và phong phú trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Thông qua việc nghiên cứu chế định này trong Hiến pháp 1980, đặt trong mối tương quan với yêu cầu bảo đảm quyền con người của nhà nước pháp quyền, có thể rút ra những kết luận sau đây:

- Kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946, 1959, Hiến pháp 1980 một mặt ghi nhận lại quyền và nghĩa vụ công dân đã quy định trong hai Hiến pháp trước, mặt khác xác định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới phù hợp với giai đoạn mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa So với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 đã xác định thêm một số quyền mới của công dân như: quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội (Điều 56); quyền được khám và chữa bệnh không phải trả tiền (Điều 61); quyền có nhà ở (Điều 62); quyền được học tập không phải trả tiền (Điều 60); quyền của các xã viên hợp tác xã được phụ cấp sinh đẻ (Điều 63); quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản và danh dự, nhân phẩm (điều 70); quyền được bảo đảm bí mật về điện thoại, điện tín (điều 71); quyền được nhà nước bảo hộ về quyền lợi tác giả, quyền sở hữu công nghiệp của người phát minh, sáng chế (điều 72); Hiến pháp cũng xác định thêm một số nghĩa vụ mới của công dân: Công dân phải trung thành với Tổ quốc (Điều 76); ngoài bổn phận làm nghĩa vụ quân sự, công dân còn phải tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân Ngoài nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, tôn trọng những quy tắc sinh hoạt xã hội, công dân còn phải bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật Nhà nước; ngoài nghĩa vụ đóng thuế, công dân còn phải tham gia lao động công ích Những quy định mới này của Hiến pháp 1980 phản ánh sự phát triển không ngừng của xã hội Việt Nam và sự quan tâm của nhà nước đối với việc bảo đảm, mở rộng các quyền và những lợi ích hợp pháp của công dân

- Tuy nhiên, Hiến pháp 1980 đã không kế thừa Hiến pháp 1946 trong việc quy định một số quyền thiết yếu của công dân trong nhà nước pháp quyền như: quyền tự do ra nước ngoài, quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia Hiến pháp 1980 có quy định về việc trưng cầu dân ý nhưng với tư cách là một trong những quyền hạn của Hội đồng nhà nước chứ không phải với tư cách là một trong những quyền cơ bản của công dân Điều đặc biệt là do quan niệm quá giản đơn và vội vàng trong việc bảo đảm một cách tuyệt đối khỏi sự bất công giữa mọi người do nguồn gốc tài sản gây ra, Hiến pháp 1980 đã không thừa nhận sở hữu tư nhân Theo điều 18 Hiến pháp 1980 thì “Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc dân thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động” Việc không thừa nhận sở hữu tư nhân trong Hiến pháp 1980 một mặt đã không động viên và khơi dậy được các tiềm năng cho sự phát triển của đất nước; mặt khác thể hiện sự chủ quan của nhà nước trong việc quy định các quyền cơ bản của công dân Trong thời kỳ xây dựng đất nước và phát triển kinh tế, thì quy định trên lại là nguồn gốc cho sự cào bằng và thờ ơ với tư liệu sản xuất, theo kiểu “cha chung không ai khóc”, mà dẫn đến tình trạng lãng phí của công, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý tài sản, nạn tham ô công quỹ tràn lan và trở nên phổ biến Và điều này là hoàn toàn xa rời với những yêu cầu về việc bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền Việc ghi nhận quyền con người trong nhà nước pháp quyền phải xuất phát từ các quyền tự nhiên của con người được đông đảo các quốc gia trên thế giới thừa nhận (nhà nước không thể không ghi nhận), trong đó quyền sở hữu về tài sản là một trong những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm

- Sự chủ quan, duy ý chí của nhà nước còn được thể hiện ở việc Hiến pháp

1980 đã quy định cho công dân nhiều quyền không mang tính khả thi như: quyền có việc làm (điều 58), quyền học tập mà không phải đóng học phí (điều 60), quyền khám chữa bệnh mà không phải trả tiền (điều 61), quyền có nhà ở (điều 62) Tính không khả thi của các quyền này thể hiện ở chỗ nhà nước không có đủ điền kiện vật chất để đảm bảo thực hiện các quyền này trên thực tế Do đó, các quyền này chỉ có hiệu lực pháp lý chứ không có hiệu lực thực tế, chỉ mang tính chất cương lĩnh, thiếu cơ sở thực tiễn gây nhiều hậu quả tiêu cực trong xã hội Vấn đề này cũng không đáp ứng được yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, bởi vì trong nhà nước pháp quyền việc ghi nhận các quyền con người như thế nào là quan trọng nhưng quan trọng hơn vẫn là việc các quyền ấy được bảo đảm thực hiện trên thực tế ra sao

* Về cơ thế thực hiện quyền lực nhà nước: Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của

Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đặt nền tảng cho sự tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội, và Hiến pháp 1980 được xem như đỉnh cao của nguyên tắc tập quyền trong hệ thống, tương tự tinh thần của Hiến pháp Liên Xô 1977: “Xô viết tối cao Liên Xô có toàn quyền giải quyết tất cả các vấn đề thuộc quyền của Liên Xô được Hiến pháp này quy định” Theo Hiến pháp 1980, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được áp dụng triệt để và đồng thời xây dựng một mô hình Quốc hội có toàn quyền Tuy nhiên, những nhân tố đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền trong Hiến pháp 1980 lại rất mờ nhạt, cụ thể như sau:

- Trong Hiến pháp 1980, chỉ có sự phân chia rõ chức năng, thẩm quyền giữa lập pháp với tư pháp, còn quyền lập pháp và hành pháp thì gần như nhập làm một Quốc hội được quy định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội bầu ra Hội đồng nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của nhà nước Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của nước ta, là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội Quy định này cho thấy, Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan do Quốc hội lập ra và được Quốc hội giao cho chức năng quản lý nhà nước Nhưng trong lĩnh vực này, Hội đồng Bộ trưởng không phải là cơ quan cao nhất Quốc hội hoàn toàn có quyền can thiệp, làm thay công việc hành chính của Hội đồng Bộ trưởng Như vậy, theo Hiến pháp 1980 thì sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng là chưa thật rõ ràng Tòa án là cơ quan xét xử của nước ta, là cơ quan nắm

37 Dẫn theo Nguyễn Thị Hồi - Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước - Nxb Tư pháp, 2005, tr.238 quyền tư pháp Khi xét xử, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Song trong thực tế, sự độc lập của Tòa án chỉ có tính chất tương đối bởi lẽ Thẩm phán là do Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bầu ra, Tòa án phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân Tóm lại, sự thể hiện tư tưởng phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ta theo Hiến pháp năm 1980 ít được thể hiện nhất trong các Hiến pháp Mặc dù vẫn có sự phân định chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; song sự phân định ấy kém rõ ràng hơn các Hiến pháp khác Mức độ độc lập của các cơ quan hành pháp, tư pháp trước lập pháp thì thấp hơn Đúng như nhận xét: “Quy định này phản ánh quan niệm một thời cho rằng: Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát, phải thực sự trở thành "tập thể hành động”

- Hiến pháp 1980 chỉ có những quy định nhằm trù liệu và ngăn ngừa sự lạm quyền của hành pháp và tư pháp, chứ không có những quy định tương tự đối với cơ quan lập pháp Chỉ có Quốc hội mới có quyền kiềm chế hoạt động của các cơ quan nhà nước khác thông qua các hình thức: xét báo cáo công tác Hội đồng nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chất vấn và yêu cầu các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng phải trình bày hoặc cung cấp tài liệu về các vấn đề cần thiết Hội đồng nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội Sự kiềm chế Quốc hội từ phía cơ quan hành pháp và tư pháp chỉ thể hiện tập trung ở việc các cơ quan ấy có thể bắt giam và truy tố đại biểu Quốc hội khi có sự đồng ý của Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước, có thể tạm giữ Đại biểu Quốc hội khi họ phạm pháp quả tang song phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước xem xét và quyết định Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có toàn quyền trong lĩnh vực lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và giám sát tối cao Không những thế, Quốc hội còn có thể can thiệp, làm thay công việc hành chính của Hội đồng Bộ trưởng Quốc hội có thể tự định thêm cho mình hoặc giao thêm cho Hội đồng nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng những nhiệm vụ và quyền hạn ngoài Hiến pháp khi xét thấy cần thiết Trong trường hợp đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định kéo dài nhiệm kì và các biện pháp cần thiết để bảo đảm hoạt động của mình Trong nhà nước pháp quyền thì không thể có cơ quan nào nắm tất cả mọi quyền và phân chia cho các cơ quan khác Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong nhà nước pháp quyền phải xuất phát từ Hiến pháp, do Hiến pháp trao cho

Hiến pháp 1980 không lột tả được bản chất của các cơ quan Nhà nước khi mô hình Quốc hội có toàn quyền, khiến không có cơ chế để đề nghị Quốc hội xem xét lại quyết định và tính thận trọng của Quốc hội không được thể hiện đầy đủ Hội đồng Bộ trưởng không có toàn quyền trong quản lý, nên không thể là một cơ quan hành pháp mạnh mẽ và quyết đoán Với tinh thần làm chủ tập thể, vai trò của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bị mờ nhạt so với chính Hội đồng, và Hiến pháp 1980 không quy định rõ quyền hạn của vị trí này, khiến nó không được xem như một thiết chế quyền lực độc lập như Thủ tướng trong Hiến pháp 1946 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng được xem như người đứng đầu Hội đồng, lãnh đạo điều phối hoạt động của Hội đồng và quyền hạn nằm trong phạm vi của Hội đồng Do làm việc theo chế độ tập thể, Hiến pháp 1980 cũng không quy định trách nhiệm của Chủ tịch như quy định trong Hiến pháp 1946: thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các Hiến pháp 1980 thiếu cơ chế tín nhiệm Chính phủ, thay vào đó là cơ chế bãi nhiệm như Hiến pháp 1959; thiếu cơ chế tín nhiệm khiến Quốc hội ít chủ động xử lý các thành viên Chính phủ và hạn chế khả năng giám sát Tính độc lập của Tòa án cũng bị lu mờ với cơ chế bầu thẩm phán được áp dụng trong Hiến pháp 1980.

* Vấn đề đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp: Khác với Hiến pháp năm

Ba bản Hiến pháp Việt Nam—1946, 1959 và 1980—lần đầu trực tiếp khẳng định Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nước, cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh mọi hoạt động của nhà nước và xã hội Qua các bản Hiến pháp này, khái niệm quyền lực thuộc về nhân dân, tổ chức nhà nước và quyền tự do công dân được định hình ngày càng rõ nét, phản ánh quá trình đổi mới nhận thức về vai trò của pháp luật trong xây dựng đất nước.

Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung)

Hiến pháp 1980 sau một thời gian có hiệu lực đã lộ nhiều bất cập trước nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi một bản Hiến pháp mới phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ và xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 mở ra thời kỳ đổi mới, với đường lối nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện và khắc phục những thiếu sót của Đảng và Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của các tầng lớp lao động, từ đó hình thành nhận thức mới đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và đề ra những chủ trương, chính sách nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Nhờ đường lối đổi mới của Đại hội VI, đất nước đã khắc phục bước khủng hoảng kinh tế - xã hội và đạt được thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại.

Trong tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, tại Kỳ họp thứ 3 ngày 22-12-1988, Quốc hội khóa VII ra Nghị quyết sửa đổi lời nói đầu, không chỉ rõ đích danh thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bành trướng Trung Quốc để phù hợp với quan hệ đối ngoại đang mở ra giữa ta với nước Cộng hoà Pháp, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Ngày 30-6-1989, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết sửa đổi 7 điều: 57, 115, 116, 118, 122, 123, 125, để xác định thêm quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân của công dân và thành lập thêm Thường trực Hội đồng nhân dân trong cơ cấu của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã đồng thời củng cố thêm các mặt hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Đồng thời trong kỳ họp này Quốc hội ra Nghị quyết thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu của tình hình kinh tế - xã hội mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Ủy ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập bao gồm 28 người do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp đã họp nhiều phiên để chỉnh lý, bổ sung và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Cuối năm 1991 đầu năm 1992, bản dự thảo Hiến pháp lần thứ ba đã được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân và ý kiến của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương, dự thảo Hiến pháp lần

4 đã hoàn thành và được trình Quốc hội khoá VIII, tại Kỳ họp thứ 11 xem xét Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những chỉnh lý, bổ sung nhất định, ngày 15-4-

Vào năm 1992, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Hiến pháp, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới đất nước Việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp 1992 là kết quả của một quá trình thảo luận dân chủ, chắt lọc nghiêm túc các ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về cả các quan điểm chung lẫn các vấn đề cụ thể Bản Hiến pháp này phản ánh tinh thần đổi mới của Việt Nam và là một thành tố trong tiến trình đổi mới đất nước.

Hiến pháp 1992 sau gần mười năm có hiệu lực đã phát huy vai trò là một đạo luật cơ bản của Nhà nước Tuy nhiên, sau một thập kỷ, những biến đổi về kinh tế, chính trị và xã hội đòi hỏi Hiến pháp được bổ sung, sửa đổi nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Để bảo đảm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X (29-6-2001) Quốc hội đã thông qua nghị quyết thành lập Ủy ban sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, gồm 22 thành viên do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An làm Chủ tịch.

Ngày 25-12-2001, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 51/2001/NQ-QH10 đã sửa đổi, bổ sung Lời nói đầu và 23 điều của Hiến pháp năm 1992 nhằm thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX

2.3.2 Sự kế thừa nhân tố pháp quyền trong Hiến pháp 1946

* Về một nhà nước của toàn th nhân dân: Kế thừa và phát triển những quy định của Hiến pháp 1946, 1959, 1980; căn cứ vào tình hình và điều kiện cụ thể của đất nước ta trong tiến trình đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Hiến pháp

1992 hiện hành đã thể hiện một cách sâu sắc và đầy đủ bản chất và mục đích của nhà nước ta Hiến pháp cũng xác định những nguyên tắc cơ bản của tổ chức quyền lực chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa; nhưng khác với Hiến pháp 1980 Hiến pháp hiện hành không dùng thuật ngữ "Nhà nước chuyên chính vô sản” mà dùng thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” Việc thay đổi thuật ngữ này không làm thay đổi bản chất của Nhà nước mà chỉ để làm rõ hơn bản chất “của dân, do dân và vì dân” của Nhà nước ta, phù hợp hơn với chính sách đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và phù hợp hơn với xu thế của quốc tế và thời đại Bởi vì "Nhà nước của dân, do dân vì dân” đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trong Hiến pháp của các Nhà nước có hình thức chính thể cộng hoà dân chủ trên thế giới Như vậy, Hiến pháp 1992 vẫn khẳng định bản chất của nhà nước ta là bản chất dân chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Nhà nước của dân, do dân, vì dân với mục đích xây dựng một nhà nước mới, văn minh, dân chủ, công bằng Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức (điều 2) Mục tiêu của nhà nước là không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện (điều 3)…

* Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân:

Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” tại Chương V, bao gồm 34 điều Xét về nội dung chính trị pháp lý cũng như hình thức thể hiện của các quyền con người, quyền công dân; có thể nói rằng Hiến pháp hiện hành đã chứa đựng một số nhân tố về cơ bản có thể đáp ứng được những yêu cầu trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền:

- Thứ nhất, sự đổi mới về tư duy pháp lý trong việc quy định chung về quyền con người, quyền công dân Lần đầu tiên, trong lịch sử lập hiến Việt Nam, khắc phục thiếu sót của các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 đã dành riêng một điều để quy định về quyền con người Đó là điều 50 với nội dung: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Việc khẳng định này xóa bỏ quan niệm chung trong tư duy pháp lý của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có Việt Nam, cho rằng quyền công dân cũng chính là quyền con người, và quyền con người là một phạm trù tư sản, không thừa nhận quyền con người là một khái niệm độc lập có nội hàm riêng so với quyền công dân Việc ghi nhận một điều mới về quyền con người với tư cách là một quy định chung trước khi ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản, Hiến pháp 1992 thể hiện một bước tiến mới về tư duy lý luận và thái độ tiếp thu những giá trị tiến bộ trong tư duy chính trị - pháp lý của nhân loại Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, phải thừa nhận rằng, cá nhân với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội có những quyền cơ bản xác định, việc thừa nhận các quyền này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế Cá nhân con người chính là giá trị; giá trị con người chính là giá trị loài người, tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh Hiến pháp 1992 sử dụng khái niệm “quyền con người” với nội dung chính trị - pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người trong mối quan hệ với một nhà nước nhất định, lẫn giá trị tổng hợp được cộng đồng quốc tế thừa nhận Khái niệm “quyền con người” bao hàm trong nó cả

“quyền công dân” nhưng nó không thay thế cho khái niệm “quyền công dân”

Quyền công dân là một khía cạnh hẹp hơn quyền con người và không bao quát toàn bộ các quyền cá nhân mà nhà nước thừa nhận và bảo vệ Trong khi đó, quyền con người là khung khái niệm được thể hiện trong Hiến pháp 1992, đóng vai trò cầu nối giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, qua đó tăng cường mối quan hệ giữa hai hệ thống pháp lý Ở Việt Nam, bên cạnh công dân Việt Nam và công dân nước ngoài làm việc và sinh sống, còn có người không quốc tịch; với quy định này, Nhà nước tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

- Thứ hai, Hiến pháp hiện hành đã quy định thêm những quyền hoàn toàn mới mang tính thiết yếu cho công dân trong nhà nước pháp quyền trên nhiều lĩnh vực:

Hiến pháp hiện hành mở rộng quyền tham gia chính trị của công dân bằng cách ghi nhận quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương, quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước và quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, phù hợp với xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội So với Hiến pháp 1980, ở điều 56 và các điều liên quan, bản hiện hành quy định rõ hơn các công việc mà công dân có thể tham gia giải quyết, thay vì mô tả chung chung Đặc biệt, hiến pháp hiện hành khôi phục quyền biểu quyết của công dân trong trưng cầu ý dân, quyền đã được quy định từ Hiến pháp 1946 nhưng không được ghi nhận dưới dạng quyền hiến định cơ bản trong Hiến pháp 1959 và 1980 Sự khôi phục này cụ thể hóa quyền dân chủ trực tiếp của công dân trong đời sống nhà nước và phản ánh rõ nguyên tắc nhà nước thuộc về nhân dân.

Hiến pháp 1992 lần đầu ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân (Điều 57) và quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác (Điều 58) Những quy định này trở thành chìa khóa mở cửa tự do hoạt động kinh tế, giúp cá nhân giàu có hơn và đồng thời tăng nguồn lực cho nhà nước và xã hội Việc thừa nhận các quyền này phù hợp với chính sách xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, và đồng thời khắc phục tư tưởng về một xã hội hưởng thụ bình quân hay bao cấp, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Phương hướng hoàn thiện Hiến pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay

Hiện nay, tổ chức và hoạt động của của bộ máy nhà nước ta dựa trên Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Trên cơ sở pháp lý cao nhất đó, Nhà nước ta đang tiến hành cải cách bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bởi vì, Hiến pháp là cơ sở pháp lý cao nhất cho toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và xã hội Do vậy, quan điểm đúng đắn về cải cách bộ máy nhà nước và tìm hiểu chế định Hiến pháp phù hợp với tư tưởng Nhà nước pháp quyền như nói trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng

Thực tiễn chỉ ra rằng việc tiếp tục tiến hành hoàn thiện Hiến pháp cũng như cải cách bộ máy nhà nước nói chung là đòi hỏi khách quan và bức xúc của sự nghiệp đổi mới Song phải tiến hành thận trọng với những bước đi phù hợp Vì thế, cần phải thống nhất các quan điểm chung trong việc sửa đổi và xây dựng Hiến pháp trong xu hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

2.4.1 Nhận thức lại bản chất của Nhà nước theo hướng Nhà nước của toàn thể nhân dân

Hiện nay, Việt Nam đã có đủ các tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội để từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền Việt

Nam của dân, do dân, vì dân có sắc thái riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, truyền thống và văn hóa Việt Nam Nhận thức rằng xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, cần được tiến hành từng bước và chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn tương ứng với mức độ phát triển của xã hội và của nhà nước Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của toàn thể nhân dân đòi hỏi quán triệt những nguyên tắc cơ bản sau: tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm kỷ luật pháp lý, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, và thúc đẩy sự công khai, minh bạch cùng trách nhiệm giải trình, nhằm duy trì sự đoàn kết, ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Thứ nhất, dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc này phải được xác định dứt khoát trong Hiến pháp và đã định hình suốt 60 năm qua kể từ Hiến pháp 1946, đóng vai trò chỉ đạo quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước; khi hoạch định chủ trương, chính sách cơ bản, Nhà nước đã từ nhân dân mà trở về với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và thực hiện các chính sách; dựa trên nguyên tắc ấy, nhân dân là chủ thể duy nhất của mọi quyền lực, chúng ta không tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, mà theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất trong tay nhân dân, đồng thời có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

- Thứ hai, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là cách thức cơ bản để phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân Đó là Nhà nước của toàn thể nhân dân Đó là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa mọi sự tuỳ tiện lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương Đó là Nhà nước mà mọi tổ chức (kể cả tổ chức đảng), hoạt động phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi hoạt động của mình

Thứ ba, để nâng cao bản chất của dân, dân chủ từ dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta, chúng ta phải hoàn thiện cơ chế bầu cử, ứng cử trong quá trình hình thành các cơ quan và các cương vị chủ chốt của bộ máy nhà nước Chúng ta đang tiến tới bầu Quốc hội khóa XII; làm sao cho cuộc bầu cử đó dân chủ hơn, thực chất hơn, ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn là trăn trở của nhiều người dân Điều thứ 25, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định rằng: "Nghị viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình, mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân", tinh thần đó được tiếp tục khẳng định trong các bản Hiến pháp sau này của ta Ở nhiều nước, ứng viên đại biểu Thượng viện và Hạ viện ra ứng cử tại khu vực cư trú; khi đắc cử, ngoài văn phòng làm việc tại nghị viện, họ còn có văn phòng làm việc tại địa bàn cư trú (cũng là địa bàn ứng cử và bầu cử) Họ công khai bằng văn bản mọi hoạt động tại văn phòng đó hàng tháng hoặc hàng quý để cử tri có thể xem xét; thậm chí hàng tuần tổ chức các buổi làm việc tại văn phòng để giải quyết các nhu cầu thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của mình Đó là một cách làm hay, có hiệu quả và rất đáng nghiên cứu.

- Thứ tư, bài học lấy dân làm gốc với tư tưởng bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều của dân luôn nhất quán trong lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta, ngày nay càng trở nên hết sức quan trọng Nhà nước ta do dân lập nên, do dân bầu ra, dân kiểm tra, giám sát Đó phải là nhà nước hoạt động vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mình Sức mạnh của Nhà nước ta bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân; phải xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, gần dân, sát dân, thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của dân; đảm bảo trên thực tế quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Vấn đề cấp bách đang được đặt ra là cần phải xây dựng một cơ chế pháp luật có hiệu quả, đảm bảo cho nhân dân luôn là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực nhà nước trên thực tế sao cho dân trao quyền cho các thiết chế nhà nước mà không bị mất quyền và toàn bộ hoạt động của Nhà nước luôn nằm trong vòng kiểm tra, giám sát của chính nhân dân

Thực hiện đầy đủ tư tưởng Nhà nước của toàn thể nhân dân như Hiến pháp năm 1946 nêu lên là một đòi hỏi cấp thiết nhưng quá trình này không hề đơn giản, vì nó chạm tới nhận thức và lợi ích của mỗi người Sức mạnh của Nhà nước ta được quyết định ở chỗ thực hiện được bản chất của Nhà nước, và nhân dân cùng đất nước ta đòi hỏi phải thực hiện bằng được bản chất ấy Đây là nội dung cốt lõi để duy trì định hướng Nhà nước pháp quyền trong quá trình đổi mới đất nước ở giai đoạn hiện nay.

2.4.2 Mở rộng và bảo đảm các quyền tự nhiên của con người; đặt con người vào vị trí trung tâm, là mục tiêu và là giá trị cao nhất Tất cả pháp luật do nhà nước định ra đều nhằm bảo đảm quyền tự do của con người và công dân Ranh giới hạn chế hoạt động của Nhà nước chính là quyền công dân Do đó sự bất khả xâm phạm về tự do cá nhân, danh dự và nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân con người phải được nhà nước bảo đảm an toàn cả về mặt pháp lý và cả trên thực tế

42 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1982 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) - Sđd, tr.12

Các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và đặc biệt là những người có chức, có quyền phải chịu trách nhiệm pháp lý trước tòa án về những hành vi lạm quyền, vi phạm các quyền và tự do cơ bản của công dân Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân công dân là mối quan hệ đồng trách nhiệm Đây là nhiệm vụ gắn liền với nghĩa vụ pháp lý cụ thể, chứ không đơn thuần là trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức chung chung Đây cũng là trách nhiệm hai chiều, một chiều Nhà nước có quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với con người và chiều khác, cá nhân con người cũng có những quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với Nhà nước chứ không phải là quan hệ một chiều, Nhà nước chỉ có quyền, công dân chỉ có nghĩa vụ và ngược lại Chính vì thế, Đảng ta đều nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước trong việc định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người Nhà nước phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Phải có cơ chế và biện pháp để kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân Ngược lại, các quyền công dân, quyền con người và tự do cá nhân phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và bị ràng buộc bởi pháp luật, công dân và cá nhân mỗi người đều có nghĩa vụ pháp lý đối với Nhà nước và đối với nhau

Do đó, để quyền con người thực sự là một vị trí trung tâm, là mục tiêu và giá trị cao nhất của hiến pháp thì hiến pháp trong nhà nước pháp quyền phải đảm bảo những yêu cầu sau:

- Thứ nhất, cách thức quy định quyền và nghĩa vụ công dân trong các Hiến pháp nước được quy định theo cách thức thừa nhận, hay nói cách khác là sự ban phát của nhà nước cho công dân, mà không phải theo một chiều hướng ngược lại, theo cách thức mặc nhiên thừa nhận, nhà nước không thể không thừa nhận mà còn phải có trách nhiệm bảo vệ những quyền mà tạo hóa đã ban cho con người trước sự vi phạm của các chủ thể khác, trong đó có chính bản thân nhà nước Nhà nước pháp quyền không ban phát các quyền tự do cho con người mà phải thừa nhận các quyền ấy như một sự thật hiển nhiên Nhà nước pháp quyền được tạo ra là để che chở, bảo vệ các quyền tự do của cá nhân Việc quy định quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam có tính chất ban phát còn tiềm ẩn một nguy cơ là những quyền không được liệt kê, tức là không được thừa nhận, không được ban phát thì lẽ đương nhiên công dân sẽ không được hưởng các quyền này Điều này là không phù hợp với sự phát triển của vấn đề nhân quyền Bởi vì việc liệt kê các quyền con người cụ thể sẽ phủ nhận hay hạ thấp các quyền khác của người dân và quyền con người luôn phát triển theo thời gian Do đó, việc thay đổi cách thức quy định về quyền con người, quyền công dân có một ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền

- Thứ hai, Hiến pháp cần quy định trực tiếp một số quyền công dân để khẳng định những quyền thiết yếu của công dân trong nhà nước pháp quyền mà trong Hiến pháp hiện hành những quyền này được quy định một cách gián tiếp thông qua nghĩa vụ của nhà nước đối với các quyền đó như: quyền nghỉ ngơi, quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (điều 56); quyền thừa kế (điều 58); quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (điều 60); quyền kết hôn theo quy định của pháp luật (điều 64); quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (điều 71); quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín (điều 73) Ngoài ra, quyền bãi nhiệm các đại biểu dân cử của cử tri hiện nay tồn tại dưới dạng “ẩn”

Hiến pháp hiện hành cần được bổ sung để quy định rõ ràng các quyền cơ bản của công dân được bảo đảm và thực thi, như quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước và quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý; quyền bầu cử và ứng cử; quyền tự do kinh doanh; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật, đồng thời ghi nhận nghĩa vụ của nhà nước để bảo đảm bình đẳng trước pháp luật (điều 52) và quyền tham gia quản lý, giám sát xã hội (điều 53, 54); trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, ô nhiễm môi trường đang có nguy cơ phát triển gây hại cho sức khỏe và khí hậu, nên có thể bổ sung quyền được sống trong môi trường thiên nhiên trong sạch và nghĩa vụ bảo vệ môi trường; quá trình hoàn thiện nội dung và hình thức các quy phạm Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân đòi hỏi nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Nhà nước ký kết hoặc gia nhập, bởi vì bảo vệ nhân quyền ngày nay mang tính quốc tế, toàn cầu.

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w