1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật

81 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” được coi là một trong những quy định đảm bảo quan trọng cho quyền và lợi ích hợp p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

“KHÔNG AI BỊ COI LÀ CÓ TỘI KHI CHƯA CÓ BẢN ÁN KẾT

TỘI CỦA TÒA ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT”

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS

LÊ TIẾN CHÂU, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô thành công trong sự nghiệp giảng dạy

Sinh viên Phạm Minh Vương

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC

1.1 Khái niệm về nguyên tắc và các thuật ngữ pháp lý

1.2 Các quan điểm ghi nhận về nguyên tắc

1.2.1 Quan điểm không thừa nhận nguyên tắc

1.2.2 Quan điểm người bị buộc tội không được suy đoán vô tội

cũng như không bị suy đoán có phạm tội

1.2.3 Quan điểm thừa nhận nguyên tắc

1.3 Quá trình hình thành và phát triển nguyên tắc

1.3.1 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc trên thế giới

1.3.2 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc ở Việt Nam.

1.4 Nội dung của nguyên tắc

1.4.1 Người bị buộc tội được suy đoán không phạm tội cho đến khi

có bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án

1.4.2 Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các CQĐT, VKS;

bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình

1.5.2 Mối quan hệ với nhóm nguyên tắc bảo đảm quyền công dân

(Đi ề u 4 ; Đi ề u 6 ; Đi ề u 7 ; Đi ề u 8 B L T T H S ).

1.5.3 Mối quan hệ với nhóm nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng

Trang 5

của công dân trước pháp luật (Điều 5, Điều 19 BLTTHS).

1.5.4 Mối quan hệ với nguyên tắc xác định sự thật vụ án (Điều 10

BLTTHS).

1.5.5 Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS).

1.5.6 Mối quan hệ với nhóm các nguyên tắc xét xử công bằng (Điều

15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23

BLTTHS).

1.5.7 Mối quan hệ với nhóm nguyên tắc trách nhiệm của các cơ

quan, người THTT (Điều 12, Điều 13, Điều 14 BLTTHS).

1.5.8 Đối với nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại

và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29

VAHS

2.1.1 Quy định pháp luật TTHS trong việc thực hiện nguyên tắc

trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS

2.1.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc trong giai đoạn khởi tố, điều

tra VAHS.

2.2 Thể hiện trong giai đoạn truy tố VAHS

2.2.1 Quy định pháp luật TTHS trong việc thực hiện nguyên tắc

trong giai đoạn truy tố VAHS

2.2.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc trong giai đoạn truy tố VAHS.

2.3 Thể hiện trong giai đoạn xét xử VAHS

2.3.1 Quy định pháp luật TTHS trong việc thực hiện nguyên tắc

trong giai đoạn xét xử VAHS

Trang 6

2.3.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc trong giai đoạn xét xử VAHS

2.4 Nguyên nhân của việc vi phạm nguyên tắc

2.4.1 Nguyên nhân khách quan

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan.

3.2 Cải cách tư pháp và định hướng hoàn thiện nguyên tắc suy

đoán vô tội

3.3 Những kiến nghị cụ thể

3.3.1 Hoàn thiện pháp luật

3.3.1.1 Ghi nhận hoàn chỉnh về nguyên tắc suy đoán vô tội

3.3.1.2 Hoàn thiện các quyền của người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo

3.3.2 Hoàn thiện cơ chế góp phần hoàn thiện nguyên tắc

3.3.2.1 Nâng cao vai trò của người bào chữa trong quá trình giải quyết

vụ án

3.3.2.2 Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự nước ta bằng việc tăng

cường các yếu tố tranh tụng trong quá trình tố tụng

3.3.2.3 Nâng cao trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT trong

quá trình giải quyết VAHS

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Một Nhà nước mà ở đó quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực TTHS Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày, hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường nhưng có thể nói quyền con người trong TTHS lại là quyền dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất bởi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân Bởi

lẽ, TTHS với tư cách là quá trình Nhà nước đưa một người ra phán xét trước pháp luật khi họ bị coi là tội phạm luôn thể hiện đậm tính quyền lực Nhà nước với sức mạnh cưỡng chế của mình, với sự thiếu cân bằng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ pháp luật TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về những người bị buộc tội

Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh

dự nhân phẩm, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác Tuy nhiên, trong quá trình TTHS các cơ quan có thẩm quyền có thể lạm dụng thẩm quyền vi phạm điều này Khi một cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và bị bắt thì Công an cứ có cớ là còng tay, cho lên xe thùng chở về trại tạm giam, bắt mặc áo tù, ăn cơm tù và nghiễm nhiên coi là tội phạm Điều này ảnh hưởng rất lớn đến danh dự, nhân phẩm của người bị bắt, có thể

họ bị bắt, bị tình nghi… nhưng chưa chắc họ đã phạm tội, hay trở thành tội phạm Tuy nhiên, khi họ bị bắt thì các cơ quan có thẩm quyền đã có những hành động xem họ như

là tội phạm, và khi người dân thấy vậy cũng mặc nhiên xem họ là tội phạm dù trên thực tế họ chưa bị Tòa án tuyên là có tội

Một người khi bị coi là có tội và phải chịu hình phạt sẽ gánh chịu hậu quả rất nặng nề về danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản và thậm chí cả quyền sống Vì vậy, để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không bị xâm hại một cách tùy tiện, Nhà nước quy định chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà

Trang 8

nước kết tội và quyết định hình phạt đối với người phạm tội Như vậy, chỉ khi có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án mới bị coi là có tội 1

Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật” được coi là một trong những quy định đảm bảo quan trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Có ý kiến cho rằng đây là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng của một nền tư pháp hình sự dân chủ, là nguyên tắc nền tảng của luật TTHS, là nguyên tắc mang tính định hướng cho toàn bộ quá trình tố tụng

Mặc dù thấy được mức độ quan trọng của nguyên tắc nhưng chúng ta thấy trên thực tế áp dụng pháp luật TTHS vẫn còn nhiều bất cập khi thực hiện nguyên tắc:

“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” trong quá trình TTHS

Việc nghiên cứu nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là một nội dung hết sức quan trọng có ý nghĩa

to lớn cả về mặt khoa học và thực tiễn, làm cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự đạt hiệu quả cao, giúp cho các cơ quan THTT và người THTT làm rõ sự thật khách quan của vụ án một cách chính xác, đáp ứng được yêu cầu của Đảng và Nhà nước ta

Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi

chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” làm khóa luận tốt

- Thực tiễn áp dụng của nguyên tắc

- Hướng hoàn thiện của nguyên tắc

1 Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 25

Trang 9

3 Tình hình nghiên cứu

Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật” là một nguyên tắc nền tảng của luật tố tụng, là nguyên tắc mang tính định hướng cho toàn bộ quá trình tố tụng Nhưng để hiểu cũng như thực hiện nguyên tắc này thì vẫn còn là vấn đề lớn của pháp luật nước ta Để mọi người hiểu, nắm bắt được nội dung cũng như đưa ra các điểm còn bất cập trong quy định pháp luật

và thực tiễn áp dụng nguyên tắc này thì đã có rất nhiều bài viết liên quan tới đề tài này như:

- Sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong chế định về xét xử của Luật TTHS Việt Nam, ThS Đinh Thế Hưng, Tạp chí Tòa án nhân dân

- Quy định nguyên tắc suy đoán không phạm tội để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, TS Nguyễn Quang Hiền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử

- Hoàn thiện các quy định về người bị tình nghi trong BLTTHS năm 2003, TS

Võ Thị Kim Oanh - Trưởng khoa Luật hình sự trường Đại học luật TP Hồ Chí Minh

và Nguyễn Ngọc Kiện - Học viên cao học trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử

- Phạm vi chủ thể có quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, Mai Thanh Hiếu, Tạp chí Luật học, số 1 năm 2004

- Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự, Lê Kim Quế, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3 năm 2003

- Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thành Long

- Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự: Một số vấn đề lý luận

cơ bản, Nguyễn Thành Long, Tạp chí Tòa án Nhân dân, số 6 (tháng 3)/2009

- …

Những bài viết, nghiên cứu trên đã đề cập nhiều phương diện về nguyên tắc

“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nguyên tắc này đóng vai trò định hướng trong quá trình TTHS, nên nó bao trùm cũng như có ảnh hưởng tới các chế định liên quan khác như quyền con người, quyền bào chữa, các quy định về chủ thể tiến hành TTHS Các bài viết, công trình nghiên

Trang 10

cứu đã cho người đọc hiểu thêm cũng như có cách nhìn bao quát về nguyên tắc Mỗi bài viết chỉ đề cập tới một phương diện của nguyên tắc suy đoán vô tội, chưa đưa ra một cách nhìn tổng quan về nguyên tắc Tuy nhiên các nghiên cứu đã giúp tác giả hiểu thêm về nguyên tắc dưới mỗi góc nhìn Từ đó định hướng cho tác giả nghiên cứu nguyên tắc ở những phương diện như ghi nhận và hoàn thiện các nội dung của nguyên tắc để đúng với nguyên tắc suy đoán vô tội trên thế giới, hoàn thiện thêm về các chế định liên quan như hoàn thiện quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Cũng như hoàn thiện các quy chế góp phần hoàn thiện nguyên tắc

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Tác giả dựa trên chủ nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Pháp luật của Nhà nước trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, để làm cơ sở lý luận cho đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, liệt kê để thông qua

đó tác giả đưa ra những lập luận, đánh giá của mình trong quá trình nghiên cứu

5 Ý nghĩa của đề tài

Thông qua việc phân tích nguyên tắc, tác giả mong muốn đưa ra những cái nhìn toàn diện về nguyên tắc, chỉ ra những điểm còn bất cập cũng như góp phần hoàn thiện việc thực hiện nguyên tắc trên thực tế Xây dựng hoàn chỉnh nguyên tắc để nó có tính thực thi cao hơn

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 phần như sau:

- Chương I: Nhận thức chung về nguyên tắc

- Chương II: Quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc

- Chương III: Phương hướng hoàn thiện nguyên tắc

Trang 11

CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC 1.1 Khái niệm về nguyên tắc và các thuật ngữ pháp lý

Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật” được coi là một trong những đảm bảo quan trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết VAHS Trong khoa học Luật TTHS nguyên tắc này còn có tên gọi khác là “suy đoán vô tội”2

Như chúng ta biết thì nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS Các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối một hay một số giai đoạn quan trọng của TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS Những nguyên tắc này thể hiện chính sách hình sự, quan điểm giải quyết VAHS của Đảng và Nhà nước ta là đảm bảo mọi tội phạm đều được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Vì vậy, trong quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật để giải quyết VAHS thì những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS cần được quán triệt và thực hiện nghiêm minh

Vậy nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật” là nguyên tắc được hiểu như thế nào để được coi là một trong những đảm bảo quan trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết VAHS? Để hiểu rõ nội dung của nguyên tắc này tác giả xin giải thích một số thuật ngữ có liên quan đến nguyên tắc Trong thuật ngữ “Không ai bị coi là có tội” thì “ai” ở đây chính là những con người, những công dân của một Nhà nước, một

xã hội Mỗi công dân đều được Nhà nước của mình đảm bảo cho đầy đủ các quyền công dân Quyền công dân là các quyền của công dân một nước được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật dân sự: công dân được quyền tự mình lựa chọn và thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật mà không có sự ngăn cản, hạn chế nào Các quyền tự do công dân của công dân Việt Nam do pháp luật quy định gồm có: tự do cư trú, tự do kinh

2 Tập bài giảng những vấn đề chung về luật hình sự và tội phạm, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 53

Trang 12

doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân Chủ thể nào lợi dụng quyền tự do công dân để gây nguy hại cho tổ chức, cho xã hội là hành vi phạm pháp và bị xử lý theo pháp luật Ngoài quyền công dân thì mỗi con người khi sinh ra đều được đảm bảo

về quyền con người Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ghi nhận trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “…Tất cả mọi người sinh

ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ là những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Quyền con người là những quyền mặc nhiên khi được sinh ra cho đến trọn đời

mà không một ai, không chính thể nào có quyền tước bỏ Đó là những quyền cơ bản của con người như: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc Người nô lệ xưa kia không được coi là con người, họ không có quyền con người Ngày nay, đối với chúng ta quyền con người gắn liền với quyền dân tộc, với độc lập tự do của đất nước Ở Việt Nam, quyền con người được pháp luật ghi nhận khá

cụ thể, Điều 50 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong hiến pháp và luật” Đấu tranh để bảo vệ quyền con người là một trong những mục tiêu của nhân loại tiến

bộ, là cái đích mà tất cả các nước đều hướng tới

Từ phân tích trên chúng ta có thể hiểu hơn về quyền công dân cũng như quyền con người của mỗi công dân, nhưng tại sao họ lại bị coi là có tội? “Có tội” là khái niệm chỉ thuộc tính của chủ thể mà ở đây là con người, là tính từ chỉ tính chất của sự vật, hiện tượng, người có tội hay bị coi là có tội là sự đánh giá của xã hội đối với một con người.3

Có tội tức là một người đã thực hiện những hành vi mà PLHS cấm, bị Tòa

án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật Trên cơ sở của BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, theo quy định

3 Trình tự giải quyết các vụ án hình sự (sách kỹ năng), Đinh Văn Quế-Chánh tòa Hình sự-TANDTC, Nxb Hải Phòng, năm 2011, tr 21

Trang 13

của pháp luật hình sự thì phải bị áp dụng hình phạt”.4 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác

Theo pháp luật Việt Nam, việc đánh giá một người có tội hay không chỉ có Tòa

án mới có thẩm quyền, ngoài Tòa án không một cơ quan, cá nhân nào có quyền này Hiện nay, còn không ít người quan niệm rằng, một người bị khởi tố, đã bị bắt tạm giam là có tội nên mọi người đối xử với họ với thái độ khinh miệt, xa lánh, thậm chí những người thân của họ cũng bị khinh rẻ, hắt hủi, kể cả sau một thời gian tiến hành điều tra, cơ quan điều tra chứng minh là họ không có hành vi phạm tội, họ được trả tự

do nhưng khi trở về với gia đình và xã hội vẫn bị mặc cảm án tuyên vô tội “Một người chỉ bị coi là phạm tội khi có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nên dù họ bị bắt, bị tam giữ, tạm giam thì vẫn chưa bị xem là người có tội

Người bị buộc tội bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Bản án là quyết định bằng văn bản của Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án, trong án hình sự là xác định bị cáo có tội hay không có tội Nếu có tội thì định tội danh

và tuyên hình phạt Một bản án hợp pháp và có căn cứ là phải phù hợp với các quy định của pháp luật Kết luận của Tòa án phải phù hợp với những sự việc, tình tiết có trong vụ án và được xác định trong quá trình điều tra xét xử Bản án phải dựa trên những chứng cứ thể hiện chân lí khách quan được Tòa án thẩm tra ở phiên toà xác định Bản án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, kháng nghị theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm Bản án có hiệu lực pháp luật nếu hết thời hạn kháng cáo và kháng nghị mà không có kháng cáo hoặc kháng nghị

Người bị kết án là người bị Tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật Khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người bị kết tội được coi là người bị kết án Người bị kết án có nghĩa vụ chấp hành hình phạt theo quyết định của bản án kết tội mình

4 Tập bài giảng những vấn đề chung về luật hình sự và tội phạm, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 45

Trang 14

Qua những thuật ngữ pháp lý được giải thích trên thì chúng ta có thể hiểu nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” có các nội dung sau:

- Không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của BLTTHS và chưa được xác định bằng bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các CQĐT, VKS; bị can, bị cáo

có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội

- Bản cáo trạng của VKS và bản án kết tội của Tòa án phải dựa trên các chứng

cứ khẳng định chắc chắn về lỗi của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội phạm Mọi nghi ngờ về lỗi của bị can, bị cáo nếu không thể loại trừ được theo trình tự, thủ tục do luật định và khi chưa có sự thống nhất trong việc giải thích, áp dụng các quy phạm pháp luật đều phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ

Nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc suy đoán vô tội trong khoa học Luật

TTHS, suy đoán vô tội là một yêu cầu có tính chất nguyên tắc được đề ra trong BLTTHS tại Điều 9 Theo đó, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì không ai có thể bị coi là có tội mặc dù đang bị truy cứu trách nhiệm hình

sự Suy đoán vô tội có nghĩa là trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội thuộc về CQĐT, VKS, cũng như Tòa án, còn về phần bị cáo, họ không có nghĩa vụ chứng minh mình

vô tội, do đó CQĐT, VKS và Tòa án không thể lấy lý do vì bị cáo không chứng minh được là họ vô tội mà truy tố hoặc tuyên án là họ đã phạm tội và xử họ bằng bất cứ một hình phạt nào Nếu sau khi thẩm tra kĩ càng mà vẫn không có đủ chứng cứ để khẳng định là bị cáo có tội, thì phải tuyên bố là bị cáo vô tội, không được vì lý do đã trót tạm giam bị cáo một thời gian mà tuyên bố là họ có tội

Nguyên tắc này không chỉ khẳng định quyền phán quyết cuối cùng về sự có tội hay không có tội của một người thuộc thẩm quyền của Tòa án mà nguyên tắc này còn đòi hỏi thái độ tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị tình nghi thực hiện tội phạm một khi họ chưa bị Tòa án kết tội bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật

1.2 Các quan điểm ghi nhận về nguyên tắc

Trang 15

Hiện nay, trong khoa học pháp lý TTHS, xung quanh nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc ghi nhận nguyên tắc này Khái quát lại có các quan điểm sau đây:

1.2.1 Quan điểm không thừa nhận nguyên tắc

Những người theo quan điểm này lập luận rằng, nếu không có lỗi của cá nhân

cụ thể trong những sự việc cụ thể thì không thể có điều tra và xét xử Ở đây là suy đoán có phạm tội, là lỗi vô điều kiện của những người bị buộc tội, vì nếu không có lỗi thì đã không bị truy cứu TNHS Những người theo quan điểm này cho rằng chỉ khi một người có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội thì mới bị truy cứu TNHS nên những người này không thể được suy đoán vô tội

Nói cách khác, người bị buộc tội bị suy đoán là có phạm tội và do vậy, luật cần quy định cho họ có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình giống như các cơ quan THTT có nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc tội Bên cạnh đó, thì việc các cơ quan có thẩm quyền đã thu thập được chứng cứ - cơ sở để buộc tội, trong khi đó bị can không chứng minh mình vô tội, thì lúc này áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội là không hợp lý và trái pháp luật Quan điểm này đồng nhất khái niệm người bị buộc tội với khái niệm người phạm tội, rõ ràng đã vi phạm quyền con người trong TTHS Ngoài ra, quan điểm này còn đồng nhất quyết định khởi tố hình sự với việc khẳng định lỗi của người bị khởi tố hình sự, mà không nhận thấy TTHS là một quá trình, khởi tố hình sự là một trong những điểm khởi đầu của quá trình TTHS Chính vì những điểm bất hợp lý đó mà quan điểm này bị phê phán gay gắt trong khoa học pháp lý

1.2.2 Quan điểm người bị buộc tội không được suy đoán vô tội cũng như không bị suy đoán có phạm tội

Những người theo quan điểm này cho rằng người bị buộc tội “chưa” phải là người có tội nhưng cũng không phải là người không phạm tội Người bị buộc tội là người trong tình trạng trung gian giữa không phạm tội và có phạm tội Tòa án phải tuyên bố họ vô tội khi không chứng minh được lỗi của bị cáo, điều này không phải là biểu hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội mà là nhiệm vụ của pháp luật TTHS Điều này cũng giống như không thể buộc bị cáo phải chứng minh lỗi của mình vì luật quy định rõ ràng như vậy chứ không phải vì nguyên tắc suy đoán vô tội Về khía cạnh thực

Trang 16

tiễn, nguyên tắc suy đoán vô tội khó có thể được chấp nhận bởi lẽ đa số các bị cáo (được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội) vẫn bị Tòa án tuyên bố là có phạm tội Tỷ

lệ bị cáo được Tòa án tuyên bố vô tội so với tỷ lệ bị cáo bị tuyên bố là có phạm tội trong thực tiễn ở các nước là không đáng kể Như vậy thì cần gì phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội? Theo TS Nguyễn Quang Hiền “Quan điểm này không khoa học,

vì không thể lập luận chỉ bằng cách viện dẫn luật hoặc viện dẫn thực tiễn đơn thuần Điều cần thiết là phải giải thích được vì sao luật lại quy định hoặc vì sao lại có thực tiễn này Có thể luật quy định như vậy chính từ yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội hoặc có thể thực tiễn đòi hỏi phải cần có nguyên tắc suy đoán vô tội Mặt khác, không thể có cái gọi là người bị buộc tội là người trong tình trạng trung gian, chỉ là có phạm tội hoặc là không phạm tội chứ không có lựa chọn thứ ba”5

1.2.3 Quan điểm thừa nhận nguyên tắc

Những người theo quan điểm này cho rằng hoạt động TTHS khác với các hoạt động khác của con người - nơi mà hoạt động nhận thức có thể kết thúc bằng một kết quả nhận thức mới hoặc có thể chưa đem lại kết quả gì Hoạt động TTHS không thể kết thúc mà không có kết quả pháp lý cụ thể Cơ quan tiến hành TTHS không thể kết thúc hoạt động tố tụng mà vấn đề có phạm tội hay không phạm tội của người bị buộc tội vẫn chưa có kết luận và không thể nói rằng: “chúng tôi không thể chứng minh được lỗi của người bị buộc tội nhưng chúng tôi lại không thể tin là người bị buộc tội là không có tội” Nhiệm vụ của TTHS là khi kết thúc hoạt động tố tụng phải xác định rõ ràng hoặc người bị buộc tội là người phạm tội hoặc là người bị buộc tội không phạm tội (trừ trường hợp đình chỉ vụ án) Như vậy, các cơ quan THTT phải xuất phát từ chỗ hoặc là người bị buộc tội được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cho đến khi chứng minh được có phạm tội hoặc là người bị buộc tội bị áp dụng nguyên tắc suy đoán có phạm tội cho đến khi chứng minh được là không phạm tội Lịch sử phát triển của

5 khong-pham-toi-111e-bao-ve-quyen-con-nguoi-cua-nguoi-bi-buoc-toi

Trang 17

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/hanh-chinh-hinh-su-tu-phap/quy-111inh-nguyen-tac-suy-111oan-TTHS trên thế giới đã không chấp nhận nguyên tắc suy đoán có phạm tội và đã phát triển theo hướng nhân đạo và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội 6

Ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều vụ án oan sai, những vụ án oan sai gây ra không ít hậu quả nghiêm trọng cho những người tham gia quan hệ pháp luật TTHS Không chỉ gây hậu quả cho những cá nhân, gia đình người bị oan mà còn gây hậu quả cho cả xã hội cũng như Nhà nước

- Gia đình người bị oan:

Quan hệ Luật TTHS là một quan hệ nhạy cảm, rất dễ gây tổn thương tới quyền con người khi có những sai phạm xảy ra Việc những vụ án oan sai đã gây ra nhưng hậu quả nghiêm trọng đến các quyền cơ bản của một con người Tuy Nhà nước đã có luật Bồi thường thiệt hại, hay nghị quyết 388/NQ–UBTVQH nhưng đó cũng chỉ góp phần khắc phục một phần nào hậu quả cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra, còn phần lớn những đau thương cả về tinh thần lẫn vật chất,

họ cũng đành phải gánh chịu Không ít gia đình tan cửa nát nhà, mất đi người thân, danh dự bị bôi nhọ vì những vụ án oan Có không ít trường hợp gia đình của người bị kết án oan cũng bị “kết án” bởi những bản án của xã hội Con cái họ cũng bị mang

“tội” của bố mẹ mình, những đứa trẻ đó mang thêm tên như: “con của kẻ giết người”;

“con của kẻ tham nhũng”; hay đại loại như: “bố nó giết người, chắc nó cũng giống bố nó” “mẹ nó làm đĩ, buôn bán ma túy thì làm sao nó tốt được…” Với những thành kiến mạnh mẽ như vậy, có nhiều trường hợp thương tâm đã xảy ra khi không chịu nổi điều tiếng, họ đã chọn cái chết như một cách giải thoát

6 khong-pham-toi-111e-bao-ve-quyen-con-nguoi-cua-nguoi-bi-buoc-toi

Trang 18

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/hanh-chinh-hinh-su-tu-phap/quy-111inh-nguyen-tac-suy-111oan-kết oan những người còn lại trong gia đình sẽ mất đi chỗ dựa trở thành gánh nặng cho

Thực tế cho thấy, hậu quả của những vụ án oan sai là rất nghiêm trọng, do đó, việc hiểu, tiếp thu tư tưởng tiến bộ của nguyên tắc suy đoán vô tội và ghi nhận nguyên tắc này là rất cần thiết để giảm bớt tình trạng oan sai đang diễn ra ở nước ta

Chính vì sự cần thiết cũng như tầm quan trọng trong việc ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội mà Nhà nước ta cũng đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ của nguyên tắc suy đoán vô tội và ghi nhận nguyên tắc này như là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Tuy tên gọi chưa cụ thể và bao hàm toàn bộ nội dung nguyên tắc, nhưng nội dung của nó cũng đã phản ánh được tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội, đó là:

“không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật” Nguyên tắc này được quy định tại Điều 72 của Hiến pháp

năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và tiếp tục được ghi nhận tại Điều 9 của BLTTHS năm 2003 Là nguyên tắc hiến định, nguyên tắc suy đoán vô tội có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong khoa học TTHS Bởi lẽ, nguyên tắc này đã quyết định và chi phối toàn bộ tính chất hoạt động của các cơ quan THTT

1.3 Quá trình hình thành và phát triển nguyên tắc

1.3.1 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc trên thế giới

Khi có sự xuất hiện Nhà nước cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của pháp luật bởi pháp luật do Nhà nước ban hành là công cụ hiệu quả nhất để điều hòa những xung đột về lợi ích giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp

Trong luật La mã cổ đại, thuật ngữ “praeumptio boni viri” được hiểu là một suy đoán pháp lý “Người tham gia tố tụng được coi là trung thực cho đến khi bị chứng minh họ không phải là người trung thực” Suy đoán này được thừa nhận như là một

Trang 19

nguyên tắc của luật tố tụng dân sự trong việc xác định tư cách và quyền bình đẳng của các đương sự, được áp dụng trong các tranh chấp để buộc các bên phải đưa ra chứng

cứ chứng minh, chứ không chỉ đưa ra các yêu cầu tranh chấp.7

Hệ thống pháp luật của Nhà nước được hình thành dần dần từng bước phụ thuộc vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước Nhưng nói chung, giai cấp thống trị đều tìm cách vận dụng các tập quán để phục vụ lợi ích của giai cấp mình như Luật 12 bảng của La-mã Ngoài ra, thì hệ thống pháp luật còn được hình thành từ một nguồn khác đó là các văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành Nhà nước đã ban hành

ra các văn bản pháp luật nhằm củng cố chế độ tư hữu và quy định đặc quyền cho giai cấp thống trị như đạo luật Hămmurabi, đạo luật Manu… Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, duy trị địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.8

Nhà nước chiếm hữu nô lệ không thừa nhận nô lệ là chủ thể của quan hệ pháp luật nên vấn đề lỗi của nô lệ không được xem xét đến trong các quan hệ có liên quan đến lợi ích của Nhà nước Nhà nước phong kiến tiếp tục kế thừa tư tưởng trên và áp dụng nguyên tắc suy đoán có lỗi Người bị buộc tội (người bị tạm giữ, người bị khởi tố hình sự, người bị đưa ra xét xử) luôn bị coi là có lỗi, cho nên các biện pháp tra tấn, dùng nhục hình là một công cụ hợp pháp để điều tra vụ án

Ví dụ như vụ án “Lệ Chi Viên” của gia tộc Nguyễn Trãi, không cần biết Nguyễn Thị Lộ (vợ của Nguyễn Trãi) có phạm tội giết vua hay không, cả nhà Nguyễn Trãi cũng như nhà Nguyễn Thị Lộ bị xử “tru di tam tộc” Đến hơn 10 năm sau khi vụ

án xảy ra thì Nguyễn Trãi mới được giải oan

Với sự phát triển của xã hội, do sự phát triển của tri thức con người ngày càng

có ý thức về tính dân chủ và quyền tự do, họ không mặc nhiên để cho giai cấp thống trị phán xét họ Nhà nước tư sản đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ về quyền con người và quyền công dân, một trong những tư tưởng tiến bộ đó là suy đoán không phạm tội Nhưng tư tưởng suy đoán không phạm tội trong thời kỳ đầu của Nhà nước tư sản vẫn

7

khong-pham-toi-111e-bao-ve-quyen-con-nguoi-cua-nguoi-bi-buoc-toi

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/hanh-chinh-hinh-su-tu-phap/quy-111inh-nguyen-tac-suy-111oan-8 Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, trường đại học luật Hà Nội, Nxb Tư pháp, năm 2007, tr 42-44

Trang 20

chưa được coi là một nguyên tắc của luật TTHS mà mới chỉ được thể hiện như là một lập luận để chống lại các hình thức cưỡng chế khắc nghiệt vẫn còn tồn tại trong Nhà nước tư sản lúc đó Nếu muốn phán xét một người có tội thì phải chứng minh là họ có phạm tội hay không? Nếu chứng minh được họ phạm tội thì mới được quyền phán xét

họ là có tội Ở thời La Mã cổ đại người ta đã khẳng định trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định bên người bị

tố cáo, những tư tưởng này đã được các quan tòa áp dụng trong tố tụng dân sự Đây được coi là nguồn cội của nguyên tắc suy đoán vô tội Nguyên tắc này dần đóng vai trò định hướng trong việc xét xử, nhưng chỉ tồn tại trong xã hội như một cách hiểu thông dụng Đến năm 1764 thì tư tưởng nguyên tắc suy đoán vô tội được tác giả Trêzarê

Bêcaria nêu ra trong cuốn sách “Về tội phạm và hình phạt” bằng tiếng Ý như sau:

“Không ai có thể bị coi là kẻ phạm tội khi còn chưa có bản án kết tội và xã hội không thể tước của bị can sự bảo hộ của mình trước khi quyết định rằng anh ta đã vi phạm những điều kiện mà sự tuân thủ các điều kiện đó thì anh ta được bảo đảm bởi sự bảo hộ”.9 Tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng tư sản Pháp năm 1789 bùng nổ, tư tưởng này mới được ghi nhận như một nguyên tắc của pháp luật Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 long trọng tuyên bố: “Mọi người được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội Nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc”.10 Suy đoán vô tội được pháp luật của nhiều quốc gia coi là nguyên tắc của TTHS, được đánh giá là thành tựu

vĩ đại của nền văn minh pháp lý trong việc bảo vệ con người trong TTHS

Nguyên tắc suy đoán không tội đến nay được thừa nhận trong nhiều điều ước quốc tế Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc và Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 đều khẳng định:

“Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”

Trang 21

Đây là một nguyên tắc rất đáng quan tâm trong pháp luật TTHS Việt Nam khi chúng

ta đang tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc ở Việt Nam

Sau gần 1000 năm bị đô hộ, nền văn hóa nước ta bị ảnh hưởng rất lớn từ nền văn hóa của nước CHDCND Trung Hoa Không chỉ nền văn hóa bị ảnh hưởng mà pháp luật của nước ta trong thời phong kiến cũng bị ảnh hưởng khá lớn từ pháp luật Trung Hoa Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này gồm các bộ luật tổng hợp và các văn bản pháp luật khác như: Chiếu, Chỉ, Lệ, Lệnh, Dụ, Sắc…Trong đó, các bộ luật:

Hình thư (thời Lý), Quốc triều Hình luật (thời Trần), Quốc triều Hình luật (gòn gọi là

bộ luật Hồng Đức - thời Lê), và Hoàng Việt Luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long -

Thời Nguyễn) là những bộ luật cổ tiêu biểu nhất được xây dựng và ban hành trong lịch

sử Việt Nam (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX) Từ cách thức hay hình phạt thì pháp luật

Việt Nam thời bấy giờ vẫn bị ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa Trung Hoa Như Hoàng

Việt Luật Lệ của nhà Nguyễn được xem như là một bản sao chép gần như nguyên vẹn

của bộ luật của triều Mãn Thanh Trung Hoa Giáo sư Vũ Văn Mẫu khi khảo cổ luật Việt Nam cũng đi tới kết luận: “Bộ Hoàng Việt luật lệ đã chép nguyên văn của bộ luật nhà Thanh nên mất hết cả tính đặc thù của nền pháp luật Việt Nam Bao nhiêu những

sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê, không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn ”11 Tuy nhiên, với lối sống trọng tình của con người Việt thì pháp luật của nước ta mang tính nhân đạo hơn so với pháp luật của Trung Hoa Điều này thể hiện trong các điều luật về miễn giảm trách nhiệm hình phạt cho những người già trên

90 tuổi hay trẻ em dưới 10 tuổi, hay việc quy định tội phạm cao tuổi hoặc vị thành niên thì không được tra tấn (Điều 665 – Quốc triều hình luật)

Tuy xét về bản chất pháp luật được hình thành nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhưng phần nào đó pháp luật của nước ta thời bấy giờ đã có hướng tới việc bảo vệ những quyền cơ bản của con người Khi muốn xét một ai là có tội thì các quan xét xử phải tìm được chứng cứ buộc tội thì lúc đó mới xét là có tội Trong Quốc triều hình luật (bộ luật Hồng Đức), có rất nhiều quy định pháp luật thể

11 http://sachxua.net/forum/index.php?topic=7445.0

Trang 22

hiện việc xử án phải đúng người đúng tội (Điều 670 – xử án phải dựa theo lời cáo trạng; Điều 679 – cử tội không đúng luật định; Điều 686 – xét án cố ý thêm bớt tội cho người ta), quy trách nhiệm cho những quan lại khi xét xử người không đúng tội Điều

694 – hình quan ngục quan xử án không đúng luật); không cho quan lại tùy tiện bắt người (Điều 636 – quan lại tùy tiện bắt dân trong hạt phục dịch)…

Như vậy chúng ta thấy, dù trong Quốc triều hình luật không nêu ra rõ ràng về nguyên tắc suy đoán vô tội, nhưng trong tư tưởng của những nhà làm luật đã có vấn đề này, và cũng dần hình thành vào trong các điều luật Tức là không ai có tội khi chưa phạm vào các tội quy định trong bộ luật, việc chứng minh người đó có tội thuộc về các quan lại, nha dịch, và sau khi định tội thì tội nhân mới bắt đầu phục tội (Điều 721 – định rõ tội danh phải báo ngay cho tội nhân biết để phục tội)

Nhà nước ta bỏ qua thời kì Tư bản chủ nghĩa để đi thẳng lên Xã hội chủ nghĩa, điều này cũng ảnh hưởng tới pháp luật nước ta Trong thời kỳ Pháp, Mỹ xâm lược thì pháp luật nước ta không có mà chỉ tồn tại pháp luật của bọn xâm lược Trong thời kỳ này việc bắt người diễn ra tràn lan và việc định tội cũng rất tùy tiện, thích là bắt, thích

là giết, không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của chúng ta chết dưới ngục tù của đế quốc Pháp và Mỹ Thời kỳ đen tối ấy chỉ kết thúc khi chúng ta giành được chính quyền, giành tự do về cho nhân dân Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng là lúc đất nước ta bước sang trang mới, một kỷ nguyên của sự tự do dân chủ Người dân được ghi nhận các quyền của

mình trong bản Hiến pháp năm 1946, trong đó có một quyền đáng chú ý đó là: “Tư

pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dân Việt Nam” (Điều

11) Hiến pháp năm 1946 là một bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém một bản hiến pháp nào trên thế giới Bản Hiến pháp này có sự pha trộn giữa chính thể tổng thống và cộng hòa nghị viện Lại một lần nữa tư tưởng suy đoán vô tội xuất hiện trong

tư tưởng các nhà làm luật dù điều này chưa được thể hiện rõ thành một nguyên tắc cơ bản

Cùng với việc tiến lên Xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước ta cũng thay đổi bản Hiến pháp năm 1946 để phù hợp hơn với con đường xã hội chủ nghĩa Hiến pháp năm 1959 được xây dựng theo mô hình hiến pháp xã hội chủ nghĩa và bản hiến pháp này là bản

Trang 23

Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta Cũng như Hiến pháp năm 1946 thì Hiến pháp năm 1959 tiếp tục ghi nhận quyền bất khả xâm phạm của công dân

“…Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân” (Điều 27) Tuy nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn chưa được quy định rõ trong bản hiến pháp nhưng bản hiến pháp cũng ẩn chứa nguyên tắc này

Đến Hiến pháp năm 1980 thì nguyên tắc suy đoán vô tội càng được quán triệt hơn khi quy định “…Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân Việc bắt người phải theo đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình” (Điều 69), và không chỉ dừng lại là tư tưởng mà nguyên tắc này đã được quy định thành một nguyên tắc cơ bản tại Điều 10 của BLTTHS năm 1988 Nhưng cũng cần nói thêm rằng trước khi có BLTTHS 1988, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, những nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội cũng được thừa nhận ở mức độ này hay mức độ khác Cụ thể như: “Pháp luật TTHS Việt Nam từ 1945 đến nay đã thể hiện việc tôn trọng và bảo

vệ quyền con người trong các quy định về hoạt động xét xử của Tòa án Thông tư số

2225/HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn: Không nên có định kiến

rằng hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để Tòa án có thái độ hoàn toàn khách quan Để

đảm bảo việc khách quan, vô tư, không định kiến bị cáo có tội trước khi xét xử của Tòa án, Thông số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra hướng dẫn có tính nguyên tắc trong hoạt động xét xử nói chung và xét hỏi tại phiên tòa

nói riêng như sau: “Việc xét hỏi tại phiên tòa nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại

các chứng cứ của vụ án Do đó, Hội đồng xét xử phải xét hỏi một cách khách quan Cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên tòa hoặc cho rằng việc xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải xác nhận những lời mà

họ đã khai ở cơ quan điều tra” 12

12 http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/545500/tltk/Chi%20tiet%20bai%20viet?p_page_id=175315 7&p_cateid=&article_details=1&item_id=2493223

Trang 24

Như vậy, từ trước khi được quy định trong BLTHS 1988 những nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được thể hiện trong các văn bản hướng dẫn của cơ quan xét xử cao nhất Tuy chưa trở thành nguyên tắc để định hướng cho cả quá trình giải quyết VAHS nhưng những tư tưởng này đã góp phần định hướng cho hoạt động xét xử của Tòa án

Cuối cùng thì nguyên tắc suy đoán vô tội, một nguyên tắc được xem là nguyên tắc nền tảng của luật TTHS, là nguyên tắc mang tính định hướng cho toàn bộ quá trình

tố tụng13 đã được ghi nhận hoàn chỉnh hơn tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi bổ sung năm 2001): “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy

tố, xét xử trái pháp luật, có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ,truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” BLTTHS năm 2003 cũng đã kế thừa BLTTHS năm 1988 khi vẫn ghi nhận nguyên tắc này là một nguyên tắc cơ bản của luật TTHS tại Điều 9

Cũng giống như nhiều nguyên tắc khác của pháp luật, suy đoán vô tội chỉ trở thành nguyên tắc của luật TTHS trong giai đoạn lịch sử nhất định, trong một kiểu Nhà nước nhất định Trong một Nhà nước mà quyền con người bị chà đạp, khi tôn giáo, thần quyền còn thống trị thì những tư tưởng văn minh và tiến bộ như suy đoán vô tội trong TTHS không có cơ hội thể hiện chứ chưa nói đến trở thành nguyên tắc pháp luật Ngược lại, xã hội phát triển đến trình độ cao hơn, khi quyền con người được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ thì những tư tưởng pháp lý tiến bộ như suy đoán vô tội tất yếu sẽ được ghi nhận và bảo đảm thực hiện không chỉ trên phương diện lập pháp mà còn cả trên thực tế

Chiến lược cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có hệ thống pháp luật TTHS cho phù hợp Những tư tưởng, nguyên tắc pháp luật đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận như là giá trị to lớn của văn minh nhân loại phải được ghi nhận

13 Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 53

Trang 25

trong pháp luật TTHS nước ta Chính vì vậy có thể nói ghi nhận nguyên tắc suy đoán

vô tội là đòi hỏi tất yếu của luật TTHS trong Nhà nước pháp quyền 14

1.4 Nội dung của nguyên tắc

1.4.1 Người bị buộc tội được suy đoán không phạm tội cho đến khi có bản

án kết tội có hiệu lực của Tòa án

Người bị buộc tội là người không phạm tội được coi là chân lý cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Chừng nào chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì chừng đó, người bị buộc tội vẫn là người không phạm tội và luôn được thừa nhận là đúng

Quán triệt tinh thần nói trên, các cơ quan có thẩm quyền THTT trong suốt quá trình giải quyết VAHS, trước khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì các cơ quan THTT không được áp dụng bất kỳ hình phạt nào đối với bị can, bị cáo Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước chỉ áp dụng đối với người phạm tội Do đó, trong quá trình giải quyết VAHS từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến trước khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì bị can, bị cáo vẫn được coi là người không có tội nên sẽ không phải chịu hình phạt nào từ các cơ quan THTT Những người THTT không được có định kiến chủ quan cho rằng bị can,

bị cáo là người có tội bởi vì nếu định kiến như vậy sẽ dẫn đến định hướng chỉ tìm những chứng cứ kết tội và sẽ bỏ qua những chứng cứ gỡ tội

Nội dung nói trên khẳng định thái độ tôn trọng cần phải có của người THTT đối với những người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội Nghĩa là trong quá trình giải quyết vụ án, trước khi có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì những người THTT cần phải thể hiện sự tôn trọng người bị tình nghi, tôn trọng những quyền con người của bị can, bị cáo Nội dung này không bắt buộc hay không cấm những người THTT có niềm tin nội tâm của mình về sự có tội của bị can, bị cáo 15

14

http://www.saigonminhluat.com/index.php?option=com_content&view=article&id=2661

:s-th-hin-ca- s&Itemid=519

nguyen-tc-suy-oan-vo-ti-trong-ch-nh-v-xet-x-ca-lut-t-tng-hinh-s-vit-nam&catid=334:hinh-s-to-tung-hinh-15 Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 54 –

55

Trang 26

1.4.2 Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các CQĐT, VKS; bị can,

bị cáo có quyền nhƣng không buộc phải chứng minh là mình vô tội

Thứ nhất, chức năng của CQĐT và VKS theo pháp luật TTHS là buộc tội, chính

vì thế hiểu theo một cách logic thì khi CQĐT, VKS muốn buộc tội thì cần phải có những chứng cứ xác thực để khẳng định được người đó đã thực hiện hành vi phạm tội Còn đối với bị can, bị cáo thì không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình mà đó chỉ là quyền của họ vì bị can, bị cáo luôn được suy đoán vô tội

Thứ hai, cũng chính vì CQĐT, VKS là các cơ quan công quyền nên xét về khía cạnh thực hiện các hoạt động để tìm ra các chứng cứ rõ ràng sẽ thuận lợi hơn so với các chủ thể khác Chính tại Điều 115 BLTTHS quy định “Những quyết định, yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra VAHS phải được cơ quan,

tổ chức và công dân nghiêm chỉnh chấp hành”, với quy định này thì CQĐT, VKS sẽ nhận được sự hợp tác tích cực và co trách nhiệm từ các cơ quan Nhà nước khác hoặc những tổ chức, công dân trong việc tìm ra những chứng cứ, làm rõ những tình tiết của

vụ án Điều chắc chắn rằng các bị can, bị cáo khó có được điều kiện như vậy

Như vậy chính vì chức năng buộc tội của CQĐT, VKS nên họ có trách nhiệm chứng minh sự buộc tội của mình, nhưng sự buộc tội phải đúng pháp luật Còn bị can,

bị cáo họ luôn được suy đoán vô tội cho đến khi họ bị kết tội bằng bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên họ không phải có trách nhiệm chứng minh mình

Trang 27

1.4.4 Bản án kết tội của Tòa án không đƣợc dựa trên những căn cứ giả định 16

Bản án hình sự là văn bản pháp lý thể hiện kết quả hoạt động áp dụng pháp luật

về xét xử VAHS của Tòa án Bản án hình sự là một giai đoạn, nội dung rất quan trọng của hoạt động xét xử Bán án kết tội của Tòa án đúng pháp luật, công bằng là tiền đề, điều kiện để đạt được các mục đích của hình phạt, nghĩa là mới có khả năng cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội Bản án kết tội được tuyên đối với bị cáo phải đảm bảo tính xác định, tính có căn cứ, tính hợp lý, không thể dựa trên căn cứ giả định chưa được kiểm chứng

1.5 Mối quan hệ giữa nguyên tắc với các nguyên tắc cơ bản khác của BLTTHS

Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật” được xem là nguyên tắc định hướng cho toàn bộ quá trình giải quyết VAHS Nhưng trong cả quá trình giải quyết VAHS không chỉ có nguyên tắc này

mà còn rất nhiều nguyên tắc cơ bản khác có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ để giải quyết VAHS Nhiệm vụ của TTHS chỉ có thể giải quyết được một cách tốt đẹp khi và chỉ khi việc điều tra, truy tố, xét xử được dựa trên cơ sở công bằng và dân chủ để có bản án đúng người, đúng tội, theo đúng trình tự thủ tục luật định Hoạt động TTHS là hoạt động cả về nhận thức và thực tiễn, có tính phức tạp và khi thực hiện nó sẽ dễ đụng chạm đến các quyền tự do và dân chủ của công dân Vì vậy, pháp luật đòi hỏi các hoạt động này phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc nhất định Việc tôn trọng các nguyên tắc của Luật TTHS trong các hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT, người THTT và người tham gia tố tụng sẽ làm cho quá trình THTT trong thực

tế được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả cao

Các nguyên tắc của BLTTHS có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau Chính vì vậy, nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật” cũng có mối quan hệ mật thiết với các nguyên tắc khác Sau đây là mối quan hệ giữa nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án

16 Đinh Thế Hưng, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận văn ThS Luật học, khoa luật ĐHQG Hà Nội, 2007, tr 25

Trang 28

kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” với các nguyên tắc cơ bản khác của BLTTHS:

1.5.1 Mối quan hệ với nguyên tắc pháp chế XHCN (Điều 3 BLTTHS)

Đây là một nguyên tắc hiến định (Điều 12 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001) và là một nguyên tắc cơ bản của BLTTHS được ghi nhận tại Điều 3 BLTTHS Nguyên tắc pháp chế XHCN đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ cho từng giai đoạn TTHS cũng như toàn bộ quá trình TTHS Tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN là tuân thủ triệt để Hiến pháp, các quy định của pháp luật

Như vậy, để thực hiện tốt nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” thì việc đầu tiên là các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN Một khi cơ quan có thẩm quyền làm đúng nguyên tắc pháp chế XHCN thì sẽ làm đúng nguyên tắc suy đoán vô tội vì nguyên tắc pháp chế XHCN quy định: Mọi hoạt động của cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng phải tuân thủ những quy định của pháp luật TTHS Nếu

cơ quan có thẩm quyền, người THTT luôn tuân theo nguyên tắc này tức là tuân thủ pháp luật thì sẽ không có vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội Ngược lại, làm đúng nguyên tắc suy đoán vô tội thì sẽ góp phần thực hiện đúng nguyên tắc pháp chế XHCN Hai nguyên tắc này có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau

1.5.2 Mối quan hệ với nhóm nguyên tắc bảo đảm quyền công dân (Đi ề u

4 ; Đi ề u 6 ; Đi ề u 7 ; Đi ề u 8 B L T T H S )

Khi cơ quan có thẩm quyền muốn bắt người hay khám xét nơi ở của người bị nghi thực hiện hành vi phạm tội là đã xâm phạm quyền con người, quyền công dân vì vậy phải luôn tiến hành đúng quy định của pháp luật Vì mỗi công dân đều có quyền bất khả xâm phạm và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các cơ chế Không ai được xâm phạm các quyền đó dù là cơ quan Nhà nước, chỉ khi nào pháp luật quy định được phép thì các cơ quan có thẩm quyền mới đại diện Nhà nước để làm nhiệm vụ

Những người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo luôn được suy đoán vô tội nên dù

họ có bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thì họ vẫn đang là người vô tội, các cơ quan có thẩm quyền không được xem họ là người có tội để có những hành động xâm phạm đến các quyền cơ bản của họ, đặc biệt là các quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân

Trang 29

phẩm Vì đó là những quyền hiến định rất quan trọng đối với mỗi công dân Nhưng nếu chỉ vì bị bắt, tạm giữ, tạm giam mà các cơ quan THTT cố tình tước đi những quyền này của họ là một sự vi phạm nghiêm trọng Vì theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì bị can, bị cáo vẫn đang là những người vô tội việc không bị tước đoạt đi những quyền đó Và việc các cơ quan có thẩm quyền trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử xâm phạm tới các quyền cơ bản của bị can, bị cáo vì nghĩ họ là tội phạm thì đồng thời xâm phạm nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân

Không chỉ dừng lại ở việc quy định các cơ quan THTT không được vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội mà tất cả các công dân, tổ chức cũng phải tuân thủ nguyên tắc này, trong đó đặc biệt là những cơ quan thông tin đại chúng Có thể những cơ quan thông tin đại chúng không xét xử, hay có thể bắt một người phải chịu hình phạt như Tòa án hoặc bắt người như CQĐT… nhưng các cơ quan thông tin đại chúng có thể giết chết hoặc làm mất danh dự, nhân phẩm một con người khi họ cho đăng những bài báo khẳng định ai đó là có tội dù người đó mới bị tạm giam, tạm giữ và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong một bài viết của TS Nguyễn Quang Hiền cũng có nêu về vấn đề này “Thực tiễn cho thấy, đã có cơ quan thông tin đại chúng và tác giả bài báo bị Tòa án buộc phải xin lỗi và bồi thường cho người bị báo chí gọi là “tên tội phạm” trước khi có bản án kết tội của Tòa án Một vấn đề nữa là, cơ quan thông tin đại chúng có quyền chụp hình người bị buộc tội tại phiên tòa và đăng hình hay không?

Quan điểm thứ nhất phản đối việc chụp và đăng hình người bị buộc tội nếu không có sự đồng ý của người bị buộc tội Ý kiến này còn cho rằng, ở khía cạnh đạo đức không nên bắt người bị buộc tội phải chịu thêm hình phạt của dư luận bên cạnh hình phạt của Nhà nước

Quan điểm thứ hai cho rằng cơ quan thông tin đại chúng có quyền chụp và đăng hình người bị buộc tội vì mục đích là lên án, trừng trị và phòng ngừa chung

Quan điểm thứ ba lại trung dung, vừa cho phép, vừa không cho phép việc chụp

và đăng hình người bị buộc tội Việc chụp hình và đăng hình phải có giới hạn, khi nào được và khi nào không phải rõ ràng

Trang 30

Theo bản chất của nguyên tắc suy đoán không phạm tội, TS Nguyễn Quang Hiền cho rằng, quan điểm thứ nhất là quan điểm hợp lý Bởi, người bị buộc tội dù đang đứng trước HĐXX vẫn là người không phạm tội, cho nên các quyền về nhân thân, trong đó có quyền của cá nhân đối với hình ảnh của họ vẫn phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ” 17

Tác giả cũng có đồng quan điểm với TS Nguyễn Quang Hiền về vấn đề trên, việc các cơ quan thông tin đại chúng dùng cụm từ “tên tội phạm” đối với các bị can, bị cáo trước khi có bản án kết tội của Tòa án rõ ràng là một sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng Còn việc các cơ quan thông tin đại chúng chụp và đăng ảnh của người bị buộc tội thì chỉ được phép của người bị buộc tội, điều đó là phù hợp với các quy phạm đạo đức cũng như các quy phạm pháp luật về quyền cá nhân của người bị buộc tội

1.5.3 Mối quan hệ với nhóm nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật (Điều 5, Điều 19 BLTTHS)

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc này được quy định trong Điều 52 Hiến pháp 1992 và được thể hiện cụ thể ở Điều 5 và Điều 19 của BLTTHS

Tại Điều 5 BLTTHS quy định: “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” Theo quy định này thì chúng ta thấy mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, như vậy tất cả các công dân được đối xử như nhau trước pháp luật, không khác biệt nhau, không ảnh hưởng tới tôn giáo, giới tính, dân tộc… đã là công dân Việt Nam thì đều được hưởng các quyền và nghĩa vụ cơ bản như nhau Điều này cũng cho thấy trong quá trình giải quyết các VAHS các cơ quan có thẩm quyền không được định kiến với những người có sắc tộc, tôn giáo…khác mà đưa ra những quyết định bất lợi cho họ Từ những quyết định bất lợi đó có thể sẽ dẫn đến việc vi phạm các thủ tục, trình tự tố tụng hay ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền suy đoán vô tội của họ

17 khong-pham-toi-111e-bao-ve-quyen-con-nguoi-cua-nguoi-bi-buoc-toi

Trang 31

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/hanh-chinh-hinh-su-tu-phap/quy-111inh-nguyen-tac-suy-111oan-Đặc biệt hơn, tại điều 19 của BLTTHS thể hiện rõ ràng sự bình đẳng của công dân trong quan hệ pháp luật TTHS Giai đoạn xét xử được xem là giai đoạn then chốt trong quá trình giải quyết một vụ án, nó quyết định người bị buộc tội là người có tội hay người vô tội Nguyên tắc này đảm bảo quyền bình đẳng giữa những người tham gia tố tụng với kiểm sát viên trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu hay việc tranh tụng dân chủ tại phiên tòa

Phiên tòa là nơi bị cáo được quyền tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để họ chứng minh mình vô tội, tránh sự phán xét của pháp luật Nếu họ không được pháp luật quy định bình đẳng với kiểm sát viên đại diện quyền công tố tại tòa thì họ khó có thể bảo vệ được quyền lợi của mình, và như vậy quyền bào chữa của họ sẽ không được đảm bảo Điều này cũng phần nào dẫn tới vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội

1.5.4 Mối quan hệ với nguyên tắc xác định sự thật vụ án (Điều 10 BLTTHS)

Tại điều 10 của BLTTHS quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định vô tội,…” Xác định sự thật của vụ án không chỉ là nguyên tắc của luật TTHS mà còn là mục đích của quá trình tố tụng Đảm bảo xác định sự thật vụ án là đảm bảo việc giải quyết vụ án được chính xác và khách quan, không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội

Ngoài ra, trong nguyên tắc suy đoán vô tội có nội dung xác định trách nhiệm chứng minh sự thật của vụ án thuộc về các cơ quan buộc tội, đây cũng là một nội dung của nguyên tắc xác định sự thật vụ án Chỉ khi nào CQĐT, VKS xác minh đúng sự thật thì không vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội Bởi lẽ, người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo luôn được suy đoán vô tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Mà bản án của Tòa án chỉ đúng pháp luật khi bản án đó được xét xử dựa trên sự thật khách quan Nếu bản án không dựa trên sự thật mà chỉ dựa trên phỏng đoán, thiếu chứng cứ thì rất dễ trở thành bản án oan sai, xét xử sai cho người vô tội, điều này vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội Tương tự vậy, nếu vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội thì sẽ tất yếu dẫn đến sự vi phạm xác minh sự thật của vụ án vì khi các

Trang 32

cơ quan có thẩm quyền nghĩ rằng bị can, bị cáo là người có tội thì sẽ cố đi tìm chứng

cứ buộc tội và sẽ bỏ qua những tình tiết gỡ tội Điều này kéo theo hệ lụy là bị can bị cáo sẽ chắc chắn là người phạm tội dù đôi khi trên thực tế chưa hẳn bị can, bị cáo là người phạm tội

1.5.5 Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS)

Một người khi bị bắt, bị tạm giữ và trở thành bị can, bị cáo đều có quyền bào chữa, đây là một trong những quyền cơ bản của công dân khi tham gia quan hệ luật TTHS Nguyên tắc suy đoán vô tội là nền tảng cho những bảo đảm pháp lý về quyền bào chữa của người bị buộc tội Nói cách khác, nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa vì nếu đã bị coi là có tội ngay từ khi

bị khởi tố bị can thì quyền bào chữa để tìm ra chân lý của vụ án chỉ còn là “hư quyền” Thừa nhận sự suy đoán vô tội nên BLTTHS hiện hành đã có nhiều quy định đảm bảo quyền bào chữa, quyền chứng minh sự vô tội của bị can, bị cáo Quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ có thể được thực hiện một cách đầy đủ và hiện thực nếu tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội, vi phạm quyền bào chữa của người bị buộc tội luôn là vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội ở trong chừng mực nhất định Ngược lại, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ vi phạm quyền bào chữa của người bị buộc tội

1.5.6 Mối quan hệ với nhóm các nguyên tắc xét xử công bằng (Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23 BLTTHS)

Nguyên tắc suy đoán vô tội gắn bó mật thiết với nguyên tắc xét xử công bằng Những người THTT không thể công bằng nếu việc quyết định của mình là phiến diện hay thiên vị và ngược lại Đặt giả thiết là nếu một người bị cáo buộc là phạm tội và Tòa án hay các cơ quan có thẩm quyền khác đương nhiên xem họ là có tội, hoặc sự phán quyết chỉ đơn thuần chỉ dựa trên sự nhận tội của người bị buộc tội thì điều đó có nghĩa là nguyên tắc suy đoán vô tội đã bị vi phạm Như vậy, vấn đề cốt lõi và cơ bản

của nguyên tắc chính là ở chỗ “mọi nghi ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi

cho người bị buộc tội” Những người THTT không thể bắt đầu nhiệm vụ của mình với

sự suy đoán rằng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mà họ đã cáo buộc Một điều cốt yếu là gánh nặng chứng minh phải thuộc về cơ quan THTT, còn đối với người bị

Trang 33

buộc tội, họ có quyền nhưng không có nghĩa vụ này Điều này cho phép trước những lập luận theo chiều hướng suy đoán có tội từ phía những người THTT thì người bị buộc tội ít nhất cũng đưa ra được những chứng cứ cho rằng bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là không chính xác, và một bản án bị phát hiện không chính xác đương nhiên không chấp nhận ở cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm sẽ phải tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá lại, đồng thời sửa chữa và khắc phục những sai sót của Tòa án cấp dưới trong việc đưa ra bản án Việc làm này sẽ đảm bảo cho các bị cáo thấy rằng quyền lợi chính đáng của họ được bảo vệ đầy đủ

1.5.7 Mối quan hệ với nhóm nguyên tắc trách nhiệm của các cơ quan, người THTT (Điều 12, Điều 13, Điều 14 BLTTHS)

Trong quá trình THTT thì các cơ quan, người THTT đóng vai trò xem xét vụ

án, cũng như quyết định xem một người có phạm tội hay không Cơ quan THTT, người THTT là những người thực thi pháp luật nên hành động của họ phải đúng theo quy định của pháp luật Trong nguyên tắc suy đoán vô tội có một yêu cầu rất quan trọng đó là các cơ quan THTT, người THTT phải có niềm tin nội tâm vào nghi can, phải đối xử với họ như những công dân bình thường khác bởi họ vẫn đang là người vô tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, phải xác định sự thật vụ án một cách khách quan

Tại các Điều 12, 13, 14 của BLTTHS quy định trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT là:

- Phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình

- Khi có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan THTT phải có trách nhiệm khởi tố

vụ án, áp dụng các biện pháp để làm rõ tội phạm, không được khởi tố vụ án khi không

có căn cứ và trái trình tự theo quy định của BLTTHS

- Phải vô tư trong lúc THTT giải quyết VAHS

Như vậy, chúng ta thấy các trách nhiệm đối với các cơ quan THTT tại các Điều 12,13,14 của BLTTHS có vai trò rất lớn đối với nguyên tắc suy đoán vô tội, khi các cơ quan THTT, người THTT làm việc hết mình với trách nhiệm cao, đúng pháp luật thì nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ được đảm bảo thực hiện Còn khi các cơ quan có thẩm

Trang 34

quyền này làm việc với thái độ hời hợt, thiếu trách nhiệm, thiếu công tâm thì nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ bị vi phạm

1.5.8 Đối với nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29 BLTTHS)

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, chính vì sự thiếu hoàn chỉnh của các hệ thống pháp luật hay việc áp dụng pháp luật trên thực tế chưa đúng với tinh thần của các quy phạm pháp luật nên có sai phạm là điều tất yếu Đặc biệt trong quan hệ pháp luật hình sự thì khi có sai phạm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các quyền cơ bản của con người Chính vì vậy nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan sẽ là sự bổ sung không thể thiếu cho nguyên tắc suy đoán vô tội Khi làm oan cho người vô tội thì cơ quan Nhà nước phải bồi thường cho họ để đảm bảo hợp hiến trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Vì vốn

dĩ họ là những người vô tội nhưng lại bị các cơ quan đại diện Nhà nước tước đi những quyền cơ bản của họ, nên việc bồi thường cũng như phục hồi danh dự, nhân phẩm sẽ góp phần nào xoa diệu nỗi đau của họ

Có thể nói nguyên tắc này chỉ là chế định nhằm khắc phục các hành vi vi phạm trong quá trình THTT Nhưng hi vọng các cơ quan có thẩm quyền không lợi dụng tới

“bước đệm” này, vì khi sử dụng tới nguyên tắc này thì đã chứng tỏ các cơ quan có thẩm quyền đã làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội

Tóm lại, các nguyên tắc trên đã góp phần để nguyên tắc suy đoán vô tội thực hiện tốt vai trò định hướng của mình trong quá trình giải quyết VAHS Nếu chỉ có một mình nguyên tắc suy đoán vô tội thì sẽ rất khó trong việc thực hiện nguyên tắc này, vì các nội dung của nguyên tắc chưa thể thể hiện được việc bảo vệ quyền con người khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS

Trang 35

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC

Trong mỗi giai đoạn của quá trình TTHS thì nguyên tắc suy đoán vô tội có sự thể hiện khác nhau Bởi lẽ, mỗi giai đoạn có mỗi tính chất, nhiệm vụ khác nhau, từ đó cũng ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật trong từng giai đoạn Chính vì có sự khác nhau ở mỗi giai đoạn nên nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện khác nhau trong pháp luật Bên cạnh đó, thì việc áp dụng trong thực tiễn cũng có sự khác nhau ở mỗi giai đoạn

2.1 Thể hiện của nguyên tắc trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS

2.1.1 Quy định pháp luật TTHS trong việc thực hiện nguyên tắc trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS

Khởi tố VAHS là một giai đoạn độc lập của TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án Giai đoạn khởi tố bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hay phát hiện dấu hiệu tội phạm và kết thúc bằng một quyết định khởi tố hoặc không khởi tố VAHS.18 Như vậy, trong quá trình tố tụng, khởi tố VAHS là giai đoạn

mở đầu của TTHS, là giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm là cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hay không một VAHS

Xuất phát từ nhiệm vụ đó, giai đoạn khởi tố vụ án sẽ làm phát sinh các quan hệ pháp luật TTHS và nó cũng là cơ sở pháp lý đầu tiên để tiến hành các hoạt động tiếp theo trong TTHS như điều tra, truy tố, xét xử nếu có quyết định khởi tố VAHS Khởi

tố VAHS một cách kịp thời, có căn cứ và đúng pháp luật có thể giúp nhanh chóng phát hiện hành vi phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho điều tra tội phạm Ngược lại, khi khởi tố không có căn cứ, sai quy định của pháp luật thì có thể gây ra xét xử oan cho người vô tội và những hậu quả nghiêm trọng khác Điều 100 BLTTHS quy định cơ quan THTT chỉ được khởi tố VAHS khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Đồng thời, BLTTHS cũng quy định không được khởi tố VAHS khi có một trong những căn cứ tại Điều 107 Như vậy, CQĐT chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án khi đã xác định được

18 Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 204

Trang 36

dấu hiệu tội phạm từ các cơ sở tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức, trên các phương tiện thông tin đại chúng; trực tiếp xác định dấu hiệu tội phạm hoặc do người phạm tội tự thú và không được rơi vào các căn cứ được quy định tại Điều 107 Nếu đã khởi tố VAHS mà có một trong những căn cứ tại Điều 107 BLTTHS thì cơ quan có thẩm quyền phải hủy bỏ quyết định khởi tố (Điều 108 BLTTHS) Với những quy định tại các Điều 100, 107, 108 BLTTHS đã giúp việc khởi tố VAHS được thực hiện đúng pháp luật tránh gây ra oan sai cho người vô tội

Điều tra VAHS là giai đoạn của TTHS trong đó CQĐT và các Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, có thẩm quyền áp dụng những biện pháp điều tra do pháp luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố của VKS và xét xử của Tòa án 19

Giai đoạn điều tra có ý nghĩa tìm kiếm, xác minh các chứng cứ hay dùng các biện pháp mà pháp luật cho phép để điều tra vụ án Tìm ra những căn cứ tạo tiền đề cho VKS truy tố bị can, Tòa án xét xử Để một vụ án được sáng tỏ, tìm ra sự thật thì phải có giai đoạn điều tra bởi nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rất quan trọng đối với quá trình giải quyết VAHS

Theo Điều 3, Điều 4 PLTCĐTHS thì các cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội lập hồ sơ, đề nghị truy tố, tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Vậy CQĐT có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để:

- Phát hiện nhanh chóng tội phạm và người phạm tội

- Xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

- Làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định sự vô tội, làm rõ những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ TNHS

Do tính chất đặc thù của mỗi giai đoạn, không giống như giai đoạn khởi tố - chỉ xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để có hay không ra quyết định khởi tố vụ

án, giai đoạn điều tra sẽ thu thập các chứng cứ để làm sáng tỏ toàn bộ sự thật vụ án

19 Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2008 – 2009, tr 228

Trang 37

Chính vì vậy, nếu giai đoạn điều tra xác định đúng sự thật, khách quan của vụ án sẽ góp phần vào việc tránh làm oan người vô tội, đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Ngược lại, nếu trong quá trình điều tra có sai sót, vi phạm thì

dễ gây đến oan sai Giai đoạn này có quan hệ mật thiết với nguyên tắc suy đoán vô tội Chức năng của CQĐT là xác định sự thật vụ án và buộc tội người phạm tội nhưng do tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, việc xác định ranh giới giữa phạm tội hay không phạm tội là rất khó khăn, đồng thời điều này tác động mạnh đến tâm lý của các điều tra viên, kiểm sát viên nên dễ dẫn đến vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội Chính vì vậy nên trong BLTTHS 2003 có rất nhiều quy định ở giai đoạn điều tra để một phần giúp các CQĐT thực hiện tốt nhiệm vụ của mình nhưng cũng đảm bảo quyền lợi cho các bị can trong quá trình điều tra, tránh những sai sót dẫn tới xác định sai sự thật, làm oan người vô tội

Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật” khẳng định chỉ khi nào đã có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì một người mới bị xem là có tội Điều này chứng tỏ trong giai đoạn điều tra những nghi can vẫn là người vô tội Nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn điều tra thể hiện việc tôn trọng sự thật, bảo đảm quyền con người của bị can Việc điều tra VAHS đúng sự thật, khách quan là một tiêu chí quan trọng để đảm bảo quyền con người trong giai đoạn điều tra Nguyên tắc này có vai trò định hướng cho CQĐT trong giai đoạn điều tra hướng tới mục tiêu không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng xác định tội phạm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nó được thể hiện trong giai đoạn điều tra như sau:

Trong việc khởi tố hình sự của CQĐT cũng có sự định hướng của nguyên tắc suy đoán vô tội Tại Điều 13 BLTTHS đã quy định: “…Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ, trình tự do bộ luật này quy định” Và tại khoản 1 Điều 126 BLTTHS cũng có quy định: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can” Điều này cho thấy phải khi nào xác định được chứng cứ rõ ràng, hợp pháp thì CQĐT mới quyết định khởi tố vụ

án, khởi tố bị can, không được đưa ra quyết định khởi tố một cách tùy tiện theo cảm tính làm sai lệch vụ án, làm oan người vô tội

Trang 38

Vì nghi can vẫn là người vô tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án nên dù đang bị tình nghi là người thực hiện tội phạm thì họ vẫn được quyền hưởng những quyền cơ bản của công dân và được đối xử như người vô tội Do đó, đòi hỏi các CQĐT, điều tra viên, kiểm sát viên phải có thái độ đối xử, cũng như có niềm tin nội tâm vào các nghi can như người vô tội Việc này được thể hiện qua hỏi cung bị can Theo điều 131 BLTTHS thì việc hỏi cung bị can phải được tiến hành theo luật định, không được hỏi cung bị can vào ban đêm (tức là từ 22h đến trước 6h sáng ngày hôm sau) trừ những trường hợp không thể trì hoãn được (cần khắc phục vụ việc truy bắt người đồng phạm, thu giữ ngay vật chứng, công cụ, phương tiện phạm tội, ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của người đồng phạm…) BLTTHS quy định như vậy để đảm bảo quyền lợi cho bị can, họ cần được đảm bảo về sức khỏe cũng như sự minh mẫn trong lúc hỏi cung để trả lời sự việc một cách chính xác, đúng sự thật, tránh những lời khai có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ hay bị mớm cung, dụ cung

Ngoài ra thì các điều tra viên, kiểm sát viên không được bức cung (bức ép bị can khai báo, khai không đúng sự thật, khai theo ý muốn chủ quan của người hỏi cung…), dùng nhục hình (tra tấn đánh đập hay dùng thủ đoạn thô bạo làm cho bị can

bị đau đớn về thể xác, hoảng loạn về tinh thần mà khai báo không đúng sự thật) Quy định như vậy là điều cần thiết để bảo vệ quyền con người của các bị can Mặc dù CQĐT có chức năng buộc tội nhưng sự buộc tội của họ phải dựa trên sự thật khách quan không phải dựa trên các định kiến chủ quan của mình để buộc tội các bị can, như vậy là vi phạm trắng trợn nguyên tắc suy đoán vô tội Và để thực hiện tốt điều này thì tại khoản 4 Điều 131 BLTTHS có quy định trong trường hợp người hỏi cung có hành

vi bức cung, dùng nhục hình phải chịu TNHS theo Điều 298, Điều 299 BLHS quy định về tội dùng nhục hình và tội bức cung

Việc bắt giữ những người thực hiện tội phạm cũng phải thực hiện đúng theo trình tự pháp luật quy định không được phép bắt người bừa bãi Điều này đảm bảo việc bắt người phải có chứng cứ, có đại diện làm chứng để tránh bắt người bừa bãi, không đúng Việc bắt người không được diễn ra ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 BLTTHS (theo Điều 80 BLTTHS)

Trang 39

Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật” có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong quá trình điều tra Theo khoản 2 Điều 57 BLTTHS có quy định việc chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo khi họ bị truy tố về tội có khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, họ là người chưa thành niên, có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần Như vậy, ngay trong giai đoạn điều tra thì người bị buộc tội đã có quyền được bào chữa Những người bị tình nghi phạm tội dù không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội nhưng họ cũng cần bào chữa để chống lại những lời buộc tội của các cơ quan có thẩm quyền buộc tội Việc bị can, bị cáo có được quyền bào chữa,

có sự tham gia của người bảo vệ quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết VAHS sẽ giúp họ tránh bị mớm cung, bức cung hay nhục hình Đặc biệt, những nghi can thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều 57 BLTTHS càng cần được bảo vệ quyền bào chữa, bởi lẽ việc buộc tội có thể tước đi mạng sống của họ hoặc vì họ là người chưa thành niên, người bị khiếm khuyết về tâm thần, thể chất nên những hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật là hạn chế

Việc quy định được phép bào chữa từ giai đoạn điều tra là sự tiến bộ trong BLTTHS nước ta Vì như vậy sẽ đảm bảo tránh được các vi phạm trong giai đoạn điều tra – giai đoạn tiền đề quyết định cho việc hình thành tội danh của người bị tình nghi phạm tội, đảm bảo không vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội

Những quy định của pháp luật về giai đoạn điều tra đang góp phần cho việc bảo

vệ các quyền và lợi ích của bị can Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là kim chỉ nam cho quá trình điều tra diễn ra một cách rõ ràng, công tâm và có một niềm tin với các bị can, từ đó điều tra đúng sự thật, xác định đúng tội phạm

2.1.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS

Giai đoạn điều tra là giai đoạn có ảnh hưởng rất lớn đối với các giai đoạn sau,

có thể gây ra những vi phạm pháp luật không cần thiết Một người chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đồng nghĩa với việc những người chưa bị kết án bằng một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì chưa bị

Trang 40

coi là có tội, họ vẫn là những công dân vô tội Nguyên tắc này sẽ định hướng cho CQĐT có niềm tin nội tâm vào người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam là họ không

có tội Có thể, khi điều tra CQĐT có quyền và thậm chí tin rằng người bị tạm giữ, tạm giam là người có tội, nhưng theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì CQĐT phải coi và đối

xử với họ như đối với những người chưa có tội Quán triệt điều này sẽ giúp ích cho CQĐT chứng minh được những nghi ngờ về sự có tội của người bị tạm giữ, tạm giam một cách khách quan, tránh được những vi phạm pháp luật không cần thiết Nếu có định kiến rằng người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam là người có tội thì đồng thời CQĐT tự đặt mình vào tình trạng là làm thế nào thu thập đủ chứng cứ để chứng minh được điều đó mà quên đi nhiệm vụ trọng yếu của vụ án chính là xác định sự thật khách quan của vụ án, hay nói cách khác là CQĐT quên việc tìm những chứng cứ khác có thể gỡ tội cho người bị tình nghi

Về mặt lý luận chúng ta có thể thấy như vậy, nhưng trên thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc này, niềm tin nội tâm từ cơ quan THTT đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam là rất ít Một phần do số lượng tội phạm đang xảy ra quá nhiều và những hành vi thực hiện tội phạm với cách thức thực hiện dã man, tàn bạo đã làm dấy lên trong lòng người những căm tức Một phần do “chức năng của CQĐT là cơ quan buộc tội, thì rõ ràng việc tìm chứng cứ chủ yếu là để buộc tội Có ai cố đi tìm những chứng cứ gỡ tội đâu Nếu có thì chẳng qua là ngẫu nhiên tìm thấy trong quá trình buộc tội…”20

Vì những lý do trên mà thực tế có nhiều vi phạm nguyên tắc “Không ai bị coi là

có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” xảy ra trong giai đoạn điều tra Tác giả sẽ đưa ra một vài trong rất nhiều các vụ án sai phạm trong giai đoạn điều tra VAHS, những sai phạm đến từ sự vô tâm, thiếu trách nhiệm cũng như ý thức chủ quan trong cách làm việc của những người thực hiện nhiệm vụ buộc tội

Vụ án thứ 1: ba người trong vụ án oan kéo dài được đăng trên trang 7, Báo pháp luật TP.Hồ Chí Minh ngày 27/05/2004

20 http://www.luatdaiviet.vn/xem-tin-tuc/can-ghi-nhan-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w