1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em

83 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 485,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung, hình thức, phạm vi vμ tính chất của quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án Chương 2: Thực trạng vμ giải pháp nâng hiệu quả hoạt động

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây lμ công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả trình bμy trong luận văn lμ trung thực vμ chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nμo trước đây; các số liệu, quan điểm được trích dẫn đều

được tham khảo từ các nguồn tμi liệu hợp pháp, đáng tin cậy

TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 06 năm 2009

Người cam đoan

Lê Trung Hiếu

Trang 3

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát

điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ

1.1 Khái niệm, ý nghĩa vμ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát

1.1.2 ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát điều tra các tội

1.2 Nhận thức chung cơ bản về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm

1.2.1 Đối tượng, phạm vi vμ tính chất của hoạt động kiểm sát điều tra

1.2.2 Mục đích, nhiệm vụ vμ quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt

1.3 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong

1.3.1 Nguyên tắc của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan

1.3.2 Cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan

1.3.3 Nội dung, hình thức, phạm vi vμ tính chất của quan hệ giữa Viện

kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án

Chương 2: Thực trạng vμ giải pháp nâng hiệu quả hoạt

động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

32

Trang 4

dục trẻ em ở tỉnh An Giang 32 2.1.2 Đánh giá hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình

dục trẻ em ở tỉnh An Giang vμ nguyên nhân của những hạn chế,

2.2 Phương hướng nâng hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm

2.2.1 Đổi mới tổ chức vμ hoạt động của Viện kiểm sát theo quan điểm

2.2.3 Công bằng, khách quan vμ tôn trọng, bảo vệ các quyền dân chủ

2.2.4 Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, kết hợp với giáo dục đạo đức

2.3 Giải pháp vμ kiến nghị nâng hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các tội

2.3.1 Các giải pháp nâng hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các tội

2.3.2 Các kiến nghị hoμn thiện luật, nhằm nâng hiệu quả hoạt động

Danh mục tμi liệu tham khảo

Trang 5

Mở ĐầU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em lμ nguồn hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước nên lμ đối tượng luôn được Đảng vμ Nhμ nước ta đặc biệt quan tâm

Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với những thμnh tựu

to lớn đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có sự nghiệp bảo vệ vμ chăm sóc trẻ em đạt được một số thμnh tích đáng kể Các quyền trẻ em quy định tại Luật bảo

vệ, chăm sóc vμ giáo dục trẻ em được các cấp, các ngμnh quan tâm; các vụ vi phạm quyền trẻ em khi phát hiện được các cơ quan bảo vệ pháp luật tiến hμnh điều tra, xử

lý nghiêm minh Tuy nhiên, những năm gần đây trong cả nước tình trạng trẻ em bị ngược đãi, nhất lμ bị xâm hại tình dục đã diễn ra đáng lo ngại Riêng, An Giang lμ một tỉnh biên giới Tây Nam, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với điều kiện kinh tế - xã hội vμ mặt bằng dân trí còn thấp, hạn chế nên tình hình tội phạm, trong đó có các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em vẫn còn xảy ra nhiều, ở hầu hết các huyện, thị, thμnh trong tỉnh; có vụ tính chất hết sức nghiêm trọng, như hiếp rồi giết trẻ em để bịt đầu mối hay nhiều người tham gia hiếp dâm trẻ em vμ có cả trường hợp anh hiếp em, cha hiếp luôn con ruột trong gia đình dẫn đến biết bao hậu quả đau lòng, lμm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, gây bất bình lớn trong nhân dân vμ gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự an toμn xã hội của địa phương

Hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ một trong những công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, có ý nghĩa quan trọng, đó lμ bảo đảm cho việc điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

được khách quan, toμn diện vμ đầy đủ; mọi hμnh vi phạm tội phải được xử lý kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm vμ người phạm tội, không lμm oan người vô tội Vì vậy, tại Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố vμ kiểm sát các hoạt động tư pháp Đặc biệt, trong bối cảnh nước ta hiện nay đang đổi mới theo hướng hội nhập, trước những yêu cầu đòi hỏi ngμy cμng cao của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhìn lại thực tiễn những năm qua về hoạt động điều tra vμ kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em bên cạnh những kết quả tích cực, thì quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng còn bộc lộ không ít những thiếu sót, khuyết điểm như: tình trạng vi phạm pháp luật trong thời hạn xử lý tin báo, tố giác

về tội phạm; chưa thực hiện tốt kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; chậm ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; có vụ thu thập, đánh giá chứng cứ không đầy đủ,

Trang 6

chính xác; việc kiểm sát điều tra ban đầu còn yếu do không tuân theo quy trình chặt chẽ dẫn đến việc điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gặp khó khăn, có vụ phải trả điều tra bổ sung nhiều lần quá hạn điều tra, thậm chí phải thay đổi tội danh vμ quyết định xử lý có lúc chưa đúng đắn Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em để có thể xác

định rõ thực trạng hạn chế, tìm ra vμ thực hiện được những giải pháp, quy trình nhằm nâng chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em, góp phần xử lý hiệu quả loại tội phạm nμy vμ lμm tốt chức năng, nhiệm vụ kiểm sát

điều tra theo luật định, có thể nói lμ đòi hỏi khách quan vμ thật sự có tính cấp thiết ở ngμnh Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay

Chính vì thế, tác giả chọn đề tμi: “Hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm

hại tình dục trẻ em” lμm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hoạt động kiểm sát điều tra vμ hoạt động đấu tranh các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói chung lμ vấn đề đã được nghiên cứu, thảo luận, trao đổi ở nhiều góc độ vμ phạm vi khác nhau Các nhμ luật học đã thể hiện cách tiếp cận của mình qua các bμi viết, các luận văn, các tμi liệu đã được nghiệm thu, đăng tải như:

- Luận văn thạc sĩ luật học của Đoμn Tạ Cửu Long về “Hoạt động kiểm sát

điều tra án trị an tại thμnh phố Hồ Chí Minh”, năm 2000

- Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Tấn về “Hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy tại thμnh phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, năm 2008

- Luận văn thạc sĩ luật học của Thái Rết về “Đấu tranh phòng, chống các tội phạm lạm dụng tình dục trẻ em ở Sóc Trăng”, năm 2009

- “Thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai

đoạn điều tra” của Lê Hữu Thể (chủ biên), NXB Tư pháp, năm 2008

- Tμi liệu bồi dưỡng quản lý các đề án Chương trình phòng ngừa vμ giải quyết trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục vμ trẻ em lao động nặng nhọc trong

điều kiện độc hại, nguy hiểm của ủy ban dân số gia đình vμ trẻ em, năm 2006

- Bμi viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát điều tra các vụ án hình sự” của Lê Hữu Thể trong Tạp chí Kiểm sát số 4/2005…

Tuy nhiên, đối với hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ

em, chưa có một công trình nμo nghiên cứu chuyên sâu Cho nên đề tμi không trùng lắp với các công trình nghiên cứu đã được công bố

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận hoạt

động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em vμ thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra loại tội phạm nμy ở tỉnh An Giang để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em của ngμnh Viện kiểm sát nhân dân nói chung vμ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Lμm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

- Đánh giá thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở tỉnh An Giang vμ những nguyên nhân hạn chế, vướng mắc

- Đề xuất phương hướng, giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đề tμi “Hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em” lμ một vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn, cần phải được nghiên cứu một cách toμn diện, đầy đủ vμ khoa học Tuy nhiên, trong phạm vi vμ điều kiện cho phép, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động điều tra các vụ án hình sự xâm hại tình dục trẻ em do lực lượng Cảnh sát

điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an tỉnh An Giang thực hiện Luận văn lựa chọn địa bμn nghiên cứu lμ An Giang, một trong các tỉnh trọng điểm biên giới phía Nam, nên có thể khái quát hóa ở mức độ nhất định đặc điểm chung của hoạt động kiểm sát điều tra loại tội nμy trên phạm vi toμn quốc Giới hạn về thời gian nghiên cứu của luận văn lμ 05 năm (từ năm 2003 đến 2007) Đây lμ khoảng thời gian có ý nghĩa cho việc đánh giá thực trạng, đúc kết kinh nghiệm về hoạt động kiểm sát điều tra loại tội phạm nμy, đảm bảo tính thời sự, giá trị thực tiễn cho kết quả nghiên cứu luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:

- Phương pháp luận:

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vμ quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng

Trang 8

sản Việt Nam về Nhμ nước vμ pháp luật, nhất lμ các quan điểm, chủ trương của

Đảng ta về cải cách tư pháp

- Phương pháp cụ thể:

Người viết sử dụng các phương pháp thống kê (về số liệu án), so sánh (về chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra), phân tích vμ tổng hợp, hệ thống (thể hiện trong đánh giá, nhận xét), tμi liệu, trao đổi với các luật gia về hình sự để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tμi

6 ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:

Kết quả nghiên cứu đề tμi góp phần bổ sung, hoμn thiện những vấn đề lý luận

về hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em vμ các loại tội phạm khác Mặt khác, kết quả nghiên cứu đề tμi còn có thể dμnh cho Kiểm sát viên đương nhiệm lμm tμi liệu chuyên sâu trong quá trình thực hμnh quyền công tố, kiểm sát

điều tra vμ các học viên của Trường đμo tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, Học viện tư pháp, cũng như sinh viên các cơ sở đμo tạo pháp lý khác quan tâm sâu sắc đến tố tụng hình sự Việt Nam sử dụng

Đề tμi còn lμ kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở tỉnh An Giang, giúp Kiểm sát viên hai cấp tỉnh - huyện nhận thức rõ hơn về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm nμy

Từ đó, áp dụng một cách khoa học các biện pháp mang tính quy trình công tác nhằm nâng hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra nói chung vμ kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em ở địa phương, góp phần vμo cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian tới

7 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn:

Trên cơ sở lý luận gắn với thực tiễn hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, luận văn đề ra giải pháp, kinh nghiệm kiểm sát hiệu quả loại tội phạm nμy, nhằm góp phần nâng cao kỹ năng kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên

8 Kết cấu của luận văn:

Ngoμi phần mở đầu, kết luận, danh mục tμi liệu tham khảo vμ mục lục, luận văn được kết cấu thμnh 02 chương như sau:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

- Chương 2: Thực trạng vμ giải pháp nâng hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Trang 9

Chương 1 NHữNG VấN Đề Lý LUậN

Về HOạT ĐộNG KIểM SáT ĐIềU TRA CáC TộI phạm XÂM HạI TìNH DụC TRẻ EM

1.1 Khái niệm, ý nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát

điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm trẻ em

Tại Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, được thông qua ngμy 20/11/1989 vμ có hiệu lực từ ngμy 02/9/1990, đã quy định: “Trong phạm vi của Công ước nμy, trẻ em có nghĩa lμ người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp

có Việt Nam phê chuẩn hoặc tham gia công ước nμy đều phải tuân thủ quy định về tuổi trẻ em lμ dưới 18 tuổi

ở Việt Nam chưa có sự thống nhất về độ tuổi của trẻ em vμ người chưa thμnh niên, cụ thể trong Luật bảo vệ, chăm sóc vμ giáo dục trẻ em năm 2004, tại Điều 1 quy định: “Trẻ em quy định trong luật nμy lμ công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”; Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định ở Chương X thì sử dụng khái niệm người chưa thμnh niên phạm tội lμ người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi vμ khi nói đến các tội xâm hại trẻ em, hiểu lμ người dưới 16 tuổi; theo Bộ luật lao động thì trẻ em được hiểu lμ người dưới 15 tuổi; còn Hiến pháp năm 1992 quy định quyền vμ nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên

Về mặt thuật ngữ, khái niệm trẻ em được hiểu lμ: “Như trẻ con, nhưng hμm ý

tuổi, đặc điểm về mặt xã hội, đặc điểm về phát triển sinh học vμ đặc điểm về tâm lý của trẻ em Cụ thể:

Trang 10

- Độ tuổi của trẻ em còn nhỏ, có thể phân chia thμnh các lứa tuổi như: tuổi bế bồng (0 - 8 tháng), tuổi em bé (18 tháng - 3 tuổi), tuổi thơ (3 - 6 tuổi), tuổi thiếu nhi (7 - 11 tuổi), tuổi thiếu niên (12 - dưới 16 tuổi) 3

- Về sinh học: tăng trưởng phát triển chưa đầy đủ về thể chất, còn yếu ớt

- Về tâm lý: tư duy, tình cảm còn ngây thơ non nớt, hồn nhiên, dễ yêu dễ giận, chưa có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn

- Về xã hội: chưa có kinh nghiệm thực tế trong hμnh động, quan hệ với người khác, nhất lμ nhận thức về quan hệ tình dục nên dễ bị người khác lôi kéo, rủ rê, khó

có thể tự vệ được

Vì vậy, trẻ em cần sự bảo vệ, chăm sóc vμ giáo dục một cách đặc biệt nhằm

đảm bảo sự an toμn, hướng dẫn vμ uốn nắn thái độ cư xử của các em để phát triển bình thường, lμnh mạnh Việt Nam đã thể hiện việc bảo vệ trẻ em trong quy định các văn bản pháp luật, trong đó có luật hình sự trừng trị thật nghiêm khắc đối với hμnh

vi xâm hại tình dục đối với các em

Từ phân tích trên, chúng ta có thể nêu khái niệm về trẻ em ở Việt Nam như sau:

Trẻ em là người dưới 16 tuổi, còn non nớt, chưa phát triển đầy đủ về tinh thần và thể chất, cần có sự bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đình, Nhà nước và xã hội

1.1.1.2 Khái niệm tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Trước hết, khái niệm tội phạm nói chung được quy định tại khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 1999: “Tội phạm lμ hμnh vi nguy hiểm cho xã hội được quy

định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toμn vẹn lãnh thổ

Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toμn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tμi sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Do đó, tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cũng lμ hμnh vi nguy hiểm cho xã hội Các tội phạm nμy có thể được thực hiện bằng hμnh động dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của trẻ em hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái với ý muốn của trẻ em; dùng thủ đoạn khiến trẻ em lệ thuộc mình

3 ủy ban bảo vệ vμ chăm sóc trẻ em Việt Nam (1996), Tài liệu tham khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật, Hμ Nội, tr.15

Trang 11

hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu; dụ dỗ, rủ rê giao cấu với trẻ em; bắt trẻ em lμm những việc đồi bại Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em do những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến tình dục, nhân phẩm, danh dự của trẻ em, với lỗi cố ý trực tiếp vμ nạn nhân của tội phạm nμy hầu hết lμ trẻ em gái

Từ khái niệm về tội phạm, đặc điểm của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em vμ khái niệm về trẻ em nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm tội phạm xâm hại tình dục trẻ em như sau:

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy

định bằng các điều luật cụ thể trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm hại quyền bất khả xâm phạm về tình dục, nhân phẩm và danh dự của trẻ em

Theo khái niệm trên, loại tội phạm nμy được quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cụ thể lμ các tội phạm sau:

- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112);

- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114);

- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115);

- Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116)

Việc tìm hiểu khái niệm trẻ em vμ tội phạm xâm hại tình dục trẻ em có ý nghĩa lý luận vμ thực tiễn quan trọng đối với toμn bộ hoạt động điều tra, xử lý các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.1.1.3 Khái niệm điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Về mặt thuật ngữ, trước hết khái niệm điều tra được hiểu lμ: “Tìm hỏi, xem

hoạt động truy xét, tra hỏi của Cơ quan điều tra nhằm phát hiện vμ vạch trần tội phạm, xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toμn diện, lμm rõ những chứng cứ xác định có tội vμ cả những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng vμ cả những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, nguyên nhân vμ

điều kiện dẫn đến phạm tội… nhằm đảm bảo xử lý kịp thời, chính xác mọi hμnh vi phạm tội

Do các tội xâm hại tình dục trẻ em lμ những tội phạm cụ thể được quy định

trong Bộ luật hình sự vμ thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng Cảnh sát điều tra

4 Viện ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hμ Nội, tr 312

Trang 12

tội phạm về trật tự xã hội, một bộ phận của Cơ quan Cảnh sát điều tra Vì vậy, điều

tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ hoạt động thu thập, nghiên cứu vμ đánh giá

chứng cứ của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để tìm ra sự thật của vụ án xâm hại tình dục trẻ em, lμm rõ tội phạm vμ người thực hiện hμnh vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác có liên quan đến vụ án

Qua nghiên cứu việc điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở tỉnh An Giang, thấy có những đặc điểm sau đây:

- Về đối tượng phạm tội xâm hại tình dục trẻ em thường lμ nam giới (nữ giới chỉ đóng vai trò đồng phạm) Người thực hiện phạm tội phần lớn lμ thanh niên mới lớn

- Về người bị hại hầu hết lμ trẻ em gái dưới 16 tuổi bị xâm hại tình dục (chỉ có

02 trẻ em nam bị lạm dụng tình dục trong 01 vụ án “Dâm ô đối với trẻ em”) Bản thân các em chưa ý thức được hậu quả, tác hại của việc bị xâm hại tình dục, chẳng những không tự bảo vệ được bản thân trước sự nguy hiểm mμ còn có em cho người cùng xóm, cùng trường giao cấu

- Về Cơ quan Cảnh sát điều tra: do lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật

tự xã hội tiến hμnh điều tra Điều tra viên điều tra vụ án xâm hại tình dục trẻ em thường có thái độ căm phẫn những hμnh vi đồi bại nμy

- Về dư luận xã hội: rất bất bình lên án, nhất lμ đòi hỏi của các đoμn thể xã hội

áp lực dư luận xã hội lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động điều tra của Điều tra viên thụ lý vụ án

- Về tâm lý, đạo đức xã hội: phía bị hại thường che giấu, không muốn công khai việc bị xâm hại tình dục, sợ ảnh hưởng xấu đến cá nhân vμ gia đình, nhất lμ những vụ do người thân thực hiện

Để có kết luận chính xác, lμm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án xâm hại tình dục trẻ em, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với nội dung, tính chất, mức độ của hμnh vi phạm tội; đồng thời, phục vụ tốt cho yêu cầu đấu tranh tội phạm nμy, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phải thực hiện hμng loạt các biện pháp, chiến thuật điều tra vμ công việc phức tạp theo một trình tự

do pháp luật quy định nhằm chứng minh tội phạm

Theo pháp luật tố tụng hình sự quy định, các biện pháp điều tra trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em có thể tiến hμnh như: hỏi cung bị can, lấy lời khai những người lμm chứng, người bị hại; tiến hμnh các hoạt động khám xét, thu giữ vật chứng,

kê biên tμi sản, nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra vμ áp dụng các biện pháp

Trang 13

ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam… để chứng minh tội phạm vμ người thực hiện hμnh vi phạm tội, lập hồ sơ kết luận điều tra đề nghị truy tố

Nhiệm vụ cơ bản vμ quan trọng nhất trong điều tra vụ án xâm hại tình dục trẻ

em lμ phải khám phá nhanh chóng vμ chính xác về sự việc phạm tội vμ người phạm tội Toμn bộ hoạt động nμy lμ cơ sở phục vụ cho việc xét xử của Tòa án, nên theo một cách hiểu biện chứng thì hoạt động của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội được gọi lμ điều tra sơ bộ, còn điều tra chính thức lμ hoạt động xét xử công khai tại phiên tòa của Tòa án Cả hai hoạt động nμy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì kết quả của hoạt động nμy sẽ khẳng định tính đúng đắn của hoạt động kia

1.1.1.4 Khái niệm kiểm sát điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (Điều 23

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hμnh tố tụng, người tiến hμnh tố tụng vμ người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật nμy quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân nμy

Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

được thừa nhận lμ một trong những chức năng cơ bản của tố tụng hình sự bên cạnh

ba chức năng truyền thống lμ chức năng buộc tội, chức năng bμo chữa vμ chức năng xét xử Đây lμ điểm đặc thù của mô hình tố tụng hình sự trong các nhμ nước có sự tồn tại của Viện kiểm sát như lμ một hệ thống cơ quan nhμ nước độc lập trong bộ máy nhμ nước Chức năng nμy do Viện kiểm sát thực hiện xuyên suốt trong các giai

đoạn tố tụng Tuy nhiên, thẩm quyền, phương thức thực hiện chức năng nμy của Viện kiểm sát trong các giai đoạn tố tụng lμ khác nhau

Hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em của Viện kiểm sát lμ một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

Kiểm sát điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ hoạt động của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm việc điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em được khách quan, toμn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật vμ việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với bị can có căn cứ vμ đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện kịp thời, khắc phục vμ xử lý nghiêm minh

Đặc điểm của kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, do Kiểm sát viên phòng thực hμnh quyền công tố, kiểm sát điều tra vμ kiểm sát xét xử

Trang 14

sơ thẩm án hình sự về trật tự xã hội tiến hμnh kiểm sát điều tra đối với những vụ xâm hại tình dục trẻ em đặc biệt nghiêm trọng thuộc án cấp tỉnh thụ lý điều tra; còn lại do lực lượng Kiểm sát viên cấp huyện tiến hμnh kiểm sát điều tra đối với các vụ xâm hại tình dục trẻ em phạm tội nghiêm trọng vμ rất nghiêm trọng Kiểm sát viên

được phân công kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em thường có kinh nghiệm am hiểu về tâm lý trẻ em Khi tiến hμnh kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục về trẻ em, Kiểm sát viên không những kiểm sát việc điều tra tuân theo các quy định chung của pháp luật tố tụng hình sự mμ còn chú ý bảo đảm những quy

định mang tính chất đặc thù đối với người bị hại lμ trẻ em trong vụ án như: quá trình lấy lời khai người bị hại phải có người đại diện hợp pháp của họ tham gia chứng kiến, lμm rõ chính xác độ tuổi của nạn nhân, mức độ tổn hại về thể chất vμ tinh thần của người bị hại do hμnh vi xâm hại tình dục trẻ em gây ra

Điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ một giai đoạn quan trọng của tố tụng vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể, nhân phẩm vμ danh dự của con người Những vi phạm nghiêm trọng như bức cung, nhục hình, lμm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm, lμm sai lệch hồ sơ vụ án… thường bắt đầu từ hoạt động điều tra,

sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường, chẳng những lμm giảm sút uy tín của các cơ quan tư pháp mμ còn lμm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng vμ Nhμ nước

Điều đó đòi hỏi công tác kiểm sát điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em phải

đảm bảo chặt chẽ

1.1.2 ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Một là, hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em tốt

sẽ đảm bảo mọi hμnh vi phạm tội xâm hại tình dục trẻ em đều phải được điều tra vμ

xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không lμm oan người vô tội Mặt khác, giúp việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can có căn cứ, đúng pháp luật;

đồng thời tìm ra nguyên nhân vμ điều kiện phạm tội để kiến nghị khắc phục, góp phần răn đe vμ phòng ngừa tội phạm Thực tiễn trong những năm qua đã chứng minh, công tác kiểm sát điều tra các tội xâm phạm tình dục trẻ em đã có tác dụng góp phần trong cuộc phòng ngừa vμ đấu tranh loại tội phạm nμy, giữ vững trật tự an toμn xã hội

Hai là, hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em có ý nghĩa

to lớn trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án xâm hại tình dục trẻ em, thể hiện rõ qua hai mối quan hệ:

Trang 15

- Quan hệ tố tụng giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra vμ những người tham gia tố tụng Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự lμ một trong những bảo đảm của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự với nhiệm vụ lμm cho “Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hμnh tố tụng, người tiến hμnh tố tụng vμ người tham gia tố tụng phải tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” (Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) Khi phát hiện có vi phạm pháp luật của các đối tượng kể trên trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em, Viện kiểm sát có trách nhiệm kịp thời áp dụng các biện pháp thích hợp do pháp luật quy định để loại trừ vi phạm đó Với việc quy

định trách nhiệm, quyền năng nμy, Nhμ nước đòi hỏi ở Viện kiểm sát giám sát, thực hiện vμ bảo đảm một nền tố tụng văn minh, công bằng, khách quan, đúng pháp luật

vμ có hiệu lực, hiệu quả

- Quan hệ giữa chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật với chức năng thực hμnh quyền công tố của Viện kiểm sát vμ với hoạt động của Viện kiểm sát ở giai đoạn tiếp theo - giai đoạn kiểm sát xét xử Các hoạt động nμy của Viện kiểm sát

có nội dung, nhiệm vụ khác nhau nhưng có quan hệ gắn bó hữu cơ trực tiếp với nhau “Viện kiểm sát thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hμnh vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, xét xử, thi hμnh án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm vμ người phạm tội, không lμm oan người vô tội” (khoản 3

Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) Kết thúc giai đoạn điều tra Viện kiểm sát phải quyết định việc truy tố hay không truy tố vμ nếu đã truy tố thì Viện kiểm sát

sẽ lμ người thực hμnh quyền công tố - nhân danh nhμ nước buộc tội tại phiên tòa, bảo vệ cáo trạng của mình Hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ tiền đề quan trọng bảo đảm tính hợp pháp cho toμn bộ kết quả điều tra

vụ án xâm hại tình dục trẻ em, đó lμ tính hợp pháp của các hoạt động điều tra đã

được tiến hμnh cũng như các chứng cứ đã được phát hiện, thu giữ trong vụ án ý nghĩa nμy thể hiện sự gắn kết vμ tác động qua lại của công tác thực hμnh quyền công

tố, kiểm sát điều tra vμ kiểm sát xét xử các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em của Viện kiểm sát

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.1.3.1 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Pháp chế chỉ có thể được củng cố vμ tăng cường trên cơ sở của một hệ thống pháp luật ngμy cμng phát triển vμ hoμn thiện, kịp thời thể chế hóa các chủ trương,

Trang 16

chính sách, đường lối của Đảng, phản ánh đúng những đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn cụ thể Tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992 đã quy định:

“Nhμ nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Đặc biệt, trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, công cụ pháp luật nhất lμ pháp luật hình sự lμ công cụ sắc bén quan trọng nhất để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền

vμ lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời cũng góp phần loại bỏ những tồn tại, gây cản trở tiến trình đổi mới của đất nước

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhμ nước pháp quyền của dân, do dân vμ vì dân Hoạt động của cơ quan Nhμ nước, cán bộ, công chức phải được pháp luật quy

định cụ thể, nhất lμ hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung vμ Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nói riêng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của công dân, nên cμng đòi hỏi phải được pháp luật tố tụng quy định chặt chẽ nhằm ngăn chặn sự tùy tiện mμ đáng chú ý đảm bảo quyền của bị can, bị cáo được hưởng, phải được tôn trọng

Những quy định của pháp luật như Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự, Pháp lệnh điều tra hình sự vμ các văn bản pháp luật khác của các cơ quan Nhμ nước

có thẩm quyền ban hμnh lμ căn cứ để các cơ quan pháp luật áp dụng, nhằm thực hiện

đúng chức năng, nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định Đối với hoạt động kiểm sát điều tra lμ hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra,

để đảm bảo cho hoạt động điều tra tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật Chính vì vậy mμ mọi hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ

em đều phải xuất phát từ luật vμ chỉ có trên cơ sở luật Nói một cách khác, pháp luật vừa lμ tiền đề, vừa lμ căn cứ để Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra, bởi lẽ hoạt động của Viện kiểm sát lμ một dạng hoạt động đặc thù; hoạt động nμy tác động đến đối tượng chấp hμnh pháp luật, nhằm lμm cho các đối tượng nμy phải hμnh động đúng hoặc không được hμnh động trái với quy định của pháp luật

Vì vậy, một hệ thống pháp luật hoμn thiện, đầy đủ, có tính ổn định cao, các quy phạm pháp luật cụ thể chặt chẽ, rõ rμng vμ dễ hiểu, phù hợp sẽ lμ điều kiện thuận tiện cho việc áp dụng pháp luật thống nhất chính xác, tránh được sự vận dụng tùy tiện Đây lμ yếu tố đầu tiên quan trọng, bảo đảm cho chất lượng công tác kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em

1.1.3.2 Sự nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của công tác kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, thì nhận thức đóng vai trò to lớn đối với hμnh động của con người, bởi nhận thức có chức năng định hướng, hướng dẫn

Trang 17

điều chỉnh hμnh vi của con người để con người hμnh động theo những mục tiêu nhất

định Nếu có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, khách quan, khoa học, động cơ trong sáng

sẽ tránh được những nhận thức sai lệch Điều đó sẽ lμ cơ sở cho việc tạo ra một động lực mạnh mẽ cho hμnh động đúng đắn vμ do vậy sẽ mang lại chất lượng, hiệu quả cao cho việc thực hiện nhiệm vụ

Hiện nay vẫn còn một bộ phận Kiểm sát viên chưa nhận thức đúng vμ đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát điều tra

án hình sự Do đó, khi thực hiện nhiệm vụ nμy có lúc, có nơi vμ trong không ít vụ án còn có Kiểm sát viên biểu hiện tư tưởng ngại va chạm, nể nang, tránh né, xuôi chiều, chưa phát hiện kịp thời các vi phạm của Cơ quan điều tra hoặc chỉ chú ý đến việc

đấu tranh chống tội phạm nhưng lại chưa đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân vμ điều kiện trực tiếp lμm phát sinh tội phạm, xem nhẹ công tác phòng ngừa tội phạm… Thực tiễn đã xuất hiện những khuynh hướng lệch lạc sau:

Khuynh hướng thứ nhất: cho rằng công tác kiểm sát điều tra các tội xâm hại

tình dục trẻ em chủ yếu lμ nhằm bảo đảm cho thực hμnh quyền công tố, tức lμ đấu tranh chống tội phạm, xem nhẹ những vi phạm trong hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Từ đó dẫn đến thường phối hợp một chiều với Cơ quan điều tra trong việc điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, chưa chú ý phát hiện vμ áp dụng các biện pháp theo luật định để khắc phục ngay những vi phạm trong hoạt

động điều tra nên không ít hệ quả của những thiếu sót nμy thường dẫn đến các trường hợp oan, sai đã xảy ra

Khuynh hướng thứ hai: xem công tác kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình

dục trẻ em chủ yếu lμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, tức lμ hướng vμo việc phát hiện vμ khắc phục vi phạm từ phía Cơ quan Cảnh sát điều tra; còn việc phát hiện vμ lμm rõ tội phạm thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra Từ đó dẫn đến tình trạng thiên về mặt phát hiện vμ yêu cầu khắc phục vi phạm mμ chưa thấy hết trách nhiệm thực hμnh quyền công tố của mình lμ phải đề ra yêu cầu điều tra, cùng phối hợp với Cơ quan điều tra trong việc thu thập tμi liệu, chứng cứ lμm sáng tỏ sự thật của vụ án một cách khách quan, toμn diện, đầy đủ nhằm đảm bảo căn cứ cho việc xác định tội phạm vμ hμnh vi phạm tội để điều tra, truy tố xử lý kịp thời Nhận thức không đầy

đủ nμy dẫn đến nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm

Khuynh hướng thứ ba: không thực hiện đúng đắn vμ đầy đủ chức năng, nhiệm

vụ của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ

em, cho rằng công tác nμy chẳng qua chỉ lμ việc thực hiện các quyền hạn do luật

định khi có vi phạm trong việc điều tra xảy ra mμ không tích cực kiểm sát việc khởi

Trang 18

tố, kiểm sát các hoạt động điều tra Khuynh hướng nμy dẫn đến tình trạng thụ động chờ việc, thiếu tính tích cực, tinh thần trách nhiệm đấu tranh vì công lý mờ nhạt

Rõ rμng cả ba khuynh hướng sai trái trên đều xuất phát từ nhận thức không

đầy đủ, lệch lạc về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát Đây lμ một trong những nguyên nhân lμm giảm chất lượng công tác kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em; nhiều trường hợp oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm đều bắt nguồn từ những nhận thức lệch lạc nμy Điều đó cũng có nghĩa lμ yếu tố nhận thức có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em

1.1.3.3 Chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Nhiệm vụ mμ Đảng vμ Nhμ nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân đặt ra một yêu cầu rất cao lμ phải tích cực góp phần đấu tranh có hiệu quả với các tội phạm, không được để xảy ra oan sai, lμm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, quyền vμ lợi ích hợp pháp của công dân Để đáp ứng yêu cầu đó, đòi hỏi phải có đội ngũ Kiểm sát viên lμm công tác kiểm sát điều tra có chất lượng mμ biểu hiện tập trung lμ ở năng lực chuyên môn nghiệp vụ vμ đạo đức nghề nghiệp

Bản chất hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em lμ một quá trình tư duy lôgíc, bao gồm các bước có nội dung vμ mối quan hệ chặt chẽ, được thực hiện đồng thời hoặc xen kẻ nhau, tuân theo một trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ theo quy định của pháp luật Như vậy, tính chất của nhiệm vụ kiểm sát điều tra

đòi hỏi đội ngũ những người lμm công tác kiểm sát điều tra phải có năng lực thực hμnh nhiệm vụ một cách thực sự về chuyên môn nghiệp vụ, nó sẽ tạo cho người lμm công tác kiểm sát điều tra bản lĩnh nghề nghiệp, có tính chiến đấu cao, dám kiên quyết đấu tranh trấn áp tội phạm, đồng thời sẳn sμng đấu tranh với mọi biểu hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra Cơ quan điều tra, để đảm bảo tính đúng đắn trong suốt quá trình tiến hμnh điều tra Song song đó, mỗi cán bộ Kiểm sát viên còn phải ra sức rèn luyện vμ thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về năm đức tính của người cán bộ kiểm sát, đó lμ “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” Người cán bộ kiểm sát có năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhưng không có lương tâm nghề nghiệp vμ tinh thần trách nhiệm cao sẽ dẫn đến sự tắc trách trong công việc vμ do vậy rất có khả năng để xảy ra sai sót vi phạm, thậm chí sa sút phẩm chất, cuốn vμo vòng tiêu cực Hai nội dung trên có mối quan hệ gắn bó, tác động lẫn nhau như hai mặt của “đức” vμ “tμi” của người cán bộ, lμ tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng của đội ngũ Kiểm sát viên lμm công tác kiểm sát điều tra

Trang 19

Ngoμi ra, các yếu tố khác như sức ép của dư luận xã hội, của phương tiện thông tin đại chúng, gia đình nạn nhân đòi hỏi phải khởi tố vụ án xâm hại tình dục trẻ em ngay khi vừa xảy ra, trong khi chưa đủ căn cứ, rồi sau đó có vụ lại thay đổi thái độ ngược lại hay yếu tố phối hợp liên ngμnh trong đấu tranh chống tội phạm,

điều kiện cơ sở vật chất trong việc trang thiết bị, phương tiện lμm việc, chế độ đãi ngộ, công tác quản lý chỉ đạo điều hμnh, sự lãnh đạo của Đảng… cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.2 Nhận thức chung cơ bản về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.2.1 Đối tượng, phạm vi và tính chất của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.2.1.1 Đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ

em lμ sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, những người tiến hμnh tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình điều

tra vụ án hình sự xâm hại tình dục trẻ em

“Hoạt động Kiểm sát điều tra lμ một trong những hoạt động để thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt

động điều tra của các Cơ quan điều tra vμ các cơ quan khác được giao tiến hμnh một

Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Đây lμ một hoạt động rất đa dạng vμ phức tạp, chủ thể tham gia có địa vị pháp lý khác nhau Mục đích cao nhất của hoạt

động kiểm sát điều tra lμ sử dụng các quyền năng pháp lý do luật định để bảo đảm cho hoạt động điều tra tuân thủ những quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra; bảo đảm việc thực hiện đúng các nguyên tắc về chính sách hình sự của Nhμ nước, chống lμm oan sai, bỏ lọt tội phạm; bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng vμ bảo vệ các quyền cơ bản, hợp pháp của công dân Hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em, lμ một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hμnh nghiêm chỉnh vμ thống nhất Tuy nhiên cũng cần lưu

ý rằng Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, cũng ghi nhận Viện kiểm

5 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), Một số khuyến nghị về xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, sổ tay công tác kiểm sát hình sự tại Việt Nam, Hμ Nội, tr.242

Trang 20

sát nhân dân còn một chức năng song hμnh với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (trong đó có kiểm sát điều tra), đó lμ thực hμnh quyền công tố truy cứu trách nhiệm hình sự vμ công khai bảo vệ sự buộc tội tại phiên toμ đối với người phạm tội

Do vậy, cần phân biệt qua đối tượng của hai chức năng luật định nμy, vì đối tượng của chức năng hoạt động tư pháp lμ việc sử dụng để yêu cầu xử lý các vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hμnh tố tụng vμ người tham gia tố tụng; còn đối tượng của chức năng thực hμnh quyền công tố lμ các quyết định liên quan đến buộc tội người phạm tội

1.2.1.2 Phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em lμ thời điểm bắt đầu vμ kết thúc, lμ giới hạn không gian vμ thời gian của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật do Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền tiến hμnh

Về phạm vi hoạt động kiểm sát điều tra theo Thông tư liên bộ số 427/TTLB ngμy 28/6/1963 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao trước đây quy

định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác, thì phạm vi công tác kiểm sát

điều tra từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra vụ án

Hiện nay, theo Quy chế công tác thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (ban hμnh kèm theo Quyết

định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngμy 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) xác định phạm vi của công tác kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi phát hiện

có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra, Viện kiểm sát ra quyết

định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật Điều nμy cho thấy tên gọi Kiểm sát điều tra mang tính ước lệ vì phạm vi hoạt động kiểm sát điều tra được

mở rộng, không bị bó hẹp ở giai đoạn điều tra mμ bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra, trong đó có cả kiểm sát việc khởi tố cũng lμ một trong những nội dung của kiểm sát điều tra (Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003)

1.2.1.3 Tính chất của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Tính chất của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ

em thể hiện rõ qua quan hệ phối hợp vμ tố tụng hình sự giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong giai đoạn điều tra Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra được coi lμ quan hệ tổ chức hoạt động tất yếu giữa hai cơ quan nhμ nước có chung nhiệm vụ đấu tranh

Trang 21

phòng, chống tội phạm với nhau Nhóm quan hệ nμy không phải lμ quan hệ tố tụng, không được Bộ luật tố tụng hình sự 2003 điều chỉnh Chúng chỉ lμ quan hệ công tác

được điều chỉnh bởi những văn bản dưới luật Còn quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát

điều tra vμ Viện kiểm sát trong quá trình điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em gọi

lμ quan hệ tố tụng kiểm sát điều tra

Tính chất của hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em có những đặc điểm sau đây: chỉ xuất hiện trong quá trình điều tra vụ án xâm hại tình dục trẻ em do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 điều chỉnh vμ có tính quyết định - chấp hμnh

Tính chất quyết định - chấp hμnh giữa Viện kiểm sát đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong quá trình hoạt động tố tụng nhằm khắc phục những vi phạm trong hoạt động điều tra vụ án, nó xuất phát từ đặc điểm quan hệ tố tụng hình sự do pháp luật quy định, thể hiện sự đảm bảo về mặt pháp lý thực hiện đúng các quy định trong

Vấn đề cần lμm rõ vì sao trong quan hệ tố tụng nμy Viện kiểm sát lại có thẩm quyền đặc biệt - thẩm quyền có tính quyết định đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Theo chúng tôi điều nμy chỉ có thể giải thích từ nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vμ chức năng của Viện kiểm sát Trong giai đoạn điều tra để có thể phát hiện ngăn chặn kịp thời tội phạm vμ người phạm tội thì việc áp dụng những biện pháp điều tra như khám người, áp dụng các biện pháp ngăn chặn… tức lμ những hoạt động tố tụng có tính cưỡng chế nhμ nước Các hoạt động tố tụng nμy có thể dẫn đến hệ quả lμ các quyền, tự do Hiến định của công dân có thể bị xâm phạm, mμ hoạt động kiểm sát

điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em lμ một trong những bảo đảm cho việc hạn chế các quyền, tự do của công dân luôn phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự vμ khi phát hiện vi phạm thì Viện kiểm sát phải có khả năng can thiệp một cách nhanh nhất Chính vì lý do nμy, nên luật phải ghi nhận cho Viện kiểm sát những quyền uy mạnh mẽ trong quan hệ với Cơ quan điều tra Đây lμ điểm đặc thù trong quan hệ giữa Viện kiểm sát với các Cơ quan Cảnh sát điều tra ở các giai đoạn

Trang 22

tố tụng khác, nhất lμ ở giai đoạn xét xử Viện kiểm sát không có những thẩm quyền như vậy

Bên cạnh quyền của Viện kiểm sát được kiểm sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra thì quá trình nμy, Viện kiểm sát cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định vμ yêu cầu không đúng đắn của mình (khoản 1 Điều

15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Điều nμy thể hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra không phải luôn ở thế bị động, bị kiểm sát như một số người quan niệm Cơ quan Cảnh sát điều tra có quyền kiến nghị về những vi phạm tố tụng, những yêu cầu không phù hợp của Viện kiểm sát cùng cấp với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp

1.2.2 Mục đích, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.2.2.1 Mục đích của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Theo Điều 3 Quy chế công tác thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung vμ các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nói riêng của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm:

1 Mọi hμnh vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra vμ xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm vμ người phạm tội, không lμm oan người vô tội;

2 Không để người nμo bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tμi sản, tự do, danh dự vμ nhân phẩm một cách trái pháp luật;

3 Việc điều tra phải khách quan, toμn diện, đầy đủ vμ chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện kịp thời; khắc phục vμ xử lý nghiêm minh;

4 Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ vμ đúng pháp luật

Như vậy, mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ bảo đảm các hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong quá trình điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em được đầy đủ, khách quan, toμn diện vμ đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện vμ khắc phục kịp thời Công tác kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ

em có hiệu quả sẽ lμ điều kiện để bảo đảm cho hoạt động thực hμnh quyền công tố các vụ án nμy được đúng đắn

Trang 23

1.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát

điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn kiểm sát điều tra

được quy định tập trung tại Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự Cụ thể: Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ vμ quyền hạn sau đây:

1 Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra vμ việc lập hồ sơ vụ

án của Cơ quan điều tra;

2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng;

3 Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra;

4 Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động

điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tμi liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hμnh điều tra;

5 Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm vμ vi phạm pháp luật

Trong hoạt động điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng: Thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hμnh tố tụng, người tiến hμnh vμ người tham gia tố tụng Hoạt động điều tra lμ hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra lμ cơ quan tư pháp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên lμ các chức danh tư pháp vμ mọi hoạt động theo luật tố tụng hình sự của cơ quan vμ các chức danh nμy phải chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát

Khi kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em, Viện kiểm sát còn

có quyền hạn vμ đồng thời lμ trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng Vấn đề đặt ra lμ: Vậy Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng như thế nμo vμ có quyền hạn, trách nhiệm đến

đâu trong lĩnh vực nμy Bộ luật tố tụng hình sự cho đến nay, vẫn chưa có những quy

định cụ thể, khả thi cho phép Viện kiểm sát tiến hμnh các hμnh vi tố tụng Vận dụng

Điều 115 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Những quyết định, yêu cầu của… Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự phải được cơ quan, tổ chức vμ công dân nghiêm chỉnh chấp hμnh” vμ một số quy định khác như giải quyết khiếu nại, tố cáo; trực tiếp tiến hμnh một số hoạt động điều tra; xem xét, cấp giấy chứng nhận cho người bμo chữa v.v… Viện kiểm sát thực tế đã tiến hμnh kiểm sát việc tuân theo pháp luật của một số người tham gia tố tụng, nhưng không nhiều

Trang 24

Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự đặt trọng tâm vμo việc kiểm sát hoạt động

điều tra Theo điều luật nμy thì Viện kiểm sát kiểm sát ba loại công việc: Khởi tố vụ

án của Cơ quan điều tra, việc tiến hμnh các hoạt động điều tra vμ lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra

Về khởi tố vụ án hình sự tội phạm xâm hại tình dục trẻ em: theo Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định quyền hạn vμ trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự Trước hết, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ vμ đúng pháp luật

Để đảm bảo việc khởi tố vụ án hình sự được kịp thời, khách quan, chính xác

vμ đúng pháp luật, trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự xâm hại tình dục trẻ em, Cơ quan Cảnh sát điều tra (cả Hội đồng xét xử) phải gửi quyết định khởi tố vụ án tới Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố Trường hợp quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, trừ Hội đồng xét xử, không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó Nếu quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử không có căn cứ thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Tòa án cấp trên Song song hoạt động kiểm sát việc khởi tố, Viện kiểm sát còn có trách nhiệm kiểm sát cả việc không khởi tố vụ án hình sự Đây lμ hướng kiểm sát có vai trò quan trọng trong việc chống bỏ lọt tội phạm Các Điều

107, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định các căn cứ vμ thủ tục không khởi tố

vụ án hình sự vμ đòi hỏi việc không khởi tố cũng phải được xác định bằng một quyết

định tố tụng Quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ thì Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đó vμ ra quyết định khởi tố vụ án

Về kiểm sát các hoạt động điều tra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em vμ việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra, nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát

được thể hiện ở nhiều quy định khác nhau Trong quá trình kiểm sát hoạt động điều tra, việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ vμ quyền hạn: yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tμi liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của

Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên

đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hμnh điều tra

Bên cạnh đó, “Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát gắn với hoạt động kiểm sát điều tra lμ giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Trang 25

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự, bằng các quy định cụ thể của mình, đã giải quyết khá toμn diện vμ cụ thể những vấn đề liên quan đến việc phân định thẩm quyền điều tra, song trong thực tế, những nhầm lẫn, tranh chấp về thẩm quyền điều tra vẫn thường xảy ra Bởi vậy, Viện kiểm sát với tư cách lμ cơ quan kiểm sát điều tra, đồng thời giữ vai trò trung gian xử lý, ra quyết định cuối cùng giải quyết các tranh chấp

về thẩm quyền điều tra được quy định trong từng điều luật cụ thể” 6

Ngoμi ra, cùng với việc tác động đến Cơ quan Cảnh sát điều tra vμ Điều tra viên thông qua việc kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát còn có trách nhiệm kiến nghị với các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

1.3 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong

điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em

1.3.1 Nguyên tắc của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát

điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em

Quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong kiểm sát

điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ quan hệ bị chi phối bởi các nguyên tắc của tố tụng hình sự Những nguyên tắc nμy lμ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt tiến trình tố tụng, nó đòi hỏi các chủ thể tham gia tố tụng phải nghiêm chỉnh chấp hμnh Nghiên cứu về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra, chúng

ta thấy mối quan hệ nμy bị chi phối bởi một số nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa:

Lμ nguyên tắc rất quan trọng trong quan hệ giữa Viện kiểm sát vμ Cơ quan Cảnh sát điều tra được quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992: “Nhμ nước quản

lý xã hội bằng pháp luật vμ không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.” vμ

Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Mọi hoạt động của cơ quan tiến hμnh tố tụng vμ người tham gia tố tụng phải được tiến hμnh theo quy định của Bộ luật nμy” Như vậy có nghĩa lμ khi thực hiện quan hệ phối hợp cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát vμ Cơ quan Cảnh sát điều tra không

được phép tùy tiện vượt quá quy định của pháp luật Việc áp dụng các biện pháp

điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát đều phải trên cơ sở vận dụng đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo tính có căn cứ vμ hợp pháp trong các quyết định của mình

6 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), Một số vấn đề mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hμ Nội,

tr.74

Trang 26

- Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án:

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 10) quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vμ Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toμn diện, đầy đủ, lμm rõ những chứng cứ xác định có tội vμ chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng vμ những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hμnh tố tụng Bị can, bị cáo có quyền không buộc phải chứng minh lμ mình vô tội”

Từ quy định trên cho thấy nhiệm vụ của cơ quan tiến hμnh tố tụng lμ phải xác

định rõ sự thật vụ án bằng mọi biện pháp trên cơ sở pháp luật cho phép Cơ quan Cảnh sát điều tra vμ Viện kiểm sát tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng

đều có mục đích chung lμ xác định sự thật vụ án, điều nμy phản ánh tính tất yếu của quan hệ phối hợp giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát khi cả hai cơ quan cùng phải giải quyết những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em Nguyên tắc nμy chỉ ra rằng điểm mấu chốt trong quan hệ phối hợp

lμ nhằm đảm bảo tính khách quan, toμn diện vμ đầy đủ trong việc thu thập chứng cứ cũng như việc xác định tội phạm vμ người phạm tội, các tình tiết khác liên quan đến việc xác định đúng bản chất của vụ án; không nên chú trọng quyền năng, xem nhẹ quan hệ hoặc ỷ lại vμo chỉ đạo liên ngμnh mμ không chú ý đến chức năng, nhiệm vụ của mình

- Nguyên tắc bảo vệ quyền vμ lợi ích hợp pháp của người phạm tội:

Quyền vμ lợi ích hợp pháp của người phạm tội về cơ bản lμ các quyền của cơ bản của công dân: quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toμn vμ bí mật về thư tín Các quyền nμy đã được Hiến pháp ghi nhận Đây lμ một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự, lμ sự thể hiện tính ưu việt của Nhμ nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn đề cao vμ tôn trọng các quyền, cũng như lợi ích của con người Người phạm tội lμ con người, họ chỉ bị hạn chế quyền tự do, vì vậy đòi hỏi vẫn phải tôn trọng vμ bảo vệ các quyền cơ bản của họ

Ngoμi ra, quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra còn bị chi phối bởi các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự Việc thực hiện đúng các nguyên tắc của tố tụng hình sự chính lμ sự đảm bảo cho quan hệ giữa Viện kiểm

sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra được thực hiện hiệu quả trên thực tế

Trang 27

1.3.2 Cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em

Từ khi Viện kiểm sát được thμnh lập theo Hiến pháp năm 1959 đã xuất hiện mối quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát Mối quan hệ nμy đã

được thể hiện trong Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1960, 1981 vμ 2002; Sắc lệnh

số 02/SL-76 ngμy 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ quy định về việc bắt, giam, khám người, khám nhμ ở, khám đồ vật… Một số thông tư liên ngμnh cũng quy định

về mối quan hệ nμy Văn bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân vμ Cơ quan điều tra trong các giai đoạn tố tụng để giải quyết vụ án hình sự lμ thông tư liên bộ số 427/TT-LB ngμy 28/6/1963 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao vμ Bộ Công an trong công tác điều tra các vụ án hình sự Tiếp theo lμ Thông tư liên bộ số 01/TT-LB ngμy 23/01/1984 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay lμ Bộ Công an) về quan hệ giữa Công an vμ Viện kiểm sát trong công tác điều tra các vụ án hình sự Theo quy định tại điểm 2 của Thông tư nμy thì ngay sau khi phát hiện có tội phạm hoặc dấu hiệu của tội phạm xảy ra, Cơ quan Công an vμ Viện kiểm sát cần phối hợp ngay trong các hoạt động điều tra vμ kiểm sát điều tra Sự phối hợp giữa hai cơ quan được thể hiện trong suốt quá trình điều tra vụ án từ khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn…

đến khi hoμn thμnh cáo trạng, chuyển hồ sơ sang Tòa án Nếu quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát được thực hiện tốt sẽ thuận lợi cho việc truy tố, xét xử Đối với các vụ án phức tạp, án trọng điểm có thể tổ chức họp liên ngμnh Công an - Viện kiểm sát - Tòa án để thống nhất đường lối giải quyết vụ án ngay từ giai đoạn điều tra, tránh những sai sót có thể xảy ra Tại thời điểm truy tố, khi Viện kiểm sát hoμn thμnh cáo trạng phải gửi một bản cho Cơ quan điều tra biết

Để hoμn thiện mối quan hệ phối hợp trong giải quyết các vụ án hình sự, ngμy 07/9/2005 liên ngμnh Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng

đã ban hμnh Thông tư liên tịch số 05/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra vμ Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Thông tư đã hướng dẫn thực hiện những vấn

đề quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hμnh, đó lμ: thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ vμ trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; thay đổi Điều tra viên, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu vμ quyết định của Viện kiểm sát…

Trang 28

Ngoμi ra, quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em còn được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc vμ giáo dục trẻ em, Pháp lệnh phòng, chống mại dâm

vμ các văn bản liên quan đến phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em như: Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg ngμy 31/7/1998 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm; Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngμy 26/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hμnh động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; Quyết định số 52/2006/QĐ-TTg ngμy 08/3/2006 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình phối hợp liên ngμnh phòng, chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2006 - 2010; Kế hoạch

số 13/KH/VKSTC ngμy 27/3/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm hình sự vμ tệ nạn xã hội…

1.3.3 Nội dung, hình thức, phạm vi và tính chất của quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em

Nội dung của quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát

điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em lμ những vấn đề mμ hai bên cùng hướng tới nhằm đánh giá, kết luận những vấn đề cần chứng minh trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em

Nội dung cụ thể về quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em bao gồm:

- Phối hợp tiếp nhận vμ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm:

Tiếp nhận vμ giải quyết tin báo tố giác tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em phần lớn được thực hiện ở Cơ quan Cảnh sát điều tra Đây lμ hoạt động điều tra ban

đầu của quá trình tố tụng Tố giác về tội phạm được hiểu lμ tố cáo của công dân về hμnh vi nμo đó mμ họ cho rằng đó lμ tội phạm; còn tin báo về tội phạm lμ thông tin, thông báo, báo cáo của các cơ quan, tổ chức với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát về những vụ việc đã xảy ra mμ họ cho lμ tội phạm

Trách nhiệm của Cơ quan Cảnh sát điều tra phải tổ chức tiếp nhận tố giác vμ tin báo của công dân hoặc Viện kiểm sát, tổ chức chuyển đến Sau khi tiếp nhận phải vμo sổ đăng ký tin báo tội phạm, xác minh tin báo; nếu có dấu hiệu tội phạm xâm hại tình dục trẻ em thì ra quyết định khởi tố, thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết

- Phối hợp áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn vμ khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng:

Trang 29

áp dụng biện pháp bắt đối tượng phạm tội thường xảy ra trong các trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt quả tang; bắt khẩn cấp vμ bắt truy nã Căn cứ bắt, thẩm quyền vμ các thủ tục bắt giữ được thực hiện theo quy định tại các Điều 79,

Trường hợp bắt truy nã, nếu thấy Cơ quan ra quyết định truy nã không thể

đến nhận ngay người bị bắt thì Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận người bị bắt ra quyết

định tạm giữ vμ gửi ngay quyết định tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp Trường hợp cơ quan đã ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ 12 giờ, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận người bị bắt phải chuyển hồ sơ kèm theo công văn đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp gia hạn tạm giữ đối với người bị bắt

Đối với các trường hợp phê chuẩn lệnh tạm giam khi người đang bị tạm giữ

bị khởi tố bị can Để đảm bảo thời gian cho Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam

đối với người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can vẫn còn trong thời hạn tạm giữ thì chậm nhất 12 giờ trước khi hết hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ, Cơ quan Cảnh sát

điều tra phải giao hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can vμ đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp Trong khi Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn, nếu có tμi liệu bổ sung thì Cơ quan Cảnh sát

điều tra phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát để kịp thời phục vụ việc phê chuẩn

Quá trình kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra phải thực hiện đúng quy định tại các Điều 140,

141, 142, 143, 144 vμ 145 của Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 30

- Phối hợp khởi tố vụ án, khởi tố bị can:

Quyết định khởi tố vụ án lμ văn bản pháp lý xác định có hμnh vi phạm tội xảy

ra, cơ sở ban đầu để tiến hμnh một cách hợp pháp các hoạt động tiếp theo nhằm lμm

rõ vụ án hình sự vμ lμ cơ sở pháp lý trực tiếp của các quan hệ tố tụng hình sự phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án Căn cứ khởi tố, thẩm quyền khởi tố vμ kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại các Điều 100, 103, 104, 105 vμ 109

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Đối với việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, căn cứ điểm b khoản 1

Điều 13 Quy chế công tác thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, ngμy 02/01/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao: nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội xâm hại tình dục trẻ

em, thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra bổ sung tμi liệu, chứng cứ

để lμm rõ căn cứ khởi tố Kiểm sát viên kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ án có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người lμm chứng, người bị hại để lμm rõ căn cứ khởi tố

bị can trước khi báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được ủy quyền xem xét, quyết định việc phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi tố bị can Biên bản ghi lời khai những người nμy do Kiểm sát viên lập được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố để đưa vμo hồ sơ vụ án

- Phối hợp khám nghiệm hiện trường:

Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải chủ động nắm tình hình yêu cầu Điều tra viên thông báo sự việc xảy ra hoặc hỏi chính quyền địa phương để nắm một số thông tin cần thiết ban đầu nhằm tham gia ý kiến với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong việc chuẩn bị khám nghiệm

Khi đến hiện trường, Kiểm sát viên lưu ý kiểm tra lại công tác bảo vệ hiện trường, đồng thời yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra mời người chứng kiến cho cuộc khám nghiệm Trên cơ sở kế hoạch khám nghiệm của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã vạch ra, Kiểm sát viên cần có ý kiến tham gia về phương pháp khám nghiệm, phương tiện kỹ thuật cần sử dụng vμ phương pháp phát hiện, thu giữ, bảo quản dấu vết, vật chứng; phải theo dõi các thao tác khám nghiệm của Điều tra viên để yêu cầu thực hiện đúng thủ tục tố tụng, phương pháp khám nghiệm, ghi chép vμ vẽ sơ đồ hiện trường Kiểm sát viên phải có hiểu biết nhất định về nghiệp vụ kỹ thuật hình sự, nhất lμ về pháp y sinh dục, cũng như về các thủ đoạn gây án của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em để kiểm sát tốt quá trình khám nghiệm vμ đưa ra các yêu cầu khi

Điều tra viên thực hiện không đạt, không đúng Trong quá trình khám nghiệm hiện trường vμ kiểm sát khám nghiệm hiện trường, giữa Điều tra viên vμ Kiểm sát viên

Trang 31

cần tích cực nghiên cứu, trao đổi vμ dựa trên dấu vết vật chứng đã thu được, để đặt ra giả thuyết, tình huống đã xảy ra để tìm kiếm các dấu vết khác

Khi kết thúc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải đánh giá đúng kết quả khám nghiệm để cùng Điều tra viên thống nhất quyết định việc khám nghiệm

bổ sung, khám nghiệm lại

- Phối hợp giám định:

Kiểm sát viên phối hợp cùng Điều tra viên để xác định rõ những dấu vết, vật chứng nμo cần được trưng cầu giám định, nội dung cần trưng cầu giám định để phục

vụ công tác giải quyết án Mặt khác, trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em để xác

định mức độ tổn hại tâm thần, sức khỏe của nạn nhân lμ vô cùng quan trọng Trẻ em

bị xâm hại tình dục có thể ở những hoμn cảnh khác nhau, như đang sinh hoạt bình thường, đang ngủ, say rượu, bị gây mê, hoặc bị rối loạn tâm thần Trong tất cả trường hợp đều phải trưng cầu giám định Ngoμi ra, có thể cần trưng cầu giám định thêm để xác định tinh trùng, nhóm máu nghi can; xác định nghi vấn có khả năng sinh dục bình thường hoặc có biến thái trong hoạt động sinh dục hay không… Mục

đích của trưng cầu giám định nhằm giải đáp các yêu cầu phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử

- Phối hợp trong việc đảm bảo việc thực hiện các quyền vμ nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng:

Quá trình kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên giải thích vμ bảo đảm thực hiện quyền vμ nghĩa vụ của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can vμ những người tham gia tố tụng khác trong hoạt động điều tra theo quy định tại

Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự Việc giải thích quyền vμ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được ghi vμo biên bản theo quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng hình sự vμ đưa vμo hồ sơ vụ án

Đối với các trường hợp bắt buộc phải có người bμo chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự mμ bị can hoặc người đại diện hợp pháp của

họ không mời người bμo chữa, thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu đoμn Luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bμo chữa cho họ hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thμnh viên của Mặt trận cử người bμo chữa cho thμnh viên của tổ chức mình

- Phối hợp trong việc lập hồ sơ vụ án:

Trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em, ngoμi việc lập

hồ sơ kiểm sát, Kiểm sát viên còn phải kiểm sát việc lập hồ sơ của Cơ quan Cảnh sát

Trang 32

điều tra Để đảm bảo hồ sơ có đầy đủ các tμi liệu, được sắp xếp, đánh bút lục theo trình tự, phục vụ cho việc nghiên cứu, truy tố xét xử, Kiểm sát viên phải yêu cầu

Điều tra viên cung cấp tμi liệu đầy đủ, kịp thời Giám sát quá trình lập hồ sơ vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra, nếu thấy tμi liệu bị mất mát, hư hỏng hay tẩy xóa, sửa chữa thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra khắc phục vμ lμm

rõ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm, trách nhiệm của từng cá nhân liên quan

để đề xuất biện pháp xử lý thích hợp

- Phối hợp trong việc chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền:

Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong trường hợp vụ án xâm hại tình dục trẻ em không thuộc thẩm quyền của mình, Cơ quan Cảnh sát điều tra phải đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan

điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra Thời hạn để Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền lμ ba ngμy kể từ khi nhận được đề nghị của Cơ quan điều tra cùng cấp

Đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em phải chuyển ra ngoμi phạm vi tỉnh, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện tiến hμnh các thủ tục để Viện kiểm sát cấp huyện có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cấp tỉnh ra quyết định chuyển vụ án Trong thời hạn ba ngμy, kể từ khi nhận được đề nghị chuyển vụ án của Viện kiểm sát cấp huyện thì Viện kiểm sát cấp tỉnh phải ra quyết định chuyển vụ án

- Đánh giá chứng cứ vụ án:

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em được thực hiện cố ý, thủ đoạn phạm tội vμ che giấu tội phạm tinh vi, xảo quyệt như: gây án nơi vắng vẻ, trong đêm tối để không bị ai phát hiện, lừa gạt trẻ em nhỏ để giao cấu hay mua chuộc, đe dọa nạn nhân vμ người lμm chứng để không dám tố giác… Nhiều vụ án truy xét chứng cứ để kết tội bị can chỉ có các lời khai, vì vậy khi đánh giá chứng cứ phải thận trọng xem xét đầy đủ các tμi liệu có trong hồ sơ vụ án, cân nhắc cả chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội Điều tra viên vμ Kiểm sát viên nghiên cứu đánh gia chứng cứ phải

đối chiếu với các quy định trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự vμ các văn bản hướng dẫn liên quan để xem xét, đánh giá Đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em phức tạp, có quan điểm khác nhau thì phải báo cáo lãnh đạo hai ngμnh Cơ quan điều tra vμ Viện kiểm sát tổ chức họp lấy ý kiến hoặc báo cáo lãnh đạo cấp trên cho ý kiến chỉ đạo giải quyết

Trang 33

Về hình thức của quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát

điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em, đó lμ “cách thức thực hiện, biện pháp để giải quyết những nội dung quan hệ giữa hai cơ quan” 7

Bộ luật tố tụng hình sự cũng như văn bản dưới luật không quy định về các hình thức quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong

xử lý các vụ án xâm hại tình dục trẻ em, song trên thực tế chúng ta thấy các hình thức phối hợp giữa hai cơ quan nμy được thể hiện rất đa dạng:

- Trao đổi thông tin về vụ án:

Giải quyết bất kỳ một vụ án xâm hại tình dục trẻ em nμo Cơ quan Cảnh sát

điều tra cũng phải trao đổi thông tin về vụ án với Viện kiểm sát vμ ngược lại, để hai bên cùng phối hợp nắm chắc nội dung vụ án có hướng giải quyết đúng đắn Việc trao đổi thông tin có thể qua điện thoại, trao đổi miệng giữa Điều tra viên với Kiểm sát viên hoặc trao đổi bằng văn bản

- Họp bμn giải quyết án, họp báo cáo án:

Trong quá trình điều tra, nhất lμ đối với những vụ án xâm hại tình dục trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng, phức tạp, Cơ quan Cảnh sát điều tra vμ Viện kiểm sát phải tổ chức họp để tìm cách giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, những vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau để cùng bμn cách tháo gỡ, giải quyết, tránh những sai sót Hồ sơ ở cơ quan nμo thì cơ quan đó chủ động tổ chức họp Nếu liên ngμnh cùng cấp không thống nhất được ý kiến phải báo cáo lãnh đạo liên ngμnh cấp trên cho ý kiến

- Ban hμnh các lệnh, quyết định tố tụng:

Khi các tμi liệu hồ sơ đã đủ căn cứ để ra các lệnh, quyết định tố tụng theo thẩm quyền thì Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hμnh các lệnh hoặc quyết định tố tụng

vμ chuyển cho Viện kiểm sát phê chuẩn Đối với những quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền ban hμnh của Viện kiểm sát thì sau khi ban hμnh phải chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để thực hiện các lệnh, quyết định đó vμ yêu cầu thực hiện

- Thực hiện các lệnh, quyết định tố tụng:

Sau khi các lệnh hoặc quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã

được Viện kiểm sát phê chuẩn, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm phải thực hiện các lệnh, quyết định đó vμ báo cáo kết quả thực hiện cho Viện kiểm sát biết

7 Nguyễn Thị Mai Nga (2008), Quan hệ phối hợp giữa Viện Kiểm sát nhân dân với Cơ quan cảnh sát điều tra trong giải quyết các vụ án ma túy, NXB Công an nhân dân, Hμ Nội, tr.55.

Trang 34

- Yêu cầu bổ sung các tμi liệu cần thiết của vụ án:

Quá trình điều tra, Kiểm sát viên phát hiện hoặc thấy cần thiết phải bổ sung các tμi liệu phục vụ cho việc điều tra để tìm ra sự thật của vụ án thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên bổ sung Điều tra viên có trách nhiệm phải bổ sung các tμi liệu

đó, nếu có ý kiến khác phải trao đổi lại với Kiểm sát viên

- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

Sau khi hồ sơ kết thúc thấy có căn cứ theo Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát ra quyết định trả điều tra bổ sung vμ ghi rõ yêu cầu điều tra bổ sung trong quyết định Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm thực hiện quyết

định nμy

- Kiểm sát các hoạt động điều tra:

Trong quá trình điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em, Viện kiểm sát có quyền kiểm sát các hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra để đảm bảo việc thực hiện điều tra vụ án đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Về phạm vi của mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh

sát điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em được phát sinh từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, khởi tố vụ án đến khi Viện kiểm sát hoμn thμnh bản cáo trạng truy tố người phạm tội

Về tính chất của quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình trẻ em lμ “mối quan hệ vừa mang tính quyết

định - chấp hμnh, vừa mang tính phối hợp trong hoạt động tố tụng hình sự” 8

Trước hết, về tính quyết định - chấp hμnh: Viện kiểm sát có quyền can thiệp trực tiếp vμo hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát ra các quyết định tố tụng vμ yêu cầu Cơ quan điều tra phải thực hiện Ngược lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có quyền can thiệp vμo hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát Các kiến nghị của Cơ quan điều tra đối với hoạt

động của Viện kiểm sát thì do Viện kiểm sát cấp trên giải quyết, quyết định Trong khi chờ quyết định của Viện kiểm sát cấp trên, thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hμnh quyết định, yêu cầu bị kiến nghị đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể lấy

lý do chờ quyết định của Viện kiểm sát cấp trên mμ trì hoãn việc chấp hμnh các quyết định, yêu cầu của Viện kiểm sát (Điều 114 Bộ luật tố tụng hình sự)

Mặt khác, tuy mối quan hệ giữa Viện kiểm sát vμ Cơ quan Cảnh sát điều tra

đã được pháp luật tố tụng hình sự quy định như đã nêu ở trên, nhưng vì Viện kiểm sát vμ Cơ quan điều tra thuộc hệ thống cơ quan nhμ nước khác nhau, độc lập với

8 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay Kiểm sát viên hình sự, Hμ Nội, tập I, tr.46

Trang 35

nhau, không có sự rμng buộc trong quan hệ hμnh chính Do đó, trong quá trình điều tra vμ kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, thì khía cạnh phối hợp giữa hai cơ quan lμ không thể thiếu Mỗi bên phải tạo điều kiện cho nhau để hoμn thμnh tốt nhiệm vụ, trách nhiệm được giao Chất lượng vμ hiệu quả của mối quan hệ

tố tụng nμy phụ thuộc rất nhiều vμo trình độ nhận thức, phương pháp công tác, uy tín của tập thể vμ cá nhân tham gia mối quan hệ đó, thông qua hoạt động cụ thể của thủ trưởng của mỗi cơ quan, của Kiểm sát viên vμ Điều tra viên

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát vμ Cơ quan Cảnh sát điều tra trong hoạt động kiểm sát điều tra các tội xâm hại tình dục trẻ em

“lμ mối quan hệ vừa mang tính quyết định - chấp hμnh, vừa mang tính phối hợp trong giai đoạn điều tra, nhưng trong đó tính quyết định - chấp hμnh lμ chủ yếu, lμ cốt lõi” 9

Tóm lại, phần trình bμy lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở chương nμy, chúng tôi không đề cập chi tiết tất cả các vấn

đề về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, mμ chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất, những vấn đề quan trọng, đó lμ lμm rõ khái niệm, ý nghĩa vμ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; nhận thức cơ bản về hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; cũng như mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em Đây lμ những vấn đề có ý nghĩa quyết định tới chất lượng vμ hiệu quả hoạt động kiểm sát

điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em Những vấn đề lý luận nμy sẽ cμng

được hiểu sâu sắc, một cách sinh động hơn thông qua “lăng kính” thực trạng hoạt

động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở tỉnh An Giang những năm gần đây trong chương tiếp theo, đồng thời sẽ soi rọi lại cho thấy thêm tính chất nền tảng của lý luận nêu trên

9 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay Kiểm sát viên hình sự, Hμ Nội, tập I, tr 49.

Trang 36

Chương 2 THựC TRạNG Vμ GIảI PHáP NÂNG HIệU QUả HOạT ĐộNG KIểM SáT ĐIềU TRA

CáC TộI PHạM XÂM HạI TìNH DụC TRẻ EM

2.1 Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở tỉnh An Giang

2.1.1 Tình hình hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em ở tỉnh An Giang

2.1.1.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm

Hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác các tội xâm hại tình dục trẻ em lμ hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đấu tranh kịp thời của các cơ quan tiến hμnh tố tụng với tội phạm xâm hại tình dục trẻ em xảy ra Trong hoạt động nμy thì quan hệ giữa Viện kiểm sát vμ Cơ quan Cảnh sát điều tra chủ yếu mang tính phối hợp Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố vμ chuyển ngay cho Cơ quan Cảnh sát điều tra

Bộ luật tố tụng hình sự không quy định Viện kiểm sát phải có trách nhiệm xác minh

xử lý tin báo tố giác tội phạm, mμ nhiệm vụ nμy thuộc về Cơ quan Cảnh sát điều tra Viện kiểm sát tiến hμnh các hoạt động kiểm sát về thời hạn giải quyết, kiểm tra xác minh nguồn tin; kiểm sát kết thúc việc giải quyết tin báo tố giác tội phạm, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vμ Quy chế công tác thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình

sự, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hμnh (trước đây theo hướng dẫn Thông tư liên ngμnh số 03/TTLN ngμy 15/5/1992 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ - Bộ Quốc phòng - Bộ Lâm nghiệp - Tổng cục Hải quan) đã quy

do cá nhân, cơ quan, tổ chức vμ kiến nghị khởi tố do cơ quan nhμ nước chuyển đến Kiểm sát viên phải vμo sổ thụ lý; ghi rõ ngμy, tháng, năm tiếp nhận; nội dung tố

Trang 37

giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tên, tuổi vμ địa chỉ của người hoặc cơ quan, tổ chức cung cấp; chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố kèm theo các tμi liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết

- Trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố: Kiểm sát viên được phân công phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận vμ giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố Hμng tuần, Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra cùng cấp thông báo đầy đủ cho Viện kiểm sát các tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố mμ Cơ quan điều tra đã tiếp nhận được; đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời Hμng tháng, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Cơ quan điều tra cùng cấp nắm số lượng, kết quả giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận; nếu phát hiện có tố giác, tin báo về tội phạm

vμ kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời hạn luật định thì yêu cầu Cơ quan điều tra nêu rõ lý do, hướng giải quyết vμ thông báo kết quả cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự

- Trong thời hạn hai mươi ngμy, kể từ ngμy nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin vμ quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi

tố vụ án hình sự Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa

điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác vμ tin báo có thể dμi hơn, nhưng không quá hai tháng

Nếu thấy quyết định xử lý khởi tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa chính xác về tội danh, bỏ lọt tội phạm thì Viện kiểm sát trao đổi để Cơ quan điều tra thay

đổi quyết định khởi tố hoặc ra quyết định khởi tố bổ sung; trường hợp xác minh không có sự việc phạm tội thì phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Thế nhưng, nếu Cơ quan điều tra không thực hiện, vì cho rằng việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự lμ không cần thiết Trong trường hợp nμy, Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự để tránh dẫn đến dư luận xã hội cho rằng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã có những tiêu cực, ảnh hưởng uy tín của cơ quan tư pháp

Tuy nhiên, từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực đến nay, mặc

dù công tác tiếp nhận, xử lý vμ kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm

Trang 38

nói chung vμ tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng, lμ công tác quan trọng đầu tiên, có thể quyết định việc giải quyết đúng đắn vụ án tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, nhưng vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể của liên ngμnh trung ương về một số vấn đề như: thế nμo lμ tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp (qui định chưa rõ nμy có thể bị lạm dụng trên thực tế để kéo dμi thời hạn giải quyết tin); chưa có các biểu mẫu sổ sách liên ngμnh; chưa có cơ chế, rμng buộc trách nhiệm cụ thể của Cơ quan Cảnh sát điều tra vμ Viện kiểm sát

Trong 05 nguồn tố giác, tin báo về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em theo

Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, thì cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm chủ yếu lμ từ tố giác của công dân Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về chính trị, kinh tế, văn hóa… thì hiểu biết của nhân dân về pháp luật ngμy cμng cao nên có nhiều trường hợp người dân trực tiếp đến Cơ quan pháp luật hoặc gởi đơn thư

tố giác về hμnh vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, còn một số ít người do nhận thức không đúng mμ tố giác sai Từ 2003 - 2007, Cơ quan Cảnh sát điều tra vμ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã tiếp nhận hơn 2.500 tin, từ nhiều nguồn Trong đó, tin báo vμ tố giác về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lμ 224 tin Trên cơ sở đó, đã phối hợp vạch kế hoạch xác minh, xử lý kịp thời, chính xác Riêng, Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố 05 vụ án rất nghiêm trọng như: vụ Nguyễn Minh Tâm (sinh năm 1982, ngụ xã Tân Mỹ, huyện Phú Tân) đã có hμnh vi hiếp dâm 04 trẻ em cùng xóm Đồng thời, Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh An Giang đã ban hμnh 04 bản kết luận kiến nghị yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra khắc phục, sửa chữa các vi phạm trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị

việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang vμ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

11 huyện, thμnh phố, thị xã trong tỉnh, chúng tôi thấy có một số vi phạm vμ khó khăn thường xảy ra như sau:

Thứ nhất, vi phạm trong việc thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị

khởi tố, có nhiều trường hợp không chính xác Có tin lμ tố giác, tin báo về tội phạm

vμ kiến nghị khởi tố thì lại không được thụ lý đầy đủ vμo sổ thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm mμ thụ lý ở sổ trực ban hoặc sổ theo dõi cá nhân; nhưng có tin lμ vi phạm hμnh chính thì lại thụ lý vμo sổ tố giác, tin báo về tội phạm để theo dõi vμ giải quyết Nguyên nhân lμ do nhận thức của cán bộ, Điều tra viên thụ lý chưa hiểu chính xác

10 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang (2007), Báo cáo chuyên đề kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác

về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tr.01

Trang 39

thế nμo lμ tố giác, tin báo về tội phạm, thế nμo lμ sự việc vi phạm hμnh chính nên khi thụ lý đã nhầm lẫn Trong khi đó lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa quan tâm chỉ đạo sâu sát khâu công tác nμy, do đó đã để xảy ra vi phạm trong việc thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố; không lμm đúng quy định tại khoản 1

Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự

Thứ hai, vi phạm trong việc xây dựng hồ sơ kiểm tra, xác minh tố giác, tin

báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố Qua công tác kiểm sát thấy có một số hồ sơ kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố xây dựng sơ sμi, cho nên không ban hμnh được quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ

án hình sự Đây lμ việc lμm vi phạm tố tụng, bởi vì tμi liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố không những lμ căn cứ để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

mμ còn lμ căn cứ để xác định người đã thực hiện hμnh vi phạm tội, lμm cơ sở cho việc ra quyết định khởi tố bị can Chính vì vậy phải thống nhất nhận thức rằng: việc xây dựng hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố cũng phải xây dựng như hồ sơ vụ án hình sự vμ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự về xây dựng hồ sơ vụ án hình sự

Thứ ba, vi phạm về thời hạn kiểm tra, xác minh giải quyết tố giác, tin báo về

tội phạm vμ kiến nghị khởi tố Qua công tác kiểm sát thấy rằng đối với các tố giác, tin báo tội phạm vμ kiến nghị khởi tố về các tội xâm hại tình dục trẻ em, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hμnh kiểm tra, xác minh có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì cơ bản thời hạn kiểm tra, xác minh đúng thời hạn luật định; còn đối với các tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố Cơ quan điều tra đã tiến hμnh kiểm tra, xác minh mμ kết quả xác định không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hoặc các tin nặc danh (tin không có đối tượng để thông báo kết quả giải quyết) thì hầu hết

đều vi phạm về thời hạn điều tra, xác minh, quá hạn luật định Trong đó có những tin báo quá trình xác minh kéo dμi gần một năm Đó lμ do việc nắm thông tin vμ quản lý tin báo tội phạm có lúc, có nơi chưa mang tính thường xuyên, liên tục nên không phát hiện hoặc khi phát hiện thì thiếu kết hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngμnh, dẫn đến tình trạng chậm khởi tố hay bỏ lọt tội phạm, như vụ: Hμ Bảo Tới (sinh năm 1988; ngụ: ấp B2, xã Long An, huyện Tân Châu) hiếp dâm em Nguyễn Thị My (sinh ngμy 15/10/1991) xảy ra ngμy 02/02/2004 Sau đó, gia đình phát hiện

tố giác Ngμy 09/6/2004, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Tân Châu ra quyết định không khởi tố Đến ngμy 09/3/2007, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã ra quyết định hủy Quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra vμ ra Quyết định

Trang 40

khởi tố vụ án hình sự, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang

điều tra theo thẩm quyền Rõ rμng, việc để kéo dμi thời hạn kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác tội phạm vμ kiến nghị khởi tố không những vi phạm các quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự mμ còn không đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay

Thứ tư, vi phạm trong việc gửi kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

vμ kiến nghị khởi tố cho Viện kiểm sát hoặc thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, hoặc người đã tố giác tội phạm biết Qua công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra thấy rằng: các tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố đã được Cơ quan điều tra khởi tố vμ xử lý về hình sự thì gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp đầy

đủ; còn các tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố mμ Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì việc gửi kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát cùng cấp hầu hết lμ chậm trễ, không đầy đủ Đây không chỉ lμ việc lμm vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mμ còn gây khó khăn cho Viện kiểm sát các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc không khởi tố vụ án hình sự,

dễ dẫn tới việc bỏ lọt tội phạm vμ người phạm tội Mặt khác, còn có vμi trường hợp,

do “nhát tay, quá thủ”, không mạnh dạn khởi tố theo thẩm quyền mμ lại bị động trông chờ vμo sự hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên hay dựa dẫm, lệ thuộc vμo cơ chế họp ba ngμnh, do đó lμm mất đi tính kịp thời của việc tiếp nhận, xử lý vμ vai trò của Cơ quan Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vμ kiến nghị khởi tố

Thứ năm, việc xác minh loại án nμy trong một số trường hợp gặp khó khăn về

việc xác định độ tuổi của bị can, người bị hại Thủ tục xác định tuổi của bị can vμ người bị hại lμ trẻ em hiện nay chưa có hướng dẫn của liên ngμnh trung ương, nên thực tế các địa phương áp dụng không thống nhất (trước đây theo Công văn số 81/2002/TANDTC ngμy 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ), như vụ em Nguyễn Thị Lan (sinh ngμy 19/5/1993, theo giấy khai sinh trễ hạn năm 1999) bị Nguyễn Minh Trung (sinh năm 1966; ngụ: khóm 6, phường Mỹ Long, thμnh phố Long Xuyên) xâm hại tình dục vμo ngμy 16/9/2007, Tòa án nhân dân thμnh phố Long Xuyên không căn cứ vμo giấy khai sinh trễ hạn,

mμ căn cứ vμo Kết luận giám định pháp y về tuổi của Phân viện khoa học hình sự xác định em Lan trên 16 tuổi vμ đã xử bị cáo Trung về tội “Mua dâm người chưa thμnh niên”; trong khi trước đó khoảng 08 tháng, em Lan bị xâm hại tình dục trong một vụ án khác xảy ra tại thμnh phố Hồ Chí Minh, thì Tòa án nhân dân thμnh phố

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến l−ợc cải cách t− pháp đến năm 2020, Hμ Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến l−ợc cải cách t− pháp đến năm 2020
Tác giả: 3. Bộ Chính trị
Năm: 2005
2.5. Nguyễn Duy Giảng (2008), “Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát hoạt động t− pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách t− pháp”, Tạp chí kiểm sát, (14&16), tr.62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực hμnh quyền công tố vμ kiểm sát hoạt động t− pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách t− pháp”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: 5. Nguyễn Duy Giảng
Năm: 2008
2.13. Lê Hữu Thể (2008), “Tổ chức bộ máy vμ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách t− pháp”, Tạp chí kiểm sát, (14&16), tr.20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy vμ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách t− pháp”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: 13. Lê Hữu Thể
Năm: 2008
2.15. ủy ban bảo vệ vμ chăm sóc trẻ em Việt Nam (1996), Tài liệu tham khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật, Hμ Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật
Tác giả: 15. ủy ban bảo vệ vμ chăm sóc trẻ em Việt Nam
Năm: 1996
2.29. Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hμ Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: 29. Võ Khánh Vinh
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w