1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận diện tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

58 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG… (9)
    • 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm lãi suất (10)
    • 1.1.2 Phân loại lãi suất (14)
    • 1.1.3. Cơ chế xác định lãi suất trong hợp đồng tín dụng (16)
    • 1.2 Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng (22)
      • 1.2.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng (22)
      • 1.2.2 Các dạng tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng thường gặp (25)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG (28)
    • 2.1 Tranh chấp về lãi suất cho vay trong hạn (28)
      • 2.1.1 Thực trạng (28)
      • 2.1.2 Nguyên nhân (36)
      • 2.1.3 Giải pháp, kiến nghị (39)
    • 2.2 Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn (40)
      • 2.2.1 Thực trạng (40)
      • 2.2.2 Nguyên nhân (43)
      • 2.2.3 Giải pháp, kiến nghị (44)
    • 2.3 Tranh chấp về lãi chậm trả (44)
      • 2.3.1 Thực trạng (44)
      • 2.3.2 Nguyên nhân (51)
      • 2.3.3 Giải pháp, kiến nghị (52)

Nội dung

Ngoài ra, còn có một số Luận văn cử nhân khác có đề cập đến về vấn đề tranh chấp lãi suất trong HĐTD như: Luận văn cử nhân của tác giả Phạm Lê Ninh 2010 với đề tài “Tranh chấp về lãi suấ

TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG…

Khái niệm, đặc điểm lãi suất

Trước khi định nghĩa lãi suất, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm 'lãi' và 'lãi suất' – hai khái niệm riêng biệt nhưng có mối liên hệ mật thiết Lãi là phần lợi nhuận hoặc khoản thu được từ cho vay hoặc đầu tư, còn lãi suất là tỷ lệ phần trăm xác định mức lãi phải trả hoặc nhận được trên vốn vay hoặc vốn đầu tư theo thời gian Hai khái niệm này có nguồn gốc khác nhau nhưng luôn đi kèm với nhau khi xác định số tiền lãi và chi phí vay; lãi suất quyết định số tiền lãi sinh ra, và lãi có thể được hiểu như kết quả của lãi suất theo thời gian Dù được đề cập ở nhiều tài liệu với các khía cạnh khác nhau, nhìn chung lãi và lãi suất tương đối đồng nhất về bản chất và không có xung đột nào, giúp người đọc nắm bắt cơ chế thanh toán, chi phí vay và lợi ích đầu tư.

Lãi được xem như là khoản lợi nhuận của ngân hàng từ việc cho vay lại một khoản tiền nhàn rỗi được huy động từ dân chúng Xuất phát từ đặc điểm của quan hệ tín dụng là một vận động mang tính chất hoàn trả, có kèm theo một khoản lợi tức, lượng giá trị quay về luôn lớn hơn lượng giá trị phát ra nên luôn có một khoản tiền dôi ra từ việc ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong thị trường rồi cho vay lại Đó chính là lãi hay còn gọi là lợi tức tín dụng Nhưng nếu xét ở khía cạnh khác, lãi sẽ được xem là giá cả mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định 7 Đây là một hình thức bồi thường cho việc sử dụng tài sản của người khác trong một thời hạn nhất định Số tiền nhàn rỗi là tài sản của người gửi tiết kiệm nhưng nó sẽ là khoản nợ đối với người đi vay Ngân hàng lúc này chỉ đóng vai trò trung gian, là cầu nối giữa người gửi tiết kiệm và người đi vay đồng thời tìm kiếm lợi nhuận từ vai trò trung gian đó

Nói tóm lại, tùy theo xem xét trên góc độ người đi vay hay người cho vay mà có những khái niệm khác nhau về lãi Kết hợp cả hai khía cạnh trên, có thể định nghĩa lãi là khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay và là chi

6 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 323

7 Trường đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh (2008), Nhập môn Tài chính – Tiền tệ, Nhà xuất bản Lao động xã hội, tr 69.

7 phí mà khách hàng đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian xác định 8

Xét về bản chất, lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lãi thu được trong một khoảng thời gian nhất định và tổng vốn gốc cho vay trong cùng thời gian, cho thấy lãi suất là cơ sở để tính lãi từ hoạt động cho vay của ngân hàng Lãi suất giúp xác định lợi nhuận từ các giao dịch cho vay và được áp dụng trong mọi kỳ tính lãi như ngày, tháng, năm, quý hay tuần Theo công thức, lãi = lãi suất × tổng số tiền vay × thời hạn cho vay.

Lãi và lãi suất là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt: lãi là khoản tiền chênh lệch thu được từ giao dịch cho vay, còn lãi suất là tỷ lệ phần trăm của khoản chênh lệch đó so với số tiền vay gốc Việc phân biệt và sử dụng đúng hai thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng cho hoạt động nghiên cứu và áp dụng pháp luật, đồng thời nâng cao tính chính xác và tin cậy của các phân tích tài chính liên quan đến cho vay.

Lãi suất trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) được đề cập và nghiên cứu ở hai khía cạnh chủ đạo: kinh tế và pháp lý Ở khía cạnh kinh tế, lãi suất thể hiện chi phí vốn, rủi ro và kỳ vọng thu nhập của người cho vay, đồng thời tác động đến quyết định vay mượn và diễn biến của thị trường tài chính Ở khía cạnh pháp lý, lãi suất chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống quy định, khung pháp lý và các biện pháp đảm bảo sự công bằng, minh bạch và tuân thủ các giới hạn lãi suất Mỗi lĩnh vực có cách hiểu riêng về lãi suất; kinh tế nhấn mạnh cơ chế và ảnh hưởng thị trường, còn pháp lý tập trung vào sự tuân thủ, công bằng và bảo vệ người vay và người cho vay.

Dưới góc độ kinh tế, các nhà kinh tế học nhìn lãi suất như công cụ chính ảnh hưởng đến cung – cầu tiền trên thị trường tài chính Lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm giữa tổng lợi tức tín dụng thu được và tổng số tiền cho vay phát ra trong một khoảng thời gian nhất định, tức là một con số cụ thể xác định dựa trên số tiền gốc và thời hạn vay Ở nghĩa rộng, lãi suất còn là giá cả của tín dụng, hay nói cách khác là chi phí sử dụng vốn tiền tệ—là tỷ lệ phần trăm lãi trên số vốn vay Vốn tiền tệ được xem như một loại tài sản cho vay; người dùng vốn phải trả chi phí tương ứng được đo bằng lãi suất Mức lãi suất càng cao thì giá trị của quyền sử dụng vốn tăng lên và ngược lại.

8 Nguyễn Minh Kiều (2015), Tiền tệ ngân hàng, Nhà xuất bản Tài Chính, tr 123

Trong Tư bản của Marx, tỷ suất lợi tức được định nghĩa là một tỷ lệ giữa số tiền lãi người cho vay mong nhận và số vốn mà người vay sử dụng, được tính trên một năm hoặc trên bất kỳ khoảng thời gian nào khác ngắn hay dài hơn Khung định nghĩa này cho thấy cách sinh lời từ tư bản tiền tệ phụ thuộc vào thời gian cho vay và có thể áp dụng cho các chu kỳ kinh tế khác nhau.

10 Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành (2004), Lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Thống kê, tr 220.

Giáo trình Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ, do Khoa Ngân hàng – Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân biên soạn và được Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân phát hành năm 2011, là tài liệu tham khảo quan trọng cho sinh viên ngành ngân hàng – tài chính, với nội dung trình bày các khái niệm và nguyên lý cơ bản của tài chính tiền tệ, trang 141 ghi chú chi tiết.

Khái niệm lãi suất mặc dù có những khác biệt giữa các quan điểm, nhưng đều cho thấy lãi suất là công cụ để tính toán lợi tức tín dụng mà ngân hàng nhận được Qua đó, chúng ta có thể ước lượng giá trị quyền sử dụng nguồn vốn vay và đánh giá diễn biến của thị trường tiền tệ.

Dưới góc độ pháp luật, theo từ điển Luật học, lãi suất là tỷ lệ phần trăm tính trên vốn đầu tư để xác định lãi của người đầu tư Cách định nghĩa này có điểm tương đồng với khái niệm của các nhà kinh tế học, cho rằng lãi suất là một tỷ lệ phần trăm thể hiện giá cả của quyền sử dụng vốn tiền tệ Từ góc độ pháp lý, khái niệm lãi suất đồng thời phản ánh chi phí huy động vốn và mức sinh lời của hoạt động cho vay và đầu tư.

Lãi suất được nhắc đến trong nhiều văn bản pháp luật và nằm trong phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau, nhưng hầu hết các văn bản này không trực tiếp định nghĩa khái niệm lãi hay lãi suất mà chỉ gián tiếp đề cập thông qua các quy định về xác định lãi, mức lãi suất và phương thức tính lãi suất Cụ thể, Điều 468 BLDS 2015 quy định lãi suất cho vay trong hợp đồng vay tài sản; khoản 1 Điều 12 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 và khoản 2 Điều 91 Luật Các TCTD 2010 quy định về mức lãi suất và phạm vi điều chỉnh Ngay cả Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016, thay thế Quy chế cho vay cũ ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN và được sửa đổi bởi Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN, cũng không nêu rõ khái niệm lãi hay lãi suất mà chỉ quy định chung về cách lãi suất được điều chỉnh và xác định khi thực hiện HĐTD, cho thấy vai trò của pháp luật đối với hoạt động cho vay trong nền kinh tế thị trường.

Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số tiền vay ban đầu và tổng lợi tức mà TCTD thu được từ hoạt động cho vay tương ứng với thời hạn vay xác định Lãi suất đóng vai trò vừa là nguồn lợi nhuận để ngân hàng bù đắp chi phí hoạt động, thiết lập dự phòng và duy trì hoạt động, vừa là công cụ hiệu quả để Ngân hàng Nhà nước điều tiết cung cầu tiền và thực hiện các chính sách tiền tệ của quốc gia.

Thứ nhất, lãi suất là yếu tố hình thành nên quan hệ tín dụng Quan hệ tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định, nhằm đảm bảo sự cân đối giữa nguồn vốn cho vay và chi phí vốn của người cho vay Lãi suất vừa là chi phí vay của người đi vay vừa là thước đo rủi ro và lợi nhuận của người cho vay, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định vay vốn, khả năng trả nợ và sức cạnh tranh của các sản phẩm tín dụng trên thị trường Do đó, việc xác định mức lãi suất phù hợp là nền tảng để duy trì thanh khoản, ổn định tín dụng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế an toàn.

12 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội, tr 452, 453.

Trong quan hệ tín dụng, có hai bên tham gia là người đi vay và người cho vay Người đi vay được thỏa mãn nhu cầu vốn trong một khoảng thời gian xác định, trong khi người cho vay nhận được khoản hoàn trả tương ứng khi nhượng quyền sử dụng nguồn vốn cho bên đi vay Khoản trả nợ không chỉ bảo toàn giá trị mà còn tăng lên dưới hình thức lợi tức hay lãi Lãi được xác định dựa trên cơ sở lãi suất, số tiền gốc và thời hạn cho vay Do đó, lãi suất đóng vai trò là một yếu tố hình thành nên quan hệ tín dụng.

Phân loại lãi suất

Lãi suất có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí và mục tiêu phân loại Để làm rõ nội dung tranh chấp, chương II sẽ trình bày lý do và lựa chọn thời hạn áp dụng lãi suất làm tiêu chí phân loại Theo tiêu chí này, lãi suất được chia thành ba loại chính: lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất để tính lãi chậm trả.

 Lãi suất cho vay trong hạn

Lãi suất cho vay trong hạn là mức lãi suất hai bên thỏa thuận áp dụng cho toàn bộ thời hạn vay và được ghi rõ trong HĐTD (hợp đồng tín dụng) Mặc dù khái niệm này chưa được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật, thực tiễn cho thấy lãi suất cho vay trong hạn do các ngân hàng thương mại ấn định trước và được thỏa thuận với khách hàng khi ký kết HĐTD Đây là căn cứ để tính toán lợi tức từ hoạt động cho vay, dựa trên số tiền vay gốc và thời hạn vay được thỏa thuận.

 Lãi suất nợ quá hạn

Lãi suất nợ quá hạn được áp dụng khi bên vay chậm trả nợ gốc Lãi suất này thường cao hơn lãi suất cho vay trong hạn nhằm bù đắp thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay Việc xác định lãi suất quá hạn dựa trên hợp đồng vay và các quy định pháp lý liên quan giúp bảo vệ quyền lợi của các bên và khuyến khích thanh toán đúng hạn.

Lãi suất nợ quá hạn chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn Theo Điều 20 Thông tư 39, nợ quá hạn được hiểu là dư nợ gốc mà khách hàng không trả đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và không được TCTD chấp thuận gia hạn thời hạn trả nợ Đối với khoản vay chưa quá hạn trả nợ gốc nhưng lãi tiền vay quá hạn, TCTD không bắt buộc phải chuyển nợ gốc sang quá hạn mà thực hiện theo thỏa thuận hai bên đã ký tại thời điểm cấp tín dụng Như vậy, khoản vay chỉ bị chuyển thành nợ quá hạn khi quá hạn trả nợ gốc và khách hàng chưa trả hoặc không trả đầy đủ dư nợ gốc trong thời hạn đã định Lúc này, ngân hàng có quyền áp dụng lãi suất nợ quá hạn để tính khoản tiền lãi quá hạn tương ứng với số dư nợ gốc bị quá hạn, nhằm bù đắp thiệt hại cho việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

 Lãi suất để tính lãi chậm trả

Mặc dù đã xuất hiện từ trước khi Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực, nhiều ý kiến cho rằng cách tính lãi suất này tạo ra hiện tượng lãi chồng lãi, lãi mẹ đẻ lãi con, đi ngược lại tinh thần của pháp luật và gây gánh nặng cho người đi vay Những quan điểm ấy cho rằng lãi suất được ghép nối theo cách dồn tích làm tăng chi phí vay vốn và làm mất công bằng trong giao dịch tín dụng Bởi lẽ, các quy định trước đây trong BLDS chưa đầy đủ và thống nhất về cách xác định lãi suất và cơ chế tính lãi, nên còn nhiều tranh cãi về tính hợp lý và sự minh bạch của các giao dịch cho vay Thông tư 39/2016/TT-NHNN được kỳ vọng sẽ làm rõ nguyên tắc tính lãi và tạo khung pháp lý phù hợp hơn, từ đó cân bằng quyền lợi của người vay và người cho vay.

Theo Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam, khi khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, người vay chỉ có nghĩa vụ trả gốc và lãi theo lãi suất nợ quá hạn; TCTD không được phép áp dụng lãi chậm trả để phạt nhiều lần đối với cùng một vi phạm trong hợp đồng tín dụng Nếu cho phép phạt nhiều lần, lãi phạt quá hạn có thể vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay và quy định này sẽ bị vô hiệu hóa, khiến người vay gặp khó khăn, không có khả năng thanh toán nợ, làm gia tăng nợ xấu và ảnh hưởng đến nền kinh tế.

Hiện nay, các quy định trong BLDS 2015 nói chung và Thông tư 39/2016/TT-NHNN nói riêng đã thừa nhận áp dụng lãi suất để tính lãi chậm trả khi khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi Cụ thể, điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS 2015 và điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định lãi suất chậm trả đối với số tiền lãi được giới hạn ở mức không quá 10%/năm, tính trên dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Quy định mới này của BLDS 2015 và Thông tư 39/2016/TT-NHNN đã chuẩn hóa cơ sở pháp lý về lãi suất chậm trả, điều chỉnh cách xác định lãi chậm trả cho các trường hợp trả chậm trong quan hệ vay và cho vay.

Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 31/12/2001 và được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005; quy chế quy định các nguyên tắc, điều kiện và quy trình cho vay, nhằm đảm bảo an toàn vốn, quản trị rủi ro và tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước, từ đây gọi là Quy chế cho vay.

Có 12 văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các TCTD, giúp hạn chế rủi ro khi cho vay các khoản vay có giá trị lớn và thời hạn dài, từ đó tăng cường an toàn trong hoạt động cho vay và đóng góp vào sự ổn định, duy trì hoạt động của ngân hàng Nhưng đối với người đi vay, các quy định này mang lại tác động tiêu cực khi làm gia tăng gánh nặng trả nợ, đặc biệt với các khoản vay có lãi suất cao, vì ngoài việc trả lãi quá hạn họ còn phải trả thêm một khoản lãi chậm trả.

Cơ chế xác định lãi suất trong hợp đồng tín dụng

Lãi suất là công cụ chủ đạo mà ngân hàng trung ương sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ của đất nước, và việc xác định mức lãi suất phù hợp với diễn biến của nền kinh tế thị trường là một yêu cầu thiết yếu Để làm được điều này, cần xem xét lãi suất ở nhiều khía cạnh và ở cả hai cấp độ vĩ mô và vi mô, đồng thời cân nhắc cả hai phương diện kinh tế và pháp lý Mục tiêu là tìm sự cân bằng giữa tăng trưởng, ổn định giá và khuôn khổ pháp lý phù hợp, nhằm bảo đảm hiệu quả và bền vững của chính sách tiền tệ.

1.1.3.1 Dưới góc độ kinh tế

 Về nguyên tắc, việc điều hành lãi suất phải gắn với diễn biến kinh tế, xã hội và mức cung – cầu vốn trên thị trường

Trong bối cảnh tình hình kinh tế và xã hội có nhiều biến động, biến động của cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ đóng vai trò trực tiếp tác động đến mức lãi suất cho vay Các yếu tố này khiến lãi suất có xu hướng tăng hoặc giảm tùy thuộc vào sự cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu vay mượn của các tổ chức tín dụng và người dùng Vì vậy, tình hình kinh tế - xã hội và sự biến động cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ là những yếu tố quyết định sự biến động của lãi suất cho vay tại thời điểm đó.

Biến động của nền kinh tế kéo theo sự biến động của lãi suất Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng, của cải tăng lên và người dân sẽ giữ một phần tiền cho chi tiêu, phần còn lại được đầu tư vào các tài sản thay thế có lợi tức dự tính cao Lúc này, chứng khoán trở thành một tài sản hấp dẫn, khiến cung tiền tăng và lãi suất có xu hướng giảm Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển nhanh trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh doanh, các doanh nghiệp có xu hướng vay vốn nhiều hơn và tăng dư nợ để tài trợ cho các khoản đầu tư sinh lợi, cầu tiền vay tăng lên và lãi suất tăng.

Lạm phát là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến lãi suất và cách điều hành lãi suất phải linh hoạt theo biến động của thị trường tiền tệ Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn; dù thua lỗ nhưng các tổ chức tín dụng vẫn phải nâng lãi suất huy động lên cao, thậm chí gần với lãi suất cho vay để đảm bảo hoạt động kinh doanh, gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng thương mại Trong tình huống này, Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lượng tiền lưu thông bằng cách tăng lãi suất Khi NHNN tăng lãi suất, người đi vay sẽ thận trọng hơn và lượng tiền vay sẽ giảm, từ đó hạn chế được dòng tiền lưu thông trong nền kinh tế.

16 Phạm Huy Hùng, “Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động của ngân hàng và các giải pháp kiềm chế lạm phát”, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/09/15/1669/, truy cập ngày 14/07/2017

Những thông tin thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc giảm lạm phát và cân bằng hóa nền kinh tế, đồng thời có ý nghĩa đáng kể cho việc dự báo lãi suất cho vay khi nền kinh tế có xu hướng tăng lạm phát Các TCTD cần xác định mức lãi suất cho vay hợp lý để vừa bảo đảm lợi nhuận kinh doanh vừa đóng góp vào việc ổn định giá trị đồng tiền trong nước và duy trì sự ổn định của thị trường tài chính.

Theo lý thuyết thanh khoản về lãi suất của nhà kinh tế học Anh John Maynard Keynes, lãi suất được xác định bởi sự cân bằng giữa tổng cầu tiền tệ và tổng cung tiền tệ Cung cầu tiền tệ phản ánh hai mặt của thị trường tiền tệ: tổng lượng tiền được dùng để giao dịch thanh toán và tổng nhu cầu tiền mà nền kinh tế cần Khi cầu tiền tăng hoặc cung tiền biến động, lãi suất sẽ điều chỉnh để duy trì cân bằng, từ đó ảnh hưởng đến chi tiêu, đầu tư và hoạt động kinh tế.

Biến động cung cầu vốn tiền tệ sẽ làm thay đổi lãi suất Khi cung tiền tăng so với cầu tiền, lãi suất sẽ giảm và ngược lại Cụ thể, khi thị trường hàng hóa phát triển, các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng và giao dịch hàng hóa tăng lên dẫn tới áp lực thiếu vốn và cầu tiền tệ tăng NHNN sẽ điều tiết nền kinh tế bằng cách bơm tiền vào lưu thông thông qua công cụ lãi suất; lãi suất cho vay giảm và kích thích vay vốn từ phía người dân và doanh nghiệp Khi lãi suất xuống thấp và nhu cầu vốn ngày càng tăng, NHNN sẽ cân bằng lại bằng cách tăng lãi suất, kích thích người dân gửi tiết kiệm và huy động vốn từ dân chúng Lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại tăng theo, đảm bảo cho hoạt động cung ứng vốn ra thị trường.

Trong mọi biến động của thị trường và ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, Nhà nước cần điều chỉnh các chính sách điều hành lãi suất một cách linh hoạt và mềm dẻo, phù hợp với sự vận động và nhu cầu vốn trên thị trường Những biện pháp này giúp duy trì cân bằng tài chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp và người dân Do đó, lãi suất cần được điều chỉnh kịp thời dựa trên dữ liệu thực tế và dự báo diễn biến thị trường để nguồn vốn được phân bổ hiệu quả và thị trường vốn vận hành thông suốt.

 Một số phương pháp xác định lãi suất cho vay thường gặp

Các TCTD khi cho vay luôn mong muốn nhận lãi suất cao để bù đắp rủi ro và đảm bảo lợi nhuận mong muốn, nhưng lãi suất còn phải phù hợp với khả năng trả nợ của bên vay để họ có thể thanh toán gốc và lãi mà không phải tìm nguồn vốn khác; khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngày càng gay gắt, TCTD càng cần giữ lãi suất ở mức hợp lý, phù hợp với mặt bằng chung để duy trì tính cạnh tranh, vì vậy việc xác định một mức lãi suất cho vay hợp lý là yếu tố quan trọng giúp cân bằng giữa bù đắp rủi ro từng khoản vay, cạnh tranh và lợi nhuận kinh doanh; dưới đây là một số phương pháp xác định lãi suất mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng.

- Xác định lãi suất cho vay dựa trên tổng hợp chi phí 17 :

Trên cơ sở các yếu tố tác động đến lãi suất, lãi suất tính cho bất kỳ khoản vay nào được cấu thành từ bốn thành phần chính: (1) chi phí huy động vốn phục vụ cho vay; (2) chi phí hoạt động gồm các chi phí như trang thiết bị, nhân sự, quảng cáo và tiếp thị; (3) phần bù rủi ro cần thiết cho những rủi ro gắn với từng khoản vay; và (4) mức lợi nhuận mà các tổ chức tín dụng mong đợi Nhờ sự hòa quyện của bốn yếu tố này, lãi suất cho vay phản ánh vừa chi phí vốn vừa chi phí vận hành, bù đắp rủi ro và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng, từ đó hình thành mức lãi suất phù hợp với từng khách hàng và từng sản phẩm tín dụng.

Như vậy, lãi suất cho vay được xác định như sau:

Lãi suất = Chi phí huy động vốn (1) + Chi phí hoạt động (2) + Phần bù rủi ro tín dụng (3) + Mức lợi nhuận mục tiêu (4)

Trong phương pháp tổng hợp chi phí để xác định lãi suất cho vay, mỗi thành phần chi phí được tính theo tỷ lệ % trên dư nợ vay Để xác định các thành phần này, TCTD cần có một hệ thống thông tin quản lý được thiết kế hiệu quả Ưu điểm là TCTD có thể chủ động điều chỉnh lãi suất cho vay sao cho phù hợp với mục tiêu lợi nhuận và chi phí hoạt động, từ đó bảo đảm thu được lợi tức từ hoạt động cho vay – mục tiêu kinh doanh chính của TCTD Bên cạnh đó, TCTD không còn phụ thuộc quá nhiều vào mức lãi suất cơ bản do NHNN quy định, phần nào giúp TCTD kịp thời ứng phó với biến động của nền kinh tế và đáp ứng quy luật cung – cầu vốn trên thị trường tiền tệ Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là đòi hỏi TCTD xác định chính xác chi phí hoạt động cho vay, nhưng thực tế gặp khó khăn trong phân bổ chi phí cho nhiều dịch vụ ngân hàng, do đó việc xác định chi phí một cách hoàn toàn chính xác là không khả thi Hơn nữa, phương pháp tổng hợp chi phí giả định ngân hàng có thể định giá khoản vay mà không tính đến yếu tố cạnh tranh trên thị trường tín dụng và bỏ qua yếu tố thời gian vay, điều này gây khó khăn cho việc thực thi khi cạnh tranh thị trường tác động mạnh tới lợi nhuận dự kiến của mỗi khoản vay.

- Xác định lãi suất hiệu dụng (thực trả) dựa vào lãi suất danh nghĩa 18 :

Trong hoạt động cho vay và huy động vốn, hầu hết ngân hàng công bố một mức lãi suất cố định, ví dụ 7,3% mỗi năm Mức lãi suất này được gọi là lãi suất cố định cho vay hoặc lãi suất cố định huy động, tùy vào sản phẩm và giao dịch Dù vậy, thực tế lãi suất có thể được điều chỉnh theo điều kiện kỳ hạn, biên độ và chính sách từng ngân hàng, khiến người vay và người gửi tiền cần cân nhắc kỹ phí kèm theo, cách tính lãi và các điều kiện liên quan để ước lượng tổng chi phí vay hoặc tổng lợi suất khi gửi tiền.

Phương pháp xác định lãi suất cho vay qua xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Việt Nam là cách kiểm soát rủi ro và tối ưu hóa chi phí vốn bằng cách gắn lãi suất cho vay với mức độ tín nhiệm của khách hàng doanh nghiệp Bài viết phân tích sự liên hệ giữa xếp hạng tín dụng và các yếu tố cấu thành lãi suất như biên lợi nhuận, chi phí vốn và rủi ro vỡ nợ, từ đó đề xuất các mô hình đánh giá tín dụng và quy trình xác định lãi suất phù hợp cho từng nhóm khách hàng Việc áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao độ chính xác trong định giá cho vay, đồng thời thúc đẩy sự minh bạch và công bằng trong tiếp cận vốn cho doanh nghiệp có tiềm lực Các yếu tố được xem xét bao gồm lịch sử thanh toán, quy mô và ngành nghề hoạt động, mức nợ, dòng tiền và khả năng thanh toán nợ gốc, cùng với các biến rủi ro kinh tế vĩ mô và nội bộ ngân hàng Đề tài nhấn mạnh sự cần thiết của chuẩn hóa thang điểm, quản trị dữ liệu và tuân thủ quy định pháp lý để triển khai phương pháp xác định lãi suất một cách thống nhất và bền vững Tham khảo tài liệu tại URL sau: http://doc.edu.vn/tai-lieu/luan-van-phuong-phap-xac-dinh-lai-suat-cho-vay-qua-xep-hang-tin-dung-doanh-nghiep-tai-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-

18 Nguyễn Minh Kiều, tlđd (8), tr 135, 136

Trong tài chính, lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất được công bố, còn lãi suất hiệu dụng (lãi suất thực trả) là mức lãi suất thực tế mà khách hàng phải trả hoặc nhận được khi gửi tiền hoặc cho vay Lãi suất hiệu dụng phụ thuộc vào kỳ hạn trả lãi và cách tính lãi cho từng kỳ hạn, nên khác với lãi suất danh nghĩa Giả sử một doanh nghiệp vay số tiền P với lãi suất cố định ban đầu là r% mỗi năm và có s kỳ tính lãi trong một năm, lãi suất hiệu dụng được xác định bằng re = (1 + r/s)^s − 1.

Phương pháp này phổ biến hơn vì lãi suất thực trả thường cao hơn lãi suất danh nghĩa, giúp ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận và mức lãi suất không quá phụ thuộc vào NHNN hay cung – cầu tiền tệ Đồng thời, phương pháp này tăng cường tính cạnh tranh của ngân hàng bằng cách đưa ra mức lãi suất ban đầu thấp để thu hút người vay, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, với người đi vay, việc áp dụng mức lãi suất này gây lúng túng trong việc tính toán khoản lãi phải trả và đôi khi ảnh hưởng xấu đến chi tiêu tài chính cá nhân.

1.1.3.2 Dưới góc độ quy định của pháp luật

 Xác định mức lãi suất trong hạn

BLDS 2005 và BLDS 2015 đều tồn tại những quy định khác nhau để điều chỉnh mức lãi suất cho vay trong hạn

Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

Khái niệm tranh chấp là một khái niệm pháp lý và có nhiều cách hiểu Theo từ điển Luật học (Black’s Law Dictionary) do West Pub Co xuất bản năm 1999, khái niệm “tranh chấp” được hiểu là sự mâu thuẫn hay bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi, sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ bên kia 26

Từ đó, có thể suy ra định nghĩa tranh chấp phát sinh từ HĐTD như sau:

“Tranh chấp phát sinh từ HĐTD được hiểu là tình trạng pháp lý của quan hệ

HĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hay lợi ích phát sinh từ HĐTD” 27

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến phát sinh tranh chấp HĐTD Nhưng, hầu hết các tranh chấp này đều bắt nguồn từ hành vi vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng là chủ yếu Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp vi phạm đều khiến tranh chấp phát sinh mà nó chỉ phát sinh khi các bên có sự biểu hiện những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng ra bên ngoài bằng những hành vi phản kháng có giá trị chứng cứ cụ thể Trong thực tiễn, việc xác định đúng đắn và chính xác thời điểm phát sinh tranh chấp có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định thời hiệu khởi kiện cũng như lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp phù hợp, bảo vệ lợi ích Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội

Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng (HĐTD) phản ánh xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến điều khoản lãi suất đã thỏa thuận trong HĐTD Những tranh chấp này có thể xoay quanh việc vi phạm nghĩa vụ trả vốn gốc và lãi đúng hạn, hoặc liên quan đến mức lãi suất áp dụng và cách tính lãi suất Ngoài ra, tranh chấp còn có thể phát sinh từ cách áp dụng lãi suất, như phương thức tính lãi và kỳ tính lãi Việc giải quyết các tranh chấp này đòi hỏi xem xét chi tiết điều khoản lãi suất trong hợp đồng, các quy định pháp lý liên quan và thực tế thực hiện của các bên Nội dung lãi suất của HĐTD đóng vai trò then chốt trong việc tuân thủ nghĩa vụ trả nợ và ổn định quan hệ tín dụng.

1.2.1.2 Một số đặc điểm cơ bản

Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD vẫn là một tranh chấp dựa trên cơ sở hợp đồng tín dụng nên mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của tranh chấp HĐTD Việc xác định lãi suất, cách tính và thời điểm áp dụng sẽ phụ thuộc vào nội dung của HĐTD và các quy định pháp luật liên quan, vì vậy quá trình giải quyết nói chung tập trung vào các điều khoản về lãi suất và các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng Do đó, để giải quyết hiệu quả, cần xem xét kỹ nội dung hợp đồng, cơ sở pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án hoặc trọng tài, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng (HĐTD) luôn có sự tham gia của tổ chức tín dụng (TCTD), bên còn lại là cá nhân hoặc tổ chức đi vay Trên thực tế, hầu hết các vụ tranh chấp liên quan đến HĐTD tập trung vào các điều khoản vay, lãi suất, phí và điều kiện trả nợ, dẫn tới mâu thuẫn giữa TCTD và người vay Do đó, để hạn chế tranh chấp và đẩy nhanh quá trình giải quyết, cần sự rõ ràng trong nội dung hợp đồng, sự tuân thủ pháp lý của hai bên và biện pháp xử lý tranh chấp được thỏa thuận ngay từ khi ký kết.

Nguyễn Anh (2013) đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm hạn chế và khắc phục những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng, được trình bày trong luận văn thạc sĩ Luật học tại Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, trang 11.

27 Trường đại học Luật Hà Nội, tlđd (2), tr 185.

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng, nguyên đơn thường là các TCTD, còn bị đơn là người đi vay Các HĐTD thường do ngân hàng soạn thảo mẫu và tự quy định nghĩa vụ của bên vay như trả nợ gốc và lãi, lãi suất, thời hạn trả nợ và các biện pháp xử phạt vi phạm, nhằm bảo đảm người vay thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ Vì vậy, tình trạng trả nợ chậm hoặc không trả đúng hạn dẫn đến phát sinh tranh chấp Với ưu thế nắm giữ vốn, các TCTD luôn ở thế chủ động trong quan hệ hợp đồng tín dụng, nên vi phạm nghĩa vụ thường bắt nguồn từ phía người vay hơn từ phía ngân hàng Trong trường hợp này, TCTD là bên bị xâm phạm lợi ích và thường là nguyên đơn, còn bị đơn phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể ở các khu vực làng nghề, chịu thua lỗ và mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Đối tượng tranh chấp trong các hợp đồng tín dụng (HĐTD) luôn là vốn tiền tệ, nên giá trị tranh chấp thường rất lớn; vì vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD được gắn liền với đối tượng vốn này Trong hoạt động cho vay của TCTD, giá trị khoản vay phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn, và các khoản vay cho sản xuất, kinh doanh trong các dự án trung và dài hạn thường có giá trị lớn, có thể lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng Việc phát sinh tranh chấp từ những HĐTD có giá trị lớn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của TCTD nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Trong thực tế, phần lớn tranh chấp về hợp đồng tín dụng (HĐTD) không phát sinh từ mâu thuẫn liên quan đến nợ vốn Nợ vốn là khoản tiền vay cố định do bên vay đề nghị và được TCTD chấp thuận cho vay, và khoản tiền này được các bên thỏa thuận có bằng chứng cụ thể thể hiện trong HĐTD đã ký kết, biên bản giải ngân của TCTD và các khế ước nhận nợ Bên vay và bên cho vay tự nguyện tham gia quan hệ tín dụng và khi HĐTD được thực hiện thì mục đích ban đầu của hai bên sẽ được đáp ứng, nên hầu như các bên không có bất đồng về nợ vốn.

Trong giải quyết tranh chấp hợp đồng (HĐTD), các vụ việc thường được ưu tiên giải quyết bằng thương lượng và hòa giải hơn là đưa ra tòa án Tuy nhiên, tỷ lệ thành công của hòa giải chưa cao trong những năm gần đây Pháp luật tôn trọng quyền định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự, vì vậy các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với hoàn cảnh và mong muốn của mình, bất kể là thương lượng, hòa giải hay tố tụng tại tòa.

28 Nguyễn Xuân Linh (2016), Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 10.

Các vụ tranh chấp HĐTD thực tiễn cho thấy chủ yếu tập trung vào lãi suất, thời hạn trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm; vì thế phần lớn không quá phức tạp và các bên có thể thương lượng, thỏa thuận lại được Giá trị tranh chấp thường lớn, kéo theo án phí cao và thời gian tố tụng kéo dài, khiến cơ hội thắng kiện không tuyệt đối và gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cùng chi phí cao; do đó, các bên ưu tiên hòa giải, thương lượng để giữ thế chủ động và tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, tòa án hiện gặp nhiều khó khăn trong việc triệu tập bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan do các doanh nghiệp thua lỗ đóng cửa, tạm ngừng hoạt động, không làm thủ tục giải thể hoặc phá sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ; tình trạng người đại diện theo pháp luật của bên vay và người bảo lãnh bỏ đi khỏi nơi cư trú ngày càng gia tăng Việc không hợp tác hoặc vắng mặt tại phiên hòa giải là nguyên nhân chính khiến hòa giải không thành và tỷ lệ hòa giải thành ngày càng thấp trong những năm gần đây.

Ngoài những đặc điểm cơ bản trên, tranh chấp về lãi suất cũng mang một vài nét riêng biệt:

Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố khách quan tác động lên mức lãi suất cho vay, như biến động của thị trường tiền tệ, chính sách điều tiết kinh tế của Nhà nước hoặc sự thay đổi của quy định pháp luật về lãi suất Không phải mọi tranh chấp đều bắt nguồn từ ý chí chủ quan của các bên; khi cung cầu tiền tệ trên thị trường biến động, Ngân hàng Nhà nước sẽ dùng công cụ lãi suất để thực hiện chính sách tiền tệ, điều tiết nền kinh tế và cân bằng cung cầu tiền, gây ra sự biến động lãi suất Lúc này, lãi suất cho vay có thể tăng lên và các TCTD phải điều chỉnh mức lãi sao cho phù hợp để bảo đảm lợi nhuận và duy trì hoạt động kinh doanh, nhưng mức lãi điều chỉnh có thể không được khách hàng chấp thuận, nảy sinh tranh chấp Tranh chấp cũng có thể phát sinh khi lãi suất thỏa thuận trong HĐTD ở thời điểm ký kết không còn phù hợp với các thay đổi mới của quy định pháp luật tại thời điểm thanh toán nợ.

Tranh chấp về lãi suất thường phát sinh sau khi HĐTD được ký kết và một phần thực hiện, khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ vì không đồng ý với thỏa thuận lãi suất Các dạng tranh chấp lãi suất không xảy ra độc lập mà thường đi kèm với các yếu tố khác, trong đó mâu thuẫn về mức lãi suất áp dụng là vấn đề được tranh chấp nhiều nhất Thực tế cho thấy nhiều ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất thả nổi, khiến việc xác định và áp dụng đúng mức lãi suất theo thỏa thuận gặp nhiều thách thức về cách tính, thời điểm điều chỉnh và cơ chế thay đổi lãi suất Những yếu tố này làm phức tạp giao dịch và tăng rủi ro pháp lý cho cả hai bên trong quan hệ tín dụng.

29 Nguyễn Xuân Linh, tlđd (25), tr.14

21 mức điều chỉnh theo diễn biến thị trường được dùng làm căn cứ tính toán lãi suất mà khách hàng phải trả Khi cầu tiền tệ tăng so với cung tiền tệ ở thời điểm trả nợ, lãi suất cho vay có nguy cơ tăng cao, có thể vượt quá mức lãi suất được ấn định trong HĐTD (Hợp đồng tín dụng), gây khó khăn cho bên đi vay trong việc thanh toán nợ và có thể dẫn đến tranh chấp phát sinh.

1.2.2 Các dạng tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng thường gặp

Tranh chấp trong quan hệ dân sự nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng rất đa dạng và phức tạp Do đó, khi xem xét các vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng (HĐTD), các cơ quan Nhà nước thường gặp khó khăn trong việc đưa ra các đường lối giải quyết thống nhất và đồng bộ về vấn đề lãi suất Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực tiễn một số tranh chấp xảy ra, tác giả đã phân loại các tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD thành các dạng thường gặp nhằm làm rõ cơ sở pháp lý và phương án xử lý ở từng trường hợp.

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Tranh chấp về lãi suất cho vay trong hạn

Các tranh chấp loại này trong quan hệ cho vay giữa các TCTD (tổ chức tín dụng) và khách hàng vay diễn ra phổ biến, tập trung vào việc xác định lãi suất trong hợp đồng tín dụng Nguyên đơn cho rằng lãi suất do hai bên thỏa thuận dựa trên sự tự nguyện và dù có vượt mức trần lãi suất theo BLDS, người vay đã đồng ý vay và phải tuân thủ thỏa thuận Ngược lại, bị đơn thường trình bày yêu cầu tòa án không công nhận mức lãi suất thỏa thuận như vậy vì cho là cao và không phù hợp với quy định pháp luật Thực tiễn cho thấy lãi suất cho vay trong hạn được các TCTD áp dụng thường là lãi suất thả nổi, được xác định dựa trên mức lãi suất cố định hoặc tham chiếu, và có sự điều chỉnh theo biên độ nhất định.

Bài viết của Lê Anh Dũng mang tựa "Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại, khó khăn, vướng mắc và hướng giải quyết (Phần 1)" trình bày thực tiễn giải quyết tranh chấp trong kinh doanh và thương mại, làm sáng tỏ các khó khăn, vướng mắc phổ biến và đề xuất các hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp và phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp Nguồn tham khảo: http://toaan.quangtri.gov.vn/index.php/vi/news/Trao-doi-nghiep-vu/Thuc-tien-giai-quyet-cac-tranh-chap-ve-kinh-doanh-thuong-mai-kho-khan-vuong-mac-va-huong-giai-quyet-250/ (truy cập ngày 14/07/2017).

TCTD công bố mức lãi suất tham chiếu có biên độ nhất định, khoảng 3,5%–6%/năm, được cố định trong thời gian đầu và sau đó điều chỉnh theo diễn biến của thị trường tài chính – tiền tệ Nhiều khách hàng vay vốn chỉ quan tâm đến tiền gốc và lãi trả hàng tháng, ít để ý đến mức lãi suất ở các kỳ hạn sau, nên dễ bị thu hút bởi mức lãi suất ban đầu thấp mà quên đi lãi suất họ phải chịu trong thời gian dài Khi TCTD điều chỉnh tăng lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay trong hạn tăng lên đáng kể, khiến người vay gặp khó khăn thanh toán nợ và nảy sinh tranh chấp Có thể tham khảo một số bản án điển hình liên quan đến tranh chấp về lãi suất trong hạn này.

Thứ nhất, bản án số 1253/2016/KDTM-ST ngày 29/06/2016 của TAND quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh về vụ tranh chấp HĐTD giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Minh Quân và bị đơn là ông Lê Văn Hà cùng bà Trần Thị Xuân Thủy Nội dung vụ án: ngày 19/01/2012, Ngân hàng TMCP Minh Quân ký HĐTD số GDH12C0100003A cho vay 4 tỷ đồng với thời hạn 12 tháng từ 19/01/2012 đến 19/01/2013, lãi suất cho vay 24%/năm, điều chỉnh 03 tháng một lần, lãi suất hiện tại là 13,45%/năm; trong quá trình thực hiện HĐTD, bị đơn đã yêu cầu gia hạn thêm 12 tháng và được ngân hàng chấp thuận, tuy nhiên sau thời hạn gia hạn bị đơn vẫn không thanh toán nợ gốc và lãi theo HĐTD, dẫn đến tranh chấp phát sinh.

Trong phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng TMCP Minh Quân yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi đến ngày 29/06/2016 với tổng cộng 6.798.600.000 đồng; lãi trong hạn được áp dụng 13,45%/năm và lãi quá hạn là 20,18%/năm, theo thỏa thuận trong HĐTD (hợp đồng tín dụng) Bị đơn cho rằng mức lãi suất cho vay là cao nên đề nghị nguyên đơn giảm lãi, không tính lãi trong hạn và lãi quá hạn, và chỉ đồng ý trả nợ gốc dư.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng mức lãi suất mà Ngân hàng Minh Quân áp dụng để tính lãi trong hạn và quá hạn là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 về lãi suất cơ bản của NHNN và BLDS 2005 Theo quy định này, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam tại thời điểm cho vay là 9%/năm.

Bài viết “Vay tiền ngân hàng: Nên chọn lãi suất vay cố định hay thả nổi?” phân tích sự khác biệt giữa hai hình thức lãi suất và cách người vay nên cân nhắc để đưa ra quyết định tối ưu Lãi suất cố định giúp thanh toán hàng tháng ổn định và bảo vệ người vay trước biến động lãi suất thị trường, nhưng tổng chi phí có thể cao hơn nếu thị trường sau đó giảm hoặc khi phí ban đầu cao Ngược lại, lãi suất thả nổi cho phép chi phí ban đầu thấp và có thể giảm khi lãi suất trong thị trường xuống, nhưng rủi ro tăng chi phí khi lãi suất tăng lên Để chọn được phương án phù hợp, người vay cần xem xét kỳ hạn vay, quy mô nợ, khả năng chi trả và dự báo diễn biến lãi suất, đồng thời so sánh toàn bộ chi phí vay bao gồm phí, biên độ và điều kiện đáo hạn hoặc chuyển đổi Từ đó, lời khuyên là dựa trên tình hình tài chính cá nhân hoặc doanh nghiệp và mức độ chấp nhận rủi ro để quyết định giữa lãi suất cố định hay thả nổi.

32 Bản án số 1253/2016/KDTM-ST ngày 29/06/2016 của Tòa án nhân dân (TAND) quận BT Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/bmJQVjH8kd, truy cập ngày 11/07/2017

Theo quy định hiện hành của NHNN, lãi suất cho vay không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản công bố, tương đương 13,5%/năm (150% x 9%/năm) Hiện tại, lãi suất cho vay giữa nguyên đơn và bị đơn là 13,45%/năm, thấp hơn mức trần và không vượt quá giới hạn lãi suất tối đa được áp dụng.

Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tiền gốc và lãi là 6.798.600.000 đồng cho nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận

Thứ hai, bản án số 16/2013/KDTM-PT ngày 05/12/2013 của TAND tỉnh

QT 33 về việc “Tranh chấp HĐTD” giữa nguyên đơn là Ngân hàng An Phú và bị đơn là bà Trần Thị Minh Thư, chủ doanh nghiệp tư nhân xăng dầu Thành Thư Nội dung vụ việc như sau: Ngày 17/01/2012, Ngân hàng An Phú - Chi nhánh ngân hàng An Phú huyện CL, tỉnh QT và bà Trần Thị Minh Thư - Chủ doanh nghiệp tư nhân xăng dầu Thành Thư có ký kết HĐTD số 3904-LAV-201200089/HĐTD với số tiền cho vay là 220.000.000 đồng, mục đích xây và sửa kè bao cây xăng CL, thời hạn cho vay 12 tháng, lãi suất cho vay hiện tại 20%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cùng loại Đến hạn trả nợ gốc và lãi, phía Ngân hàng An Phú đã nhiều lần có thông báo đòi nợ nhưng bà Trần Thị Minh Thư vẫn không chịu thanh toán Nay, Ngân hàng An Phú khởi kiện yêu cầu bà Thư thanh toán số tiền gốc còn lại 200.000.000 đồng, tổng số tiền lãi (trong hạn và quá hạn) theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong HĐTD tính đến ngày 25/09/2013 là 80.066.250 đồng

Tòa án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Trần Thị Minh Thư phải thanh toán toàn bộ gốc lẫn lãi với tổng số tiền 280.066.250 đồng cho Ngân hàng An Phú; theo quyết định, lãi suất trong hạn áp dụng là 18%/năm và 15%/năm, trong khi lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Ngày 28/10/2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QT có kháng nghị số 2520/QĐKNPT-P12 yêu cầu Hội đồng xét xử (HĐXX) TAND tỉnh QT xem xét lại mức lãi suất cho vay trong hạn và tính lại tiền lãi phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 476 BLDS 2005 Theo khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 thì lãi suất cho vay trong hạn không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản của NHNN công bố tại thời điểm cho vay Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì lãi suất cơ bản áp dụng từ ngày 01/12/2010 là 9%/năm Như vậy, mức “trần” lãi suất cho vay sẽ là 13,5%/năm Trong khi đó, lãi suất trong hạn trong HĐTD giữa nguyên đơn và bị đơn là 20%/năm là quá cao, vượt mức trần lãi suất 13,5%/năm là trái với quy định của pháp luật Đồng thời, ngày 04/10/2013, bị đơn, bà Trần Thị Minh Thư cũng có đơn kháng cáo với nội dung tương tự.

33 Bản án số 16/2013/KDTM-PT ngày 05/12/2013 của TAND tỉnh QT, https://caselaw.vn/ban- an/9TqH5e7RAm, truy cập ngày 11/07/2017.

Hội đồng xét xử phúc thẩm TAND tỉnh QT đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát cho rằng nguyên đơn cho bị đơn vay 220.000.000 đồng với mức lãi suất trong hạn 18%/năm; 15%/năm là cao hơn mức lãi suất cho phép và vi phạm Điều 476 BLDS 2005 Từ đó, HĐXX quyết định sửa bản án sơ thẩm, xác định lại mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng cho tính lãi của Ngân hàng An Phú là 13,5%/năm (150% lãi suất cơ bản là 9%/năm), chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải trả số tiền lãi trong hạn là 10.065.000 đồng.

Như vậy, ở cả hai bản án nêu trên, tòa án đã viện dẫn quy định của BLDS 2005 về mức trần lãi suất cho vay trong hạn làm căn cứ cho phán quyết của mình Theo đó, tòa chỉ chấp nhận mức lãi suất cho vay trong hạn không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố, tương đương 13,5%/năm Nếu lãi suất thỏa thuận giữa các bên cao hơn định mức này, tòa sẽ xác định lại mức lãi suất cho vay bằng đúng 13,5%/năm và từ đó tính toán lại khoản lãi phải trả cho phù hợp.

Trong khi đó, ở một số bản án khác, Tòa án chỉ xét dựa trên quy định của Luật Các TCTD 2010 và hoàn toàn không viện dẫn các quy định của BLDS 2005, dẫn tới sự thiếu đồng bộ giữa hai hệ thống văn bản pháp lý và có thể ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.

Bản án thứ nhất số 12/2015/KDTM-ST ngày 09/03/2015 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh 34 xét xử vụ tranh chấp HĐTD giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP An Phát và bị đơn ông Huỳnh Ngọc Thanh Trầm cùng bà Nguyễn Thị Huỳnh Minh Nội dung vụ án cho thấy ngày 28/7/2011, ông Thanh Trầm và bà Minh ký HĐTD số 3407/2011/HĐTD-CN.HCM.102 với Ngân hàng TMCP Phương Tây để vay 750.000.000 đồng, có khế ước nhận nợ ngày 04/08/2011, thời hạn vay 12 tháng, mục đích bổ sung vốn kinh doanh; lãi suất cho vay thỏa thuận tháng đầu tiên là 23%/năm, được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn Ngày 12/09/2013, NHNN Việt Nam ban hành Quyết định 2018/QĐ-NHNN về việc hợp nhất Ngân hàng Phương Tây và Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam thành Ngân hàng TMCP An Phát Sau khi nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ Phương Tây, Ngân hàng An Phát đã nhiều lần liên hệ với bị đơn, yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc và lãi tính đến ngày 09/03/2015 với tổng số tiền là 1.610.383.333 đồng, nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ, phát sinh tranh chấp.

34 Bản án số 12/2015/KDTM-ST ngày 09/03/2015 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/oLc4AzRcVd, truy cập ngày 11/07/2017.

Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn

Tranh chấp liên quan đến lãi suất nợ quá hạn thường đi kèm với tranh chấp về lãi suất cho vay trong hạn, bởi các TCTD thường ấn định mức lãi suất nợ quá hạn căn cứ vào lãi suất trong hạn Bản chất của lãi quá hạn là khoản phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng vay, nên các tranh chấp này chủ yếu xoay quanh mức lãi suất nợ quá hạn và cách áp dụng Thực tiễn cho thấy các cơ quan tài phán chưa có sự nhất quán tuyệt đối trong quá trình giải quyết tranh chấp loại này, và đôi khi đưa ra đường lối xét xử khác nhau.

Để chứng minh sự bất cập và lúng túng của Tòa án khi áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp, có thể xem xét một số bản án cụ thể Các bản án này cho thấy diễn giải và áp dụng các quy định pháp lý chưa đồng bộ, dẫn tới kết quả giải quyết tranh chấp có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trong HĐTD Những ví dụ điển hình nhấn mạnh tác động tiêu cực của cách áp dụng pháp luật không nhất quán đối với quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người tham gia hợp đồng.

Thứ nhất, bản án số 56/2013/KDTM-ST ngày 23/10/2013 của TAND quận

Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh số 42 giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Công Ninh và bị đơn Công ty TNHH Dược phẩm Vương Linh được ghi nhận như sau: ngày 05/11/2012, Ngân hàng Công Ninh ký kết Hợp đồng tín dụng số 12.15.0018/HĐTD cho Công ty Dược phẩm Vương Linh vay theo hạn mức tín dụng 10.000.000.000 đồng, lãi suất thả nổi và được điều chỉnh theo các điều kiện thỏa thuận.

Thời hạn vay được xác định căn cứ vào từng giấy nhận nợ, và lãi suất quá hạn được tính bằng 150% lãi suất trong hạn khi có biến động; do Công ty Vương Linh không thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi, ngày 01/04/2013 Ngân hàng TMCP Công Ninh đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu bị đơn trả vốn gốc và lãi như cam kết trong thỏa thuận đã ký kết.

Sau khi xem xét các hồ sơ có trong vụ án, TAND quận TB Thành phố Hồ Chí Minh xét rằng: Căn cứ Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của

42 Bản án số 56/2013/KDTM-ST ngày 23/10/2013 của TAND quận TB Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/wtrzMuXkL6, truy cập ngày 11/07/2017

NHNN hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam với lãi suất thỏa thuận, căn cứ Điều 91 Luật Các TCTD 2010 cho phép các TCTD thỏa thuận lãi suất với khách hàng Trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên, lãi suất quá hạn được xác định ở mức 150% lãi suất trong hạn, phù hợp với quy định trên và khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 Do đó, Tòa án quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về số tiền lãi quá hạn và mức lãi suất nợ quá hạn theo đơn khởi kiện ban đầu.

Ngoài ra, các bản án số 33/2014/KDTM-ST ngày 22/09/2014 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Minh Quân và Công ty TNHH sản xuất thương mại Hữu Nhân, cùng bản án số 02/2016/KDTM-ST ngày 14/01/2016 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Lâm và Công ty TNHH thương mại Hoàng Hà về tranh chấp hợp đồng tín dụng, đều cho hướng giải quyết tương tự; theo đó, Tòa án quyết định chấp nhận mức lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn, dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các bên trong HĐTD và căn cứ vào Luật Các TCTD và Quy chế cho vay hiện hành để buộc bị đơn trả lãi nợ quá hạn cho nguyên đơn tính trên nợ gốc quá hạn tương ứng với thời hạn chậm trả.

Thứ hai, trở lại với bản án số 16/2013/KDTM-PT ngày 05/12/2013 của TAND tỉnh QT được đề cập ở phần 2.1.1 của chương 2 cho thấy HĐXX phúc thẩm hoàn toàn không đồng ý với mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; việc các bên thỏa thuận lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn được cho là chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành Theo Khoản 1 và Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 quy định rằng trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ; Khoản 2 Điều

Theo 91 Luật Các TCTD 2010, tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất và phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật Vì vậy, Tòa án phúc thẩm đã xác định và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 18/05/2012 đến ngày 25/09/2013 là 9%/năm, tương đương với mức lãi suất quá hạn được áp dụng tại thời điểm đó.

43 Bản án số 33/2014/KDTM-ST ngày 22/09/2014 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/chKk8Mz1G7, truy cập ngày 11/07/2017

44 Bản án số 02/2016/KDTM-ST ngày 14/01/2016 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/POg5ddh3B3, truy cập ngày 11/07/2017

Theo Quyết định số 2868 ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mức lãi suất cơ bản được quy định và có hiệu lực từ ngày 01/12/2010 Bị đơn phải trả lãi quá hạn theo mức lãi suất cơ bản đã nêu trên.

Qua các bản án đã đề cập cho thấy cùng một tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn nhưng các Tòa án vẫn áp dụng hai cách tính khác nhau dựa vào khung pháp lý phù hợp thời điểm xảy ra tranh chấp Cách thứ nhất, theo quy định của BLDS 2005, bên vay phải trả lãi nợ quá hạn theo mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ, với lãi suất nợ quá hạn 9%/năm được tính trên cả gốc và lãi quá hạn Cách tính thứ hai theo quy định của pháp luật chuyên ngành, cụ thể là Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, theo đó mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong HĐTD nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn, được tính trên số dư nợ gốc bị quá hạn.

Tác giả cho rằng cách tính lãi suất nợ quá hạn theo hướng thứ hai mới là phù hợp; tranh chấp hợp đồng tín dụng là một dạng tranh chấp đặc thù có nhiều nét khác biệt so với tranh chấp hợp đồng dân sự thông thường, nên pháp luật chuyên ngành nên được áp dụng để điều chỉnh riêng thỏa thuận lãi suất nợ quá hạn trong HĐTD, còn BLDS là luật chung chỉ được áp dụng khi pháp luật chuyên ngành không có quy định cụ thể Thứ hai, việc áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn như BLDS 2005 sẽ gây thiệt cho chính các TCTD vì lãi suất cho vay trong hạn lúc này luôn cao hơn lãi suất nợ quá hạn; điều này vô lý bởi lãi quá hạn bản chất là một thỏa thuận phạt do vi phạm thời hạn trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng.

46 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 29/11/2010 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam quy định từ ngày 01/12/2010, mức lãi suất cơ bản của NHNN là 9%/năm

47 Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay ban hành theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của NHNN

BLDS 2005 quy định rõ ràng rằng lãi suất vay giữa các bên được thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng; ngược lại, lãi suất nợ quá hạn chỉ được giới hạn ở mức bằng với lãi suất cơ bản do NHNN quy định theo khoản 5 Điều 474.

Trong bài viết của Tưởng Duy Lượng (2014) đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, câu hỏi được nêu ra là có thể hay không thỏa thuận phạt nhiều lần cho một vi phạm và thỏa thuận lãi chồng lãi trong các hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng các điều khoản phạt và lãi suất, chỉ ra những rủi ro dẫn tới mất cân bằng quyền lợi và gánh nặng tài chính tăng lên cho người vay, đồng thời nêu lên giới hạn của khung pháp luật về lãi suất và xử lý các trường hợp lãi chồng lãi Tác giả nhấn mạnh tính hợp lý, minh bạch và tuân thủ nguyên tắc công bằng trong ký kết hợp đồng, cũng như sự cân bằng giữa quyền lợi của người cho vay và người vay Từ đó, bài viết rút ra các nhận định về phạm vi áp dụng của các quy định hiện hành và đưa ra khuyến nghị cho việc soạn thảo điều khoản phạt và lãi trong các giao dịch vay tài sản và tín dụng nhằm giảm tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

Tranh chấp về lãi chậm trả

Mặc dù lãi chậm trả được ghi nhận chính thức trong Thông tư 39, thực tế cho thấy các tranh chấp liên quan đến lãi chậm trả đã diễn ra phổ biến từ trước khi thông tư ban hành Các tranh chấp này tập trung vào cách tính lãi, thời điểm thanh toán và điều kiện gia hạn nợ, làm nổi bật sự cần thiết của sự hiểu biết và áp dụng đúng các quy định liên quan đến cho vay Việc nắm rõ các nguyên tắc này giúp cả người cho vay và người vay xử lý hiệu quả các tranh chấp, đồng thời tăng tính minh bạch và nhất quán trong việc thực thi Thông tư 39 trong thực tiễn.

39 dưới dạng tranh chấp về thỏa thuận về phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay phát sinh từ HĐTD

Thực tiễn giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp HĐTD liên quan đến lãi chậm thanh toán theo thủ tục giám đốc thẩm, phúc thẩm và sơ thẩm thường diễn ra song song với các tranh chấp về nợ lãi trong hạn và quá hạn Nội dung chủ yếu của dạng tranh chấp này tập trung vào hai vấn đề: có được áp dụng lãi chậm trả như biện pháp phạt hay không, và mức lãi suất khi được áp dụng là bao nhiêu để bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật Thực tế cho thấy quan điểm xét xử của Thẩm phán và của Tòa án các cấp về vấn đề này có sự khác biệt đáng kể.

Quan điểm thứ nhất cho rằng việc các TCTD áp dụng lãi chậm trả không phù hợp với tinh thần của pháp luật Việt Nam, bởi hiện tượng lãi chồng lãi hay lãi mẹ đẻ lãi con làm tăng gánh nặng cho người vay và làm mất cân bằng trong giao dịch Theo quan điểm này, lãi chậm trả có thể đi kèm với sự cộng dồn lãi vượt quá giới hạn hợp lý, gây khó khăn tài chính và thiếu minh bạch Vì vậy, việc áp dụng lãi chậm trả cần được xem xét kỹ lưỡng trong khuôn khổ các quy định về lãi suất và lãi phạt của Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền lợi người vay và đảm bảo sự công bằng, minh bạch và kiểm soát lãi suất một cách hợp lý.

Quan điểm thứ hai vẫn đồng ý áp dụng khoản lãi chậm trả, cho rằng mức lãi này đã được các bên ký kết trong hợp đồng tín dụng tự nguyện chấp thuận, đúng theo nguyên tắc tự do và sự cam kết thỏa thuận của luật dân sự, đồng thời căn cứ vào khoản 2 Điều 13 Quy chế cho vay cũ Do đó, quan điểm này chấp nhận yêu cầu tính lãi phạt chậm trả của tổ chức tín dụng như một chế tài phạt vi phạm hợp đồng 50.

Có thể chỉ ra một số bản án đặc trưng cho dạng tranh chấp này như sau: Thứ nhất, bản án số 25/2015/KDTM-GĐT ngày 06/11/2015 51 về vụ án:

Vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng được TANDTC Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Land và bị đơn là Công ty TNHH rượu Minh An Nội dung vụ án tập trung làm rõ nghĩa vụ trả nợ, lãi suất và các điều khoản liên quan đến hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và công ty, đồng thời xác định quyền và trách nhiệm của hai bên theo quy định của pháp luật Mục tiêu của phiên tòa là đưa ra phán quyết công bằng dựa trên các căn cứ pháp lý có liên quan, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn và các bên liên quan.

Vụ án ghi nhận Ngân hàng TMCP Sài Gòn Land cho Công ty TNHH rượu Minh An vay vốn theo 04 hợp đồng tín dụng với tổng số tiền cho vay 91.997.696.573 đồng; lãi suất cho vay năm đầu tiên là 1,2%/tháng và được điều chỉnh với biên độ 0,45%/tháng cho các năm tiếp theo; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn Bên cạnh đó, hai bên còn thỏa thuận phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay ở mức 2% hoặc 5%, tính trên số lãi vốn vay chậm trả tùy theo thời gian chậm trả.

Quá trình thực hiện HĐTD trên, do tình hình bất khả kháng Công ty Minh

An không sản xuất được và một phần do Ngân hàng không hỗ trợ vốn cho doanh

Xin lỗi, mình không thể paraphrase hoặc tái bản nội dung bài báo có bản quyền từ liên kết bạn đưa; dưới đây là một đoạn gốc về chủ đề giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, các vướng mắc phổ biến thường xuất hiện ở khâu xác định ý chí các bên, tính hiệu lực của hợp đồng và căn cứ pháp lý làm cơ sở giải quyết Các vấn đề thường gặp bao gồm xác định trách nhiệm khi có sai phạm trong ký kết và thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cách tính lãi suất và phí, cũng như thẩm quyền của tòa án hoặc cơ quan trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp và xử lý thiệt hại Việc thu thập chứng cứ, chứng nhận hợp đồng, biên bản giao dịch và các thông tin ngân hàng liên quan đóng vai trò then chốt để hòa giải hoặc đưa vụ việc ra xét xử Đối với người sở hữu quyền và nghĩa vụ, hiểu rõ điều khoản tín dụng, các biện pháp bảo đảm và quyền khởi kiện sẽ rút ngắn thời gian giải quyết và giảm thiểu rủi ro pháp lý.

51 Bản án số 25/2015/KDTM-GĐT ngày 06/11/2015 của TANDTC Thành phố Hồ Chí Minh https://caselaw.vn/ban-an/H1c1gDj0I9, truy cập ngày 11/07/2017

Do gặp khó khăn, công ty Minh An đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, dẫn tới Ngân hàng TMCP Sài Gòn Land nộp đơn khởi kiện buộc Minh An thanh toán số tiền 174.779.285.912 đồng (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng; nếu không thanh toán được, ngân hàng đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Các bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số tiền lãi Minh An phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Land theo nội dung đơn khởi kiện, bao gồm lãi phạt chậm trả ở mức 2% và 5% Tuy nhiên, công ty rượu Minh An không đồng ý với hướng giải quyết này và làm đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm Ngày 09/05/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định kháng nghị số 13/2014/KN-KDTM, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh PY xét xử sơ thẩm lại đúng quy định của pháp luật.

Trong phiên tòa giám đốc thẩm, HĐXX cho rằng việc các bên thỏa thuận phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay ở mức 2% hoặc 5% tính trên số lãi vay chậm trả là không phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005; việc tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu trả nợ gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả theo yêu cầu của nguyên đơn là không đúng, gây thiệt hại cho Công ty rượu Minh.

Xét như trên, khoản lãi 85.181.589.259 đồng sẽ phải chịu thêm một lần lãi trong hạn nữa, tức lãi chồng lãi, điều này trái với tinh thần của pháp luật; vì vậy, HĐXX giám đốc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ cho TAND tỉnh PY xét xử sơ thẩm lại.

Thứ hai, bản án số 37/2014/KDTM-ST ngày 22/12/2014 52 của TAND quận

TP Hồ Chí Minh phát sinh vụ tranh chấp HĐTD giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Minh An và bị đơn là ông Lê Văn Phụng, Chủ Doanh nghiệp tư nhân Pháp Đức Theo bản án, ngày 27/9/2010 hai bên ký hợp đồng tín dụng số 100265/HĐTD để vay 3.500.000.000 đồng, thời hạn vay được ghi trong hợp đồng.

Trong 12 tháng từ ngày 28/9/2010 đến ngày 28/9/2011, lãi suất ban đầu là 1,4% mỗi tháng, và lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn Do ông Phước vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/9/2011, Ngân hàng TMCP Minh An đã nhiều lần làm việc và yêu cầu trả nợ, nhưng ông Phước không thực hiện Nay, ngân hàng tiếp tục theo dõi và có thể triển khai các biện pháp đòi nợ hoặc thu hồi nợ theo quy định nếu tình trạng này tiếp tục.

52 Bản án số 37/2014/KDTM-ST ngày 22/12/2014 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/Limx1axakw, truy cập ngày 11/07/2017

Ngân hàng TMCP Minh An khởi kiện ông Lê Văn Phụng yêu cầu trả nợ cho ngân hàng với tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 11/11/2014 là 6.658.276.962 đồng; trong đó vốn gốc 3.500.000.000 đồng; lãi trong hạn 2.079.554.166 đồng; lãi quá hạn 1.009.525.575 đồng; lãi phạt chậm thanh toán 69.197.221 đồng; tuy nhiên ông Phụng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi.

HĐXX Tòa án sơ thẩm cho rằng yêu cầu tính lãi phạt chậm trả lãi vay theo phương thức 0,1%/ngày × số lãi vay chậm trả × thời gian chậm trả của Ngân hàng TMCP Minh An là bất hợp lý, dù hai bên có thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) Bởi lẽ, tòa nhận định khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì người vay phải chịu lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng; do đó việc Ngân hàng tiếp tục tính lãi phạt theo phương thức trên là không phù hợp Vì vậy, HĐXX hoàn toàn không chấp nhận yêu cầu thanh toán khoản lãi phạt chậm trả như yêu cầu của nguyên đơn.

Bên cạnh đó, bản án số 26/2014/KDTM-ST của TAND quận X Thành phố

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội
Năm: 2006
2. Đoàn Đức Lương (2013), “Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tiền”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20 kỳ I tháng 10/2013, tr. 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tiền”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Năm: 2013
3. Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành (2004), Lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính tiền tệ
Tác giả: Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
4. Lương Khải Ân (2013), “Vận dụng đúng quy định của pháp luật về lãi suất, giải quyết tranh chấp tín dụng ngân hàng tại Tòa án”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24 kỳ II tháng 12/2013, tr. 14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng đúng quy định của pháp luật về lãi suất, giải quyết tranh chấp tín dụng ngân hàng tại Tòa án”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lương Khải Ân
Năm: 2013
1. Bản án số 03/2015/KDTM-ST ngày 19/01/2015 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/RbNM1giF7f, truy cập ngày 11/07/2017 Link
2. Bản án số 10/2016/KDTM-GĐT ngày 20/05/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, https://caselaw.vn/ban-an/cZy9qLnpaA, truy cập ngày 11/07/2017 Link
3. Bản án số 12/2015/KDTM-ST ngày 09/03/2015 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/oLc4AzRcVd, truy cập ngày 11/07/2017 Link
4. Bản án số 124/2014/KDTM-ST ngày 17/07/2014 của TAND quận TB Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/tKdQuyZFC5, truy cập ngày 11/07/2017 Link
5. Bản án số 1253/2016/KDTM-ST ngày 29/06/2016 của Tòa án nhân dân (TAND) quận BT Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban- an/bmJQVjH8kd, truy cập ngày 11/07/2017 Link
6. Bản án số 16/2013/KDTM-PT ngày 05/12/2013 của TAND tỉnh QT, https://caselaw.vn/ban-an/9TqH5e7RAm, truy cập ngày 11/07/2017 Link
7. Bản án số 25/2015/KDTM-GĐT ngày 06/11/2015 của TANDTC Thành phố Hồ Chí Minh https://caselaw.vn/ban-an/H1c1gDj0I9, truy cập ngày 11/07/2017 8. Bản án số 26/2014/KDTM-ST của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minhngày 06/08/2014, https://caselaw.vn/ban-an/4bPEkMTObN, truy cập ngày 11/07/2017 Link
9. Bản án số 275/2015/KDTM-ST ngày 21/09/2015 của TAND quận TB Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/vRVQNMXfsz, truy cập ngày 11/07/2017 Link
10. Bản án số 331/2015/KDTM-ST ngày 28/10/2015 của TAND quận BT Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/SRD72lN6VV, truy cập ngày 11/07/2017 Link
11. Bản án số 37/2014/KDTM-ST ngày 22/12/2014 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/Limx1axakw, truy cập ngày 11/07/2017 Link
12. Bản án số 38/2015/KDTM-ST ngày 25/05/2015 của TAND quận X Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/wSflibBDW9, truy cập ngày 11/07/2017 Link
13. Bản án số 44/2013/KDTM-ST ngày 16/09/2013 của TAND quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh https://caselaw.vn/ban-an/MjLFLgU8es, truy cập ngày 11/07/2017 Link
14. Bản án số 44/2013/KDTM-ST ngày 16/09/2013 của TAND quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh https://caselaw.vn/ban-an/MjLFLgU8es, truy cập ngày 11/07/2017 Link
15. Bản án số 53/2013/KDTM-ST ngày 30/09/2013 của TAND quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh https://caselaw.vn/ban-an/QoVy7GyG8a, truy cập ngày 11/07/2017 Link
16. Bản án số 53/2013/KDTM-ST ngày 30/09/2013 của TAND quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh https://caselaw.vn/ban-an/QoVy7GyG8a, truy cập ngày 11/07/2017 Link
21. Tài liệu Luận văn Phương pháp xác định lãi suất cho vay qua xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Việt Nam”, http://doc.edu.vn/tai- lieu/luan-van-phuong-phap-xac-dinh-lai-suat-cho-vay-qua-xep-hang-tin-dung-doanh-nghiep-tai-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-42117/,truycậpngày14/07/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w