1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khía cạnh nạn nhân của tội cƣớp tài sản, tội cƣớp giật tài sản và vấn đề phòng ngừa tội phạm (2)

73 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Khái niệm và phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản (10)
    • 1.1.1 Khái niệm khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản (10)
    • 1.1.2 Phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản (20)
  • 1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản (23)
  • Chương 2. Khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản ở Việt Nam (0)
    • 2.1 Tình hình nạn nhân và đặc điểm nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản (26)
      • 2.1.1 Tình hình tội phạm cướp tài tài sản, cướp giật tài sản tại Việt Nam (0)
      • 2.1.2 Tình hình nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản tại Việt (30)
      • 2.1.3 Đặc điểm nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản tại Việt (33)
    • 2.2 Vị trí, vai trò khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản (0)
    • 2.3 Dự báo tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản ở Việt Nam từ việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm (49)
    • 3.1 Lý luận về phòng ngừa tội phạm và cơ chế tác động của biện pháp phòng ngừa tội phạm từ phía nạn nhân của tội phạm (53)
      • 3.1.1 Lý luận về phòng ngừa tội phạm (53)
      • 3.1.2 Cơ chế tác động của các biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản từ việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm (55)
    • 3.2 Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản từ khía cạnh nạn nhân của tội phạm (0)
  • Kết luận (9)

Nội dung

Đặc biệt, thông qua nghiên cứu về khía cạnh nạn nhân của tội phạm, khóa luận đưa ra một số đề nghị về các biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp, cướp giật tài sản đối với cơ quan thực thi v

Khái niệm và phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Khái niệm khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Để hiểu rõ khái niệm “khía cạnh nạn nhân” của tội phạm nói chung và của tội phạm cướp tài sản nói riêng, trước hết cần xác định ai là nạn nhân; cơ chế thực hiện hành vi phạm tội có sự tác động qua lại giữa người phạm và nạn nhân, với nạn nhân là người bị thiệt hại trực tiếp và đóng vai trò mắt xích quan trọng hỗ trợ điều tra, truy tố, xét xử để quá trình xử lý vụ án nhanh chóng, thuận lợi và chính xác Vì vậy, nghiên cứu nạn nhân trong tội phạm học cần phân định rõ đối tượng được coi là nạn nhân và đối tượng không phải nạn nhân, từ đó nhận thức đúng bản chất tình hình tội phạm và xây dựng các định hướng phòng ngừa tội phạm hiệu quả.

Từ thời xa xưa thuật ngữ “nạn nhân” đã được biết đến và sử dụng một cách rộng rãi trong đời sống con người Thời bấy giờ, do quan niệm con người phụ thuộc vào chúa trời, thần thánh nên để đảm bảo cuộc sống bình yên, mùa màng ổn định, con người hàng năm thường phải đem giết những phụ nữ trẻ đẹp hay súc vật để làm lễ vật tế thần thánh, chúa trời Những phụ nữ hay súc vật phải chịu đau đớn, hy sinh vì sự bình yên của mọi người Thuật ngữ “nạn nhân” vì vậy trong nhiều ngôn ngữ là danh từ “giống cái” như trong ngôn ngữ Tây Ban Nha “nạn nhân” là

“La victime” là cách gọi tiếng Pháp cho từ nạn nhân Khi xã hội phát triển và các hình thức tế lễ liên quan dần bị loại bỏ, khái niệm nạn nhân cũng thay đổi theo thời đại Ngày nay, thuật ngữ nạn nhân được dùng với nghĩa rộng hơn, nhằm chỉ những người chịu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và tinh thần Với ý nghĩa này, khái niệm nạn nhân ngày càng phong phú và có nhiều cách hiểu khác nhau.

2 như: Nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tại nạn (giao thông, lao động), nạn nhân của dịch bệnh, nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm

Các quan điểm về nạn nhân hiện nay, tuy chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần hay thiệt hại về kinh tế Quan điểm này đã được Hans von Hentig, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân sử dụng từ những năm 1962 Ông đã sử dụng hai khái niệm để chỉ nạn nhân là “Geschdigten” (tạm dịch là những người bị thiệt hại về tài sản) và “Verletzten” (tạm dịch là người bị xâm hại sức khỏe) để chỉ nạn nhân của tội phạm Theo ông nạn nhân của tội phạm chỉ là những người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại đối với các quyền và lợi ích hợp pháp và trên thực tế phải chịu đựng những thiệt hại về vật chất, sức khỏe, tính mạng, tinh thần

Một nhà nghiên cứu khác là Haiz Zipf cũng cho rằng, nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học là tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án) hay không

Học giả Willem Hendrink Nagel đồng ý với quan điểm cho rằng nạn nhân của tội phạm là những người bị kẻ phạm tội xâm phạm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ Quan điểm này nhấn mạnh rằng quyền và lợi ích của nạn nhân là đối tượng được pháp luật bảo vệ và có thể bị xâm phạm bởi hành vi phạm tội.

Như vậy, các quan điểm kể trên đều chỉ xác định nạn nhân theo nghĩa hẹp: Nạn nhân của tội phạm chỉ bao gồm các cá nhân con người phải gánh chịu những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra về tính mạng, sức khỏe, tinh thần hay tài sản

Bên cạnh quan điểm của các nhà khoa học trên, các nhà khoa học nghiên cứu nạn nhân theo nghĩa rộng lại cho rằng: nạn nhân của tội phạm bao gồm cả cá nhân và các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại

Người đầu tiên xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm các tổ chức là học giả Frits R Paasch khi ông bàn đến nạn nhân của các tội phạm về kinh tế không chỉ là các cá nhân con người (thể nhân) mà còn bao gồm các pháp nhân bị xâm hại về các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận

Quan điểm này được Schneider (trong tác phẩm Viktimologie-Wissenschaft vom Verbrechensopfer, Tbingen 1975) ủng hộ và mở rộng khái niệm nạn nhân thêm một loại gọi là “nạn nhân trừu tượng” trong tác phẩm, ông cho rằng không có tội phạm nào không có nạn nhân

Các công trình nghiên cứu nạn nhân của tội phạm hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp tuy đã làm nổi bật khá rõ những nét cơ bản liên quan đến khái niệm nạn nhân của tội phạm nhưng vẫn có điểm hạn chế lớn đó là chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nạn nhân và hành vi phạm tội mà trên thực tế có nhiều trường hợp, nạn nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội

Trước thực tiễn này, một số nhà khoa học đã nghiên cứu tìm hiểu những đặc điểm thuộc về nạn nhân có tác động tới cơ chế hành vi phạm tội Một số quan điểm tiêu biểu về mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội trên thế giới hiện nay có thể kể đến như: Theo Hans Von Hentig (nhà bác học người Đức, người đầu tiên có những nghiên cứu hệ thống về người bị hại), ông cho rằng: “người phạm tội có thể là con thú nhưng nạn nhân có thể giúp kẻ phạm tội bằng cách sẵn sàng làm con mồi trước khi bị săn”, nạn nhân như là người đã “tạo hình và nặn ra kẻ phạm tội”

Theo các nhà tội phạm học Mác-xít thì “đặc điểm tiêu cực của tội phạm không có sẵn trong cấu tạo cơ thể con người mà được hình thành trong trong môi trường sống không được thuận lợi” [12-tr.193], hay “nhiều nạn nhân của tội phạm góp phần vào tình trạng trở thành nạn nhân của chính họ như nó đã xảy ra, do hành vi kích động hoặc khích thích kẻ phạm tội hoặc bằng cách tạo ra hay gợi tình huống có thể dẫn đến tội phạm” [1-tr.44] Như vậy, theo quan điểm của các nhà tội phạm học trên thế giới, nạn nhân thường là nguyên nhân hoặc điều kiện ảnh hưởng tới cơ chế hành vi phạm tội Nạn nhân được coi là yếu tố thụ động (nhân thân) hoặc chủ động (hành vi xử sự) tác động lên chính sách pháp luật hình sự đối với việc định tội, làm tăng hay giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự

Phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Khía cạnh nạn nhân của tội phạm nói chung và khía cạnh nạn nhân của các tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản nói riêng là một phạm trù nghiên cứu rộng và phức tạp Việc nắm bắt khái niệm này đòi hỏi phân tích có hệ thống và những lý giải sâu về hậu quả cũng như yếu tố nạn nhân Vì lý do đó, tác giả tiến hành phân loại khía cạnh nạn nhân của tội phạm ở các tội danh cụ thể như cướp tài sản và cướp giật tài sản để cung cấp nội dung cần thiết cho nghiên cứu khía cạnh nạn nhân một cách cụ thể Qua đó góp phần định hướng cho công tác phòng ngừa tội phạm từ phía nạn nhân đạt được hiệu quả cao hơn.

- Căn cứ vào nội dung khía cạnh nạn nhân, chúng ta có thể chia khía cạnh nạn nhân thành 3 loại gồm: Hành vi của nạn nhân; Các đặc điểm nhân thân của nạn nhân và mối quan hệ giữa nạn nhân với người phạm tội

Trong cơ chế tội phạm cướp giật tài sản, hành vi của nạn nhân thường là yếu tố quyết định mà kẻ phạm tội lợi dụng Hầu hết nạn nhân có hành vi sơ hở và mất cảnh giác trong bảo vệ tài sản, như vừa lái xe vừa nghe điện thoại hoặc để tiền ở những vị trí dễ thấy như baga xe máy hoặc trong túi áo; một số người nhẹ dạ tin lời người lạ hoặc uống đồ uống có chứa chất gây mê do kẻ gian đưa cho; các tiệm vàng không được trang bị đầy đủ bảo vệ, camera và hệ thống chống trộm Một số trường hợp nạn nhân có thói quen hoặc lối sống có nguy cơ cao, khiến họ dễ trở thành mục tiêu của các hành vi phạm tội.

Thứ hai, đặc điểm nhân thân của nạn nhân Qua nghiên cứu những nạn nhân của tội phạm cướp, cướp giật tài sản, chúng ta thấy rằng, những nạn nhân của tội phạm này, phần lớn là phụ nữ, trẻ em, người già, người bệnh tật hoặc những người

12 không có, hạn chế khả năng bảo vệ tài sản của bản thân nhưng lại có nhiều tài sản, những gia đình có điều kiện về kinh tế như kinh doanh vàng bạc, đá quý, buôn bán… cũng là mục tiêu bọn tội phạm này hướng tới Những người làm việc trong hoàn cảnh thời gian, không gian khá đặc biệt (lúc đêm tối, ở những nơi vắng người qua lại, những nơi có tình hình trật tự xã hội phức tạp…) như tài xế taxi phục vụ khách 24/24 giờ, mọi lúc mọi nơi, người chạy xe ôm, học sinh đi làm thêm về khuya, công nhân làm ca đêm… rất dễ trở thành nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản

Thứ ba, mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội Hầu hết giữa nạn nhân và người phạm tội trong cơ chế hành vi phạm tội cướp tài sản, cướp giật tài sản không có mối quan hệ quen biết từ trước Đặc điểm này nhận thấy rõ nét trong đặc điểm khía cạnh nạn nhân của tội cướp giật tài sản vì loại tội phạm này thường xảy ra ở những nơi công cộng, nơi có nhiều thành phần xã hội

- Căn cứ vào mức độ tác động của khía cạnh nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội, chúng ta có thể chia khía cạnh nạn nhân của tội phạm thành: Khía cạnh nạn nhân tác động tích cực đến hành vi phạm tội và khía cạnh nạn nhân ảnh hưởng một cách thụ động đến hành vi phạm tội

Khía cạnh nạn nhân tác động tích cực đến hành vi phạm tội gồm những hành vi mang tính chủ động của nạn nhân tác động ảnh hưởng trực tiếp, đóng vai trò là nguyên nhân của tội phạm Nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản thường có hành vi sơ hở, thiếu cảnh giác trong quá trình bảo quản tài sản, vận chuyển tài sản hay trong một số trường hợp nạn nhân có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức như: mua dâm, ngọai tình… Những hành vi của nay nạn nhân tạo tình huống, hoàn cảnh thuận lợi cho người phạm tội hình thành động cơ phạm tội, lên kế hoạch và thực hiện tội phạm

Bên cạnh những đặc điểm khía cạnh nạn nhân có tác động tích cực đến hành vi phạm tội còn có những đặc điểm khía cạnh nạn nhân ảnh hưởng một cách thụ động đến hành vi phạm tội có thể kể tới như: Đặc điểm về nhân thân nạn nhân: phụ nữ, trẻ em mang nhiều trang sức có giá trị, người già, người tàn tật, người hạn chế khả năng bảo vệ tài sản… hay mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội Tuy những đặc điểm này không trực tiếp tạo ra nguyên nhân của tội phạm nhưng nó lại có vai trò lớn trong việc tạo ra điều kiện để tội phạm thực hiện trên thực tế

- Căn cứ lỗi của nạn nhân, khía cạnh nạn nhân có thể chia thành: khía cạnh nạn nhân thể hiện lỗi của nạn nhân và khía cạnh nạn nhân không có lỗi của nạn nhân

Thứ nhất, khía cạnh nạn nhân thể hiện lỗi của nạn nhân Trong nội dung này, lỗi của nạn nhân được thể hiện ở hai phương diện: Nạn nhân có hành vi tiêu cực như: mua dâm, ngoại tình, đánh bạc, quan hệ đồng tính… dẫn đến việc họ trở thành nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản Trường hợp này, nạn nhân được coi là người có lỗi cố ý, lỗi nặng trong cơ chế hành vi phạm tội cụ thể Bên cạnh những hành vi tiêu cực, nạn nhân còn có hành vi cẩu thả, mất cảnh giác trong bảo vệ tài sản của bản thân như: vừa đi xe vừa sử dụng điện thoại di động, lấy tiền từ ngân hàng hay trạm ATM nhưng không cất cẩn thận mà bỏ ở túi áo, baga xe máy… Những hành vi này, tuy không mang tính trực tiếp biến họ trở thành nạn nhân của tội phạm nhưng cũng có tác động tiếp tay cho hành vi phạm tội Trong trường hợp này, nạn nhân được coi là người có lỗi vô ý trong cơ chế hành vi phạm tội

Thứ hai, khía cạnh nạn nhân được coi là không có lỗi của nạn nhân như đặc điểm nhân thân nạn nhân, mối quan hệ giữa nạn nhân với người phạm tội

Việc phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản giúp chúng ta nhận thức thật đầy đủ và khách quan về những đặc điểm tình huống, hoàn cảnh liên quan tới nạn nhân của tội phạm trong cơ chế hành vi phạm tội cụ thể Cần phải hiểu rằng chỉ những yếu tố gắn với nạn nhân hoặc do nạn nhân tạo ra đóng vai trò là nguyên nhân hoặc tạo điều kiện phạm tội thì mới được coi là khía cạnh nạn nhân của tội phạm nói chung, của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản nói riêng Như vậy, không phải bất kỳ yếu tố nào gắn liền với chủ thể là cá nhân hay tổ chức chịu thiệt hại trực tiếp bởi hành vi phạm tội đều được coi là khía cạnh nạn nhân của tội phạm

Như vậy, việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm có một vai trò quan trọng trong quá trình xác định phạm vi những cá nhân, tổ chức chịu tác động của hành vi phạm tội Từ đó xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như có những căn cứ để xây dựng các chính sách bồi thường và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Bên cạnh đó, chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn rằng

14 không phải mọi tội phạm đều có nạn nhân (tội phạm buôn lậu, tội trốn thuế không xuất hiện nạn nhân của tội phạm) và có vai trò của nạn nhân (tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm chống loài người, tội phạm chiến tranh… không tồn tại vai trò tác động của nạn nhân) Trong quá trình giải quyết vụ án có nạn nhân cần xác định đúng đắn mức độ ảnh hưởng của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội (nạn nhân có ảnh hưởng mang tính chủ động hay chỉ mang tính thụ động đối với hành vi phạm tội) Qua đó, góp phần xây dựng chính sách hình sự phù hợp, xác lập các tình tiết định khung hình phạt, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự, và trong giải quyết vụ án hình sự góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo giữ gìn vững chắc an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Ý nghĩa của việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Ý nghĩa về mặt lý luận: Trong quá trình nghiên cứu về cơ chế hành vi của tội phạm nói chung, tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản nói riêng, bên cạnh việc tìm hiểu về tội phạm, người phạm tội, còn đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu những nguyên nhân và điều kiện khách quan từ phía nạn nhân của tội phạm Việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân là vịêc làm quan trọng và cần thiết, có vai trò đặc biệt đối với những tội phạm có tồn tại nạn nhân như tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản Muốn đánh giá chính xác mức độ phạm tội, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của tội phạm cần tìm hiểu những đặc điểm, hành vi của nạn nhân có tác động như thế nào đến cơ chế hành vi phạm tội (tình huống do nạn nhân tạo ra là nguyên nhân hay chỉ có vai trò điều kiện dẫn tới hành vi phạm tội) Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Như đã phân tích, khía cạnh nạn nhân được hiểu là những nguyên nhân, điều kiện liên quan tới nạn nhân và có ảnh hưởng tới cơ chế hành vi phạm tội của tội phạm cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản sẽ giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá các nguyên nhân từ phía nạn nhân làm phát sinh hành vi phạm tội hoặc là những yếu tố kích thích làm hình thành các ý định phạm tội và thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội

Tìm hiểu đặc trưng của các nhóm người có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng những định hướng cũng như các biện pháp ngăn ngừa những rủi ro, hạn chế các nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản cũng như các lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức trong xã hội

Nghiên cứu khía cạnh nạn nhân, đề ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản xuất phát từ phía nạn nhân một cách khả thi và hiệu quả, hạn chế tới mức thấp nhất sự có mặt của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội Mặt khác, phòng ngừa tội phạm có hiệu quả phần nào giúp nhà nước tiết kiệm chi phí điều tra, xét xử, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra cho nạn nhân, xã hội bớt nhiều gánh nặng, con người được sống trong môi trường an toàn hơn Ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự và giải quyết vụ án hình sự: Nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, cướp giật tài sản có vai trò quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách hình sự, chính sách xã hội

Trong luật hình sự, đặc điểm nhân thân và hành vi của nạn nhân được coi là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội; phạm tội với phụ nữ mang thai và trẻ em là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 Việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm học sẽ đem lại những hiểu biết đầy đủ hơn về tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, cũng như các yếu tố liên quan đến nạn nhân chưa được quy định trong luật hình sự, làm cơ sở định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng luật hình sự.

Trong lĩnh vực tố tụng, luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định cách thức, trình tự, thủ tục cũng như quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình tố tụng nhằm phục vụ mục đích chung “xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật” Nạn nhân của tội phạm tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại hay nguyên đơn dân sự Vì vậy, nghiên cứu nạn nhân trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của nạn nhân được tôn trọng Sự tham gia tích cực của nạn nhân góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng và chính xác bởi họ là người bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, thường biết rõ tình tiết của vụ án, liên quan tới người phạm tội Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân bằng việc quy

16 định về cơ chế bảo vệ nạn nhân và xây dựng quỹ bồi thường cho nạn nhân nhằm đảm bảo bồi thường thiệt hại và khắc phục những mất mát mà nạn nhân phải gánh chịu; những chính sách này cần được hoàn thiện và bổ sung trong luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao tinh thần tích cực tham gia tố tụng và tố giác tội phạm của nạn nhân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm nói chung, đặc biệt với tội phạm cướp tài sản và cướp giật tài sản.

Như vậy, thông qua việc phân tích khái niệm khía cạnh nạn nhân của tội phạm, kết hợp giữa phân biệt nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản với khía cạnh nạn nhân của tội phạm này cùng với việc so sánh khía cạnh nạn nhân của hai tội phạm này, chúng ta có thể thấy rõ ý nghĩa quan trọng của khía cạnh nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội Mặt khác, trên cơ sở phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, cướp giật tài sản giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của từng yếu tố cấu thành nên khía cạnh nạn nhân của tội phạm Từ đó, tạo tiền đề thuận lợi để đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm này một cách khả thi và đạt hiệu quả cao trên thực tế

Khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản ở Việt Nam

Vị trí, vai trò khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

6 Bố cục: Khóa luận được phân chia thành ba chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Chương 2: Khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản ở

Chương 3: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản và tội cướp giật tài sản từ việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm

Danh mục tài liệu tham khảo

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHÍA CẠNH NẠN NHÂN CỦA TỘI CƯỚP

TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1.1 Khái niệm và phân loại khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

1.1.1 Khái niệm khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản Để hiểu rõ khái niệm “khía cạnh nạn nhân” của tội phạm nói chung, “khía cạnh nạn nhân” của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản nói riêng, điều đầu tiên chúng ta phải làm rõ khái niệm thế nào là “nạn nhân” của tội phạm Cơ chế thực hiện hành vi phạm tội (đối với các tội phạm có nạn nhân) có sự tác động qua lại giữa người thực hiện hành vi phạm tội và nạn nhân của tội phạm Là người bị thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội, nạn nhân đóng vai trò như mắt xích quan trọng giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội nhanh chóng, thuận lợi và chính xác Vì vậy, nghiên cứu về nạn nhân ở góc độ tội phạm học, cần quan niệm đúng đối tượng nào là nạn nhân của tội phạm, đối tượng nào không phải nạn nhân của tội phạm Từ đó có thể nhận thức đúng đắn tính chất của tình hình tội phạm nhằm xây dựng được các định hướng phòng ngừa tội phạm một cách hữu hiệu

Từ thời xa xưa thuật ngữ “nạn nhân” đã được biết đến và sử dụng một cách rộng rãi trong đời sống con người Thời bấy giờ, do quan niệm con người phụ thuộc vào chúa trời, thần thánh nên để đảm bảo cuộc sống bình yên, mùa màng ổn định, con người hàng năm thường phải đem giết những phụ nữ trẻ đẹp hay súc vật để làm lễ vật tế thần thánh, chúa trời Những phụ nữ hay súc vật phải chịu đau đớn, hy sinh vì sự bình yên của mọi người Thuật ngữ “nạn nhân” vì vậy trong nhiều ngôn ngữ là danh từ “giống cái” như trong ngôn ngữ Tây Ban Nha “nạn nhân” là

Thuật ngữ "la victima" trong tiếng Pháp là "la victime" [2-tr.8] Khi xã hội phát triển và các hình thức tế thần bị loại bỏ, khái niệm nạn nhân cũng được định hình lại Ngày nay, "nạn nhân" không còn mang một nghĩa đơn nhất mà có nhiều tầng nghĩa khác nhau; nó được dùng để chỉ những người chịu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và cả trạng thái tinh thần Nhờ đó, khái niệm "nạn nhân" trở nên phong phú và đa chiều, phù hợp với các ngữ cảnh xã hội và pháp lý khác nhau.

2 như: Nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tại nạn (giao thông, lao động), nạn nhân của dịch bệnh, nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm

Các quan điểm về nạn nhân hiện nay, tuy chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần hay thiệt hại về kinh tế Quan điểm này đã được Hans von Hentig, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân sử dụng từ những năm 1962 Ông đã sử dụng hai khái niệm để chỉ nạn nhân là “Geschdigten” (tạm dịch là những người bị thiệt hại về tài sản) và “Verletzten” (tạm dịch là người bị xâm hại sức khỏe) để chỉ nạn nhân của tội phạm Theo ông nạn nhân của tội phạm chỉ là những người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại đối với các quyền và lợi ích hợp pháp và trên thực tế phải chịu đựng những thiệt hại về vật chất, sức khỏe, tính mạng, tinh thần

Một nhà nghiên cứu khác là Haiz Zipf cũng cho rằng, nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học là tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án) hay không

Học giả Willem Hendrink Nagel cũng có đồng quan điểm khi cho rằng nạn nhân của tội phạm là những người bị người phạm tội xâm phạm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ

Như vậy, các quan điểm kể trên đều chỉ xác định nạn nhân theo nghĩa hẹp: Nạn nhân của tội phạm chỉ bao gồm các cá nhân con người phải gánh chịu những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra về tính mạng, sức khỏe, tinh thần hay tài sản

Song song với quan điểm của các nhà khoa học, nhóm nghiên cứu nạn nhân theo nghĩa rộng cho rằng nạn nhân của tội phạm không chỉ là cá nhân bị xâm hại mà còn bao gồm các tổ chức bị hành vi phạm tội ảnh hưởng Quan điểm này nhấn mạnh rằng tác động của tội phạm có chiều rộng và lan toả từ cá nhân sang tổ chức, gây tổn hại đến an toàn, hoạt động và uy tín của các đơn vị bị ảnh hưởng cũng như ảnh hưởng đến cộng đồng Nhận diện nạn nhân ở cả hai cấp độ giúp xây dựng chiến lược can thiệp, hỗ trợ và phòng ngừa toàn diện, từ đó tăng cường phục hồi và bảo vệ xã hội trước các hành vi phạm tội.

Người đầu tiên xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm các tổ chức là học giả Frits R Paasch khi ông bàn đến nạn nhân của các tội phạm về kinh tế không chỉ là các cá nhân con người (thể nhân) mà còn bao gồm các pháp nhân bị xâm hại về các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận

Quan điểm này được Schneider (trong tác phẩm Viktimologie-Wissenschaft vom Verbrechensopfer, Tbingen 1975) ủng hộ và mở rộng khái niệm nạn nhân thêm một loại gọi là “nạn nhân trừu tượng” trong tác phẩm, ông cho rằng không có tội phạm nào không có nạn nhân

Các công trình nghiên cứu nạn nhân của tội phạm hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp tuy đã làm nổi bật khá rõ những nét cơ bản liên quan đến khái niệm nạn nhân của tội phạm nhưng vẫn có điểm hạn chế lớn đó là chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nạn nhân và hành vi phạm tội mà trên thực tế có nhiều trường hợp, nạn nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội

Trước thực tiễn này, một số nhà khoa học đã nghiên cứu tìm hiểu những đặc điểm thuộc về nạn nhân có tác động tới cơ chế hành vi phạm tội Một số quan điểm tiêu biểu về mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội trên thế giới hiện nay có thể kể đến như: Theo Hans Von Hentig (nhà bác học người Đức, người đầu tiên có những nghiên cứu hệ thống về người bị hại), ông cho rằng: “người phạm tội có thể là con thú nhưng nạn nhân có thể giúp kẻ phạm tội bằng cách sẵn sàng làm con mồi trước khi bị săn”, nạn nhân như là người đã “tạo hình và nặn ra kẻ phạm tội”

Theo các nhà tội phạm học Mác-xít thì “đặc điểm tiêu cực của tội phạm không có sẵn trong cấu tạo cơ thể con người mà được hình thành trong trong môi trường sống không được thuận lợi” [12-tr.193], hay “nhiều nạn nhân của tội phạm góp phần vào tình trạng trở thành nạn nhân của chính họ như nó đã xảy ra, do hành vi kích động hoặc khích thích kẻ phạm tội hoặc bằng cách tạo ra hay gợi tình huống có thể dẫn đến tội phạm” [1-tr.44] Như vậy, theo quan điểm của các nhà tội phạm học trên thế giới, nạn nhân thường là nguyên nhân hoặc điều kiện ảnh hưởng tới cơ chế hành vi phạm tội Nạn nhân được coi là yếu tố thụ động (nhân thân) hoặc chủ động (hành vi xử sự) tác động lên chính sách pháp luật hình sự đối với việc định tội, làm tăng hay giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự

Dự báo tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản ở Việt Nam từ việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm

Cơ sở dự báo tình hình tội phạm

Dự báo tình hình tội phạm là nội dung cốt lõi của nghiên cứu tội phạm học, giúp định hình các biện pháp phòng ngừa hiệu quả và xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp Việc dự báo tội phạm chính xác mang ý nghĩa quan trọng cho việc tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa nói chung Bên cạnh việc nghiên cứu tội phạm và người phạm tội, nghiên cứu nạn nhân đóng vai trò thiết yếu để làm rõ các xu hướng của tội phạm, cả ở mức hiện hữu và tiềm ẩn, từ đó hỗ trợ lựa chọn các phương án tối ưu và phù hợp, giảm thiểu chi phí cho công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và các loại tội phạm như cướp tài sản, cướp giật.

Thông qua nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm cướp tài sản và cướp giật tài sản, chúng ta nhận thấy nạn nhân đóng vai trò quan trọng trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội Kết quả cho phép dự báo tương đối và khách quan tình hình tội phạm cướp tài sản và cướp giật tài sản tại Việt Nam Phân tích nạn nhân giúp xác định yếu tố rủi ro và động lực của tội phạm, từ đó nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa Những kết quả này có thể hỗ trợ xây dựng và điều chỉnh chính sách an ninh, quản lý rủi ro và bảo vệ nạn nhân ở Việt Nam Với chính sách phù hợp, các cơ quan chức năng có thể tăng cường sự chủ động trong phòng ngừa và ứng phó với tội phạm cướp tài sản và cướp giật tài sản tại Việt Nam.

41 tiến bộ, khá hiệu quả trong công tác phòng ngừa tội phạm do Đảng và Nhà nước ban hành đã góp phần quan trọng nâng cao ý thức cảnh giác của người dân đối với tội phạm nói chung, tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản nói riêng Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm tình hình tội phạm này có xu hướng giảm trong một số năm trở lại đây, là tín hiệu vui chứng tỏ chính sách phòng ngừa tội phạm của cơ quan Nhà nước là đúng đắn và có hiệu quả

Bên cạnh những mặt tích cực, còn tồn tại khá nhiều hạn chế xuất phát từ phía nạn nhân của tội phạm mà cơ quan nhà nước vẫn chưa thể đề ra biện pháp phòng ngừa hữu hiệu

Tuy các cơ quan nhà nước đã có những biện pháp tuyên truyền người dân phải có ý thức trong việc bảo vệ tài sản của bản thân nhưng hiện nay vẫn còn nhiều người dân thiếu ý thức cảnh giác trong bảo vệ tài sản của mình: người dân vẫn có thói quen không cất tiền, vàng cẩn thận khi vận chuyển, nhiều tiệm vàng chưa có hệ thống camera chống tội phạm hiệu quả, chưa lắp đặt kính cường lực chống tội phạm Sự gia tăng của những gia đình giàu có tại các trung tâm lớn như Hà Nội,

Tp Hồ Chí Minh… sở hữu những tài sản có giá trị hàng triệu USD có thể trở thành đối tượng bọn tội phạm quan tâm và hướng đến việc gây án nhằm chiếm đoạt tài sản Đối với người dân thành thị, khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản cao hơn nhiều so với người dân ở vùng nông thôn vì so với những người dân nông thôn người dân ở thành phố lớn có nhiều tài sản giá trị hơn Nền kinh tế từng bước phát triển, việc giao lưu hàng hóa, tiền tệ diễn ra sôi động tại nhiều trung tâm kinh tế lớn trong nước, đời sống người dân ngày càng nâng cao, xuất hiện nhiều cửa hàng kinh doanh, nhiều gia đình giàu có, trung tâm thương mại mọc lên “Qua khảo sát thành phố Hồ Chí Minh hiện có 1513 tiệm kinh doanh vàng, bạc, đá quý; 505 ngân hàng, 183 điểm thu đổi ngoại tệ; 72 điểm rút tiền ATM và 06 kho bạc” [20-tr.66] Những địa điểm này có nguy cơ rất lớn trở thành “miếng mồi” cho bọn tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản xâm hại Gần đây những vụ án cướp tài sản tại những tiệm vàng lớn có chiều hướng ngày càng gia tăng (vụ cướp tiệm vàng ở Bắc Giang do Lê Văn Luỵên thực hiện; vụ cướp tiệm vàng Kiệm Huyền ở Hưng Yên ngày 1/5/2012…)

Kinh tế phát triển, đời sống người dân nâng cao cộng với sở thích làm đẹp bằng đồ trang sức đắt tiền hay cho con mang nhiều trang sức có giá trị đang là trào lưu trong cuộc sống hiện đại ngày nay Mặt khác, khi ra đường (không bằng ô tô) có đeo trang sức, mang tiền là thói quen phổ biến của phụ nữ ở thành phố cộng với tâm lý chủ quan, mất cảnh giác khiến những người này dễ dàng lọt vào tầm ngắm và trở thành nạn nhân của bọn tội phạm, đặc biệt là tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản

Tuy các cơ quan chức năng đã tiến hành nhiều biện pháp tuyên truyền tới mọi người dân để hạn chế mức thấp nhất việc họ trở thành nạn nhân của tội phạm nhưng trên thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức vẫn giữ thái độ lơ là, mất cảnh giác trong quản lý, trong kinh doanh, đặc biệt kinh doanh vàng, kim khí, đá quý… Điều này tạo điều kiện vô cùng thuận lợi để bọn tội phạm cướp tài sản, cướp giât tài sản xâm phạm tài sản của công dân

Kinh tế ngày càng phát triển, vấn đề an ninh đảm bảo, Việt Nam đang trở thành một điểm đến hấp dẫn khách du lịch sang sinh sống, làm việc và đi du lịch, nghỉ mát Với thói quen mang theo nhiều tài sản cùng với việc không thông thuộc địa hình, đường đi, cùng tâm lý mất cảnh giác, sơ hở trong việc bảo vệ tài sản, những vị khách nước ngoài đang trở thành đối tượng mà bọn tội phạm đặt biệt chú ý xâm hại tài sản Trên thực tế mấy năm gần đây, nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản là người nước ngoài có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ lệ khá cao so với nạn nhân là người bản địa

Ngoài những đối tượng đã phổ biến là nạn nhân của tội phạm cướp tài sản như: phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật mang nhiều trang sức, chủ sở hữu tiệm vàng, kinh doanh mặt hàng có giá trị, hiện nay xuất hiện thêm đối tượng mới cũng rất dễ có khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản đó là người mua dâm, người đồng tính, bạn chat Với những người đồng tính, bọn tội phạm “rủ rê” họ đi mua dâm, sau đó lợi dụng thời cơ thuận lợi khống chế và cướp tài sản của họ

Sự “im lặng” của nạn nhân trước hành vi phạm tội đã góp phần làm tăng tỷ lệ tội phạm ẩn trên thực tế Điều này gây khó khăn cho công tác điều tra tội phạm, ảnh hưởng tới công tác dự báo tội phạm, xây dựng kế hoạch chiến thuật phòng ngừa đấu tranh phòng chống tội phạm, tạo điều kiện cho bọn tội phạm tiếp tục thực

43 hiện hành vi phạm tội Việc tội phạm không bị pháp luật trừng trị trên thực tế làm cho chúng có thái độ co thường pháp luật và tiếp tục thực hiện những hành vi tội phạm với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi hơn và người dân tiếp tục trở thành nạn nhân của tội phạm với những thiệt hại, tổn thất vô cùng nặng nề

Công tác tuyên truyền pháp luật tại vùng sâu, vùng xa chưa phổ biến, người dân tại những khu vực này ít có cơ hội được phổ biến kiến thức về cách phòng ngừa đối với hành vi phạm tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, vì thế họ dễ trở thành nạn nhân của tội phạm này Đặc biệt, hiện nay với những thủ đoạn tinh vi của bọn tội phạm xâm hại sở hữu, chúng di chuyển về những khu vực vắng người, nơi trình độ người dân chưa cao để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của họ Chính vì vậy, số lượng nạn nhân tại những khu vực này có nguy cơ tăng cao trong một số năm trở lại đây

Bên cạnh những mặt hạn chế, nhờ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật tích cực của Đảng và Nhà nước đã nâng cao ý thức pháp luật của người dân trong việc bảo vệ tài sản của chính mình Điều này đã hạn chế đến mức thấp nhất các nguyên nhân và điều kiện hình thành tội phạm cướp tài sản, cướp giật trong thời gian tới, đồng thời có tác dụng tích cực làm giảm tỷ lệ người dân trở thành nạn nhân của loại tội phạm này.

Như vậy, thông qua việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, cướp giật tài sản ở Việt Nam, chúng ta phần nào thấy được bức tranh về tình hình tội phạm, tình hình nạn nhân của tội phạm cùng những đặc điểm về nạn nhân của tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản.Qua đó, chúng ta có thể đánh giá khái quát vị trí, vai trò của khía cạnh nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội cướp tài sản, cướp giật tài sản Trên cơ sở này, đưa ra những dự báo tình hình tội phạm, tình hình nạn nhân của tội phạm trong tương lai, tạo cơ sở cho việc xây dựng và áp dụng những biện pháp phòng ngừa tội phạm này có hiệu quả trên thực tế

PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM CƯỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU KHÍA CẠNH NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản từ khía cạnh nạn nhân của tội phạm

6 Bố cục: Khóa luận được phân chia thành ba chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Chương 2: Khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản ở

Chương 3: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản và tội cướp giật tài sản từ việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm.

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm