4 - Trương Hồng Quang 2015, Tìm hiểu quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Qua quá trình t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
PHẠM VĂN HOÀNG
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VIỆC SINH CON
THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC
Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VIỆC SINH CON
THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: “Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Võ Trung Tín, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC 6
1.1 Những vấn đề lý luận về sinh con theo phương pháp khoa học 6
1.1.1 Khái niệm sinh con theo phương pháp khoa học 6
1.1.2 Ý nghĩa của việc sinh con theo phương pháp khoa học 9
1.1.3 Các hình thức sinh con theo phương pháp khoa học 10
1.2 Nguyên tắc thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học 14
1.2.1 Nguyên tắc tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa 14
1.2.2 Nguyên tắc bí mật 15
1.2.3 Nguyên tắc tự nguyện 16
1.2.4 Nguyên tắc tuân theo quy trình kỹ thuật 18
1.3 Cơ sở xác định yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học 19
1.3.1 Ảnh hưởng của vô sinh và nhu cầu sinh con theo phương pháp khoa học 19 1.3.2 Tác động của việc sinh con theo phương pháp khoa học 21
1.3.3 Pháp luật một số quốc gia về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học 22
1.3.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học bằng pháp luật 26
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 28
2.1 Đối tượng được phép sinh con theo phương pháp khoa học 28
2.1.1 Cặp vợ chồng vô sinh 28
2.1.2 Phụ nữ độc thân 30
2.2 Cơ sở y tế thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học 31
2.2.1 Cơ sở y tế thực hiện việc thụ tinh nhân tạo 31
2.2.2 Cơ sở y tế thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm 33
2.2.3 Cơ sở y tế thực hiện việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 35
2.3 Những quy định về tinh trùng, noãn và phôi 37
2.3.1 Quy định chung về điều kiện cho, nhận tinh trùng và cho, nhận noãn 37
2.3.2 Quy định về việc cho tinh trùng, cho noãn và sử dụng phôi dư sau khi thụ tinh trong ống nghiệm 41
2.3.3 Quy định về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi 42
2.3.4 Quy định về lưu giữ, gửi tinh trùng, noãn, phôi 45
Trang 62.3.5 Hệ quả pháp lý trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 45
2.4 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 48
2.4.1 Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 482.4.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 512.4.3 Hệ quả pháp lý của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 54
2.5 Một số vướng mắc và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về sinh con theo phương pháp khoa học 55 KẾT LUẬN 58
Trang 7Lĩnh vực Hỗ trợ Sinh sản ở Việt Nam khởi đầu khá muộn so với thế giới Sau
20 năm kể từ năm 1978, Louise Brown - em bé đầu tiên trên thế giới ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), mãi đến năm 1998, ba em bé TTTON đầu tiên ở Việt Nam mới ra đời Đây là một nỗ lực rất lớn của y học Việt Nam, khi mà TTTON ở Việt Nam được bắt đầu từ nền tảng khoa học còn nhiều yếu kém so với khu vực và thế giới Sau hơn 17 năm phát triển với những bước tiến nhanh và vững chắc Việt Nam là một trong những nước có số chu kỳ TTTON nhiều nhất trong khu vực, tiến hành mỗi năm khoảng 18.000 chu kỳ, có 23 trung tâm TTTON được thành lập đã thực hiện thành công hầu hết các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (KTHTSS) hiện đại trên thế giới5 Không chỉ thu hút bệnh nhân trong nước, TTTON tại Việt Nam còn được xem là một dịch vụ y tế chất lượng cao, có uy tín được các bệnh nhân ở các nước trong khu vực và thế giới tìm đến chữa trị Đến nay,
1 World Health Organisation (2015), Infertility - A tabulation of available data on prevalence of primary and
secondary infertility, Geneva: WHO Programme on Maternal and Child Health
4 Slade P, O'Neill C, Simpson AJ, Lashen H (2007), The relationship between perceived stigma, disclosure
patterns, support and distress in new attendees at an infertility clinic, Hum Reprod, tr 2309–2310
5 Hà Quyên, “120 em bé ra đời bằng thụ tinh trong ống nghiệm ở Đà Nẵng”, ra-doi-bang-thu-tinh-trong-ong-nghiem-o-da-nang-post659383.html, truy cập ngày 08/06/2016
Trang 8http://news.zing.vn/120-em-be-2
ước tính đã có hơn 20.000 em bé ra đời từ kỹ thuật TTTON tại Việt Nam6 Chi phí TTTON ở Việt nam thuộc loại thấp nhất thế giới với tỉ lệ thành công tương đương hoặc cao hơn trung bình của thế giới Không những phát triển mạnh trong nước và tại khu vực, lĩnh vực hỗ trợ sinh sản của Việt Nam đã và đang từng bước khẳng định mình trên bình diện thế giới, góp phần can thiệp có hiệu quả vào hành trình đi tìm hạnh phúc của các cặp vợ chồng vô sinh – hiếm muộn, giúp họ thực hiện được quyền làm cha mẹ cũng như quyền sinh sản của con người, làm cầu nối để vun đắp hạnh phúc gia đình bền vững, từ đó góp phần tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của một xã hội ấm no, hạnh phúc
Trong xã hội hiện đại ngày nay, với cái nhìn cởi mở hơn, không chỉ các cặp vợ chồng vô sinh mới có nhu cầu sinh con theo phương pháp khoa học (SCTPPKH)
mà ngày càng có nhiều đối tượng muốn thực hiện thiên chức làm cha mẹ thông qua các KTHTSS như phụ nữ độc thân, người đồng tính, người mắc các bệnh di truyền hay người nhiễm HIV Đây là một vấn đề nhạy cảm, không chỉ liên quan đến các quyền của con người, các quan hệ tình cảm, đạo đức, nhân cách mà còn gắn liền với các vấn đề pháp lý, được xã hội quan tâm hơn bao giờ hết Sự phát triển nhanh chóng của các KTHTSS cùng với nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đã đặt ra cho những nhà làm luật những thách thức mới về việc hoàn thiện pháp luật Đáp ứng yêu cầu đó, năm 2015, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo7 và Thông tư số 57/2015/TT-BYT ban hành hướng dẫn Nghị định số 10/2015/NĐ-CP8
ra đời thay thế cho Nghị định số 12/2003/NĐ-CP quy định về sinh con theo phương pháp khoa học9 và Thông tư số 07/2003/TT-BYT hướng dẫn chi tiết Nghị định số 12/2003/NĐ-CP10
, cho thấy sự quan tâm kịp thời của nhà nước về vấn đề này khi đã trải qua hơn 10 năm triển khai và thực hiện Đã 16 năm kể từ khi Luât Hôn nhân và Gia đình (LHN&GĐ) năm 2000 lần đầu tiên đề cập đến đến vấn đề SCTPPKH dưới khía cạnh xác định cha, mẹ cho con, đặt ra dấu mốc đầu tiên cho cơ sở pháp lý trong việc thực hiện các KTHTSS, vấn đề này hiện nay ngày càng được mở rộng và điều chỉnh một cách cụ thể Mặt khác, việc lần đầu tiên LHN&GĐ Việt Nam thừa nhận quan hệ mang thai hộ (MTH) vì mục đích nhân đạo vào năm 2014 càng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cần hoàn thiện
Sau đây gọi là Thông tư số 57/2015/TT-BYT
9 Sau đây gọi là Nghị định số 12/2003/NĐ-CP
10 Sau đây gọi là Thông tư số 07/2003/TT-BYT
Trang 93
Trong bối cảnh xã hội thay đổi, pháp luật có sự điều chỉnh cho thấy việc nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật về vấn đề SCTPPKH trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết để có thể truyền tải pháp luật vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất
Xuất phát từ những những lý do trên, tác giả chọn đề tài “KHÍA CẠNH PHÁP
LÝ CỦA VIỆC SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC Ở VIỆT NAM” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
SCTPPKH không còn là một đề tài quá mới mẻ đối với các quốc gia phát triển Do đó, ở các quốc gia này có không ít những công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về vấn đề này Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam, với những thành tựu
y học vượt bậc cũng như nhu cầu SCTPPKH ngày càng lớn đã đặt ra nhiều thử thách cho các nhà quản lý trong nước về lĩnh vực này Cũng từ đó, nhằm hiểu rõ hơn bản chất vấn đề và đóng góp những giải pháp, đề xuất thiết thực để điều chỉnh vấn đề SCTPPKH nhiều nhà nghiên cứu cũng vào cuộc tìm hiểu và mang lại những công trình, đề tài nghiên cứu lớn nhỏ Sau đây là một số dẫn chứng tiêu biểu mà qua quá trình nghiên cứu tác giả đã thu thập được:
- Trần Thanh Sơn (2005), Sinh con theo phương pháp khoa học – Vấn đề lý
luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
- Trần Thị Văn (2005), Khía cạnh pháp lý của vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí
- Nguyễn Thị Lan (2014), “Vấn đề xác định cha, mẹ, con và mang thai hộ theo
dự thảo Luật hôn nhân và gia đinh sửa đổi”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
266/2014, tr 22-26
- Nguyễn Quế Anh (2015), “Quy định về mang thai hộ - Một nội dung mới
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8
(281)/2015, tr 66-68
Trang 104
- Trương Hồng Quang (2015), Tìm hiểu quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ
tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng các khóa luận trên đây đều thể hiện được bản chất của vấn đề SCTPPKH nhưng phần chỉ đi một cách khái quát chưa đề cập cụ thể đến các vấn đề pháp lý cần hoàn thiện, phần thì quá đi sâu vào yếu tố y học; lại được nghiên cứu khi Nghị định số 10/2015/NĐ-CP
và LHN&GĐ năm 2014 chưa ra đời Còn các bài viết mới nhất về vấn đề này thì chưa nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện mà chỉ tiếp cận dưới một góc độ
Vì vậy, tác giả chọn đề tài nhằm tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ khía cạnh pháp lý của việc SCTPPKH ở Việt Nam trong bối cảnh những quy định pháp luật về vấn đề này đã thay đổi, đồng thời chỉ ra một số vướng mắc cũng như hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích: (i) Làm rõ cơ sở lý luận về SCTPPKH; (ii) Phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam và kinh nghiệm của pháp luật quốc tế trong vấn đề SCTPPKH, thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về SCTPPKH; (iii) Đề xuất một số vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về SCTPPKH
Để đạt được các mục tiêu đó, tác giả đặt ra những nhiệm vụ sau đây khi nghiên cứu đề tài: (i) Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về SCTPPKH theo hướng tiếp cận qua đặc điểm của các hình thức SCTPPKH cụ thể, đặt trong mối quan hệ với thực trạng áp dụng các quy đinh pháp luật hiện hành nhằm làm sáng tỏ bản chất của từng hình thức SCTPPKH đó và sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề SCTPPKH bằng pháp luật; (ii) Phân tích xu hướng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam hiện nay trong vấn đề SCTPPKH Xu hướng này có những điểm gì mới
so trước đây, có gì khác so với pháp luật của các quốc gia trên thế giới, điểm hạn chế và tích cực được thể hiện như thế nào?; (iii) Chỉ ra một số vướng mắc, hạn chế của pháp luật Việt Nam đồng thời đưa ra những ý kiến, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm từ những quy định tương tự đối với vấn đề này từ pháp luật các quốc gia trên thế giới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là các văn bản pháp luật của Việt Nam về SCTPPKH; trong một số trường hợp,
có so sánh với pháp luật các quốc gia khác và thực trạng áp dụng các quy định về
Trang 11lý theo các quy định pháp luật của Việt Nam mà trọng tâm là LHN&GĐ năm 2014, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Thông tư số 57/2015/TT-BYT, Thông tư số 12/2012/TT-BYT trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật quốc tế nhằm đúc kết, rút ra bài học kinh nghiệm cũng như hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật biện chứng triết học Marx – Lenin là phương pháp
nền tảng, được sử dụng chủ yếu và xuyên suốt trong đề tài Điển hình như việc phân tích cơ sở lý luận của việc SCTPPKH luôn có sự so sánh đối chiếu trong mối quan
hệ với thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật ở cả trong nước và quốc tế, qua đó đánh giá một cách toàn diện vấn đề cần nghiên cứu
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phân
tích (để làm sáng tỏ các đặc điểm, hình thức, nguyên tắc); thống kê các số liệu từ
thực tế, các bài viết trên các tạp chí khoa học, trang web; so sánh những quy định
của pháp luật Việt Nam với những quy định của pháp luật nước ngoài để rút ra bài
học kinh nghiệm, từ đó tổng hợp lại một cách toàn diện về vấn đề nghiên cứu, đưa
ra những đánh giá khách quan và thực tế hơn trong quá trình phân tích, nghiên cứu
và hoàn thiện đề tài
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa luận được kết cấu thành hai chương như sau:
Chương 1: Khái quát về sinh con theo phương pháp khoa học
Chương 2: Pháp luật về sinh con theo phương pháp khoa học ở Việt Nam –
Thực trạng và hướng hoàn thiện
Trang 126
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP
KHOA HỌC 1.1 Những vấn đề lý luận về sinh con theo phương pháp khoa học
1.1.1 Khái niệm sinh con theo phương pháp khoa học
Sinh sản là quyền thiêng liêng của mỗi con người, là chức năng không thể thiếu trong mỗi gia đình và xã hội Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, chức năng thiêng liêng ấy bị cản trở bởi sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã dự báo hiếm muộn và vô sinh là căn bệnh nguy hiểm thứ ba của thế kỷ XXI, đứng sau ung thư và các bệnh tim mạch11 Trước nguy
cơ đó thì sự can thiệp của y học nhằm khắc phục tình trạng vô sinh, thoả ước muốn
có con của bao người hiếm muộn là vô cùng cấp thiết Từ lúc mới ra đời, việc SCTPPKH chủ yếu được khai thác dưới góc độ y học Với sự phát triển vượt bậc, SCTPPKH ngày càng được quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên tồn tại các khái niệm “sinh con theo
phương pháp khoa học” khác nhau tuỳ vào góc độ nghiên cứu
Dưới góc độ y học
Theo các chuyên gia y tế về sức khỏe sinh sản của Trung tâm quốc gia phòng
chống các bệnh mãn tính và tăng cường sức khỏe ở Mỹ, “sinh con theo phương
pháp khoa học” được hiểu là quá trình can thịêp của y học với những phương pháp
kỹ thuật hiện đại can thiệp vào việc sinh sản tự nhiên của con người, khi chức năng sinh sản tự nhiên của con người bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau, thông qua các KTHTSS trong đó tế bào trứng và tinh trùng được xử lý nhằm điều trị khả năng sinh sản của con người12 Đây là một định nghĩa bao quát cả nguyên nhân, quá trình điều trị và những kỹ thuật cơ bản được dùng trong việc SCTPPKH bằng các thuật ngữ chuyên môn trong y học
Dưới góc độ xã hội
Do nhu cầu của chính xã hội nên mới dẫn đến sự ra đời và phát triển của SCTPPKH Vì vậy, ta có thể hiểu SCTPPKH là một hiện tượng xã hội, nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, nó phản ánh mối quan hệ giữa những người
vô sinh, mong muốn có con với các cơ sở y tế có chức năng hỗ trợ việc thực hiện các KTHTSS
Sinh sản đã xuất hiện trước khi loài người xuất hiện Khi xã hội hình thành, nhà nước ra đời, việc sinh con đẻ cái duy trì nòi giống đóng vai trò ngày càng quan
11
Shan Juan, “Country's infertility rate on the rise”,
http://www.chinadaily.com.cn/china/201002/27/content_9512682.htm , truy cập ngày 16/05/2016
12
Assisted reproductive technologies (ART), http://www.cdc.gov/art/, truy cập ngày 16/05/2016
Trang 137
trọng Do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến hiện tượng vô sinh ở con người đặt
ra nhu cầu dùng các phương pháp để điều trị khả năng sinh sản Lúc đầu, việc điều trị này còn mang tính sơ khai, chủ yếu áp dụng các phương thuốc dân gian hay phong tục tập quán Dần dần cùng với sự phát triển xã hội, ngày càng có nhiều thành tựu vượt bậc về mặt y học, cùng với đó là sự ra đời của việc SCTPPKH
Thuật ngữ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies –
ART) được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng tương tự với khái niệm SCTPPKH ở Việt Nam
Theo định nghĩa từ Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các phòng
Y tế Hỗ trợ Sinh sản ở Hoa Kỳ, KTHTSS bao gồm tất cả các phương pháp chữa trị chứng vô sinh trong đó cả trứng lẫn tinh trùng đều được sử dụng Tóm lại, ART là công tác phẫu thuật lấy trứng của một người nữ, kết hợp với tinh trùng của một người nam, sau đó đem cấy vào người phụ nữ đó hay một người phụ nữ khác15
Tại Pháp, Luật Sức khỏe cộng đồng lại quy định KTHTSS là thực hiện về mặt lâm sàng hoặc về mặt sinh học việc TTTON, lưu giữ các giao tử, tế bào gốc, phôi, cấy truyền phôi và TTNT16
Ở Canada, Luật hỗ trợ sinh sản năm 2004 định nghĩa KTHTSS tại Điều 3 như là một kỹ thuật sinh sản mới (New reproductive technologies - NRTs) sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ, thao tác sinh học tác động đến quá trình sinh sản tự nhiên của con người nhằm điều trị vô sinh hiếm muộn17
13
Sonia Fader, “An excerpt from Sperm Banking: A Reproductive Resource”,
https://cryobank.com/Learning-Center/Sperm-Banking-101/Sperm-Banking-History/, truy cập ngày
16/05/2016
14 Louise Brown is known as the world's first test-tube baby, conceived through in vitro fertilization (IVF), http://www.biography.com/people/louise-brown-9542072#profile, truy cập ngày 16/05/2016
15 “Hỗ trợ sinh sản”, https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%97_tr%E1%BB%A3_sinh_s%E1%BA%A3n, truy cập ngày 16/05/2016
16
Điều L2141-1 Luật Sức khỏe cộng đồng Pháp năm 2000
17 Sonya Norris and Marlisa Tiedemann (2011), Legal Status at the Federal Level of Assisted Human
Reproduction in Canada, Library of Parliament, Otowa, Canada 2015, tr 2
Trang 148
Như vậy, theo pháp luật ở một số nước trên thế giới, KTHTSS đều được định nghĩa một cách thuần tuý không mang tính khái quát như trong y học, chỉ ra một cách cụ thể những cách thức, phương pháp điều trị vô sinh
Ở Việt Nam, sự kiện ba em bé TTTON đầu tiên ra đời vào năm 1988, đã được các nhà làm luật dự liệu và bổ sung vào LHN&GĐ năm 2000 tại khoản 2 Điều
63 về việc xác định cha, mẹ cho con: “Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra
theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định.” Và trong Nghị định số
12/2003/NĐ-CP tại khoản 1 Điều 3, lần đầu tiên khái niệm “sinh con theo phương
pháp khoa học” được định nghĩa một cách cụ thể là “việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm”
Hiện nay, định nghĩa được nêu ra trong Nghị định số 12/2003/NĐ-CP cũng
chỉ mang giá trị tham khảo do sự thay thế bởi Nghị định số 10/2015/NĐ-CP Tuy nhiên, trong Nghị định này lại chỉ quy định về phương pháp TTTON và điều kiện MTH vì mục đích nhân đạo, không còn điều chỉnh việc thực hiện KTHTSS bằng phương pháp TTNT Vì vậy, trong Nghị định số 10/2015/NĐ-CP không còn định
nghĩa một cách cụ thể về khái niệm “sinh con theo phương pháp khoa học” hay “kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản” Mặt khác, Luật Khám bệnh, Chữa bệnh 2009 lại không
hướng dẫn chi tiết các quy định về phương pháp TTNT
Phân tích về khái niệm đã từng có giá trị pháp lý được quy định trong Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, ta có thể nhận thấy các quốc gia khác sử dụng thuật ngữ
“kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” để chỉ các phương pháp điều trị khả năng sinh sản ở
người; nhưng trong Nghị định này lại sử dụng một cách khác, dùng khái niệm “sinh
con theo phương pháp khoa học” để bao hàm thuật ngữ “kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”
Cách sử dụng này có thể dẫn tới những cách hiểu chồng chéo, nhầm lẫn khi từng thuật ngữ chưa được giải thích cụ thể trong các văn bản pháp luật
Mặt khác, các nhà làm luật ở nước ta cũng có xu hướng xây dựng khái niệm này như các nước trên thế giới là chủ yếu sử dụng phương pháp liệt kê ra các
phương pháp điều trị vô sinh, hiếm muộn như “thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống
nghiệm” Tại khoản 21, Điều 3 LHN&GĐ năm 2014, các nhà làm luật đã cho thấy
sự thống nhất đối với thuật ngữ “kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” trên thế giới, khái niệm
“sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” được hiểu là “việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Cùng với đó là việc định nghĩa
thuật ngữ MTH nhưng lại được tách riêng ra và không đồng nhất với thuật ngữ KTHTSS Phương pháp này có nhiều ưu điểm khi thể hiện quan điểm rõ ràng của các nhà lập pháp chỉ công nhận hai phương pháp TTNT và TTTON là KTHTSS
Trang 159
được thực hiện hợp pháp bên cạnh MTH vì mục đích nhân đạo Nhưng nó lại bị hạn chế trong bối cảnh hiện nay khi khoa học ngày càng phát triển, nhiều cách thức mới được ra đời và áp dụng thành công Vì vậy, theo quan điểm cá nhân của tác giả không nên liệt kê một cách quá cụ thể các cách thức điều trị vô sinh; thay vào đó là chỉ ra những yếu tố hình thành nên các phương pháp này
Căn cứ vào xu hướng điều chỉnh pháp luật hiện nay, cũng như từ những lập luận mà tác giả đưa ra trên đây có thể định nghĩa khái niệm này như sau:
“Sinh con theo phương pháp khoa học là cách thức điều trị khả năng sinh sản
mà trong đó tế bào trứng và tinh trùng được xử lý.”
1.1.2 Ý nghĩa của việc sinh con theo phương pháp khoa học
Về mặt y học, việc SCTPPKH mà khởi đầu là TTTON tạo ra bước ngoặc cho y
học thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực sinh sản Các phương pháp được dùng để SCTPKH được nghiên cứu và ứng dụng nhiều hơn góp phần nâng cao chất lượng sống Đặc biệt, những phương pháp này là nền móng vững chắc trong việc ra đời và phát triển lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc và nhân bản vô tính Việc SCTPPKH giúp con người tin tưởng vào khoa học, tin tưởng vào thành quả mà các chuyên gia có kinh nghiệm dày công nghiên cứu để từ đó bài trừ những tư tưởng mê tín, siêu thực
về việc sinh sản của con người vẫn đang tồn tại trong thế giới hiện đại
Về mặt xã hội, nếu như trước đây, vô sinh – hiếm muộn được xem là “bản án
đã được đóng dấu” thì hiện nay với sự phát triển của y học hiện đại nó mang lại niềm tin, hạnh phúc cho những cặp vợ chồng hiếm muộn Đây cũng được coi là một hành động mang tính cộng đồng và nhân văn lớn vì việc sinh con không dừng lại là câu chuyện riêng tư của các cặp vợ chồng nữa mà đã được nhiều người quan tâm và được những người có kinh nghiệm chuyên môn giúp đỡ nếu gặp trục trặc về sinh sản SCTPPKH biến những điều không thể trở nên có thể trong xã hội hiện đại ngày nay Nó tạo được tiếng nói chung giữa đa số những con người có cũng hoàn cảnh,
sự cảm thông chia sẻ của các cặp vợ chồng, sự an tâm, thanh thản của những người tiền bối luôn trăn trở về hậu duệ đời sau của mình Các phương pháp khoa học trong sinh sản được áp dụng cho từng đối tượng, hoàn cảnh cụ thể khác nhau nhưng với mục đích cuối cùng là một đứa trẻ khoẻ mạnh được ra đời
Về mặt quản lý nhà nước, sự phát triển nhanh chóng của các KTHTSS sẽ
không những giúp các nhà quản lý về y tế ngày càng nhận thức rõ hơn về vấn đề vô sinh – hiếm muộn một vấn đề có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc cuộc sống của từng cá nhân và gia đình trong xã hội mà còn góp phần giáo dục trong cộng đồng, nâng cao hiểu biết về vô sinh để tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác điều trị giữa bệnh nhân và bác sĩ được dễ dàng hơn, hiệu quả hơn tránh mất thời
Trang 1610
gian, công sức và lãng phí tiền bạc Đồng thời, với sự hiểu biết thấu đáo về vô sinh con người mới ý thức được sự tác động từ môi trường sống cũng như cách sống buông thả luôn tiềm ẩn nguy cơ gây vô sinh vào hiếm muộn cao, từ đó có phương pháp và phòng ngừa, bảo vệ sức khỏe một cách hợp lý, bảo vệ bản thân cũng như góp phần xây dựng xã hội, lành mạnh văn minh
1.1.3 Các hình thức sinh con theo phương pháp khoa học
Hiện nay trên thế giới, kỹ thuật y học ngày càng tiến bộ đạt được nhiều thành tựu lớn lao, các hình thức SCTPPKH ngày càng đa dạng và đạt nhiều hiệu quả Căn
cứ vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại thành các hình thức khác nhau:
- Căn cứ vào các kỹ thuật thực hiện hỗ trợ sinh sản ta có thể phân thành hai hình thức cơ bản là TTNT (bằng phương pháp bơm tinh trùng đã qua xử lý vào buồng tử cung; phương pháp tiêm tinh trùng vào vòi trứng hoặc qua cổ tử cung) và TTTON (các phương pháp phát sinh từ kỹ thuật TTTON như bơm tinh trùng vào bào tương trứng hay chuyển giao tử, hợp tử vào vòi trứng)18
- Căn cứ vào yếu tố sinh học bên ngoài tham gia vào quá trình sinh sản có thể chia ra làm các hình thức: phương pháp cho, nhận tinh trùng; phương pháp cho, nhận trứng; phương pháp cho, nhận phôi và MTH19
Trong phạm vi khoá luận này, tác giả chỉ tập trung phân tích các hình thức cơ bản theo quy định trong pháp luật Việt Nam hoặc đang nằm trong xu hướng điều chỉnh của pháp luật quốc tế Ở phần này, các hình thức SCTPPKH sẽ không nghiên cứu quá sâu vào yếu tố y học mà chủ yếu khai thác các đặc trưng cơ bản nhất của các hình thức này, để làm sáng tỏ được bản chất, cách thức mà từ đó các nhà lập pháp xây dựng pháp luật và áp dụng trong thực tế Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về KTHTSS, để nắm rõ bản chất, cách thức và các đặc điểm của các hình thức KTHTSS mà các nhà lập pháp từ đó xây dựng pháp luật, ta có thể
phân theo các tiêu chí sau: định nghĩa; các trường hợp áp dụng; chủ thể áp dụng;
một số kỹ thuật điển hình của phương pháp đó
Cụ thể các hình thức SCTPPKH mà tác giả tập trung làm rõ bao gồm: TTNT, TTTON và MTH
1.1.3.1 Thụ tinh nhân tạo
Định nghĩa: Theo nghĩa rộng, có thể hiểu TTNT là cách gọi chung để chỉ các
phương pháp thụ tinh không thông qua con đường giao hợp tự nhiên mà dùng các
kỹ thuật tiên tiến để giúp cho quá trình thụ thai được diễn ra Tuy nhiên, trong phạm
vi khóa luận này, thuật ngữ “thụ tinh nhân tạo” được đề cập tới theo cách hiểu của
18
Trần Thanh Sơn (2005), Sinh con theo phương pháp khoa học – Vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 2-4
19 Trần Thanh Sơn (2005), tlđd (17), tr 6-7
Trang 1711
các nhà lập pháp Việt Nam, đã từng được đề cập tới trong Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, là phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intrauterine insemination - IUI) để tạo phôi Đây là kỹ thuật bơm trực tiếp tinh trùng đã qua lọc rửa vào buồng tử cung của người phụ nữ bằng việc sử dụng một ống thông chuyên dụng nhằm tăng khả năng có thai ở người phụ nữ
TTNT là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay Phương pháp này với chi phí tương đối thấp, phù hợp với nhiều đối tượng đang là lựa chọn của rất nhiều người muốn thực hiện SCTPPKH
Các trường hợp áp dụng:
Phương pháp TTNT là một biện pháp hữu hiệu, giúp các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn và những phụ nữ độc thân có thể thực hiện việc sinh con bình thường trong trường hợp người phụ nữ phải đáp ứng yêu cầu có ít nhất một vòi trứng thông tốt, chu kỳ phải có trứng rụng mới đảm bảo mới có thể thực hiện TTNT Ngoài ra, phương pháp TTNT thường được áp dụng cho những trường hợp
vô sinh do người đàn ông tinh trùng yếu, bất thường hoặc không có tinh trùng cần xin mẫu tinh trùng để thực hiện kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung của người vợ; các trường hợp bất thường ở cổ tử cung hay rối loạn phóng noãn, lạc nội mạc tử cung20
Chủ thể áp dụng
Theo Thông tư số 12/2012/TT-BYT, phương pháp TTNT có thể áp dụng cho cặp vợ chồng vô sinh và những phụ nữ độc thân có nhu cầu SCTPPKH Cặp vợ chồng vô sinh là cặp vợ chồng mong muốn có con cùng nhau, chung sống từ trên 01 năm, không dùng biện pháp tránh thai mà vẫn không thể có con Khi đó vợ chồng nên cùng nhau đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa uy tín Nếu vợ chồng được xác định là có biểu hiện của vô sinh hiếm muộn, không thể có con một cách tự nhiên, thì có thể áp dụng một số biện pháp hỗ trợ sinh sản mà điển hình là TTNT Còn phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật21
Các kỹ thuật thường được áp dụng
Từ những năm 1970 -1980, kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)
đã được áp dụng trên thế giới Hiện nay, IUI ngày càng được áp dụng rộng rãi do những tiến bộ trong kỹ thuật lọc rửa tinh trùng, khả năng tiên đoán thời điểm rụng trứng
20 Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 12/2012/TT-BYT
21 Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP
Trang 1812
Kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung là kỹ thuật trong đó ống thông được đưa qua cổ tử cung nhằm mục đích bơm trực tiếp mẫu tinh trùng đã lọc rửa vào buồng tử cung, nhằm làm tăng tỷ lệ có thai cho các cặp vợ chồng vô sinh22 Trong đó, kỹ thuật lọc rửa tinh trùng để bơm tinh trùng vào buồng tử cung là là kỹ thuật nhằm mục đích loại bỏ các tinh trùng chết và tinh tương nhằm thu được mẫu nhiều tinh trùng khoẻ mạnh để bơm vào buồng tử cung hoặc làm TTTON23
Tỷ lệ thành công của IUI vào khoảng 20%, cao hơn so với hai kỹ thuật thụ tinh quanh cổ tử cung và tiêm tinh trùng vào vòi trứng nên là phương pháp được sử dụng phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới.24
1.1.3.2 Thụ tinh trong ống nghiệm
Định nghĩa: Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, thụ tinh
trong ống nghiệm (IVF) là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi, trong đó noãn là giao tử của nữ, tinh trùng là giao tử của nam Còn theo Thông tư 57/2015/TT-BYT tại khoản 1 Điều 11, TTTON được định nghĩa là
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong đó tinh trùng cho thụ tinh với noãn trong môi trường bên ngoài cơ thể (in-vitro) Phôi thu được sẽ chuyển vào buồng tử cung để làm tổ hoặc sẽ được đông lạnh để sử dụng sau
Phương pháp TTTON là phương pháp khoa học đầu tiên can thiệp vào quá trình sinh sản của con người dẫn đến sự ra đời của những đứa bé cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn Đạo luật về vô sinh Victoria, Úc năm 1984 và Đạo Luật
về Thụ tinh và Phôi thai Anh năm 1990 là một trong những đạo luật đầu tiên điều chỉnh về phương pháp TTTON Hiện nay, hệ thống pháp luật điều chỉnh về vấn đề này ngày càng hoàn thiện, bắt kịp được những tiến bộ của y học, và được điều chỉnh chung với các KTHTSS khác
Các trường hợp áp dụng:
Các trường hợp áp dụng TTTON thường là các trường hợp vô sinh mà nguyên nhân xuất phát từ người vợ như tắc vòi tử cung, lạc nội mạc tử cung, do bất thường về phóng noãn,…hoặc nguyên nhân vô sinh không rõ nguyên nhân hoặc do cả vợ và chồng TTTON cũng được chỉ định cho những trường hợp mà TTNT tiến hành thất bại25
Chủ thể áp dụng:
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa, cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân là những chủ thể có quyền
22 Khoản 1 Điều 7 Thông tư 12/2012/TT-BYT
23 Khoản 1 Điều 6 Thông tư 12/2012/TT-BYT
24 “IUI”, http://ivfbaby.com/vietnamese/vn3a.php, truy cập ngày 18/05/2016
25 Khoản 2, khoản 3 Điều 10 Thông tư 12/2012/TT-BYT
Trang 19Như vậy, đối tượng nên áp dụng TTTON không nằm ngoài những đối tượng
có thể áp dụng phương pháp TTNT Hầu hết các trường hợp điều trị vô sinh hiếm muộn khi buộc phải áp dụng các phương pháp hỗ trợ sinh sản sẽ được tư vấn áp dụng phương pháp TTNT đầu tiên bởi phương pháp này vẫn đem lại hiệu quả điều trị cao, trong khi kỹ thuật thực hiện không phức tạp bằng TTTON, chi phí điều trị cũng thấp hơn… trong trường hợp sau khi áp dụng bơm tinh trùng vào buồng tử cung nhiều lần vẫn không mang lại kết quả thì TTTON được coi là niềm hi vọng lớn cho người điều trị.26
Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (Intra-cytoplasmic Sperm Injection - ICSI) là một trong những kỹ thuật điển hình, được thực hiện thành công đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 Chỉ vài năm sau đó, ICSI đã được triển khai khắp các nơi trên thế giới và cho đến nay đã trở thành một trong những kỹ thuật điều trị phổ biến nhất trong các KTHTSS Với kỹ thuật này, các nhà khoa học
có thể tạo ra phôi mà chỉ cần duy nhất một trứng và một tinh trùng
Tỷ lệ thụ tinh của ICSI thường cao hơn hoặc tương đương với kỹ thuật IVF bình thường Tỉ lệ thành công của ICSI ít phụ thuộc vào chất lượng và nguồn gốc tinh trùng, trừ những trường hợp dị dạng tinh trùng nặng Với kỹ thuật IVF bình thường, một số trường hợp tinh trùng không thể tự thụ tinh do bất thường về thụ tinh, dẫn đến không có phôi để chuyển vào buồng tử cung Với kỹ thuật ICSI, chúng ta có thể tránh gần như hoàn toàn các trường hợp trên, giúp một nam giới có chất lượng tinh trùng kém, thậm chí không có tinh trùng vẫn có khả năng có con như một nam giới có chất lượng tinh trùng tốt
1.1.3.3 Mang thai hộ
MTH là một hình thức KTHTSS có yếu tố sinh học bên ngoài tham gia vào quá trình sinh sản, được hiểu là một người phụ nữ mang thai cho một cặp vợ chồng khác trên cơ sở lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để TTTON, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con Sau khi sinh, người phụ nữ này phải trao lại con cho cặp vợ chồng nhờ MTH Về mặt sinh học, MTH không có sự di truyền giữa người phụ nữ mang
Trang 201.2 Nguyên tắc thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học
Các cơ sở y tế có chức năng hỗ trợ vấn đề SCTPPKH đang ngày càng tăng lên
về số lượng và chất lượng, đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có mối quan tâm chính đáng với vấn đề này Trong các văn bản pháp luật cũng thể hiện rõ thái độ quan tâm, khuyến khích đối với vấn đề SCTPPKH nhằm hỗ những người không may muốn điều trị, cụ thể theo Pháp lệnh dân số năm 2003 quy định29 : “Nhà nước đầu tư và
khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công nghệ hỗ trợ sinh sản nhằm giúp đỡ người vô sinh, người triệt sản và những người có nhu cầu theo qui định của pháp luật” Bên cạnh việc tạo điều kiện cho
việc SCTPPKH ngày càng mở rộng và hiệu quả thì nhà nước ta cũng đặt ra những nguyên tắc nhất định đối với vấn đề SCTPPKH nhằm đảm bảo các quyền của con người cũng như các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, cụ thể hơn là các quyền của người bệnh được quy định trong Luật Khám, Chữa bệnh năm 2009 Những nguyên tắc này
đã được đề cập từ Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, nay đã thay thế bằng Nghị định số 10/2015/NĐ-CP chỉ điều chỉnh việc thực hiện KTHTSS bằng phương pháp TTTON
và MTH vì mục đích nhân đạo Nhưng theo tác giả, những nguyên tắc này vẫn có thể áp dụng chung cho việc SCTPPKH, vì nó cần thiết để đảm bảo cho sức khoẻ con người nói chung và trong sức khoẻ sinh sản nói riêng
1.2.1 Nguyên tắc tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa
Đây là nguyên tắc cơ bản không chỉ được áp dụng trong vấn đề SCTPPKH mà trong cả ngành y học Việt Nam cũng như trên thế giới Nguyên tắc này đựơc ghi
nhận tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: “Cặp vợ chồng vô sinh và
phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 gián tiếp quy định
Trang 2115
vấn đề này:“Người bệnh có trách nhiệm tôn trọng thầy thuốc và nhân viên y tế;
bệnh năm 2009 cũng quy định nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là phải: “kịp thời và tuân thủ đúng quy
định chuyên môn kỹ thuật” 31
Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong Điều 7, Điều 8 Thông tư số 57/2015/TT -BYT Theo đó, khi thực hiện các KTHTSS nhằm thực hiện việc SCTPPKH thì bước đầu tiên là phải khám và xét nghiệm thăm dò vô sinh cho người muốn điều trị
Sở dĩ, nguyên tắc này được đặt ra là do sự quan trọng hàng đầu của sức khoẻ
con người: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ
bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc”32 Do vậy khi tiến hành bất
cứ sự can thiệp y học nào tác động đến sức khoẻ con người không chỉ riêng trong lĩnh vực sinh sản thì cũng cần tuân theo sự chỉ định của những người có chuyên môn về lĩnh vực đó Mặt khác, để áp dụng những KTHTSS thực hiện việc SCTPPKH cần tiến hành theo những bước, qua quá trình kiểm tra nhất định Vì vậy, việc tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa là một nguyên tắc cần thiết cần được tuân thủ để đảm bảo an toàn cho người điều trị
1.2.2 Nguyên tắc bí mật
Khi thực hiện các KTHTSS nhằm đáp ứng mong muốn sinh con cho người điều trị, các cơ sở y tế tiến hành phải đảm bảo tuân theo nguyên tắc bí mật Tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP đã ghi nhận một cách cụ thể về nguyên tắc bí mật đối với các bên MTH và đứa con sinh ra do phương pháp này:
“Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ MTH được bảo
đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.” Quy định này được xây dựng nhằm đảm bảo quyền bất khả
xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của mỗi công dân được quy định trong văn bản pháp luật tối cao của nhà nước - Hiến Pháp33
Nguyên tắc này không chỉ áp dụng đối với người điều trị, mà còn áp dụng với
cả những người hiến tặng tinh trùng, phôi Điều này được quy định chi tiết tại khoản
4 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: “Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận
phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh
30 Khoản 1 Điều 27 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989
31 Khoản 3 Điều 3 Luật Khám bệnh, Chữa bệnh năm 2009
32
Lời mở đầu Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989
33 Điều 73 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Điều 21 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 2216
trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi
rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc”
Để thực hiện các phương pháp như TTNT, TTTON, MTH phải có sự hỗ trợ về mặt sinh học của người thứ ba như thực hiện các phương pháp cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi Đây là các kỹ thuật thường sử dụng để hỗ trợ cho việc thực hiện SCTPPKH, được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận và áp dụng Để đảm bảo quyền riêng tư, tôn trọng bí mật cá nhân của công dân, nguyên tắc vô danh không chỉ được thực hiện khi cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi mà còn trong cả hiến máu34, hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác35 Theo đó, khi thực hiện bên hiến tặng sẽ không biết ai là người nhận được, người nhận cũng không biết ai là người đã tặng cho Và việc cho và nhận này không mang mục đích thương mại Trên thực tế, với việc cho - nhận tinh trùng, nguyên tắc vô danh là khả thi vì thao tác lấy tinh trùng khá đơn giản Tuy nhiên, với việc cho - nhận noãn, tìm được người cho noãn lại là một việc rất khó vì chọc hút noãn là một kỹ thuật phức tạp Tuy sự phát triển của y học có thể hạn chế được những rủi ro và biến chứng do kỹ thuật lấy trứng gây ra, nhưng đối với việc cơ thể phải chịu nhiều đau đớn và việc phải tốn rất nhiều chi phí cho việc phục hồi cơ thể, thì việc hiến trứng một cách tự nguyện là điều khó xảy ra, thường người tặng chỉ cho những người thân trong gia đinh hay bạn bè thân thiết nên khó có thể có đủ nguồn trứng cho việc thực hiện KTHTSS Theo Thạc sĩ Nguyễn Viết Tiến - Chủ nhiệm khoa TTTON Viện Bảo vệ
Bà mẹ & Trẻ sơ sinh - một số nước đã có quy định nêu rõ, noãn hiến được lấy từ hai nhóm đối tượng là người TTTON có thừa noãn và người thân hoặc bạn bè của phụ
nữ có nhu cầu nhận Như vậy, nguyên tắc vô danh không nhất thiết phải được thực hiện đối với trường hợp này.36
1.2.3 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc tự nguyện là nguyên tắc tồn tại trong mọi quan hệ pháp luật, không chỉ riêng trong vấn đề SCTPPKH Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 3
Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: “Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và
nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện”
Tự nguyện là yếu tố quan trọng hàng đầu giữa các bên tham gia việc SCTPPKH Việc tự nguyện là nền tảng của mọi quan hệ, không chỉ người có nhu cầu điều trị, mà cả người cho noãn, tinh trùng, phôi và cơ sở y tế tiến hành việc
34 Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 26/2013/TT-BYT hướng dẫn hoạt động truyền máu
35
Khoản 4 Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006
36 “Nguyên tắc vô danh trong cho nhận noãn liệu có khả thi?”, danh-trong-cho-nhan-noan-lieu-co-kha-thi/10807194/248/, truy cập ngày 18/05/2016
Trang 23http://vietbao.vn/Suc-khoe/Nguyen-tac-vo-17
SCTPPKH cũng phải được đảm bảo thực hiện trên tinh thần tự nguyện Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong mối quan hệ không ai bị ép buộc, đe dọa hay cưỡng ép, bị lôi kéo bằng thủ đoạn hoặc áp lực từ người khác hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình
Xét chủ thế là người có nhu cầu điều trị, xuất phát từ mong muốn được hoàn thành thiên chức làm một người cha, người mẹ, đây là những cặp vợ chồng vô sinh hay những phụ nữ độc thân không lập gia đình mong muốn có con thì tự nguyện trong việc thực hiện chính là yếu tố đầu tiên họ phải đảm bảo Mặt khác, theo Luật Khám bệnh, Chữa bệnh năm 2009 thì họ chính là những người bệnh - người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh37 Theo đó, họ có quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh, quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh, chữa bệnh, quyền được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh38 Đây cũng là những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tự nguyện, người điều trị hoàn toàn tự do ý chí, có quyền lựa chọn sau khi được cung cấp đầy đủ những thông tin về quá trình điều trị cũng như những rủi ro mà họ có thể gánh chịu bởi sự tư vấn của y, bác sĩ Sự tự nguyện càng được thể hiện rõ hơn bằng những đơn
đề nghị thực hiện kỹ thuật TTTON, đơn đề nghị thực hiện kỹ thuật MTH hay bản
cam kết tự nguyện MTH vì mục đích nhân đạo được quy định trong Phụ lục của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP Qua đó ta có thể thấy, việc tự nguyện không chỉ thể hiện bởi ý chí các bên mà đã thể hiện bằng hình thức văn bản, cũng là căn cứ rõ ràng để chứng minh khi có hậu quả xảy ra
Với những người hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi thì tinh thần tự nguyện lại được đề cao hơn bao giờ hết Ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể Chính vì vậy, để xác định việc thực hiện đó đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa sự thống nhất ý chí của chủ thể với sự bày tỏ ý chí đó dưới hình thức văn bản chính là cơ sở quan trọng
Ví dụ như, việc ký văn bản thoả thuận MTH vì mục đích nhân đạo được quy định tại Mẫu số 06 Phần phụ lục tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP biểu hiện sự tự nguyện dưới hình thức văn bản phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên thoả thuận
Các cơ sở y tế thực hiện SCTPPKH cũng như các y, bác sĩ trực tiếp tiến hành việc điều trị cũng cần phải hoàn toàn tự do về mặt ý chí, không bị sự cưỡng ép, đe doạ của người cần điều trị nhưng không đảm bảo các yêu cầu về y học cũng như
37 Khoản 3 Điều 2 Luật Khám, Chữa bệnh năm 2009
38 Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật Khám bệnh, Chữa bệnh năm 2009
Trang 241.2.4 Nguyên tắc tuân theo quy trình kỹ thuật
Để đảm bảo an toàn cho sức khoẻ người điều trị cũng như việc tiến hành SCTPPKH đạt hiệu quả cao nhất thì việc thực hiện các KTHTSS phải theo đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành Nguyên tắc này đuợc ghi nhận tại khoản 5
Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: “Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống
nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.”
Quy trình kỹ thuật là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm tiêu chuẩn để đảm bảo mức độ an toàn của việc SCTPPKH nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện này Quy trình kỹ thuật là một vấn đề quan trọng không chỉ áp dụng trong việc SCTPPKH mà trong hầu hết các lĩnh vực chuyên môn đều có quy định
Hiện nay, có rất nhiều văn bản pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh, hướng dẫn quy trình kĩ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực y học Ta có thể kể đến một số văn bản pháp luật sau: Quyết định số 3338/QĐ-BYT của Bộ Y ngày 09/09/2013 tế ban hành hướng dẫn Quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Ung bướu, Quyết định số 3027/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 29/08/2013 ban hành hướng dẫn Quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Răng Hàm Mặt,…
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong vấn đề SCTPPKH được quy định chi tiết tại Quyết định số 1377/QĐ-BYT ngày 24/04/2013 của Bộ Y tế ban hành và một số văn bản pháp luật khác như Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Thông tư số
57/2015/TT-BYT, Thông tư số 12/2012/TT-BYT
Quy trình kỹ thuật được ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể về quy trình khám, chẩn đoán và các bước tiến hành của việc thực hiện quy trình KTHTSS Căn cứ vào
đó người điều trị có thể nắm rõ các thủ tục cũng như quá trình tiến hành của chính
kỹ thuật tác động đến chính sức khoẻ của mình Mặt khác, đó cũng chính là tiêu chuẩn để các cơ sở y tế vận hành quá trình thực hiện một cách có hiệu quả nhất, là các tiêu chí để các y, bác sĩ thực hiện nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người điều trị
Trang 25 Ảnh hưởng về mặt hôn nhân gia đình
Trong cuộc sống gia đình, con cái là sợi dây gắn kết tình cảm của vợ chồng, không tiếng cười trẻ thơ, hạnh phúc gia đình dễ dẫn đến đổ vỡ Người vô sinh dù vợ hoặc chồng thì họ luôn phải đối mặt với rất nhiều áp lực từ gia đình, xã hội và không tránh khỏi rạn nứt tình cảm trong quan hệ hôn nhân Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ ly hôn vẫn đang xảy ra trong xã hội hiện đại 39
Trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, điển hình như Iran, một đất nước mang nặng tính hồi giáo, thì vô sinh còn là một căn cứ để ly hôn giữa các cặp vợ chồng Theo Điều 9 của Luật Bảo vệ hôn nhân gia đình Iran năm 2002,
vô sinh là một căn cứ hợp pháp có thể biện minh cho việc chấm dứt của một cuộc hôn nhân bằng sự kiện ly hôn40
Ảnh hưởng về mặt tâm lý, sức khỏe
Theo tâm lý Á đông, việc kết hôn và sinh con là kết quả tất yếu mà mỗi cá nhân khi trưởng thành phải thực hiện Đây được coi là then chốt trong việc giữ vững hạnh phúc gia đình và duy trì các mối quan hệ trong xã hội Bởi vậy, vô sinh tạo ra tâm lý nặng nề nếu một cá nhân không may gặp phải vấn đề này Các cặp vợ chồng
vô sinh có thể bị áp lực xã hội ngoài các tác động trực tiếp của vô sinh41
Đối với đàn ông, thường đối mặt với các vấn đề như nối dõi tổ tiên, duy trì huyết mạch của gia tộc, thờ cúng ông bà, dòng họ Bên cạnh những áp lực nặng nề của người thân trong gia đình, họ còn phải đối mặt với dư luận xã hội
Với phụ nữ, ảnh hưởng đó có phần nặng nề hơn, Hầu hết các nhà nghiên cứu kết luận rằng vô sinh đem lại áp lực tâm lý cho phụ nữ hơn là nam giới Các nghiên
39 “Vô sinh gây nên những hậu quả gì?”, http://phukhoahanoi.vn/vo-sinh-nu-gay-nen-nhung-hau-qua-gi.html, truy cập ngày 6/5/2016
40 Abbasi-Shavazi MJ, Asgari-Khanghah A, Razeghi-Nasrabad HB (2005), Women and the infertility
experience: A case study in Tehran, Woman in Development and Politics (Women’s Research), tr 91
41 Daar AS, Merali Z (2012), Infertility and social suffering: the case of ART in developing countries, Current
practices and controversies in assisted reproduction, Geneva: WHO
Trang 2620
cứu chỉ ra báo cáo cảm xúc tiêu cực và đau khổ tâm thần nhiều hơn ở phụ nữ so với nam giới trong các cặp vợ chồng chẩn đoán vô sinh42 Vô sinh có thể là một nguồn gốc của đau khổ xã hội và tâm lý cho phụ nữ nói riêng Đặc biệt với truyền thống văn hóa còn nhiều định kiến ở Việt Nam, việc không có khả năng sinh sản thường được gán cho phụ nữ Phụ nữ vô sinh thường ám ảnh về tình trạng bạo lực gia đình, thiếu thốn về kinh tế, cô lập, mất địa vị xã hội và cuộc sống hôn nhân đổ vỡ có thể xảy ra Sự mặc cảm về bản thân khi không thể sinh con cho chồng và không được làm mẹ như bao nhiêu phụ nữ khác khiến họ trở nên khó tính, lãnh cảm với mọi người và tránh né trong giao tiếp dẫn đến tình trạng trầm cảm
Không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý, vô sinh còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người gặp phải tình trạng này Tuy không trực tiếp gây nên nhưng sự tác động tâm
lý của vô sinh khiến bệnh nhân có sự chán nản trong ăn uống, công việc, sinh hoạt cũng bị đảo lộn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe Có thể là nguyên nhân gây
ra hàng loạt những bệnh về đường ruột, gan, thận…43
1.3.1.2 Nhu cầu của việc sinh con theo phương pháp khoa học
Do những ảnh hưởng nghiêm trọng của vô sinh dẫn đến nhu cầu điều trị vô sinh ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng Sau đây là một số thống kê cho thấy nhu cầu của việc điều trị vô sinh Xuất phát từ một phương pháp thực nghiệm mà kết quả là sự ra đời đầu tiên vào năm 197844, đến khoảng bảy triệu trẻ em được sinh
ra trong gần bốn thập kỷ qua 45 Khoảng 1,5 triệu chu kỳ IVF được thực hiện hàng năm, kết quả là sự ra đời của 350.000 trẻ em trên toàn thế giới46 Mỗi năm, nước ta
có trên 10.000 cặp vợ chồng có nhu cầu hỗ trợ sinh sản nhưng mới có 23 trung tâm
hỗ trợ sinh sản được Bộ Y tế cấp phép hoạt động Trung bình mỗi năm có gần 5.000 trẻ ra đời bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản.47
Theo thống kê tại bệnh viện Phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, cũng cho thấy nhu cầu của việc thực hiện các KTHTSS là không hề nhỏ, vào năm 2014 trung bình mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận trên 250 lượt bệnh nhân đến khám và tư vấn về hiếm muộn, vào năm 2015 là gần 300 lượt Đến nay số lượng này ngày càng tăng,
42
Connolly KJ, Edelmann RJ, Cooke ID, Robson J (2002),“The impact of infertility on psychological
functioning”, Journal of Psychosomatic Research, tr 459–460
43 Tlđd (39)
44 Steptoe PC, Edwards RG (2002), Birth after the reimplantation of a human embryo, Lancet, tr 366
45Inhorn MC (2015), Right to assisted reproductive technology: overcoming infertility in low-resource
countries, Int J Gynaecol Obstet, tr 172
46 “Five millionth test tube baby”, http://www.bbc.com/news/health-18649582, truy cập ngày 12/06/2016
47 “Nguy cơ cận huyết do hiến tặng tinh trùng cho người hiếm muộn”, tuc/suc-khoe/nguy-co-can-huyet-do-hien-tang-tinh-trung-cho-nguoi-hiem-muon-3348948.html, truy cập ngày 08/06/2016
Trang 272700 chu kỳ với tỷ lệ thai lâm sang đạt gần 40% Về mang thai hộ, trong năm
2015, bệnh viện đã duyệt 33 hồ sơ từ các cặp vợ chồng hiếm muộn đủ điều kiện mang thai hộ và đã thực hiện 19 ca.48
Từ những số liệu thực tế nêu trên cho thấy được việc SCTPPKH là ngày càng phổ biến Bên cạnh việc đầu tư nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh thì việc hoàn thiện pháp luật ở lĩnh vực này là điều vô cùng cần thiết
1.3.2 Tác động của việc sinh con theo phương pháp khoa học
Việc SCTPPKH giúp những trường hợp vô sinh có cơ hội được làm cha mẹ, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho biết bao người nhưng kèm theo đó là không ít những hệ lụy
Về mặt sức khoẻ, Việc áp dụng KTHTSS ở Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế
về cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị kĩ thuật để lọc rửa tinh trùng, người ta vẫn phải bơm tinh dịch chưa được xử lý nên tỷ lệ thụ thai thấp cùng với nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục do phải bơm nhiều lần Bên cạnh đó, việc làm này nếu không được diễn ra theo đúng quy trình thì không kiểm soát được các căn bệnh truyền nhiễm, bệnh lây qua đường tình dục
Về mặt đạo đức, việc SCTPPKH là một trong những việc làm mang tính nhân
văn sâu sắc được mọi người trong xã hội quan tâm và ủng hộ nhưng có không ít người lợi dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản này với mục đích tư lợi bản thân như kinh doanh buôn bán tinh trùng, trứng bất chấp sức khỏe sự an toàn và tính nhân đạo vốn có Chính những nguồn tinh trùng, trứng không rõ thông tin mang tính chất thương mại này có thể dẫn tới trường hợp một người lấy tinh trùng hoặc trứng của mình bán cho nhiều bệnh nhân và hậu quả đứa bé sinh ra sau này dễ gặp trường hợp hôn nhân cận huyết
Về mặt xã hội, SCTPPKH là kỹ thuật sinh sản có sự hỗ trợ của y tế và những
người có chuyên môn nên việc cho ra đời một đứa trẻ từ lâu đã không còn là việc tự nhiên của hai người khác giới nữa Chính việc này đã dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều những ông bố, bà mẹ đơn thân trong xã hội Về mặt tích cực thì do những trường hợp hoàn cảnh riêng tư hết sức đặc biệt nên người ta chọn cho mình
48 Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động chuyên môn của Khoa hiếm muộn-Bệnh viện phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, năm 2015
Trang 2822
cuộc sống đơn thân nhưng cũng có không ít bạn trẻ hiện nay lại cho đó là xu thế của thời đại mà quên đi rằng một đứa trẻ lớn lên cần sự nuôi nấng, chăm sóc và tình cảm của cả bổ và mẹ Từ lí do này mới dẫn ra một yêu cầu là việc SCTPPKH cần phải được thực hiện và áp dụng một cách nghiêm túc và chặt chẽ, phân biệt rạch ròi nên hay không nên thực hiện ở những trường hợp nào tránh tâm lí kì thị cuộc sống gia đình truyền thống và lối suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống hôn nhân
Do những tác động nêu trên, đòi hỏi pháp luật phải có sự thay đổi và điều chỉnh phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích cho mỗi công dân Cũng từ nhiều biện pháp, nhiều cách hỗ trợ khác biệt và sự tiến bộ chóng mặt của y học hiện đại thì việc áp dụng một đạo luật cụ thể và thức thời cho việc làm này cũng là thách thức lớn cho những nhà lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
1.3.3 Pháp luật một số quốc gia về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học 1.3.3.1 Khái quát sự ra đời và phát triển của pháp luật trên thế giới đối với vấn
đề sinh con theo phương pháp khoa học
Năm 1978, Louis Brown em bé đầu tiên được sinh ra từ phương pháp thụ TTTON, đánh dấu bước đầu cho sự phát triển của TTTON ở người Sau đó, 2 trường hợp sinh khác từ TTTON cũng đã được báo cáo tại Anh Năm 1980, em bé TTTON thứ tư trên thế giới được sinh ra tại Úc Trung tâm Monash ở bang Victoria, Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực hiện thành công TTTON Trung tâm này sau đó liên tục báo cáo các trường hợp sinh con bằng phương pháp TTTON Do trung tâm TTTON đầu tiên ở Anh tạm ngưng hoạt động sau trường hợp sinh đầu tiên, người ta ghi nhận rằng 12 trong số 15 em bé TTTON đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung tâm Monash ở Úc.49
Victoria là nơi luôn
đi đầu trong nghiên cứu và điều trị sử dụng IVF Ca mang thai bằng IVF đầu tiên cũng diễn ra ở bang Victoria vào năm 197350
Do sự phát triển ngày càng vượt bậc về TTTON tại bang, vào năm 1982 Chính phủ bang Victoria thành lập một ủy ban để điều tra các vấn đề xã hội, đạo đức và pháp lý xung quanh quy trình TTTON và nghiên cứu tại Victoria51 Từ những nghiên cứu và xem xét, đến năm 1984, Đạo luật vô sinh (kèm theo thủ tục y tế) được công bố bởi các nhà cầm quyền bang Victoria, Úc Đến năm 1988, Đạo Luật chính thức có hiệu lực, đặt ra yêu cầu liên quan đến việc tư vấn thực hiện quy trình
49 Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Phạm Việt Thanh và cộng sự (2004), “Lịch sử phát triển kỹ thuật hỗ trợ sính
sản trên thế giới và Việt Nam”, Báo sức khoẻ và đời sống, số 49 tháng 4 năm 2004, tr 8
50 Cohen J, Trounson A, Dawson K, Jones H, Haekamp J, Nygren KG (2005), The early days of IVF outside
the UK, Hum Reprod Update, tr 439
51Victoria: Victorian Government (1982), Victorian committee to consider the social, ethical and legal issues
arising from in vitro fertilization, Interim Report, tr 1
Trang 2923
thụ tinh và chi phí tài trợ Victoria là nơi đầu tiên trên thế giới áp dụng luật pháp toàn diện để điều chỉnh việc sử dụng KTHTSS52
Tại Anh, các Sở Y tế và An sinh xã hội thiết lập các Ủy ban thẩm tra xem xét
về việc thụ tinh của con người và nghiên cứu phôi thai vào năm 1982 (thường được gọi là Warnock)53 Đến năm 1984, Báo cáo của Ủy ban điều tra về thụ tinh của con người và phôi được công bố, đưa ra các nghiên cứu phôi thai con người, nhấn mạnh
sự cần thiết của thụ tinh và đề nghị thành lập một bộ luật điều chỉnh vấn đề này Đây cũng là một trong những cơ sở đầu tiên cho sự bắt đầu của một cơ quan về Thụ
tinh và Phôi thai (Human Fertilisation and Embryology Authority - HFEA) Vào
năm 1990, Đạo Luật về Thụ tinh và Phôi thai được công bố ở Anh quy định việc thành lập HFEA nhằm quản lý độc lập việc điều trị TTTON và nghiên cứu phôi thai
ở người Đạo luật chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 8 năm 1991, quy định về việc tạo ra phôi thai của con người ở bên ngoài cơ thể và sử dụng phôi trong điều trị
và nghiên cứu; việc sử dụng, lưu trữ các giao tử và phôi Đạo luật cũng quy định HFEA lưu giữ cơ sở dữ liệu của tất cả các điều trị IVF và các cơ sở dữ liệu liên quan đến tất cả các chu kỳ và sử dụng giao tử (trứng và tinh trùng)
Đạo luật về vô sinh Victoria, Úc năm 1984 và Đạo Luật về Thụ tinh và Phôi thai Anh năm 1990 là những đạo luật đầu tiên trên thế giới điều chỉnh về KTHTSS, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật cho các quốc gia khác về vấn đề này
Trong những năm 80, kỹ thuật TTTON đã phát triển rất mạnh và lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới, kể cả ở Châu Á Trong đó, Singapore được ghi nhận là nơi thực hiện thành công TTTON đầu tiên ở Châu Á vào năm 1983.54
Các KTHTSS trên thế giới ngày càng phát triển vượt bậc, và đạt được nhiều thành tựu to lớn, cùng với đó là sự ra đời của hệ thống pháp luật các nước để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề này Ở Châu Âu, năm 1990, Đức công bố Đạo luật Bảo vệ phôi thai, đưa ra định nghĩa về phôi thai và quy định các cách thức nhằm bảo vệ phôi thai Năm 1994, Pháp bắt đầu điều chỉnh vấn đề hỗ trợ sinh sản từ khi Luật về hiến tặng, sử dụng mô, bộ phận cơ thể người; hỗ trợ sinh sản và chuẩn đoán trước khi sinh ra đời Ở Chấu Á, năm 2001 Bộ Y tế Trung Hoa đã cho ban hành Quy chế quản lý về công nghệ hỗ trợ sinh sản ở người với mục đích nhằm
52 “Infertility (Medical Procedures) Act 1984”, www.austlii.edu.au/au/legis/vic/hist_act/ipa1984311.pdf , truy cập ngày 25/05/2016
53
B.M DickensU, R.J Cook (1999), “Some ethical and legal issues in assisted reproductive technology”,
International Journal of Gynecology & Obstetrics, vol 66, tr 58
54 Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Phạm Việt Thanh và cộng sự (2004), tlđd (49)
Trang 301.3.3.2 Pháp luật của Úc về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học
Như một kết quả của sự phát triển vượt bậc về KTHTSS, cũng như hàng loạt các vấn đề về văn hóa, xã hội, đạo đức được đặt ra, năm 1995 Đạo luật Điều trị vô sinh được ban hành, khắc phục một số hạn chế và mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Đạo luật năm 1984 và đưa ra những quy định bắt kịp với sự phát triển khoa học
và công nghệ, chẳng hạn như việc sử dụng chẩn đoán di truyền trước khi cấy phôi Đạo luật này đã được bổ sung bởi Quy chế Điều trị Vô sinh 1997, trong đó nêu ra các yêu cầu liên quan đến tư vấn, thông tin và đăng ký người hiến tặng Năm 2004, Chính phủ Victoria đòi hỏi Ủy ban Cải cách xem xét các khía cạnh của Luật Điều trị vô sinh năm 1995 và đưa ra các kiến nghị thay đổi Ủy ban này đã đưa ra hơn 130 kiến nghị với Chính phủ bang Victoria trong tháng 6 năm 2007 liên quan đến các điều kiện để điều trị khả năng sinh sản với sự hỗ trợ, thụ tinh, tặng cho giao tử, tiếp cận với các thông tin liên quan người hiến tặng tinh trùng, trắng và vấn
đề MTH Các đề nghị Ủy ban Cải cách đã dẫn đến sự ra đời của Luật hỗ trợ sinh sản năm 2008, thay đổi các điều kiện tiến hành KTHTSS và quy định các loại dịch vụ
có thể được cung cấp bởi các phòng khám
1.3.3.3 Pháp luật của Anh về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học
Sau những bước tiến mạnh mẽ trong phương pháp TTTON, dẫn đến sự ra đời của Đạo Luật về Thụ tinh và Phôi thai Anh năm 1990, đến năm 1994 thông qua Quy định 1994/2767, MTH được hợp pháp hóa Năm 1996, Quy định 1996/375 được banh hành nhằm mở rộng thời gian lưu trữ cho phôi Vào năm 2001, Quy định 2001/188 mở rộng lý do cho phép nghiên cứu phôi trên tế bào gốc và thay thế nhân
tế bào Cùng năm đó, đạo luật về cấm nhân bản vô tính ở người cũng được ban
55 Điều 1 Quy chế quản lý của Bộ Y tế Trung Hoa về công nghệ hỗ trợ sinh sản ở người
Trang 31dữ liệu của HFEA lưu giữ để giúp cho việc nghiên cứu và theo dõi điều trị vô sinh
1.3.3.4 Pháp luật của Trung Quốc về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học
Ngược lại với các nước phát triển, công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) không được phát triển ở Trung Quốc cho đến giữa những năm 1980 với phương pháp TTTON, em bé đầu tiên sinh ra theo phương pháp này tại Đài Loan vào năm 1985, sau đó là Hồng Kông vào năm 1986 Đến năm 1988, tại Trung Quốc, lần đầu tiên áp dụng thành công phương pháp này56 Từ khởi đầu đó, ART ở Trung Quốc ngày càng phát triển đã khơi dậy một loạt các phản ứng xã hội, văn hóa, pháp lý, và đạo đức nhưng số lượng các chu kỳ ART thực hiện hàng năm lại bị hạn chế Kết quả là, ART vẫn không thể tiếp cận với nhiều cặp vợ chồng vô sinh ở Trung Quốc57 Năm
2001, Bộ Y tế nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CMOH ) đã phát hành bốn Nghị định “Phương pháp quản lý hỗ trợ sinh sản ở người”, “Phương pháp quản lý Ngân hàng tinh trùng ở người”, “Tiêu chuẩn kỹ thuật cho hỗ trợ sinh sản và ngân hàng tinh trùng ở người” và “Nguyên tắc đạo đức về hỗ trợ sinh sản và ngân hàng tinh trùng ở người” Các Nghị định yêu cầu tất cả các chương trình hỗ trợ sinh sản
và ngân hàng tinh trùng ở Trung Quốc phải đăng ký và được giám sát bởi CMOH Trong năm 2003, các phương pháp và tiêu chuẩn đã được sửa đổi Quy định mới của CMOH đòi hỏi các chương trình hỗ trợ sinh sản và các ngân hàng tinh trùng ở Trung Quốc để được liên kết với các bệnh viện có thẩm quyền phải được cấp phép, họ phải tuân thủ các chính sách kế hoạch hóa gia đình của Trung Quốc,
và do đó số lượng các trung tâm được giới hạn bởi các Chính phủ58 CMOH cũng nghiêm cấm mua bán giao tử, hợp tử và phôi Mặc dù không có luật cụ thể cấm việc
56 China’s first test-tube baby enters college, www.chinaview.cn, truy cập ngày 06/08/2016
57
Wu JC (2011), China-USA Golden Conference Proceedings, Infertility report, tr 12
58 Jie Qiaoand Huai L Feng (2014), Assisted reproductive technology in China: compliance and
non-compliance, Transl Pediatr 2014 Apr 3(2), tr 91–93
Trang 3226
MTH ở Trung Quốc, nhưng trong năm 2001 CMOH đã ngầm đưa ra các quy đinh nhằm cấm buôn bán trứng đã được thụ tinh, phôi; cấm các bệnh viện chuyển phôi cho việc MTH59.CMOH cũng nghiêm cấm việc nhân bản vô tính ở người
Qua nghiên cứu một số các quy định về KTHTSS ở một số quốc gia, đa phần các nước đều ban hành một đạo Luật riêng để điều chỉnh, cho thấy tầm quan trọng của vấn đề SCTPPKH Bên cạnh đó là việc đưa ra các điều kiện về độ tuổi, sức khỏe đối với các chủ thể muốn thực hiện sinh con bằng KTHTSS; điều kiện về cơ
sở vật chất, nhân lực đối với các cơ sở y tế thực hiện SCTPPKH Các nhà làm luật trên thế giới cũng có quan điểm thống nhất trong việc cấm lựa chọn giới tính và nhân bản vô tính ở người Tùy vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và nhu cầu của công dân cũng như những rủi ro mà các nhà làm luật dự liệu mà ở mỗi quốc gia có quy định khác nhau về việc MTH Ở Châu Âu có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, trong khi Pháp cấm MTH60, Ý cấm tất cả các KTHTSS có sự tham gia của người thứ ba61 thì ở Anh, pháp luật có quy định cởi mở hơn khi cho phép MTH
vì mục đích nhân đạo62
Ở Mỹ, chỉ một số bang cho phép việc MTH Ở Châu Á, trong khi Trung Quốc không cho phép việc MTH thì ở Ấn Độ và Thái Lan, ngay cả MTH thương mại cũng được cho phép63
1.3.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học bằng pháp luật
Kể từ năm 1998, khi những đứa bé đầu tiên ra đời bằng KTHTSS ở nước ta đã tạo ra niềm hy vọng cho biết bao nhiêu cặp vợ chồng vô sinh Bên cạnh những hạn chế về mặt y học, do chưa có pháp luật điều chỉnh nên việc SCTPPKH còn gặp nhiều khó khăn Do không có một khung pháp lý hướng dẫn mà đây lại là lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến nhiều vấn đề đạo đức, xã hội nên các cơ sở y tế rất lúng túng trong việc thực hiện Vào những năm 2000, 2001 Bộ Y tế phải xét duyệt hàng trăm đơn xin được TTTON Điều này không chỉ gây rắc rối cho chính nhà nước mà còn gây tốn kém thời gian và chi phí cho chính những người mong muốn thực hiện thiên chức làm cha mẹ, những cơ sở y tế tiến hành thực hiện
SCTPPKH hiện nay không còn là vấn đề mới trên thế giới cũng như ở Việt Nam, khi áp dụng phương pháp khoa học trong sinh sản nền y học nước nhà đã đạt được những thành tựu đáng kể64 Bên cạnh đó, do những ảnh hưởng nghiêm trọng
59 Wei AC (2012),“Chinese wombs for hire”, Asia News Network (the Straits Times), 242/08 (3), tr 7
60 Khoản 7 Điều 16 Bộ luật Dân sự Pháp
61 Khoản 3 Điều 4 Luật Hỗ trợ sinh sản Ý năm 2004
62
Điều 5 Đạo luật về Thụ tinh và Phôi thai Anh (HFE) 2008
63 HK Council (2000), Human reproductive technology, Human Reproduction Scientific guideline, tr.8-11
64
Xem thêm Phần mở đầu
Trang 3327
của vô sinh mà nhu cầu thực hiên các KTHSS trong xã hội ngày càng tăng đặt ra yêu cầu cần một hành lang pháp lý vững chắc để các hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản có thể diễn ra một cách thuận lợi và đạt được hiệu quả cao
Nền y học thế giới và trong nước ngày càng phát triển vượt bậc, luôn tìm kiếm những giải pháp tốt nhất để hạn chế tối đa những rủi ro đem lại với người điều trị, nhưng việc sinh con bằng KTHTSS là một kỹ thuật phức tạp khi tiến hành có thể đem lại những hậu quả không muốn cho người thực hiện như quá kích buồng trứng, hiện tượng đa thai do cấy nhiều hơn một phôi vào niêm mạc tử cung hay nguy cơ
mang thai ngoài tử cung Ngoài ra việc SCTPPKH cũng có thể gặp nhiều tác dụng
phụ khác như: chảy máu, tổn thương ở tử cung và nhiễm trùng vùng chậu, đau bụng dưới,… Những rủi ro tiềm ẩn khi thực hiện là không hề ít Vì vậy cần có sự quy định của pháp luật về độ tuổi, điều kiện sức khỏe, số phôi tối đa được cấy vào tử cung người phụ nữ để hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra, bảo vệ sức khỏe
cho người điều trị cũng như đứa bé được sinh ra
Không chỉ tác động đến một vài cá nhân mà SCTPPKH là một vấn đề cấp thiết được sự quan tâm của xã hội.Việc tham khảo các quy định của pháp luật thế giới về vấn đề này đặt trong mối tương quan với hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước
ta, để từ đó học hỏi và điều chỉnh nhằm hoàn thiện pháp luật là điều cần thiết Pháp luật là công cụ không thể thiếu giúp điều hoà các mối quan hệ trong xã hội phù với đạo đức và văn hoá truyền thống Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của pháp luật trong xã hội nên chỉ vài năm sau khi việc SCTPPKH xuất hiện
và phát triển tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành một Nghị định quy định những vấn đề cụ thể liên quan đến lĩnh vực này
Để bắt kịp với những thành tựu y học hiện đại và sự thay đổi của xã hội, việc tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc với vấn đề SCTPPKH là việc làm cần thiết Không chỉ liên tục hoàn thiện mà việc đặt ra những biện pháp hiệu quả để tăng cường vai trò của pháp luật nhằm hạn chế tối đa những tác động của vô sinh, góp phần ổn định xã hội, phát triển đất nước là một nhu cầu tất yếu khách quan của cuộc sống
Trang 3428
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Đối tượng được phép sinh con theo phương pháp khoa học
Mặc dù phương pháp TTNT được thực hiện theo quy định Luật Khám bệnh, Chữa bệnh 2009, tuy nhiên không phải mọi đối tượng được quyền khám chữa bệnh đều được phép thực hiện TTNT Theo Thông tư số 12/2012/TT-BYT, có thể hiểu rằng, phương pháp TTNT chỉ áp dụng cho cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân
có nhu cầu SCTPPKH.65 Theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP đối với phương pháp TTTON cũng chỉ áp dụng cho hai chủ thể trên; còn với MTH vì mục đích nhân đạo chỉ áp dụng đối với cặp vợ chồng vô sinh66 Các chủ thể này có thể là người Việt Nam và cả người nước ngoài muốn thực hiện SCTPPKH tại Việt Nam67
2.1.1 Cặp vợ chồng vô sinh
Trước đây, trong Nghị định số 12/2003/NĐ-CP tại khoản 4 Điều 3 đã định
nghĩa một cách cụ thể về khái niệm “cặp vợ chồng vô sinh” Tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, khái niệm này được thay thế bằng khái niệm“vô sinh” Theo đó
vô sinh được hiểu là “tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình
dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai.”68 Tuy không có sự thay đổi nhiều về mặt nội dung, nhưng trong văn bản pháp luật hiện hành đã cho thấy định nghĩa vô sinh đã được cụ thể hóa về
tần suất quan hệ tình dục, và thay thế các từ ngữ đa nghĩa như “sống gần nhau liên
tục” bằng cụm từ “chung sống có quan hệ tình dục” Trong đó, các khoảng thời
gian về tần suất quan hệ tình dụng trung bình 2 - 3 lần/tuần hay sau một năm chung sống chỉ là những khoảng gian do các nhà làm luật định lượng, mang tính chất tương đối, về những trường hợp vô sinh Trong thực tế, có thể trong thời gian ngắn hay dài hơn một năm, thông qua các quy trình tư vấn, thăm khám bác sĩ có thể kết luận tình trạng vô sinh của cặp vợ chồng, nguyên nhân dẫn đến vô sinh là xuất phát
từ người đàn ông hay từ người phụ nữ
Như vậy, định nghĩa vô sinh như trên chỉ mang tính tương đối, nhằm giúp những người có tình trạng tương tự xác định được mình có phải thuộc trường hợp cần điều trị để khám bệnh; không phải đủ những yếu tố như vậy chắc chắn sẽ vô sinh Muốn xác định tình trạng vô sinh phải qua quy trình khám bệnh, xét nghiệm theo quy chuẩn của bác sĩ do Bộ Y Tế ban hành
Trang 3529
Cụm từ “vợ chồng” được nhắc đến trong định nghĩa về vô sinh được hiểu là
vợ chồng hợp pháp, đã đủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật69
hoặc có quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/198770 Những cặp nam, nữ có quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng sau ngày 3/1/1987 mà không đăng ký kết hôn theo đúng quy định sẽ không được thực hiện các KTHTSS Quy định như vậy, nhằm đảm bảo cho các cặp vợ chồng hợp pháp thực hiện việc SCTPPKH theo đúng quy định của pháp luật đảm bảo được các quyền và nghĩa vụ của mình, giúp các cặp vợ chồng vô sinh yên tâm, thực hiện thiên chức làm cha mẹ của mình như bao cặp vợ chồng khác
Tại phụ lục các mẫu đơn đề nghị, cam kết, thỏa thuận về TTTON và MTH vì múc đích nhân đạo (ban hành kèm theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) cũng thể
hiện rõ điều này Theo đơn đề nghị thực hiện TTTON, có phần lưu ý: “Đối với các
cặp vợ chồng đề nghị được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải ghi rõ tên, tuổi của cả hai vợ chồng và phải cùng ký đơn đề nghị” nhằm đảm bảo sự hợp
pháp của quan hệ nhân thân Đối với mẫu đơn đề nghị thực hiện và bản cam kết tự nguyện MTH vì mục đích nhân đạo cũng có quy định tương tự
Hiện nay, ở một số nước trên thế giới như Pháp, Nga, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ,… cho phép cả những cặp vợ chồng chung sống thực hiện các KTHTSS71 Tuy nhiên, quy định như vậy có thể dẫn đến những mâu thuẫn trong việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học, hai người không được công nhận về mặt pháp luật sinh con sẽ ảnh hưởng đến đứa bé được sinh ra, và gây ra những rắc rối về quan hệ nhân thân giữa các bên72
Tại Việt Nam, tuy pháp luật có quy định nhưng vấn đề xuất trình các giấy tờ thể hiện tình trạng quan hệ hôn nhân ở các cơ sở y tế thực hiện việc SCTPPKH, nhất là ở các cơ sở y tế
tư nhân thực hiện TTNT hay bị xem nhẹ, có khi bị bỏ qua, hoặc có thể tiến hành điều trị trước và bổ sung giấy tờ này sau Thực trạng này như con dao hai lưỡi, có thể tạo điều kiện tiến hành điều trị một cách nhanh chóng, đơn giản hóa về mặt thủ tục cho các cặp vợ chồng vô sinh, nhưng sẽ phức tạp khi có vấn đề xảy ra Ví dụ, thủ tục đăng ký khai sinh hiện nay, bắt buộc phải có Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ nhưng nếu vì lý do nào đó mà các cơ sở y tế bỏ qua thủ tục này, thì khi đứa
69 Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
70 Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc Hội ngày 09/06/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình
71 Bernard Dickens & Rebecca J Cook (2009),“Faculty of Law Ethical and Legal Issues in Assisted
Reproductive Technology”, International Journal of Gynecology and Obstetrics, Vol 66, tr 58-61
72 Trần Thị Văn (2005), Khía cạnh pháp lý của vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học ở Việt Nam,
Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr.18