Thực trạng này làm cho giá trị của các văn bản “giải thích không chính thức” không rõ ràng và cũng tạo ra sự bất hợp lý trong hoạt động giải thích pháp luật hiện nay khi trao cho Uỷ ban
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-*** -
ĐẶNG THỊ HÀ MSSV: 0955040120
GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2009 - 2013
Người hướng dẫn:
ThS Ngô Đức Tuấn
TP.HCM – Năm 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhân đây, tác giả xin cảm ơn các thầy cô công tác tại trường
ĐH Luật TP Hồ Chí Minh và các bạn HC34A đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tác giả xin gửi lời cảm ơn đến ThS Ngô Đức Tuấn đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Sinh viên thực hiện Đặng Thị Hà
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT, HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT NHÌN TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA 1
1.1 Lý luận chung về giải thích pháp luật 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Phân loại 3
1.1.3 Phương pháp giải thích pháp luật 4
1.1.4 Các nguyên tắc giải thích pháp luật 6
1.1.5 Ý nghĩa và vai trò của hoạt động giải thích pháp luật 8
1.2 Hoạt động giải thích pháp luật của một số quốc gia trên thế giới 11
1.2.1 Hoạt động giải thích pháp luật ở Trung Quốc 11
1.2.2 Hoạt động giải thích pháp luật ở Hàn Quốc 16
1.2.3 Hoạt động giải thích pháp luật ở Mỹ 19
1.3 Ý kiến của tác giả về hoạt động giải thích pháp luật 23
CHƯƠNG 2: GIẢI THÍCH PHÁP TẠI VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 24
2.1 Hoạt động giải thích pháp luật chính thức tại Việt Nam 24
2.1.1 Chủ thể 24
2.1.2 Quy trình giải thích pháp luật 26
2.1.3 Hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội 29
2.2 Hoạt động giải thích pháp luật không chính thức 34
2.2.1 Chủ thể 34
2.2.2 Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan hành pháp 34
2.2.3 Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan tư pháp 37
2.2.4 Hoạt động giải thích pháp luật của các chủ thể khác 37
2.2.5 Đánh giá hoạt động giải thích pháp luật không chính thức trên thực tiễn 38
Trang 42.3 Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật và vai trò của tòa án trong hoạt động
giải thích pháp luật 39
2.3.1 Nhiệm vụ và quyền hạn 39
2.3.2 Chủ thể 40
2.3.3 Hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án trên thực tiễn 42
2.3.4 Nhu câu về giải thích pháp luật phát sinh trong quá trình xét xử và hoạt động của Tòa án 46
2.3.5 Vai trò của Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật 48
CHƯƠNG 3: CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM, KIẾN NGHỊ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 50
3.1 Các vấn đề phát sinh trong hoạt động giải thích pháp luật tại Việt Nam 50
3.2 Sự tương quan giữa giải thích pháp luật trên thế giới và Việt Nam, hướng nhìn tổng quan 54
3.3 Kiến nghị và phương hướng hoàn thiện 56
3.3.1 Một số kiến nghị đối với giải thích pháp luật tại Việt Nam 56
3.3.2 Phương hướng hoàn thiện 65
KẾT LUẬN 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 4
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang trong quá trình hội nhập thế giới, đẩy mạnh phát triển về mọi mặt, bao gồm kinh tế, chính trị, pháp luật,…Tuy nhiên do những điều kiện chủ quan và khách quan nên hệ thống pháp luật Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện, một số văn bản quy phạm pháp luật chưa được hiểu rõ ràng về nghĩa (Điều 101 Bộ luật Hình sự 1985; Điều 87, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ việc kinh tế; Điều 39, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế,…) Bên cạnh đó ở Việt Nam, lý thuyết về giải thích pháp luật chưa được quan tâm và đề cập nhiều hay chưa được hệ thống lại và thống nhất quan điểm trên những phương diện căn bản nhất trong khi giải thích pháp luật là một
bộ phận quan trọng của khoa học pháp lý, được tổng kết từ thực tiễn nhằm giúp pháp luật của các quốc gia hoàn thiện và khả thi hơn
Mặc dù hoạt động giải thích pháp luật đang dần được chú trọng hơn tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh và việc trao thẩm quyền giải thích cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Do đó dẫn đến tình trạng nhiều chủ thể ngoài Uỷ ban Thường vụ Quốc hội như Tòa án hay cơ quan hành chính nhà nước đã tham gia giải thích pháp luật ngoài quy định, đưa ra nhiều sản phẩm có giá trị giải thích trên thực tiễn đang cần đánh giá một cách nghiêm túc hơn Thực trạng này làm cho giá trị của các văn bản “giải thích không chính thức” không rõ ràng và cũng tạo ra sự bất hợp lý trong hoạt động giải thích pháp luật hiện nay khi trao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thẩm quyền giải thích pháp luật mà không trao cho một cơ quan khác chuyên môn hơn và hoạt động hiệu quả hơn
Việc nghiên cứu hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay là vô cùng quan trọng để có thể nhận thấy thực trạng giải thích pháp luật tại Việt Nam và vai trò của chủ thể khác khi giải thích pháp luât, đặc biệt là Tòa án, một cơ quan có tính khách quan khá cao so với các cơ quan còn lại và được sự tin tưởng của nhân dân
Trang 6Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Giải thích pháp luật và vai trò của Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam” là một đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ngoài
Hoạt động giải thích pháp luật đã được nghiên cứu từ những thế kỷ trước tiêu biểu như: “Lý thuyết giải thích và pháp lý”, 2005 (Interpretation and legal theory) của Andrei Marmor; “Quy tắc và mục đích của giải thích pháp luật”, 1990 (Rule and Purpose in Legal Interpretation) của Stephen F Williams; “Giải thích luật: Những nguyên tắc cơ bản và các khuynh hướng hiện nay”, 2008 (Statutory interpretation: General principles and recent trends) của Yule Kim; “Mục đích của giải thích trong luật”, 2005 (Purposive Interpretation in law) của Aharon Barak; “Vấn đề của sự giải thích: Tòa án liên bang và pháp luật”, 1998 (A matter of interpretation: Federal courts and the law) của Antonin Scalia…
Ở Việt Nam
Hiện nay có một số công trình tiêu biểu như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”, Nguyễn Văn Thuận, Mã số 94-98-106/ĐT, Hà Nội, 1999; “Thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”, Hoàng Văn Tú (Tạp chí Nghiên cứu Pháp luật số 5/2002); “Vai trò giải thích pháp luật của Toà án”,
Võ Trí Hảo (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2003); “Hoạt động giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay”, Luận văn thạc sỹ, tác giả Đỗ Tiến Dũng, Hà Nội, 2006; “Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Văn phòng Quốc hội Việt Nam, Hà Nội, 2009…
Trang 73 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích
Trên cơ sở lý luận về giải thích pháp luật, đánh giá tình hình giải thích ở Việt
Nam hiện nay, xác định vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới
Đưa ra những vấn đề phát sinh trong hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam
và đề xuất mô hình, giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Lý luận về giải thích pháp luật
Hoạt động giải thích pháp luật theo hướng nhìn khái quát nhất ở một số quốc gia
Hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án và cơ quan hành chính khác ở Việt Nam
Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam
Giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Thông qua việc thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu các tài liệu
tập hợp được để có thể đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị của đề tài
Đưa ra một cái nhìn chung nhất về hoạt động giải thích pháp luật về lý luận cũng như thực tiễn
Trang 8Đánh giá hoạt động giải thích pháp luật, những thành tựu cũng như bất cập của hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam
Đưa ra cái nhìn chung nhất về vai trò của Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật
Kiến nghị một số giải pháp để phát triển hoạt động giải thích pháp luật tại Việt Nam
6 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về giải thích pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật nhìn từ một số quốc gia
Chương 2: Giải thích pháp luật tại Việt Nam – Pháp luật và thực tiễn
Chương 3: Các vấn đề phát sinh trong hoạt động giải thích pháp luật tại Việt Nam - Kiến nghị và phương hướng hoàn thiện
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT, HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH
PHÁP LUẬT NHÌN TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA
1.1 Lý luận chung về giải thích pháp luật
1.1.1 Khái niệm
Trên thế giới hiện nay có nhiều trường phái pháp luật học xem xét khái niệm pháp luật từ những góc độ khác nhau như trường phái pháp luật tự nhiên, pháp luật thực định, pháp luật hình thức,… Căn cứ theo quan điểm chính thống ở Việt Nam được đề cập bởi giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Đại học luật Hà Nội: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan
các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi một nhóm người nên khó tránh
khỏi tình trạng có thể tạo ra một khoản, điều luật chưa rõ về nghĩa; thứ hai, nó nhằm
điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội trong khi các văn bản quy phạm pháp luật ở trạng thái tĩnh còn xã hội thì luôn vận động và phát triển
Từ các đặc điểm trên, hoạt động áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật của
cơ quan, cá nhân, tổ chức bị hạn chế đi rất nhiều nên cần giải thích pháp luật - một hoạt động nhằm làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung, bảo đảm tính khách quan của các quy định pháp luật
Giải thích pháp luật cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, mỗi học giả cũng như các chủ thể khác nhau đều có cách diễn đạt và tiếp cận khác nhau Bởi vì, dù bản chất của hoạt động này là “làm cho rõ” nội dung quy phạm pháp luật
1 Lê Minh Tâm (chủ biên) (2009), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Đại học luật Hà Nội, Nxb
Công an nhân dân, tr 66
Trang 10nhưng còn nhiều tiêu chí khác thuộc về phạm trù không gian và thời gian, về các quy định pháp lý, chủ thể tiến hành,…Sau đây, tác giả xin đưa ra một số khái niệm giải thích pháp luật đã tồn tại ở Việt Nam trong thời gian qua:
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Kim Quế, “Giải thích pháp luật được hiểu
là việc làm sáng tỏ về tư tưởng, tinh thần, ý nghĩa và nội dung, mục đích của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho việc nhận thức và thực hiện đúng, thống nhất pháp luật”2
Theo Tiến sĩ Tô Văn Hoà, “Giải thích pháp luật là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền làm rõ một nội dung, một quy phạm nào đó của pháp luật thành văn để người áp dụng pháp luật nói chung (cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân) có thể thấy được một cách chắc chắn rằng quy phạm pháp luật đó điều chỉnh một hoặc một số hành vi cụ thể nào đó như thế nào”3
Ngoài ra, theo Thạc sĩ Hoàng văn Tú, “Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích của các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định pháp luật một cách chính xác và thống nhất”4
Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới góc độ nào, bản chất của hoạt động giải thích pháp luật luôn nhằm làm rõ nội dung, tư tưởng của các quy phạm pháp luật mà không tạo ra quy định mới để tăng cường tính pháp chế, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật Nếu xây dựng pháp luật là xác lập quy tắc xử sự, đặt nghĩa cho những quy phạm pháp luật thì giải thích pháp luật là hoạt động xác định quy tắc xử sự, đọc nghĩa của những quy phạm pháp luật đó Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng, vì nó tránh được nhầm lẫn giữa hoạt động giải thích pháp luật – thuộc về một quá trình làm rõ quy định pháp luật thành hoạt động xây dựng pháp luật – thuộc về một quá trình tạo ra quy định pháp luật
2
Hoàng Thị Kim Quế (2005), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr.516 –
520
3 Tô Văn Hòa (2009), Giải thích pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, tr 38
4Hoàng Văn Tú (2009), Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, tr 105
Trang 11Giải thích pháp luật mang tính quy phạm là hoạt động giải thích pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo một thủ tục, trình tự luật định đối với các văn bản quy phạm pháp luật và kết quả của hoạt động này là một văn bản có giá trị bắt buộc áp dụng, mang tính quy phạm dưới dạng một văn bản quy phạm pháp luật Nội dung được giải thích của văn bản này sẽ có giá trị bắt buộc áp dụng đối với mọi chủ thể bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân
Giải thích tình huống là hoạt động giải thích pháp luật của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nhưng gắn liền với một vụ viêc cụ thể, nội dung giải thích không mang tính quy phạm, chỉ có giá trị pháp lý đối với các chủ thể trong vụ việc được giải quyết
mà không có giá trị pháp lý đối với các chủ thể khác Hoạt động này thường được thực hiện bởi Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì đây là cơ quan có chức
Trang 12năng áp dụng pháp luật trên thực tế và thực hiện hoạt động xét xử nên sẽ là cơ quan gặp những bất cập về luật cần giải quyết
1.1.3 Phương pháp giải thích pháp luật
Giải thích pháp luật là một hoạt động rất quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới Để đảm bảo tính chính xác, khách quan và có khả năng áp dụng cao, các văn bản giải thích pháp luật phải được thực hiện một cách linh hoạt, áp dụng nhiều phương pháp cũng như được tiến hành bởi nhiều cách thức khác nhau Các phương pháp giải thích pháp luật phổ biến hiện nay có thể được kể đến như sau:
Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm
Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm là phương pháp sử dụng hoạt động giải thích từ ngữ trong các quy định pháp luật theo nghĩa đen hay nghĩa thuần túy ban đầu của nó Khi tiến hành hoạt động này các chủ thể giải thích pháp luật sẽ căn cứ vào tính chất ngữ nghĩa của từ ngữ, câu văn trong văn bản cần được giải thích để làm rõ nội dung của quy phạm pháp luật, được sử dụng chủ yếu để khẳng định, loại trừ những ngữ nghĩa ẩn trong các quy định pháp luật Phương pháp này được sử dụng khá nhiều trong hoạt động giải thích pháp luật vì các nhà lập pháp cho dù khả năng có cao siêu đến đâu cũng không tránh khỏi việc tạo ra những quy định không rõ nghĩa hoặc sử dụng các từ
đa nghĩa
Phương pháp giải thích chính trị lịch sử
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, điều kiện xã hội khác nhau, các quy định pháp luật
sẽ có phạm vi điều chỉnh tùy thuộc vào giai đoạn mà nó được tạo ra, cho nên khi qiải thích pháp luật phải căn cứ vào mục đích của cơ quan lập pháp khi ban hành ra quy định đó Phương pháp này được hiểu là khi tiến hành giải thích pháp luật, chủ thể giải thích pháp luật sẽ căn cứ vào điều kiện chính trị, lịch sử tại thời điểm ban hành văn bản
Trang 13đó để tìm ra nhiệm vụ chính trị mà nhà nước mong muốn đạt được thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Phương pháp giải thích mục đích luận
Các văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản có tính ổn định khá cao còn đối tượng điều chỉnh của nó lại phát sinh, diễn biến ngày một phức tạp và đa dạng dẫn đến tình trạng thiếu quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ mới khi nó phát sinh trên thực tế Phương pháp giải thích mục đích luận được sử dụng nhằm tránh tình trạng thiếu các quy định pháp luật để điểu chỉnh các quan hệ xã hội mới, trong khi bản chất của nó đã được đề cập, nhưng điều luật đó chưa được giải thích một cách đúng đắn
Phương pháp mục đích luận là phương pháp giải thích pháp luật mà các chủ thể khi tiến hành hoạt động này phải vận dụng những hiểu biết của mình một cách linh hoạt để giải thích pháp luật vì nó sẽ mở rộng phạm vi, nội dung so với quy định pháp luật ban đầu, nhưng không tạo ra quy định mới Phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế việc thiếu các quy định pháp luật vì các chủ thể giải thích pháp luật sẽ căn cứ theo ý chí chủ quan của mình để mở rộng phạm vi điều chỉnh của các quy định pháp luật một cách hợp lý, nhằm phát huy vai trò của chủ thể giải thích pháp luật một cách tối đa
Phương pháp giải thích hệ thống
Các quốc gia hiện nay đều đang chú trọng phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia mình theo hướng xích lại gần nhau và có nhiều điểm tương đồng hơn làm cho các quy định pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành dần trở nên chặt chẽ về nội dung, hình thức và kỹ thuật lập pháp cũng ngày càng được nâng cao Các chủ thể giải thích pháp luật khi sử dụng phương pháp giải thích hệ thống để giải thích pháp luật sẽ đưa các quy định, văn bản đang cần giải thích ra so sánh với các quy định khác, văn bản khác hay đặt trong cả hệ thống pháp luật của quốc gia để hiểu
và giải thích nó Phương pháp này giúp cho sản phẩm của hoạt động giải thích pháp
Trang 14luật mang tính thống nhất cao và không bị chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định khác
Nhìn chung, các phương pháp giải thích pháp luật đều có ưu và nhược điểm của
riêng nó nên nếu chỉ áp dụng một phương pháp sẽ dễ tạo ra văn bản giải thích pháp luật không chính xác về nội dung hoặc không thể làm sáng tỏ các quy định pháp luật cần giải thích Vì vậy, khi tiến hành giải thích pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền không thể chỉ vận dụng một phương pháp duy nhất để giải thích một quy định hay một văn bản quy phạm pháp luật mà cần phải có sự khéo léo lựa chọn và kết hợp các phương pháp này với nhau để hoạt động giải thích pháp luật được thực hiệu một cách hiệu quả
và khách quan
Ngoài ra, các chủ thể giải thích pháp luật cần phải tuân theo các nguyên tắc chung nhằm bảo đảm văn bản giải thích pháp luật thống nhất về nội dung với văn bản được giải thích và không rơi vào tình trạng biến mình thành cơ quan lập pháp, tạo ra một quy định mới
1.1.4 Các nguyên tắc giải thích pháp luật
Nguyên tắc tôn trọng ý nghĩa của ngôn ngữ
Như đã phân tích ở trên, hoạt động giải thích pháp luật phát sinh khi ngôn từ của một điều luật có thể dẫn đến tranh cải hoặc tạo ra nhiều cách hiểu hợp lý về nội dung của điều luật đó Thông thường nếu ngôn ngữ của một điều luật đã trong sáng về ngữ nghĩa, từ ngữ được dùng đã đơn nhất về nghĩa thì không cần phải tiến hành giải thích Tuy nhiên, cho dù các nhà lập pháp trên thế giới có tài giỏi đến đâu cũng không thể tránh khỏi việc tạo ra một khoản, điều luật chưa rõ ràng về nghĩa trong suốt quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Sự khó hiểu hoặc những tranh cải này phát sinh
vì đặc tính của từ ngữ pháp lý không giống từ ngữ được sử dụng trong các hoạt động kinh tế, ngoại giao,… có thể diễn giải một cách biểu cảm, dài dòng hay vấn đề vay
Trang 15mượn từ ngữ của quốc gia khác, tình trạng từ ngữ đa nghĩa được sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật
Chính vì lý do trên, các chủ thể có thẩm quyền khi giải thích pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng ý nghĩa của ngôn ngữ, đảm bảo tính chuẩn xác của quy định pháp luật Nguyên tắc này yêu cầu cơ quan khi giải thích pháp luật không được làm thay đổi nội dung của quy định đang được giải thích, nội dung giải thích không được mâu thuẫn với quy đinh ban đầu hay tạo ra cách hiểu mới mà quy định đang được giải thích không đề cập đến và nếu ngôn ngữ trong điều luật đã là đơn nghĩa, trong sáng thì không tiến hành giải thích từ ngữ của nó mà phải giữ nguyên
Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp
Khi tiến hành giải thích pháp luật, các chủ thể có thể thoát khỏi khuôn khổ giới hạn ngữ nghĩa của từ ngữ để tìm ra một cách giải thích chính xác, hiệu quả nhất đối với các quy định pháp luật Thẩm quyền này giúp cho các chủ thể giải thích pháp luật có thể kéo gần hơn khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn Tuy nhiên, trong quá trình giải thích pháp luật của mình, các cơ quan tiến hành hoạt động này khó tránh khỏi việc đưa ý chí của mình vào việc diễn giải quy định ban đầu Vì vậy mà nguyên tắc này yêu cầu các chủ thể tiến hành giải thích pháp luật, phải tìm hiểu một cách cẩn thận, bám sát
ý tứ và mục đích của cơ quan lập pháp khi ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật, tránh xa rời mục đích ban đầu các quy định đó được tạo ra, tạo ra quy định mới
Nguyên tắc tôn trọng tính hệ thống của pháp luật
Các văn bản pháp luật được ban hành đều nhằm điều chỉnh các nhóm quan hệ phát sinh trong xã hôi và các quan hệ này lại có mối liên hệ mật thiết với nhau nên tất yếu các văn bản quy phạm pháp luật cũng có sự tương tác qua lại Các văn bản quy phạm pháp luật luôn có tính hệ thống, liên kết chặt chẽ trong chính bản thân nó (các khoản, điều luật với nhau) hay giữa các văn bản với nhau theo chiều dọc lẫn chiều ngang Vì vậy nguyên tắc này yêu cầu các chủ có thẩm quyền cần phải đặt các khoản, điều luật cần giải thích gần với các điều luật khác trong một văn bản và khi giải thích
Trang 16một văn bản thì cần so sánh, đối chiếu với các văn bản khác theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang để đảm bảo có thể hiểu đúng quy định pháp luật và tránh nhằm xáo trộn các điều luật
Nguyên tắc thống nhất trong hoạt động giải thích pháp luật
Sản phẩm của hoạt động giải thích pháp luật là các văn bản có giá trị pháp lý, bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể khác (có thể ít hay nhiều) nên không chỉ riêng các văn bản luật mà các văn bản giải thích pháp luật cũng phải có tính thống nhất của riêng
nó Các chủ thể có thẩm quyền không được giải thích một cách riêng lẽ, dẫn đến tình trạng rời rạc các nội dung được giải thích, làm ảnh hưởng ngược lại đến văn bản quy phạm pháp luật
Nguyên tắc hệ thống hóa các văn bản giải thích pháp luật
Các văn bản giải thích pháp luật cũng có giá trị pháp lý như các văn bản được giải thích vì vậy cần phải đảm bảo tính hệ thống của các văn bản này Ngoài ra với sự tương quan giữa quy định pháp luật và các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó làm cho hoạt động giải thích pháp luật ngày càng được đề cao và sản phẩm của hoạt động này sẽ càng nhiều hơn trong hoạt động pháp luật Vì vậy, các văn bản giải thích pháp luật cần phải được sắp xếp và lưu trữ, tập hợp, thống kê theo một quy định cũng giống như các văn bản quy phạm pháp luật để có thể dễ tìm, dễ áp dụng
1.1.5 Ý nghĩa và vai trò của hoạt động giải thích pháp luật
Hệ thống pháp luật thành văn của các quốc gia trên thế giới có các đặc điểm sau:
Xã hội luôn vận động và thay đổi từng ngày còn các quy định pháp luật thì lại
có tính ổn định khá cao nên các quy định pháp luật không thể đề cập một cách chi tiết
để điều chỉnh mọi hành vi trong xã hội mà cần phải có các văn bản giải thích pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn để cụ thể nó như Điều 93 Luật Hình pháp 1997 của Trung Quốc, Điều 87, Luật Thương mại 2005 Nếu so sánh pháp luật và sự vận động của xã
Trang 17hội thì có thể nói quan hệ xã hội như dòng chảy của một dòng sông và pháp luật chỉ là
bờ đê được xây dựng để đưa dòng chảy vào khuôn khổ Tuy nhiên, các quy định pháp luật cũng có tính dự liệu của nó mặc dù chỉ ở mức độ tương đối Mặt khác, đối tượng điều chỉnh của quy phạm pháp luật lại rất đa dạng, nên nếu quy phạm pháp luật quá chi tiết thì số lượng văn bản sẽ rất đồ sộ và thể hiện kỹ thuật lập pháp không cao Chính từ những đặc điểm trên làm cho pháp luật như một quyển sách tóm tắt cô đọng nhất những nội dung cụ thể, chi tiết từ bên ngoài xã hội để có thể khái quát và đầy đủ nhất, đảm bảo không thiếu sót về mặt nội dung trong quyển sách này
Không như các loại văn bản khác, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi một số chủ thể nhất định, có chuyên môn và kinh nghiệm trong hoạt động pháp luật nên đôi khi một số nội dung trong văn bản quy phạm pháp luật trở nên khó hiểu đối với các chủ thể thông thường Bên cạnh đó, vì giá trị pháp lý của nó nên văn bản quy phạm pháp luật phải cô đọng và được thể hiện một cách ngắn gọn nhất, không diễn giải cụ thể, dài dòng như những loại văn bản khác Từ lý do trên, vô hình chung đã tạo ra sự phân hóa rất lớn về sự nắm bắt pháp luật đối với các chủ thể áp dụng pháp luật và công dân thông thường, làm cho các chủ thể này không thể hiểu một cách thấu đáo về các quy định pháp luật được và giải thích pháp luật trở thành một vấn đề tất yếu với những vai trò và ý nghĩa của nó
Pháp luật được sinh ra nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội, nhằm duy trì sự ổn định xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích cho mọi chủ thể,… Tuy nhiên, nếu các quy định pháp luật khi được ban hành không được hiểu một cách chính xác làm chủ thể khác không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc không nhận thức được quyền, nghĩa vụ cụ thể để thực hiện thì quy định pháp luật đó chưa được thực hiện và khai thác hiệu quả Giải thích pháp luật với mục đích làm cho các quy định pháp luật sáng tỏ về nội dung, giúp các chủ thể trong xã hội nhận thức một cách đúng đắn về các quy định pháp luật để có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách tốt nhất
Trang 18Văn bản quy phạm pháp luật luôn có tính bắt buộc áp dụng đối với mọi chủ thể
và có chế tài đối với các chủ thể vi phạm Khác với các loại chủ thể khác, chỉ không được làm điều pháp luật cấm, chủ thể áp dụng pháp luật chỉ được làm điều pháp luật cho phép, nên các cơ quan, cá nhân thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật luôn phải xem xét và nghiên cứu một cách rất cẩn thận khi áp dụng pháp luật vì tính trách nhiệm của mình Chính vì lý do này, hoạt động giải thích pháp luật được đề cao sẽ giúp các văn bản quy phạm pháp luật được cụ thể hơn, dễ hiều hơn, rút ngắn quá trình xem xét, nghiên cứu của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, làm họ linh động hơn trong việc
áp dụng pháp luật và nâng cao mức độ chuyên môn trong hoạt động pháp luật
Như đã đề cập ở trên, các văn bản pháp luật khi được giải thích cụ thể sẽ thể hiện rõ nội dung của mình Các cơ quan nhà nước có thể phát hiện ra sự thiếu hụt quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ, hành vi trên thực tế từ đó ban hành những văn bản pháp luật mới, lắp đầy lỗ hổng pháp luật hoặc bãi bỏ những văn bản có nội dung trùng lắp, chồng chéo, sai về nội dung cũng như thẩm quyền ban hành, giúp hệ thống pháp luật quốc gia ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn
Không những có vai trò quan trọng đối với hoạt động pháp luật trên lý luận và thực tiễn, giải thích pháp luật còn có vai trò thúc đẩy kinh tế, chính trị, ngoại giao của quốc gia Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, chính trị,… ra khỏi phạm vi quốc gia mình Những quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng,
dễ hiểu là cơ sở chắc chắn để các nhà đầu tư nước ngoài, quốc gia khác có thể làm căn
cứ bảo vệ quyền và lợi ích một cách hữu hiệu nhất Vì vậy có thể nói rằng, để phát triển các mặt khác thì hoạt động giải thích pháp luật cũng là một nhân tố không thể bỏ qua
Trang 191.2 Hoạt động giải thích pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Hoạt động giải thích pháp luật ở Trung Quốc
Thể chế chính trị Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa và không giống với các quốc gia khác như Anh, Pháp, Mỹ,… Trung Quốc không áp dụng nguyên tắc tam quyền phân lập để tổ chức bộ máy nhà nước mà duy trì tính thống nhất, tập trung quyền lực vào một cơ quan làm đại diện cho nhân dân là Hội đồng nhân dân quốc gia
“Hiến pháp 1982 quy định rằng cơ quan nhà nước có quyền lực cao nhất là Hội đồng
chứ không phải một cơ quan nào khác Như vậy, Hội đồng nhân dân quốc gia là cơ quan có quyền lực vô hạn và tập trung, quyền hạn này làm cho Hội đồng nhân dân quốc gia của Trung Quốc khác biệt hẳn so với cơ quan lập pháp ở phương Tây
Tuy nhiên, mặc dù là cơ quan nắm quyền lực cao nhất trong nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Hội đồng nhân dân quốc gia chỉ họp thường niên một năm một lần hoặc khi có sự triệu tập của Ủy ban thường vụ Quốc hội hay hơn 1/5 số người trong Hội đồng nhân dân quốc gia đề xuất Chính vì hoạt động của Hội đồng nhân dân quốc gia được thực hiện một cách không thường xuyên, các công việc hàng ngày của Hội đồng nhân dân quốc gia được giải quyết bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan cấp dưới của Hội đồng nhân dân quốc gia Để củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động cho Hội đồng nhân dân quốc gia , Phó chủ tịch của ban soạn thảo Hiến pháp Trung Quốc 1982, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân quốc gia ông Peng Zhen đã tuyên
bố rằng “Quyền lực trước đây được trao cho Hội đồng nhân dân quốc gia sẽ được trao
5 Hiến pháp Trung Quốc 1982, Điều 2 và Điều 3, “sự phân chia chức năng và quyền lực giữa cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương tuân theo nguyên tắc trao toàn quyền chủ động và nhiệt tình cho chính quyền địa phương dưới sự lãnh đạo thống nhất của chính quyền trung ương” Hội đồng nhân dân địa phương làm việc dưới
sự lãnh đạo của Hội đồng nhân dân quốc gia Do đó, Hội đồng nhân dân quốc gia có thể được coi là cơ quan quyền lực cao nhất
Trang 20cho Ủy ban thường vụ Quốc hội” làm cho Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền lực rất lớn trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật
Hoạt động giải thích pháp luật ở Trung Quốc được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau và tùy thuộc vào các loại văn bản cần được giải thích thì được thực hiện bởi các chủ thể tương ứng Căn cứ Điều 67 của Hiến Pháp 1982 của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngoài giám sát Hiến pháp, ban hành, sửa đổi luật,…Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất trong hoạt động giải thích Hiến pháp và luật pháp
Ngoài ra, các chủ thể khác như Chính phủ nhân dân và Tòa án cũng có thẩm quyền giải thích pháp luật căn cứ theo Điều 7 của Luật Tổ chức Chính phủ nhân dân Trung ương tháng 9 năm 2007, “Chính phủ Nhân dân Trung ương có quyền ban hành
và giải thích các luật nhà nước, ban hành các nghị định và giám sát kết quả thực thi các luật và nghị định này”6; Điều 158 của Luật cơ sở, “Tòa án cũng có thẩm quyền tự giải thích, khi xét xử các vụ án”7
và nếu Tòa án trong quá trình xét xử vụ án cần “giải thích các điều khoản của Luật liên quan tới các vụ việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ nhân dân Trung ương, hoặc liên quan tới quan hệ giữa Chính quyền nhân dân Trung ương, Đặc khu và nếu những giải thích đó có ảnh hưởng đến phán quyết của vụ án, Tòa
án trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng phải tìm một lời giải thích liên quan từ Ủy ban thường vụ Quốc hội”.8
Như vậy, Hội đồng nhân dân quốc gia là cơ quan duy nhất có quyền duyệt lại và sửa đổi Hiến pháp, luật pháp còn Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền cao nhất trong hoạt động giải thích, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và luật pháp Thẩm quyền tối cao trong hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội được thể hiện ở hai đặc điểm sau:
6
Luật Tổ Chức chính phủ nhân dân Trung ương tháng 9 năm 1997, Điều 7
7 Luật Cơ sở, Điều 158
8 Luật Cơ sở, Điều 158
Trang 21Là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và các cơ quan giải thích pháp pháp luật còn lại chỉ có quyền giải thích các văn bản áp dụng pháp luật chứ không phải giải thích luật như Ủy ban thường vụ Quốc hội
Khi các văn bản giải thích pháp luật của các chủ thể khác mâu thuẫn với nhau hoặc trái với văn bản cần được giải thích thì Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ là cơ quan
có thẩm quyền bãi bỏ nó và sẽ ban hành văn bản giải thích pháp luật mới
Hoạt động giải thích pháp luật ở Trung Quốc
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong hoạt động giải thích pháp luật, tuy nhiên, trên thực tế Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tiến hành rất
ít hoạt động này, cụ thể: “Trong suốt 21 năm, từ năm 1954 tới năm 1975, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ tiến hành 8 lần giải thích pháp luật” 9 khi Hiến pháp 1982 trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội thẩm quyền giải thích Hiến pháp một cách chính thức, làm đề cao vai trò và thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội hơn nữa, nhưng cho đến nay chỉ có 9 hoạt động giải thích pháp luật được tiến hành và chỉ liên quan đến các
sự việc ở Hồng Kông và Macau như giải thích về các cụm từ “các hóa đơn hoàn thuế” ngày 29/12/2005, “thẻ tín dụng” ngày 29/12/2004, các hoạt động giải thích pháp luật còn lại đều liên quan đến Hình pháp năm 1997 như Điều 3, Điều 11, Điều 93, Điều 228,… của Luật Hình pháp năm 1997
Không chỉ giới hạn trong số lần thực hiện hoạt động giải thích pháp luật, các văn bản giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã tạo nên tranh cãi rất nhiều và vẫn có tình trạng lạm quyền dựa trên ranh giới không rõ ràng giữa việc giải thích pháp luật và bổ sung pháp luật, cụ thể qua việc giải thích Điều 93 Luật Hình
sự năm 1997
Trong quá trình giải thích Điều 93 Luật Hình sự năm 1997 về “công chức nhà nước” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội đã bổ sung thêm vào quy định không có trong
9 Geogre G.Zheng, “GTPL thông qua cân nhắc về chính trị - Nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc”, Giải thích
pháp luật Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế tại Hà Nội, tháng 2 - 2008 (2009)
Trang 22văn bản quy định pháp luật về “công chức nhà nước” Theo định nghĩa của Điều 93 Luật Hình sự 1997 và được giải thích là “những người làm công tác việc của chính quyền trong các công ty nhà nước, hoặc các nhà máy, cơ quan, hoặc các tổ chức của nhân dân Được các công ty nhà nước, hoặc các nhà máy, cơ quan hoặc các tổ chức của nhân dân hoặc các cơ quan không phải của nhà nước, bổ nhiệm làm các công việc
vậy trong phần nội dung của Điều 93 Luật Hình sự năm 1997 nội hàm của nó không hề
đề cập đến Ủy ban làng xã vì căn cứ theo Luật tổ chức Ủy ban làng xã năm 1997 và
1998 thì Ủy ban làng xã là “các tổ chức tập thể sơ khai của hình thức tư quản lý”11 và quy định rằng “chủ tịch, phó chủ tịch và thành viên của Ủy ban sẽ trực tiếp do dân làng bầu cử”12 hay còn được làm rõ như sau: “không tổ chức, cá nhân nào có thể chỉ định bổ nhiệm hay thay thế Ủy viên của Ủy ban này”13 Như vậy, theo cách giải thích của Luật hình sự năm 1997 thì các thành viên này không phải là “công chức nhà nước” Nhưng trên thực tế ở Trung Quốc, thành viên của các Ủy ban làng xã phụ trách hầu hết những
này thuộc vào nhóm “những người làm công tác chính quyền theo quy định của pháp luật” Tuy nhiên họ không phải lúc nào cũng thực hiện chức năng quản lý nhà nước
họ sẽ được coi là “các công chức nhà nước”: (1) khi họ quản lý quỹ hoặc các vật dụng
để hổ trợ khi có thiên tai, cứu trợ khẩn cấp, phòng chống và đương đầu với lũ lụt, dịch
vụ hỗ trợ đặc biệt cho người tàn tật và những người có công với cách mạng cũng như quân nhân, giúp đỡ người nghèo, tạo công ăn việc làm cũng như trợ cấp xã hội; (2) khi
họ quản lý quỹ và đồ cứu trợ của người dân cho công việc mang lợi ích chung; (3) khi
Trang 23khi thu thuế; (6) khi làm công tác kế hoạch hóa gia đình, đăng ký hộ khẩu và nghĩa vụ quân sự; (7) khi trợ giúp chính phủ nhân dân trong các hoạt động hành chính”14
luật Hình sự 1997 trở nên đầy đủ hơn Tuy nhiên, đây cũng là một nguyên nhân dẫn
thân quy định tại Điều 93 Luật Hình sự 1997 không đề cập tới
Đó là một ví dụ cụ thể về hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội khi vi phạm ranh giới giữa việc lập pháp và giải thích pháp luật Ngoài sự
cũng tạo nên tranh cãi rất nhiều khi tạo ra những nội dung mới mà quy định cần được giải thích không đề cập tới qua việc giải thích các Điều 228, 342 và 410 Luật Hình sự năm 1997 hay Điều 294 Luật Hình sự 1997, để ta có thể đánh giá được vai trò cũng như hạn chế khi trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho Ủy ban thường vụ Quốc hội
Đánh giá về hoạt động giải thích pháp luật ở Trung Quốc
Ưu điểm
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan trực thuộc Hội đồng nhân dân quốc gia nên khi trao thẩm quyền này cho Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ phù hợp với nguyên tắc tập quyền mà Trung Quốc đang thực hiện và đảm bảo được tính thống nhất trong
bộ máy nhà nước Ngoài ra, Hội đồng nhân dân quốc gia là cơ quan ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội lại là một bộ phận của Hội đồng nhân dân quốc gia nên sẽ tránh được tình trạng mâu thuẫn giữa văn bản giải thích pháp luật và văn bản được giải thích
Nhược điểm
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan trực thuộc Hội đồng nhân dân quốc gia, thực hiện hầu như tất cả các hoạt động của Hội đồng nhân dân quốc gia khi Hội đồng
14 Geogre G Zheng, “ GTPL thông qua cân nhắc về chính trị - Nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc”, Giải
thích pháp luật Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế tại Hà Nội, tháng 2 - 2008 (2009).
Trang 24nhân dân quốc gia không họp nên có rất nhiều nhiệm vụ cần Ủy ban thường vụ giải quyết Việc giao cho Ủy ban thường vụ thẩm quyền giải thích pháp luật liệu có nên hay không khi số thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội tương đối nhỏ so với lượng công việcphải thực hiện
Hội đồng nhân dân quốc gia là cơ quan lập pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hộichỉ là cơ quan thuộc Hội đồng nhân dân quốc gia, nên để đề cao tính tối cao của pháp luật khi được ban hành thì nên giao Hội đồng nhân dân quốc gia chứ không phải Ủy ban thường vụ Hộ đồng nhân dân quốc gia
Những hạn chế về tính kịp thời phát hiện những thiếu sót khi Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích pháp luật cũng có thể xảy ra, vì đây không phải là cơ quan áp dụng pháp luật trên thực tế nên khó phát hiện được những mâu thuẫn cũng như những lỗ hổng cần được giải thích hay lấp đầy
1.2.2 Hoạt động giải thích pháp luật ở Hàn Quốc
Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật
Cũng như các quốc gia khác, để phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình, hoạt động giải thích pháp luật tại Hàn Quốc rất được đề cao và chú trọng Hàn Quốc là nước áp dụng học thuyết phân quyền một cách khá triệt để, quyền lực nhà nước được chia làm ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba nhánh quyền lực này kiềm chế và đối trọng nhau nhằm tạo ra tính khách quan cũng như công bằng trong các hoạt động của nhà nước và xã hội Chính vì áp dụng học thuyết này mà thẩm quyền giải thích pháp luật tối cao được giao cho nhánh Tư pháp ngoài việc trao cho các cơ quan khác
Căn cứ Điều 101, Điều 107, Điều 111 Hiến pháp thì Tòa Hiến pháp, Tòa thông thường có thẩm quyền giải thích đối với hầu hết các Văn bản quy phạm pháp luật trừ nghị quyết, thông báo, hướng dẫn, quy định chỉ do Bộ Tư pháp, Cơ quan hành chính,
Bộ ban hành Văn bản quy phạm pháp luật giải thích căn cứ theo Điều 26 Sắc lệnh của
Trang 25Tổng thống về ban hành các văn bản pháp quy Tổng thống, Thủ tướng, các Bộ trưởng,
Cơ quan hành chính, Bộ Tư pháp, Bộ ban hành Văn bản quy phạm pháp luật giải thích
các văn bản do mình ban hành căn cứ Điều 75, Điều 95, Hiến pháp
Nhìn chung, hoạt động giải thích pháp luật ở Hàn Quốc có hai đặc điểm nổi bật sau:
Thẩm quyền giải thích pháp luật được trao cho rất nhiều cơ quan tùy thuộc vào loại Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bao gồm Tòa Hiến pháp, Tòa thông thường, Tổng thống, Thủ trưởng, các Bộ trưởng,…
Thẩm quyền giải thích Hiến pháp, văn bản quy phạm có giá trị tối cao được trao cho cả Tòa Hiến pháp và Tòa thông thường cùng giải thích
Hoạt động giải thích pháp luật ở Hàn Quốc
Năm 2004, Hàn Quốc đứng giữa cuộc tranh luận về tính hợp hiến của Luật về Thủ đô mới được ban hành năm 2002 Luật về Thủ đô mới quy định “chức năng điều hành Thủ đô sẽ được chuyển cho địa phương nhằm mục đích loại bỏ hiệu quả ngược của việc tập trung dân cư và sự đông dân quá mức ở vùng đô thị lớn”15
Tòa án Hiến pháp đã xem xét vụ việc trên và đưa ra phán quyết Luật về Thủ đô mới là vi hiến vì đa số các thẩm phán (7/9) cho rằng Seoul có vị trí như Hiến pháp theo tập tục đề cập trong lịch sử từ năm 1392 qua các triều đại Chosun, dưới chế độ Nhật Bản, thành lập nhà nước Cộng hòa Hàn Quốc cho đến nay Căn cứ Điều 130 Hiến pháp Hàn Quốc quy định : “Đề xuất sửa đổi Hiến pháp sẽ được đưa ra trưng cầu dân ý không muộn hơn 30 ngày kể từ khi Quốc hội thông qua và sẽ được quyết định thông qua bởi hơn 50% số phiếu trả lời thu được từ hơn 50% trong tổng số người có đủ tư cách đi bầu cử Quốc hội”
Như vậy Tòa án đã giải thích Điều 130, Hiến pháp và cho rằng việc thay đổi vị trí Thủ đô mới như một việc sửa đổi Hiến pháp mặc dù có những ý kiến trái chiều của các thẩm phán khác Việc giải thích Điều 130, Hiến pháp và tuyên Luật về Thủ đô mới
15 Luật về Thủ đô mới, Điều 1
Trang 26là vi hiến đã thể hiện vị trí tối cao trong hoạt động giải thích pháp luật ở Hàn Quốc cũng như thể hiện sự chuyên môn của Tòa án trong hoạt động này
Ngoài ra, khi các cơ quan khác nhau có cách giải thích khác nhau về một quy định pháp luật, giải thích của Tòa án Tối cao sẽ là văn bản có giá trị cuối cùng Thuật ngữ “thay đổi trong sử dụng” quy định tại Điều 48 Luật xây dựng của Hàn Quốc được Nghị định thi hành Luật xây dựng giải thích rằng việc thay đổi tòa nhà phụ nhằm duy trì tòa nhà chính thì được coi là “thay đổi trong sử dụng” Cơ quan hành chính tin tưởng và giải thích “tòa nhà phụ” là tòa nhà đi kèm độc lập hoặc một phần của tòa nhà được sử dụng phụ cho tòa nhà chính còn Tòa án Hành chính lại giải thích “tòa nhà phụ” chỉ bao gồm các tòa nhà không độc lập có mục đích sử dụng cho tòa nhà chính và không tính đến một phần của tòa nhà chính Sự mâu thuẫn này đã dẫn đến việc giải thích của Tòa án Tối cao và Tòa án Tối cao cũng đồng tình với Tòa Hành chính và đưa
ra sự giải thích của mình
Như vậy, việc trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho nhiều cơ quan ở Hàn Quốc ngoài những mặt tích cực nó đem lại như nhanh chóng, kịp thời, khách quan,…vẫn còn nhiều hạn chế cần phải xem xét
Đánh giá hoạt động giải thích pháp luật của Hàn Quốc
Từ hai đặc điểm trên cũng như sự phân chia thẩm quyền giải thích pháp luật của Hàn Quốc có thể thấy được một số ưu điểm cũng như hạn chế của giải thích pháp luật
ở Hàn Quốc
Ưu điểm
Việc giao thẩm quyền giải thích pháp luật cho nhiều cơ quan có thẩm quyền tùy theo loại văn bản cần được giải thích sẽ góp phần làm tăng tính hiệu quả của việc Giải thích pháp luật Khi phát sinh một quy định hay một văn bản cần được giải thích, cơ quan ban hành văn bản đó hoặc chủ thể áp dụng nó sẽ là người hiểu rõ cũng như phát hiện một cách nhanh chóng nhất, kịp thời nhất Vậy nên sẽ không có tình trạng hoạt
Trang 27động giải thích pháp luật bị chậm trễ hoặc sẽ tránh được tình trạng thiếu quy định pháp luật điều chỉnh
Ngoài ra, văn bản giải thích pháp luật của bất kỳ cơ quan nào cũng có thể được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp mà Tòa án là một nhánh quyền lực độc lập so với nhánh lập pháp và hành pháp nên sẽ tránh được sự giải thích tùy tiện, không khách quan, góp phần bảo vệ được các chủ thể khác trong xã hội cũng như sự minh bạch của quy phạm pháp luật
Một ưu điểm có thể nhận thấy được nữa đối với sự phân chia thẩm quyền giải thích pháp luật ở Hàn Quốc là sẽ không bị chồng chất trách triệm đối với một cơ quan nào khi thực hiện giải thích pháp luật, vì nó được phân chia một cách cụ thể và được quy định một cách rõ ràng trong Hiến pháp cũng như các Văn bản quy phạm pháp luật
Nhược điểm
Văn bản quy phạm pháp luật khi cần được giải thích sẽ có thể thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan, dễ dẫn đến tình trạng bị chồng chéo thẩm quyền hoặc tạo ra sự mâu thuẫn giữa các văn bản giải thích pháp luật khi các cơ quan này cùng tiến hành giải thích một quy định nào đó
Việc trao thẩm quyền giải thích cho cả cơ quan hành pháp và lập pháp ngoài góp phần làm tăng hiệu quả của việc giải thích pháp luật cũng khó tránh khỏi tình trạng thiếu khách quan của văn bản giải thích pháp luật Vì theo một lẽ tự nhiên, khi thực hiện một hoạt động ảnh hưởng đến quyền lợi của mình, các cơ quan lập pháp và hành pháp dễ có thể tiến hành hoạt động giải thích pháp luật theo hướng có lợi cho mình, vì đây là hai cơ quan có sự liên hệ mật thiết đối với văn bản cần được giải thích
1.2.3 Hoạt động giải thích pháp luật ở Mỹ
Mỹ là một trong những quốc gia theo hệ thống thông luật nên các văn bản luật của Mỹ được ban hành bởi Nghị viện là rất hạn chế mà chủ yếu là các luật được ban hành bởi thẩm phán khi án lệ được hệ thống và nâng lên thành luật Không giống Anh
Trang 28ngay từ khi ra đời, Mỹ đã rất coi trọng luật thành văn và việc áp dụng án lệ của Mỹ cũng mềm dẻo và linh hoạt hơn Hiến pháp năm 1787 là văn kiện pháp lý có tính chất tối cao, đây có thể coi là bản Hiến pháp đầu tiên và là bản Hiến pháp nổi tiếng nhất trong lịch sử với trên 200 năm tồn tại và được áp dụng một cách triệt để nhất Vì tính tối cao của Hiến pháp nên các bản án hay hoạt động của các cơ quan nhà nước đều phải tuân theo và chịu sự chi phối của nó Chính vì lý do trên, một phần án lệ của Mỹ cũng
là sản phẩm của hoạt động giải thích pháp luật khi nó không tạo ra quy định mới mà chỉ nhằm giải thích cụ thệ nội dung của Hiến pháp, văn bản pháp luật
Không giống các quốc gia khác trên thế giới, ở Mỹ không đề cập đến hoạt động giải thích pháp luật cũng như không chú trọng đến hoạt động này mà nó chỉ được nhắc đến đối với việc giải thích Hiến pháp của Tòa án Tối cao qua bản án nổi tiếng Marbury kiện Madison (1803) của Chánh án Marshall, ông đã tuyên bố “Trách nhiệm và bổn phận chính của cơ quan tư pháp là giải thích luật” và kết luận rằng bổn phận đó thậm chí bao hàm quyền của các tòa án được bác bỏ các đạo luật của Quốc hội nếu những đạo luật này bị phát hiện trái với Hiến pháp Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giải thích pháp luật vẫn diễn ra thường xuyên ở Mỹ và diễn ra khá mạnh mẽ với sản phẩm
có một tên gọi khác là “án lệ” hay đúng hơn là các bản án của Tòa án sau khi dựa vào quy định pháp luật để giải quyết vụ việc trên thực tế Những bản án đó thiết nghĩ cũng
là văn bản giải thích pháp luật giống với các nước khác trên thế giới vì nó cũng dựa trên Hiến pháp, luật để làm rõ nội dung Hiến pháp, luật mà không tạo ra quy định mới chỉ có điều có tên gọi khác và có thể được nâng lên thành luật
Chủ thể có thẩm quyền “giải thích pháp luật”
Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tuyệt đối trong hoạt động pháp luật và công việc hàng ngày của các tòa án trên toàn nước Mỹ là đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến số phận của hàng ngàn người Một số quyết định chỉ ảnh hưởng đến các bên liên quan trực tiếp đến một hành vi pháp lý nào đó, nhưng nhiều quyết định đưa ra các phán quyết về quyền, lợi ích và nguyên tắc pháp lý tác động đến hầu như tất cả người dân
Trang 29Mỹ Do đó, mỗi một phán quyết chắc chắn sẽ được nhiều người Mỹ chào đón, trong khi lại bị nhiều người khác phản đối; đôi khi số người phản đối còn nhiều hơn số người ủng hộ Tuy nhiên, tất cả đều phải thừa nhận tính pháp lý của các quyết định này, cũng như phải thừa nhận vai trò của tòa án là người giải thích luật pháp cuối cùng, vì vậy ở
Mỹ, thẩm quyền giải thích pháp luật được trao cho Tòa án như một lẽ tự nhiên
Hoạt động giải thích pháp luật ở Mỹ:
Khi có tranh chấp xảy ra, Tòa án cần phải dựa vào luật thành văn để giải quyết
vụ việc Tuy nhiên vì số lượng luật thành văn của Mỹ khá ít và cũng như quốc gia khác các văn bản quy phạm pháp luật của Mỹ cũng mang tính khái quát khá cao nên Tòa án phải tiến hành giải thích để có thể giải quyết tranh chấp trên thực tế Trên toàn nước
Mỹ, các tòa án liên bang, bang và địa phương vẫn không ngừng diễn giải luật pháp, giải quyết tranh chấp theo luật pháp, và thậm chí đôi lúc còn huỷ bỏ luật nếu như luật
vi phạm những quyền hiến định Sau khi tiến hành hoạt động này các tòa án cấp trên tạo ra một quy tắc và ràng buộc cách giải thích luật của mình đối với các toà án cấp thấp hơn Đây được gọi là nguyên tắc “theo quyết định trước”, hay đơn giản gọi là tiền
lệ Nó giúp bảo đảm sự nhất quán và có thể lường trước Ví dụ:
Tu chính án Hiến pháp thứ mười lăm có một quy định là “trong bất kỳ vụ án hình sự nào, không ai bị buộc phải làm chứng chống lại mình” Thỉnh thoảng lại có các
vụ án trong đó một cá nhân từ chối trả lời các câu hỏi hoặc khai nhận dưới hình thức khác, trên cơ sở lập luận rằng lời khai đó có thể sẽ được dùng làm cơ sở khởi tố cá nhân này ở một nước khác Có thể áp dụng điều luật tự buộc tội trong trường hợp này hay không? Toà phúc thẩm địa phận số 2 của cho rằng có thể áp dụng, nhưng Tòa phúc thẩm các địa phận số 4 và 11 lại diễn giải ngược lại Điều đó có nghĩa là luật pháp khác nhau phụ thuộc nơi mà vụ việc đó phát sinh Lúc này Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng sợ bị truy tố ở nước ngoài là vượt quá phạm vi của Điều luật tự buộc tội
Trang 30Phán quyết này trở thành luật của toàn nước Mỹ, kể cả ở khu vực Tòa phúc thẩm địa phận số 2 Bất kỳ tòa án liên bang nào sau này gặp phải vấn đề đó đều bị ràng buộc bởi phán quyết của tòa cấp cao trong vụ án trên
Đánh giá hoạt động giải thích pháp luật ở Mỹ
Ưu điểm
Việc xem các bản án khi tiến hành giải thích một quy định pháp luật nào đó mà không tạo ra quy định cũng là sản phẩm của hoạt động giải thích pháp luật và thẩm quyền Giải thích pháp luật thuộc Tòa án làm cho hoạt động giải thích pháp luật trở nên
vô cùng có hiệu quả về số lượng cũng như chất lượng
Xét cho cùng thì Tòa án ở Mỹ là cơ quan chuyên xét xử và so với các quốc gia khác thì tầm nhận thức và áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước cũng như công dân rất cao, nên khi Tòa án tiến hành Giải thích pháp luật sẽ đáp ứng được nhu cầu của người dân trong thực tế và việc giải thích này cũng sẽ gần gũi, chính xác hơn bởi tính chuyên môn của Tòa án trong việc xét xử
Ngoài ra có thể nhận thấy, số lượng luật thành văn của Mỹ không nhiều và án lệ cũng được xem là một nguồn của pháp luật nên việc giải thích pháp luật của Tòa án làm cho quy định của pháp luật Mỹ gần với thực tiễn hơn và hoàn thiện hệ thống pháp luật hơn
Nhược điểm
Hệ thống pháp luật Mỹ khá phức tạp, gồm Luật liên bang, luật bang, Hiến pháp Liên Bang, Hiến pháp của Bang, cũng như Tòa án của Liên bang, Bang,…làm cho hoạt động giải thích pháp luật (tạo ra án lệ) được tiến hành bởi nhiều Tòa án khác nhau đối với một số vụ việc có tính chất giống nhau nên đôi khi các tòa án diễn giải luật không giống nhau dễ làm cho quy định pháp luật trở nên càng khó hiểu Với tình trạng
đó các tòa án cấp cao hơn phải tìm cách giải quyết sự thiếu nhất quán này bằng cách Tòa án Tối cao thường chọn xét xử các vụ án nếu phán quyết của vụ đó có thể giải
Trang 31quyết sự bất đồng giữa các tòa phúc thẩm Tiền lệ của Tòa án Tối cao sẽ khống chế, hoặc áp dụng cho tất cả các toà án liên bang cấp dưới
1.3 Ý kiến của tác giả về hoạt động giải thích pháp luật
Như đã phân tích, giải thích pháp luật với vai trò của mình đối với việc hoàn thiện hoạt động pháp luật quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích công dân,… là một nhu cầu tất yếu đối với mọi quốc gia trên thế giới nên nó cần phải được quan tâm và phát triển
Để đảm bảo giải thích pháp luật được thực hiện một cách hiệu quả, văn bản giải thích pháp luật có thể phát huy được vai trò của mình, khi tiến hành giải thích pháp luật các chủ thể giải thích pháp luật cần phải tuân thủ các nguyên tắc của hoạt động này cũng như lựa chọn phương pháp một cách cẩn trọng và cân nhắc
Bên cạnh đó với tình hình kinh tế và chính trị khác nhau của mỗi quốc gia, hoạt động giải thích pháp luật của mỗi quốc gia cũng sẽ có những điểm không tương đồng nhất định về cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật, chủ thể có quyền đề nghị giải thích pháp luật,quy trình, Vì vậy, khi học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác về giải thích pháp luật, quốc gia đang quan tâm và phát triển hoạt động này cần chắt lọc một cách cẩn thận để áp dụng vào quốc gia mình một cách hợp lý vì mỗi hình thức nhà nước sẽ có một mô hình giải thích pháp luật, quy trình áp dụng riêng cũng như có những ưu, nhược điểm riêng của mình
Trang 32CHƯƠNG 2 GIẢI THÍCH PHÁP TẠI VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Hoạt động giải thích pháp luật chính thức tại Việt Nam
2.1.1 Chủ thể
Xét về bản chất, giải thích pháp luật là hoạt động nhằm làm rõ nội dung của văn bản quy phạm pháp luật nên mọi chủ thể đều có thể tiến hành hoạt động này Tuy nhiên không phải bất kỳ sản phẩm của hoạt động giải thích pháp luật của tất cả các chủ thể đều được xem là văn bản giải thích pháp luật và có giá trị áp dụng
Như đã đề cập ở trên, về mặt lý luận văn bản giải thích pháp luật có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể khác chỉ có văn bản giải thích pháp luật chính thức, được thực hiện bởi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền và được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định Nghiên cứu các bản Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ cho thấy việc quy định về cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh hầu như không thay đổi theo thời gian Theo Điều 53 Hiến pháp năm 1959, Ủy ban thường vụ Quốc
Hiến pháp năm 1980 quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước – cơ quan cao nhất, hoạt động thường xuyên của Quốc hội Khoản 3 Điều 91 Hiến pháp 1992 quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh
Như vậy, trừ Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên của nước ta chưa có quy định về thẩm quyền giải thích và cũng chưa quy định cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, còn trong các Hiến pháp kế tiếp – từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, thẩm quyền giải thích Hiến
Trang 33và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này có thay đổi và khác nhau theo quy định của các Hiến pháp)
Ngoài ra, căn cứ Điều 52 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996
và Điều 87 Hiến pháp 1992, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và Đại biểu quốc hội chỉ có quyền
pháp lênh mà không được trao thẩm quyền này
thể có thẩm quyền tiến hành giải thích pháp luật và văn bản giải thích có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể khác còn hoạt động giải thích pháp luật của các cơ quan khác là giải thích không chính thức thông qua các văn bản hướng dẫn, báo cáo tổng kết mặc dù trên thực tiễn các văn bản này cũng có giá trị như văn bản giải thích pháp luật
tắc tổ chức quyền lực của nước ta là “Nguyên tắc tập quyền” Theo quy định tại Điều
83 - Hiến pháp năm 1992 “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong khi đó văn bản giải thích pháp luật là
một loại văn bản có giá trị như các văn bản cần được giải thích vì vậy tính chất tập quyền cũng phải được thể hiện trong cả việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh Tuy
nhiên Quốc hội lại không hoạt động thường xuyên mà chỉ họp thường kỳ hai lần trong một năm, nên việc giao cho Quốc hội (cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành Hiến pháp và luật) là không thỏa đáng và sẽ dễ dẫn đến nhiều bất cập do tính chất hoạt động của Quốc hội và số lượng đại biểu Quốc hội cũng như nhu cầu giải thích pháp luật
16 Hiến pháp 1992, Điều 83
Trang 34về lập pháp như ban hành pháp lệnh, và giải thích văn bản do mình ban hành cùng với giải thích Hiến pháp, luật không làm mất đi tính tập trung quyền lực nhà nước vào
quan thường trực của Quốc hội
2.1.2 Quy trình giải thích pháp luật
Theo quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2004 và Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, quy trình, thủ tục trong hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, được thực hiện giống như quy trình, thủ tục thông qua luật Tuy nhiên, với tính chất, nội dung và phạm vi nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên quy trình, thủ tục cũng được đơn giản hoá hơn Cụ thể, gồm các bước sau:
“Đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Căn cứ Điều 23 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì khi phát sinh nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các chủ thể có thẩm quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Trong văn bản đề nghị phải thể hiện được các nội dung cơ bản như sự cần thiết, nội dung quy định cần giải thích, các cách hiểu khác nhau về quy định… Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế, Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã đề nghị biết ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội về vấn đề này
Soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Sau khi đề nghị giải thích được Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận thì Ban soạn thảo được thành lập để chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích Thông thường, chủ thể giải thích sẽ tự thành lập Ban soạn thảo Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo trong trường hợp chủ thể đề nghị giải thích là: Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Trang 35Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội hoặc nội dung giải
thích có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
Căn cứ vào tính chất và nội dung của việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
mà Ủy ban thường vụ Quốc hội giao cho Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội để soạn thảo dự thảo nghị quyết Dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh sau khi đã soạn thảo sẽ được trình Ủy ban thường vụ Quốc hội để tiến hành thẩm tra Thời hạn gửi dự thảo nghị quyết để thẩm tra chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bắt đầu
phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội
Thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích
Trên cơ sở dự thảo nghị quyết đã được cơ quan soạn thảo chuẩn bị, Ủy ban thường vụ Quốc hội căn cứ vào nội dung và tính chất của nội dung cần giải thích, giao
cho Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra
Như vậy, chủ thể thực hiện việc thẩm tra là Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập Uỷ ban lâm thời của Quốc hội để thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh (Điều 26 Quy chế 2004) Tuy nhiên, từ khi thiết lập quy định này, chưa có lần nào Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra về dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh Ngay cả việc thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án luật cũng thực hiện chỉ được một vài lần
Về phạm vi thẩm tra, theo quy định của Điều 34 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan thẩm tra phải tiến hành thẩm tra về tất cả các mặt của dự thảo nghị quyết, nhưng tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau: sự cần thiết ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh; sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp của dự thảo và tính thống
Trang 36nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo; tính khả thi của dự thảo
Việc thẩm tra dự thảo nghị quyết có thể được tiến hành một lần hoặc nhiều lần Đối với dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét thông qua trong hai phiên họp thì dự thảo nghị quyết phải được
cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra sơ bộ lần đầu Đối với dự thảo nghị quyết trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định thông qua tại phiên họp thứ hai hoặc trong trường hợp dự thảo được Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định xem xét thông qua tại một phiên họp thì phải được cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra chính thức Điều 35 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Khi thẩm tra chính thức, cơ quan thẩm tra phải tiến hành phiên họp toàn thể Trong trường hợp dự án luật,
dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được giao cho nhiều cơ quan phối hợp thẩm tra, thì cơ quan được giao chủ trì thẩm tra có trách nhiệm tổ chức phiên họp liên tịch để tiến hành thẩm tra Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan thẩm tra
Thảo luận tại phiên họp và xem xét thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Thông thường, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại hai phiên họp Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét thông qua tại một phiên họp Về cơ bản, trình tự, thủ tục thông qua tại một phiên họp và hai phiên họp là tương
tự nhau Tại phiên họp thứ nhất, dự thảo nghị quyết sẽ được biểu quyết thông qua các nội dung cơ bản như phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và những vấn đề còn nhiều
ý kiến khác nhau Sau đó, trên cơ sở các ý kiến đóng góp, trong thời gian giữa hai phiên họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiến hành nghiên cứu tiếp thu và chỉnh lý dự thảo nghị quyết để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ hai Tại phiên họp thứ hai, sau khi, tiếp
Trang 37thu, chỉnh lý, dự thảo nghị quyết được đọc trước toàn thể phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội Các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua một số nội dung còn ý kiến khác nhau và biểu quyết toàn văn dự thảo nghị quyết Nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa thành viên
Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ trường hợp Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại được quy định tại Điều 39 và Điều 103 Hiến pháp 1992 Theo các quy định này, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nghị quyết được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại những nội dung mà Chủ tịch nước chưa đồng ý Nếu nghị quyết đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất (khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 1992)
Công bố nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về việc công bố nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội Nhưng theo quy định chung, sau khi nghị quyết được Chủ tịch Quốc hội ký sẽ được gửi tới Chủ tịch nước để
ký lệnh công bố Thời hạn này là 15 ngày, kể từ ngày nghị quyết được thông qua”17
2.1.3 Hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Như đã đề cập ở trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích pháp luật căn cứ theo Điều 91 Hiến pháp 1992 Tuy nhiên, mặc dù là
cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích pháp luật nhưng cho đến nay hoạt động này còn rất ít được quan tâm và trên thực tế Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ mới giải thích pháp luật năm lần khi được yêu cầu bởi các chủ thể khác, cụ thể như sau:
17
Hoàng Văn Tú (2002), “Giải thích pháp luật – một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Tạp
chí Nghiên cứu Pháp luật, (số 5)
Trang 38Nghị quyết số 746/2005 giải thích Điều 241 của Luật Thương mại 1997 về thời hiệu khởi kiện khiếu nại về nghĩa vụ thanh toán
Yêu cầu giải thích điều luật này xuất phát từ yêu cầu của trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại Công nghiệp Việt Nam khi xét xử một tranh chấp hợp đồng mua bán ngoại thương giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài và được đệ trình cho Ủy ban thường vụ Quốc hội theo Tờ trình số 06/CP-XDPL ngày 21 tháng 01 năm 2005 của Chính Phủ về việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 của Luật thương mại và Báo cáo ý kiến số 1519a/UBKTNS ngày 24 tháng 01 năm 2005 của Thường trực Ủy ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội Trong
đó cần xác định về thời hiệu khiếu nại về nghĩa vụ thanh toán
Điều 241 khoản 2 điểm a quy định cho thời hiệu khiếu nại về số lượng là ba tháng, điểm b quy định thời hiệu cho khiếu nại về chất lượng là sáu tháng, điểm c quy định “chín tháng kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đối với khiếu nại về các hành vi thương mại khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 4
điều luật quy định: “ba tháng kể từ khi bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đối với khiếu nại về các hành vi thương mại khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 170 của Luật này” và sau đó giải thích thời hiệu khiếu nại đối với các vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ba tháng, kể từ khi bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 170 của Luật thương mại
Việc giải thích lần này hết sức cần thiết cho Trọng tài thương mại nói riêng và các cơ quan xét xử tranh chấp ngoại thương nói chung với ý nghĩa pháp lý rất to lớn để giải quyết một vụ tranh chấp ngoại thương, luật cần xác định lại nội dung quy định liên quan rõ ràng hơn nữa để các cơ quan tài phán tranh chấp thương mại có căn cứ pháp luật để giải quyết tranh chấp
18 Luật Thương mại 2005, Điều 241, Khoản 2, Điểm c
Trang 39Nghị quyết số 1033/2006 giải thích Điều 19 của Luật Kiểm toán Nhà nước
về việc làm rõ khi nào thì văn bản dưới luật do Tổng kiểm toán ban hành
“Việc giải thích lần này xuất phát từ tờ trình số 682/TTr-KTNN ngày 12 tháng
10 năm 2006 của Tổng kiểm toán Nhà nước và báo cáo ý kiến số 3050/UBKTNS ngày
8 tháng 11 năm 2006 của Ủy ban kinh tế và Ngân sách Quốc hội
Theo đó, Nghị quyết giải thích “quyết định, chỉ thị” quy định tại khoản 6 Điều
19 của Luật kiểm toán Nhà nước được hiểu như sau: “Quyết định, chỉ thị do Tổng kiểm toán nhà nước ban hành bao gồm quyết định, chị thị và văn bản quy phạm pháp luật và quyết định, chỉ thị là văn bản áp dụng pháp luật Quyết định chỉ thị do Tổng kiểm toán nhà nước ban hành theo thẩm quyền để hướng dẫn thi hành Luật Kiểm toán nhà nước
và các Văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân là Văn bản quy phạm pháp luật”
Như vậy, việc giải thích lần này khẳng định loại văn bản quy phạm pháp luật quyết định và chỉ thị của Tổng kiểm toán nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật và cũng là văn bản áp dụng pháp luật để các cơ quan quản lý nhà nước khác và chính quyền địa phương có cơ sở áp dụng thi hành”19
Các lần giải thích sau, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành các nghị quyết liên quan đến tranh chấp về quyền sở hữu đất đai; giới hạn việc đòi bồi thường sở hữu tư nhân đối với nhà do nhà nước quản lý
Vào giữa thập niên 1990, Tòa án khắp nơi đã phải xử lý hàng trăm vụ án mang tính nhạy cảm, đòi phải có lệnh trục xuất các quan chức nhà nước đang sống trong các căn biệt thự thuộc sở hữu tư nhân Mặc dù pháp lệnh rõ ràng ủng hộ việc đòi bồi thường của chủ sở hữu, chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao vẫn yêu cầu Ủy ban thường
19 Phan Thông Anh (2003), “Thực tiễn GTPL và hướng dẫn áp dụng pháp luật ở Việt Nam và các vấn đề nảy sinh”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (số 5)
Trang 40vụ Quốc hội tiến hành hoạt động giải thích Chính vì lý do trên Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tiến hành giải thích bằng các Nghị quyết số 58/1998/NQ-Ủy ban thường
vụ Quốc hội10 được ban hành ngày 24 tháng 8 năm 1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991, Nghị quyết số 755/2005/NQ-Ủy ban thường vụ Quốc hội11 được ban hành ngày 02 tháng 4 năm 2005 về quy định giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà và đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và cải tạo XHVN trước ngày 01 tháng 7 năm 1991; Nghị quyết số 1037/2006/NQ-Ủy ban thường vụ Quốc hội 11 được ban hành ngày 27 tháng
7 năm 2006 về giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia
Đánh giá hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội qua các lần giải thích trên thực tế
Hai trường hợp giải thích điểm c, khoản 2, Điều 241 Luật Thương mại năm
1997 và trường hợp giải thích khoản 6, Điều 19 Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005 khi giải thích, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã dùng phương pháp giải thích theo nghĩa đen để giải thích các quy định tại văn bản được yêu cầu, giải quyết được những vướng mắc khi áp dụng pháp luật, cụ thể: Kiểm toán Nhà nước gặp vướng mắc về cấp độ văn bản mà họ được ban hành trong khi làm nhiệm vụ, một tòa án địa phương gặp vướng mắc về thời hiệu khởi kiện trong khi giải quyết tranh chấp từ hợp đồng mua bán
Ba trường hợp còn lại, các giải thích của Ủy ban thường vụ Quốc hội tiến hành mang nặng tính hướng dẫn, quy định chi tiết, có những nội dung được quy định thêm,
bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Như vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã giải thích theo phương pháp “lập pháp bổ sung”, tức là giải thích nhưng gắn liền với việc quy định thêm, loại giải thích này chỉ ở cơ quan có quyền xây dựng pháp luật mới được làm Xét thực tế, đó là xây dựng pháp luật chứ không phải giải thích pháp luật