1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trong pháp luật việt nam

131 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1/ Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (14)
    • 1.1.1/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung (14)
      • 1.1.1.1/ Một số khái niệm liên quan (14)
      • 1.1.1.2/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung (16)
    • 1.1.2/ Đặc điểm của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (18)
      • 1.1.2.1/ Đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động hoặc chỉ riêng người lao động (18)
      • 1.1.2.2/ Nguồn hình thành dựa trên sự đóng góp của riêng người lao động hoặc dựa trên sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động (20)
      • 1.1.2.3/ Tài khoản đóng góp của cá nhân tham gia được các tổ chức quản lý quỹ quản lý dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân (20)
      • 1.1.2.4/ Được Nhà nước ưu đãi về thuế (21)
      • 1.1.2.5/ Mục đích của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là nhằm “bổ sung” (22)
    • 1.1.3/ Vai trò của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (23)
      • 1.1.3.1/ Đối với người lao động (23)
      • 1.1.3.1/ Đối với người sử dụng lao động (91)
      • 1.1.3.1/ Đối với Nhà nước (0)
    • 1.1.4/ Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ (25)
      • 1.1.4.1/ Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ (25)
      • 1.1.4.1/ Lịch sử hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam (0)
    • 1.2.1/ Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ (31)
      • 1.2.1.1/ Chương trình hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ (32)
      • 1.2.1.2/ Chương trình hưu trí tiết kiệm cá nhân của Thụy Sĩ (44)
    • 1.2.2/ Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Đan Mạch (0)
      • 1.2.2.1/ Trợ cấp hưu trí bổ sung ATP, SP (50)
      • 1.2.2.2/ Chương trình hưu trí công cộng (53)
      • 1.2.2.3/ Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân tại Đan Mạch (55)
  • 2.1/ Thực trạng chế độ hưu trí bổ sung ở Việt Nam (57)
    • 2.1.1/ Thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (57)
      • 2.1.1.1/ Mục tiêu của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là các biện pháp tài chính bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc (57)
      • 2.1.1.2/ Đối tượng, hình thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung (58)
      • 2.1.1.3/ Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung (59)
      • 2.1.1.4/ Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (61)
      • 2.1.1.5/ Mức hưởng hưu trí bổ sung (62)
      • 2.1.1.6/ Chính sách ưu đãi thuế (62)
    • 2.1.2/ Thực trạng thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tự phát tại Việt Nam (63)
      • 2.1.2.1/ Thực trạng tại Công ty Dutch Lady Việt Nam (63)
      • 2.1.2.2/ Thực trạng tại Công ty Unilever Việt Nam (65)
  • 2.2/ Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam (67)
    • 2.2.1/ Đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (67)
    • 2.2.2/ Điều kiện hưởng hưu trí bổ sung (68)
    • 2.2.3/ Vấn đề chi trả lương hưu bổ sung (71)
    • 2.2.4/ Cách thức xử lý lương hưu bổ sung trong trường hợp rủi ro suy giảm khả năng lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chết (71)
    • 2.2.5/ Quản lý Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung (73)
    • 2.2.6/ Các hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung (75)
    • 2.2.7/ Các chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung (76)
    • 2.2.8/ Các kiến nghị khác (77)
  • KẾT LUẬN (56)

Nội dung

Theo đó, WB định nghĩa khái niệm “hưu trí nghề nghiệp” như sau: “Chế độ hưu trí nhận được sự hỗ trợ từ chủ sử dụng lao động trong quá trình tham gia đóng góp của người lao động vào Quỹ

Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung

1.1.1.1/ Một số khái niệm liên quan Để có cái nhìn toàn diện về khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung”, trước hết cần tìm hiểu các khái niệm liên quan trực tiếp đến nội hàm bảo hiểm hưu trí bổ sung, đó là các khái niệm “bảo hiểm hưu trí”, “hưu trí nghề nghiệp” và “hưu trí tiết kiệm cá nhân”

Theo quan điểm của WB, bảo hiểm hưu trí được xem là phần của mô hình hưu trí đa trụ cột, là chế độ cung cấp sự bảo vệ đầy đủ cho tuổi già và có sự phân bổ thường xuyên các lợi ích tuổi già, được xác định trên ba chức năng tuần hoàn là phân phối, tiết kiệm và bảo hiểm Từ góc nhìn của ILO và các khái niệm ASXH và BHXH, bảo hiểm hưu trí được nêu rõ là chế độ cung cấp các lợi ích cho các thành viên khi đến tuổi già, dựa trên quá trình làm việc hoặc đóng góp Theo ILO, hệ thống BHXH bao gồm bảo hiểm hưu trí nhằm cung cấp cho người lao động các lợi ích tuổi già để tránh các rủi ro của tuổi già như đói nghèo, bệnh tật và cái chết khi hết tuổi lao động Do đó, dù các chính sách bảo hiểm hưu trí được vận hành theo các cơ chế khác nhau ở từng quốc gia, WB và ILO cho rằng chúng phải đảm bảo an sinh và sự bền vững của hệ thống hưu trí, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người lao động và công bằng trong phân phối lợi ích.

1 WB, (1994), “Averting the old age crisis: policies to protect the old and promote growth”, Washington DC, World Bank Publication, p xiii

2 Theo ILO, (1984), “Introduction to Social Security”, 3rd edition 1984, Geneva An sinh xã hội là “sự bảo vệ mà toàn xã hội có nghĩa vụ cung cấp cho các thành viên trong xã hội đó thông qua một loạt các chính sách công cộng nhằm chống lại sự khó khăn của nền kinh tế và xã hội do bị ngừng trệ hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi các vấn đề như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và cái chết; đồng thời cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế và các khoản trợ cấp cho các gia đình đông con”

3 ILO, (1984), tlđd Bảo hiểm xã hội là “các khoản trợ cấp đến từ xã hội, được tài trợ bởi các khoản đóng góp trong xã hội, bắt buộc đối với người lao động có thu nhập dù là lao động phổ thông hay lao động trí óc, người già hay trẻ em, nam hay nữ”

4 ILO, (1984), “Introduction to Social Security”, 3rd edition 1984, Geneva http://www.nzdl.org/gsdlmod?e=d-00000-00 -off-0cdl 00-0 0-10-0 -0 -0direct-10 -4 - 0-1l 11-en-50 -20-about -00-0-1-00-0 4 0-0-11-10-0utfZz-8-

Đảm bảo tiêu chuẩn sống và đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt của người cao tuổi giúp họ có cuộc sống ổn định và an tâm Việc này đồng thời ngăn ngừa nghèo đói, phòng ngừa bệnh tật và giảm thiểu các nguy cơ liên quan đến tuổi già.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đang xây dựng mô hình hưu trí đa trụ cột theo định hướng của WB, gồm ba trụ cột chính: chương trình hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý, chương trình hưu trí nghề nghiệp và chương trình hưu trí tiết kiệm cá nhân WB định nghĩa hưu trí nghề nghiệp là chế độ nhận được sự hỗ trợ từ chủ sử dụng lao động tham gia đóng góp của người lao động vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp, quỹ được vận hành dưới hình thức tham gia tự nguyện hoặc bắt buộc tùy từng quốc gia và nguồn quỹ có thể nhận được hỗ trợ tài chính từ Chính phủ ở các mức độ khác nhau Ở các nước phát triển ở Châu Âu như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Phần Lan, khái niệm hưu trí nghề nghiệp dựa trên nội hàm: chế độ hưu trí kết hợp với chế độ hưu trí bắt buộc nhằm đảm bảo duy trì mức sống tối thiểu cho người cao tuổi trong điều kiện sống thích hợp Ở các nước phát triển, chế độ hưu trí nghề nghiệp có thể áp dụng hình thức tham gia bắt buộc hoặc bán bắt buộc dựa trên thỏa thuận lao động tập thể tại Đan Mạch, Thụy Sĩ, Thụy Điển và Australia Đối với các nước đang phát triển, hưu trí nghề nghiệp chủ yếu vận hành dựa trên ý chí tham gia tự nguyện của người lao động Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là chế độ hưu trí nghề nghiệp không chỉ cung cấp đến người lao động lương hưu mà còn mang lại các lợi ích bổ sung khi gặp rủi ro thương tật hoặc chết trong quá trình tham gia đóng góp vào quỹ.

 Hưu trí tiết kiệm cá nhân

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), trụ cột hưu trí thứ ba là một phần quan trọng của mô hình hưu trí đa trụ cột Trụ cột này nhằm cung cấp sự bảo vệ bổ sung đối với thu nhập và bảo hiểm tuổi già cho người lao động, giúp họ an tâm trước các rủi ro liên quan đến nghỉ hưu Với các trụ cột còn lại, trụ cột hưu trí thứ ba bổ sung nguồn lực tài chính và tăng cường an sinh xã hội cho người lao động, đồng thời giúp họ duy trì mức sống và chi trả cho các chi phí tuổi già.

Dựa trên World Bank (1994), hệ thống hưu trí gồm hai trụ cột: hưu trí bắt buộc nhằm duy trì mức sống tối thiểu cho người nghỉ hưu và sự mở rộng của hưu trí tiết kiệm cá nhân thuộc trụ cột thứ ba, nhằm tạo ra một mức sống sung túc cho người già Theo OECD, khái niệm hưu trí tiết kiệm cá nhân là một phần mở rộng các cơ hội tài chính nhằm cung cấp thêm lợi ích cho người lao động khi về già và giúp đẩy lùi nghèo đói tuổi già Hầu hết các quốc gia trên thế giới xây dựng chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân dưới hình thức tham gia tự nguyện, mang lại nhiều lợi ích cho người thụ hưởng như khả năng mua xe, đầu tư bất động sản hoặc khởi nghiệp kinh doanh mới, đồng thời chế độ này hỗ trợ tích lũy vốn hưu trí với ưu đãi thuế trong suốt quá trình đóng góp.

1.1.1.2/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung

Thuật ngữ “bảo hiểm hưu trí bổ sung” xuất hiện lần đầu trong khuôn khổ khoa học pháp lý Việt Nam khi dự thảo Luật BHXH năm 2006 và được quy định chính thức trong Luật BHXH năm 2014 Dưới góc độ mục tiêu, khái niệm này ra đời trên nền tảng tìm kiếm các giải pháp nhằm đảm bảo cuộc sống hưu trí tốt hơn cho người hưởng lương hưu, nên trong khoa học pháp lý đã có một số bài viết về chế độ hưu trí bổ sung Cụ thể, khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung” được định nghĩa như sau:

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung có mục đích chính là hỗ trợ cho chế độ trợ cấp hưu trí bắt buộc, nhằm đảm bảo thu nhập cao hơn cho người về hưu Bằng cách bổ sung nguồn lực cho hệ thống hưu trí bắt buộc, bảo hiểm hưu trí bổ sung giúp tăng tổng thu nhập và sự ổn định tài chính khi nghỉ hưu Tham gia bảo hiểm này mang lại nguồn thu bổ sung cho người lao động, giảm bớt sự phụ thuộc vào trợ cấp hưu trí bắt buộc và nâng cao an sinh xã hội Đây là một giải pháp tài chính linh hoạt nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người đã nghỉ hưu.

Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách BHXH tự nguyện nhằm bổ sung cho bảo hiểm hưu trí cơ bản, giúp người tham gia tăng mức hưởng hưu trí khi về già Mục tiêu của BHXH bổ sung là bổ sung và nâng cao quyền lợi hưu trí thông qua đóng góp tự nguyện, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống tuổi già Chương trình này được Nhà nước quản lý và giám sát bằng pháp luật để đảm bảo sự công bằng, minh bạch và an toàn cho người tham gia.

Việc tạo cơ hội việc làm cho người lao động có điều kiện và thu nhập cao hơn sẽ giúp họ tích lũy an sinh xã hội nhiều hơn, từ đó duy trì mức sống ổn định và tốt đẹp hơn khi hết tuổi lao động.

8 Nguyễn Hiền Phương, (2008), “Về các giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật BHXH”, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 06/2008, tr 37

9 Bùi Sỹ Lợi (2013) ,“Cần sớm triển khai thí điểm thực hiện chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính – bảo hiểm, số 03/2013, tr 18

Bùi Sỹ Lợi (2014) trình bày những quan điểm lớn về sự cần thiết sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội Bài viết nhận định hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam phải được điều chỉnh để phù hợp với thực tế kinh tế - xã hội, đồng thời tăng tính bền vững, công bằng và hiệu quả Nội dung phân tích chỉ ra các điểm còn bất cập và đề xuất định hướng sửa đổi nhằm cải thiện phạm vi bảo hiểm, nguồn lực quỹ và cơ chế quản lý Tài liệu này được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội, số 07/2014, trang 23.

Cả hai định nghĩa nêu rõ mục đích của bảo hiểm hưu trí bổ sung là để bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc; định nghĩa thứ hai bổ sung thêm yếu tố tự nguyện tham gia và sự giám sát của Nhà nước bằng pháp luật.

Về mặt pháp lý, khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung” lần đầu được quy định trong Luật BHXH năm 2014 Theo định nghĩa này, bảo hiểm hưu trí bổ sung là một chính sách tự nguyện nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí trong hệ thống BHXH bắt buộc, được hình thành từ nguồn quỹ do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Mục tiêu chính của chế độ này là bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc.

Đặc điểm của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung

1.1.2.1/ Đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động hoặc chỉ riêng người lao động

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới bao gồm cả hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân Đối với hưu trí nghề nghiệp, nhà nước thường quy định sự tham gia đóng góp của người lao động và trách nhiệm hỗ trợ đóng góp từ phía người sử dụng lao động; hầu hết các quốc gia trên thế giới yêu cầu sự tham gia của cả hai phía Tuy nhiên, Đan Mạch là một ví dụ điển hình cho hình thức “bán bắt buộc”, ở đó sự tham gia của hai bên không phải bắt buộc tuyệt đối; nếu người lao động có nguyện vọng tham gia, họ có thể thương lượng và tham gia cùng người sử dụng lao động, và khi có yêu cầu từ người lao động, người sử dụng lao động buộc phải tham gia và tạo mọi điều kiện hỗ trợ quá trình đóng góp, do đó chế độ hưu trí nghề nghiệp ở Đan Mạch được vận hành dưới hình thức bán bắt buộc.

Đối với chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân, đối tượng tham gia là người lao động và quá trình đóng góp dựa trên ý chí tự nguyện của người lao động, không có sự tham gia và hỗ trợ trách nhiệm đóng góp từ phía người sử dụng lao động; việc tham gia xuất phát từ nhu cầu thụ hưởng cao của từng cá nhân, như đảm bảo mức sống sung túc, mua xe, đầu tư bất động sản hoặc đầu tư kinh doanh sau khi nghỉ hưu, nhưng không phải mọi người lao động đều có đầy đủ điều kiện tài chính để đáp ứng các nhu cầu này, nên Nhà nước không thể áp đặt quyền lực để bắt buộc người lao động tham gia và các quy định của pháp luật chỉ dừng lại ở phạm vi khuyến khích người lao động tích cực tham gia, còn quyền tự quyết thuộc về ý chí của người lao động và được Nhà nước tôn trọng; ở Việt Nam, trong giai đoạn triển khai chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung đến năm 2020 đối tượng tham gia gồm người lao động và người sử dụng lao động đang tham gia BHXH bắt buộc, Nhà nước khuyến khích quá trình tham gia dựa trên ý chí tự nguyện của mỗi cá nhân, tiếp đó, giai đoạn sau năm 2020 Nhà nước tiến hành chuyển đổi hình thức tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung từ tự nguyện sang bắt buộc.

1.1.2.2/ Nguồn hình thành dựa trên sự đóng góp của riêng người lao động hoặc dựa trên sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới bao gồm hai thành phần chính là hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân Hưu trí nghề nghiệp được xây dựng dựa trên sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động Mức hỗ trợ từ người sử dụng lao động có thể bằng 1/2 hoặc 2/3 tổng các khoản đóng góp của người lao động vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp Các mức đóng góp này được quy định cụ thể theo luật pháp của từng quốc gia, nhưng tối thiểu không thấp hơn mức đóng góp của người lao động vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp.

Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân vận hành dựa trên ý chí tham gia tự nguyện của người lao động và khác với chế độ hưu trí bắt buộc cũng như hưu trí nghề nghiệp – những mô hình có sự áp đặt của Nhà nước hoặc các quy định bắt buộc tham gia từ phía người sử dụng lao động Các tài khoản đóng góp cá nhân do người lao động tự quản lý và thực hiện, không có sự bắt buộc hay trách nhiệm hỗ trợ từ phía người sử dụng lao động Trong quá trình tham gia, người lao động được tự do quyết định mức đóng, thời gian đóng, mức lãi suất và các lợi ích ưu đãi mà họ mong muốn nhận được sau khi đóng góp Chính yếu tố tự nguyện này giúp chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tầm bao phủ đối với hầu hết lực lượng lao động, để họ có kế hoạch nghỉ hưu đầy đủ với nguồn tài chính dồi dào.

1.1.2.3/ Tài khoản đóng góp của cá nhân tham gia được các tổ chức quản lý quỹ quản lý dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân

Khác biệt cốt lõi giữa hưu trí bổ sung và chế độ hưu trí bắt buộc là các khoản đóng góp của người lao động thuộc sự quản lý của các tổ chức quản lý quỹ—thường là các công ty bảo hiểm–tài chính, quỹ đầu tư hoặc ngân hàng—chứ không do cơ quan BHXH của Nhà nước quản lý trực tiếp Vì vậy, quỹ hưu trí bổ sung vận hành độc lập và riêng biệt với quỹ hưu trí bắt buộc nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức quản lý quỹ có thêm cơ hội đầu tư sinh lời trên vốn đóng góp và giúp người lao động có thêm cơ hội tài chính nhờ lãi suất ưu đãi trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của mình Mỗi người tham gia đóng góp sẽ được cấp một tài khoản tiết kiệm hưu trí cá nhân, các khoản đóng góp được tích lũy và lưu trữ trong tài khoản để người lao động có thể theo dõi quá trình đóng góp, cập nhật lãi suất và nắm rõ các rủi ro tài chính liên quan đến các khoản đầu tư từ tài khoản của chính mình Bên cạnh đó, hầu hết các tổ chức quản lý quỹ đều thiết lập công cụ tính toán trên ứng dụng công cộng tại trụ sở hoặc trên website để người lao động tự tính toán mức hưởng hưu trí bổ sung trong nhiều tình huống giả định khác nhau, từ đó có cái nhìn tối ưu về tình hình tài chính hưu trí Các dữ liệu tính toán được thực hiện một cách vô danh và không lưu trữ sau khi tính toán, việc kê khai thông tin cá nhân khi tính toán chỉ người dùng biết, giúp tăng tính an toàn và sự an tâm cho người sử dụng Đó là xu hướng toàn cầu nhằm minh bạch các vấn đề tài chính trong thu chi và quản lý bảo hiểm hưu trí bổ sung.

1.1.2.4/ Được Nhà nước ưu đãi về thuế

Theo quan điểm của WB, OECD và hầu hết các quốc gia đang phát triển và phát triển trên thế giới, cần thiết lập các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với các bên tham gia đóng góp cho chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung Ở mỗi quốc gia, các ưu đãi thuế có thể được áp dụng khác nhau ở từng giai đoạn: giai đoạn đóng góp, giai đoạn chi trả và cả đối với lãi suất trên tài khoản tiết kiệm của người lao động; tùy tình hình kinh tế - xã hội mà áp dụng mức ưu đãi thuế cụ thể hoặc miễn thuế cho một số chế độ hưu trí Ở Việt Nam, Nhà nước khuyến khích người lao động tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung thông qua các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người sử dụng lao động và thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động ở cả ba giai đoạn: đóng góp, chi trả và lãi suất trên tài khoản tiết kiệm của người lao động Nhờ đó, các chính sách ưu đãi thuế thiết thực sẽ góp phần thúc đẩy tham gia của người lao động và doanh nghiệp, mở rộng phạm vi bao phủ của mô hình hưu trí đa trụ cột và nâng cao mức hưởng lương hưu đầy đủ cho người lao động trong tương lai.

1.1.2.5/ Mục đích của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là nhằm “bổ sung” cho chế độ hưu trí bắt buộc

Trước những thách thức tài chính đối với chế độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung gồm hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân được xem như một giải pháp tài chính bổ trợ cho hệ thống hưu trí Hoạt động dựa trên một Quỹ độc lập, tách biệt với Quỹ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý, sẽ cung cấp nguồn lực hỗ trợ cho quá trình chi trả lương hưu cho người lao động Khi Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được thiết lập để thu chi độc lập, các tổ chức quản lý quỹ có thêm cơ hội triển khai các chính sách đầu tư trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của mỗi cá nhân, từ đó sinh lợi và tăng trưởng cho các khoản tiền này Nhờ đó người lao động sau khi đóng góp sẽ nhận được các khoản hưu trí bổ sung cao hơn lương hưu cơ bản do Nhà nước chi trả.

Ở một số quốc gia phát triển như Thụy Sĩ, Phần Lan và Đan Mạch, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung không chỉ bổ sung các lợi ích hưu trí bắt buộc mà còn bảo đảm cho các rủi ro như thương tật và tử vong của người lao động và người thân khi tham gia đóng góp vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp và Quỹ hưu trí tiết kiệm cá nhân; ngược lại, tại Việt Nam, giai đoạn đầu triển khai bảo hiểm hưu trí bổ sung chỉ mang lại khoản lương hưu bổ sung cho người lao động và chưa có sự bảo đảm cho các rủi ro thương tật, tử vong trong quá trình đóng góp.

Vai trò của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung

1.1.3.1/ Đối với người lao động

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới hiện nay được xây dựng dựa trên mức đóng xác định, tức mức hưởng tương xứng với mức đóng trên tài khoản hưu trí tiết kiệm cá nhân, cùng với các khoản lợi nhuận bổ sung được hưởng Các chính sách về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung luôn mang tính hỗ trợ cho chế độ hưu trí bắt buộc, giúp nâng cao lương hưu cơ bản và chất lượng cuộc sống cho người lao động trong giai đoạn thụ hưởng Đó là kết quả của quá trình tích lũy giữa chế độ hưu trí bắt buộc và hưu trí bổ sung trong suốt thời gian đóng góp Do đó, bên cạnh chế độ hưu trí bắt buộc, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được xem là nguồn thu nhập chính đáng của người lao động sau khi họ đóng góp công sức vào thị trường lao động, đồng thời là chỗ dựa vững chắc nhằm bảo đảm cuộc sống vật chất lẫn tinh thần cho người lao động trong suốt quá trình thụ hưởng Khi người lao động ổn định về tâm lý và yên tâm lao động sản xuất, điều này cũng góp phần tạo sự ổn định trên thị trường lao động và thúc đẩy lưu thông hàng hóa trên thị trường kinh tế - thương mại toàn cầu.

Việc thúc đẩy người lao động tham gia chế độ bảo hiểm xã hội giúp họ yên tâm trong suốt quá trình lao động và từ đó góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình Khi đến tuổi nghỉ hưu, nếu mong muốn nghỉ hưu, người lao động vẫn có được một cuộc sống đầy đủ nhờ lương hưu cao hơn nhờ khoản lương hưu bổ sung được chi trả từ Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung Với mức lương hưu phù hợp, người lao động sẽ cảm thấy tự tin và an tâm sau quá trình miệt mài lao động Trong thời kỳ thụ hưởng, nếu ốm đau, bệnh tật hay tai nạn, người lao động vẫn có đủ các khoản tiền chi trả cho các rủi ro trên, tạo tâm lý ổn định, bớt căng thẳng và giảm gánh nặng cho bản thân, gia đình và toàn xã hội.

1.1.3.2/ Đối với người sử dụng lao động

Việc thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trước hết phải có sự tham gia của người sử dụng lao động và người lao động để tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động không chỉ trong quá trình làm việc mà còn cả suốt quãng đời sau này Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung giúp doanh nghiệp ổn định nguồn chi bằng cách bổ sung cho người lao động trước các rủi ro lớn như tai nạn, bệnh tật hoặc chết trong quá trình lao động Ngoài ra, các chính sách ưu đãi về thuế cho phần đóng góp của doanh nghiệp được trừ vào thu nhập chịu thuế, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và tăng lợi ích khi đầu tư vào chế độ này Đây là giải pháp tăng cường an sinh và ổn định tài chính cho cả người lao động và doanh nghiệp.

Đối với lao động có trình độ chuyên môn cao, bảo hiểm hưu trí bổ sung là công cụ hữu hiệu để người sử dụng lao động trọng dụng và giữ chân nhân tài lâu dài, từ đó thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp Đối với lao động phổ thông (lao động chân tay), chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung mang lại mức lương hưu hấp dẫn, tạo tâm lý yên tâm cho người lao động và cho cả người sử dụng lao động Khi người lao động ổn định tâm lý làm việc, hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được ổn định thông qua phân phối chi phí lao động một cách hợp lý Ngược lại, nếu người lao động cảm thấy bất an, dễ dẫn đến đình công, nghỉ việc, ảnh hưởng đến tiến độ và gây rối loạn, ngừng trệ trong dây chuyền sản xuất.

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được xem là bước tiến mới mẻ và hữu ích trong chiến lược tuyển dụng và quản trị nguồn nhân lực của các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường kinh tế toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển Việc bổ sung chế độ này giúp nâng cao sức hấp dẫn của doanh nghiệp, tăng khả năng giữ chân và thu hút nhân tài giữa bối cảnh cạnh tranh quốc tế Đây là giải pháp phù hợp để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động ở các nước đang phát triển và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ mở rộng phạm vi bao phủ của chế độ hưu trí bắt buộc đối với đời sống của người dân, vì hệ thống hưu trí được xây dựng trên mô hình hưu trí đa trụ cột, trong đó chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân bổ sung cho hưu trí bắt buộc nhằm đảm bảo tính bền vững, sự toàn vẹn và hiệu quả trong việc mở rộng diện tham gia của hầu hết các đối tượng lao động trên thị trường lao động.

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung góp phần phản ánh rõ nét các giá trị xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo của Nhà nước và được xem là một trong những nội dung cốt lõi của các chính sách an sinh xã hội (ASXH) ở mỗi quốc gia Khi người lao động ở độ tuổi lao động tích cực tham gia cả chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc và bảo hiểm hưu trí bổ sung, họ cùng với người sử dụng lao động chủ động tự lo liệu nguồn tài chính cho cuộc sống sau nghỉ hưu, đồng thời giúp giảm gánh nặng chi trả ngân sách nhà nước.

Việc xây dựng và vận hành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ tạo điều kiện ổn định cho Quỹ BHXH trong tương lai trước bối cảnh già hóa dân số và chuyển dịch mạnh của nền kinh tế toàn cầu Việc quản lý Quỹ BHXH nói chung và Quỹ hưu trí nói riêng ở mỗi quốc gia là căn cứ để đánh giá khả năng quản trị rủi ro tài chính và mức độ an sinh xã hội (ASXH) theo từng giai đoạn kinh tế - xã hội khác nhau Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ tăng nguồn vốn đầu tư dài hạn trên thị trường vốn, làm cho thị trường vốn và thị trường kinh tế - tài chính nói chung trở nên phong phú và đa dạng hơn Thông qua các tổ chức quản lý quỹ, dòng vốn từ các quỹ hưu trí có thể được tái đầu tư trở lại nền kinh tế, đóng góp vào sự bền vững của nền kinh tế mỗi quốc gia và thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu.

Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được vận hành trên phạm vi quốc tế nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc trong mô hình hưu trí đa trụ cột, bao gồm chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân Bài viết trình bày lịch sử hình thành và phát triển của hai chế độ này, giúp người đọc có cái nhìn rõ nét về lộ trình triển khai, xây dựng và vận hành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên toàn cầu và nắm bắt các yếu tố then chốt để áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

Chế độ hưu trí nghề nghiệp bắt đầu xuất hiện trên phạm vi thế giới từ năm 1876, khi Quân đội Mỹ ở Hoa Kỳ triển khai chính sách này dưới hình thức trợ cấp chi phí nhỏ nhằm bổ sung thêm cho cuộc sống của những người lính bị thương sau khi rời chiến trường trong cuộc chiến giành độc lập với Đế quốc Anh Đầu thế kỷ 19, chương trình hưu trí nghề nghiệp được áp dụng và mở rộng vào khu vực tư nhân, với các chủ sử dụng lao động bổ sung hình thức trả lương hưu một lần cho nhân viên như một phần thưởng cho thời gian làm việc lâu dài, sự gắn bó mật thiết và trung thành với người sử dụng lao động Mô hình này sau đó tương tự được áp dụng cả với hộ gia đình tự kinh doanh ở các quốc gia phát triển.

Chương trình hưu trí nghề nghiệp chính thức bắt đầu phổ biến ở các nước phát triển vào cuối thế kỷ 19 và được xem như một công cụ quản trị nhân sự hiệu quả nhằm thu hút và giữ chân những người lao động có năng suất cao Đặc biệt ở các lĩnh vực ngân hàng, đường sắt và dầu khí, chế độ này được thiết kế như một khuyến khích trả lương hưu cao cho người lao động có thời gian làm việc lâu dài, gắn bó mật thiết và thể hiện sự trung thành với doanh nghiệp, trong bối cảnh các vấn đề về bí mật thông tin, bí mật kinh doanh và cạnh tranh dễ bị xâm phạm Tuy nhiên, ban đầu các chính sách này chỉ có tính tuỳ ý của chủ sử dụng lao động, không phải là quyền lợi được người lao động tự động hưởng, và chủ yếu nhắm tới những nhân viên lao động cấp cao, trí óc và các nhà quản lý trong doanh nghiệp.

Sau Chiến tranh Thế giới II, với các cải cách về ưu đãi thuế thu nhập, thay đổi trong cách thức tính thuế thu nhập liên quan đến lương hưu, thiết lập Quỹ hưu trí nghề nghiệp tách biệt với Quỹ hưu trí bắt buộc đã tạo nên sự khuyến khích trong việc mở rộng các chính sách hưu trí nghề nghiệp trên thế giới, nhất là đối với các quốc gia thuộc Tổ chức OECD Hầu hết người lao động đều xem các chương trình hưu trí nghề nghiệp như một mức thay thế hấp dẫn cho một mức lương cao trong quá trình lao động và người sử dụng lao động yêu thích chương trình này khi họ không phải trả thêm tiền lương cho người lao động cho đến khi người lao động nghỉ hưu Ở các nước phát triển, chương trình hưu trí nghề nghiệp tiếp tục phát triển mạnh mẽ từ hình thức tham gia tự nguyện do ý chí của chủ sử dụng lao động chuyển sang hình thức tham gia bắt buộc tại Úc, Thụy Sĩ, Thụy Điển… Tiếp đó, trong tiến trình lịch sử, chương trình hưu trí này tiến tới quá trình hoàn thiện như một cánh tay phải đắc lực hỗ trợ cho chế độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý trong hệ thống hưu trí đa trụ cột của mỗi quốc gia

Thứ hai, đối với chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân Trong quá trình vận hành chế độ hưu trí nghề nghiệp, một số quốc gia trên thế giới bắt đầu có những thử nghiệm mới đối với chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân khi nhu cầu thụ hưởng của người lao động ngày càng được nâng cao Đối với mỗi quốc gia, Quỹ hưu trí tiết kiệm cá nhân được thành lập trong những giai đoạn lịch sử khác nhau phụ thuộc vào từng nền chính trị, tình hình kinh tế và bối cảnh xã hội riêng biệt Chẳng hạn như: đối với các quốc gia phát triển ở khu vực Châu Âu và một số quốc gia phát triển ở Châu Phi thành lập chế độ này vào đầu những năm 1960, một số quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương thành lập vào những năm 1970 và 1980 Tuy nhiên, cho đến năm 1994, khi WB đưa ra mô hình hưu trí đa trụ cột với trụ cột hưu trí thứ ba “hưu trí tiết kiệm cá nhân” tiếp tục là biện pháp tài chính bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc thì chế độ này chính thức được thừa nhận trên thế giới Với sự vận hành chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân sẽ cung cấp đến người lao động một tỷ lệ thay thế hấp dẫn so với thu nhập trong thời kì lao động từ quá trình tích lũy lương hưu tiết kiệm dựa trên ý chí tự nguyện của mỗi cá nhân Cùng với chế độ hưu trí nghề nghiệp thì chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân như một cánh tay trái đắc lực hỗ trợ, bổ sung hiệu quả cho những rủi ro tài chính của chế độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý

1.1.4.2/ Lịch sử hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam

Luật BHXH đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006, kế thừa quy định của Bộ luật Lao động 1994 về chế độ hưu trí bắt buộc và đồng thời mở rộng, cụ thể hóa các quy định pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện; ngày 20/08/2013, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 115/2013/TT-BTC hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện áp dụng cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ triển khai bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Việt Nam; trước năm 2014, các quy định về bổ sung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung chủ yếu thể hiện qua ý kiến đóng góp của các chuyên gia, Quốc hội chưa đưa vào Luật BHXH, nên về mặt pháp lý chế định này tồn tại bên lề hành lang pháp lý; tuy nhiên thực tế tại Việt Nam đã có một số doanh nghiệp nước ngoài như Nestlé Việt Nam, Dutch Lady Việt Nam, Unilever Việt Nam triển khai và áp dụng các chính sách trợ cấp hưu trí tương tự như chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm tạo cơ hội thu hút và giữ chân đội ngũ lao động có trình độ cao làm việc lâu dài.

Tháng 11/2012, Nghị quyết số 21-NQ/TW nêu rõ chủ trương của Đảng về việc mở rộng và đa dạng hóa các loại bảo hiểm xã hội phù hợp với nhu cầu của người dân, đồng thời thí điểm chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung Đến năm 2014, Luật Bảo hiểm Xã hội (BHXH) được sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hóa các nội dung này và tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

Quốc Hội đã thông qua bổ sung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung vào hệ thống BHXH BHXH Việt Nam mô tả bảo hiểm hưu trí bổ sung là một chính sách bảo hiểm xã hội mang tính tự nguyện, nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí trong hệ thống BHXH bắt buộc, với cơ chế hình thành quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Dự thảo nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật BHXH về chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung được giao Chính Phủ, cụ thể là Bộ LĐTB và XH phối hợp với các bộ, ngành liên quan để hoàn thiện khung pháp lý và triển khai thực hiện.

Bộ Tài Chính lấy ý kiến ban hành Dự kiến, chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được thực hiện theo lộ trình ba giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1 (2012–2015) hình thành khung pháp lý và tổ chức thí điểm đối với một số doanh nghiệp trong nước về bảo hiểm hưu trí bổ sung, còn các doanh nghiệp khác được khuyến khích tham gia dưới hình thức tự nguyện Đây được xem là nền tảng cho sự phát triển và mở rộng sau này của bảo hiểm hưu trí bổ sung trong nước, nhằm hoàn thiện chính sách và thúc đẩy sự tham gia của người lao động.

Giai đoạn 2 (từ năm 2015 đến năm 2020) nhấn mạnh công tác thực hiện thí điểm nhằm hoàn thiện khung pháp lý và mở rộng đối tượng tham gia thụ hưởng đối với loại hình chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung Qua quá trình thí điểm, khung pháp lý liên quan được bổ sung và hoàn thiện, đồng thời phạm vi tham gia của người lao động và các đối tượng liên quan được mở rộng để tiếp cận chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Giai đoạn 3 (sau năm 2020) tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện khung pháp lý cho chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung, đồng thời triển khai chuyển đổi mô hình từ tham gia tự nguyện sang bắt buộc nhằm tăng tính ổn định và tăng phạm vi tiếp cận của hệ thống bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Theo đánh giá từ quan điểm của tác giả, lộ trình thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung theo ba giai đoạn như đã nêu ở trên là đúng đắn và hợp lý, vì ba giai đoạn được thiết kế để đảm bảo sự suôn sẻ trong quá trình tham gia, tối ưu hóa quyền lợi hưu trí và dễ theo dõi tiến độ thực hiện Các lý do được trình bày sau đây sẽ làm rõ tính phù hợp và hiệu quả của lộ trình này đối với mục tiêu an toàn tài chính lâu dài cho người tham gia.

Hiện nay, hệ thống bảo hiểm hưu trí ở nước ta chủ yếu được xây dựng theo mô hình hưu trí đơn tầng, trong đó chế độ hưu trí từ BHXH bắt buộc đóng vai trò trụ cột và các chế độ hưu trí bổ sung đi kèm nhằm tăng cường quyền lợi và sự bền vững cho người lao động khi về già.

Luật BHXH năm 2014 xác định hai tầng hưu trí là hưu trí bắt buộc trong BHXH và hưu trí tự nguyện do bảo hiểm nhân thọ cung cấp, tuy khung pháp lý cho loại hưu trí tự nguyện chỉ được Bộ Tài chính xây dựng vào cuối năm 2013 nên cả hai tầng vẫn đang chịu áp lực tài chính và nguy cơ vỡ quỹ hưu trí trong tương lai Việt Nam cần xây dựng chế độ hưu trí bổ sung theo mô hình đa trụ cột do WB đề xuất (1994) và ILO (1999) để bảo đảm sự bền vững và tính toàn vẹn trong chi trả lương hưu cho người lao động Tuy nhiên, khi áp dụng chính sách hưu trí mới, cần cân nhắc nền chính trị, tình hình kinh tế và bối cảnh xã hội của nước ta, bởi mỗi khu vực và quốc gia có đặc thù khác nhau; một chính sách phù hợp ở nhiều nước có thể gặp khó khăn và rủi ro tại Việt Nam Trước khi thông qua Luật BHXH năm 2014, Đảng và Nhà nước đã triển khai thí điểm loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung ở một số doanh nghiệp từ 2012 đến 2015, và theo quan điểm tác giả, thí điểm này là bước đi đúng đắn để rút ra ưu nhược điểm thực tế, giúp các cơ quan BHXH và luật gia điều chỉnh quy định cho phù hợp với đời sống người dân Việt Nam, làm cho các văn bản như Luật BHXH và Nghị định hướng dẫn thi hành trở nên cụ thể, rõ ràng và hợp lòng dân.

Trong giai đoạn đầu triển khai khung hành lang pháp lý cho chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung, hình thức tham gia vẫn chỉ được xác định là tự nguyện Theo quan điểm của tác giả, lộ trình này là hợp lý bởi trong ba năm từ 2012 đến 2015 đã thực hiện thí điểm bảo hiểm hưu trí bổ sung tại một số doanh nghiệp nhất định.

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ

Thụy Sĩ đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số thụ hưởng hưu trí toàn cầu (GRI) theo báo cáo năm 2015 của Natixis Global Asset Management (NGAM) Cuộc khảo sát này đánh giá 20 chỉ số thông qua bốn chủ đề: phúc lợi vật chất, phúc lợi y tế, khả năng tài chính khi về hưu và chất lượng cuộc sống trong quá trình thụ hưởng Báo cáo cho thấy Thụy Sĩ giữ vị trí dẫn đầu ở tất cả bốn lĩnh vực với tổng điểm 82/100, trong đó chất lượng cuộc sống đạt 91%, phúc lợi vật chất 85%, phúc lợi y tế 83% và khả năng tài chính khi về hưu 70% Đứng sau Thụy Sĩ lần lượt là Na Uy, Úc, Iceland và Hà Lan Những kết quả này giải thích vì sao tác giả chọn Thụy Sĩ làm quốc gia hàng đầu ở châu Âu để nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm triển khai chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại khu vực.

Switzerland's pension system is built on a three-pillar model The first pillar is the universal state pension that provides a basic income to all residents; the second pillar consists of occupational retirement plans funded by employers and employees to help maintain living standards in retirement; and the third pillar comprises private saving retirement plans that individuals can use to supplement their retirement income.

Kế hoạch nghỉ hưu của những người lao động ở Thụy Sĩ được dựa trên nguyên tắc

Chỉ số hưu trí toàn cầu (GRI) là tập hợp 17 chỉ số được dùng như một công cụ so sánh mức thụ hưởng hưu trí giữa các quốc gia trên thế giới Quá trình so sánh này giúp đánh giá mức độ phù hợp của từng quốc gia trong việc đáp ứng kỳ vọng của người dân về mức lương hưu, nhu cầu thụ hưởng và tham vọng tài chính trong suốt quá trình nghỉ hưu.

Trong bài "An in-depth assessment of welfare in retirement around the world" của NGAM (2015), ba trụ cột hưu trí được xem như công cụ bảo vệ khỏi các rủi ro tài chính khi về già Tác giả tập trung phân tích các vấn đề cụ thể của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ, gồm hai chế độ chủ đạo là hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tư nhân, đồng thời xem xét cách vận hành, mức đóng góp và ảnh hưởng đến mức sống khi nghỉ hưu.

Trong hệ thống hưu trí đa trụ cột của Thụy Sĩ, hai trụ cột chính là hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân được coi là các biện pháp bảo hiểm hưu trí bổ sung, nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính phát sinh từ trụ cột hưu trí toàn dân.

1.2.1.1/ Chương trình hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ

OPI Law được Quốc Hội Thụy Sĩ thông qua năm 1982 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1985, mở ra và đi sâu vào đời sống người dân với các chính sách trợ cấp hưu trí nghề nghiệp Theo định nghĩa của Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999, hưu trí nghề nghiệp là chương trình được xây dựng để bổ sung cho những thiếu hụt ở trụ cột một, giúp người hưởng lương hưu duy trì mức sống thỏa đáng khi về già; bên cạnh lương hưu bổ sung, chương trình này còn hỗ trợ các khoản trợ cấp bổ sung khi gặp rủi ro như thương tật hoặc chết, được tính toán trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của từng cá nhân theo các công thức riêng Chương trình hưu trí nghề nghiệp là một phần của hệ thống BHXH Thụy Sĩ và được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ các số liệu: trung bình mỗi năm có khoảng 3,7 triệu người lao động tham gia thông qua khoảng 2.000 quỹ hưu trí của các tổ chức bảo hiểm, và gần một triệu người được hưởng lương hưu mỗi năm trên toàn đất nước Cùng với trụ cột hưu trí toàn dân, chương trình hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ dự kiến mang lại mức lương hưu khoảng 60% đến 70% mức thu nhập cuối cùng, giúp người nghỉ hưu duy trì các tiêu chuẩn sống quen thuộc.

19 Khoản 2 Điều 113 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999

Switzerland's current retirement system, including occupational pensions, provides stronger financial security in retirement and enhanced protection for workers and their families through benefits that cover disability or death during contribution When Swiss workers actively plan and participate in occupational pension schemes, they unlock greater funding opportunities for retirement and reduce financial risk over the long term This underscores the importance of proactive retirement planning within Switzerland's pension framework and highlights how the system supports workers as they age.

Đối tượng tham gia hưu trí nghề nghiệp ở Thụy Sĩ là bắt buộc đối với hầu hết người lao động đang làm việc tại nước này có thu nhập từ CHF 21,060 trở lên vào năm 2013; ngưỡng này đã được điều chỉnh tăng lên CHF 21,150 vào năm 2015, cho thấy xu hướng tăng của chương trình hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ.

Việc tham gia chương trình hưu trí nghề nghiệp không bắt buộc đối với một số nhóm người như lao động tự do, người lao động có hợp đồng dưới ba tháng, người lao động bị thương tật từ 70% trở lên và thành viên hộ gia đình kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp Việc tham gia hưu trí nghề nghiệp còn được áp dụng tự nguyện cho các đối tượng thuộc diện miễn tham gia chế độ hưu trí toàn dân, chủ yếu là người thất nghiệp; mặc dù được miễn tham gia hưu trí toàn dân, họ vẫn được bao phủ bởi hưu trí nghề nghiệp với điều kiện hưởng hạn chế hơn so với những người tham gia đầy đủ, nhằm bảo vệ người thất nghiệp trên đất nước Ở Thụy Sĩ, chương trình hưu trí nghề nghiệp nhằm chống rủi ro thương tật và cái chết trong quá trình đóng góp nhưng không tự động đảm bảo rủi ro tuổi già; thực tế cho thấy hầu hết người thất nghiệp muốn hưởng lợi ích từ hưu trí nghề nghiệp vẫn cần liên kết tham gia với chế độ hưu trí toàn dân.

Ở Thụy Sĩ, thời điểm bắt đầu tham gia hưu trí nghề nghiệp là khi người lao động tham gia quan hệ lao động, sớm nhất là 17 tuổi theo Luật lao động Liên bang Thụy Sĩ Tuy nhiên, từ 17 tuổi đến hết năm 24 tuổi, các khoản đóng góp của người lao động chỉ bao phủ rủi ro về thương tật và cái chết; bắt đầu khi người lao động đủ 25 tuổi, các đóng góp mới bao gồm cả chi phí liên quan đến hưu trí.

21 Điểm b, d Khoản 2 Điều 113 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999

Ở Thụy Sĩ, chương trình hưu trí nghề nghiệp được xem như một phần của hệ thống bảo hiểm xã hội và việc chấm dứt tham gia được xác định khi: (1) hết tuổi lao động theo luật, (2) nghỉ hưu sớm trong phạm vi cho phép của pháp luật, (3) thu nhập của người tham gia giảm xuống dưới ngưỡng CHF 21.150 Điểm đặc biệt là chương trình hưu trí nghề nghiệp có hình thức bảo hiểm hưu trí mở rộng tạm thời: khi người lao động kết thúc quan hệ với tổ chức quản lý quỹ, họ vẫn được bảo hiểm để đối phó với rủi ro thương tật và cái chết trong vòng một tháng bổ sung sau đó Nếu người lao động bắt đầu một quan hệ lao động mới trước khi tháng bổ sung kết thúc, tổ chức mới sẽ thay thế tổ chức cũ và chi trả các quyền lợi trong tháng bổ sung khi người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí nghề nghiệp theo quy định.

 Quỹ hưu trí nghề nghiệp

Quỹ hưu trí nghề nghiệp ở Thụy Sĩ chủ yếu hình thành từ sự đóng góp của người lao động, thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động, với mức đóng góp của hai bên được quy định bằng nhau Trong khi chế độ hưu trí toàn dân hoạt động theo nguyên tắc PAYG nhằm duy trì mức sống tối thiểu cho người về hưu, chương trình hưu trí nghề nghiệp áp dụng hình thức đóng góp xác định và nhận được ít hỗ trợ rủi ro từ Chính phủ so với chế độ hưu trí toàn dân Trong quá trình tham gia hưu trí nghề nghiệp, mức hưởng lương hưu bổ sung sẽ tương đương với mức đóng góp và thời gian đóng góp Đối với mức đóng cụ thể của từng nhóm lao động, Luật Bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ có các quy định chi tiết.

23 The Swiss Federal Social Insurance Office (Federal Department of Home Affairs), (2016),

“Overview of swiss social security”, p 34

24 65 tuổi đối với lao động nam và 64 tuổi đối với lao động nữ

25 Không sớm hơn 05 năm so với 65 tuổi đối với lao động nam và 64 tuổi đối với lao động nữ

26 OECD, (2008), “Complementary and Private Pensions throughout the World 2008”, OECD Publishing, Paris, p 431

Điều 113, Khoản 3 của Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999 quy định một mức đóng tối thiểu chung cho toàn Liên bang, và mức đóng này được áp dụng khác nhau cho từng độ tuổi lao động Cụ thể, mỗi nhóm tuổi lao động có một tỷ lệ đóng góp riêng, được thể hiện trong bảng phân loại “Độ tuổi lao động – Tỷ lệ đóng góp”, nhằm đảm bảo sự phù hợp của mức đóng với từng đối tượng người lao động.

Mức đóng của người lao động tham gia Quỹ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ phụ thuộc quy định của từng tổ chức quản lý quỹ mà người sử dụng lao động tham gia Các tổ chức này có quyền đặt mức đóng cao hơn mức đóng tối thiểu do luật định, nhưng không được thấp hơn mức đóng tối thiểu đã được Luật quy định Do đó, khi vận hành chế độ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ, các tổ chức quản lý quỹ thường thiết lập mức đóng vượt mức tối thiểu và đi kèm với các lợi ích bổ sung được cung cấp trong các gói dịch vụ bảo hiểm hưu trí.

Quỹ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ vận hành và được quản lý như sau:

Quỹ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ không chịu quản lý trực tiếp của Nhà nước và được vận hành chủ yếu bởi ba chủ thể: chính quyền ở từng bang nhằm hỗ trợ người dân, các công ty tư nhân như bảo hiểm-tài chính và các tổ chức nghề nghiệp liên quan, cùng sự tham gia của công đoàn tại doanh nghiệp Trong thực tế, hình thức quản lý chủ yếu thuộc về các tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm-hưu trí nghề nghiệp Theo Luật bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ, các tổ chức này muốn vận hành chương trình hưu trí nghề nghiệp phải đáp ứng ít nhất các điều kiện cơ bản, bao gồm đăng ký chính thức với Chính phủ về dịch vụ cung cấp và vận hành chương trình hưu trí.

28 Giuliano Bonoli, Dietmar Braun , Philipp Trein, (2014), “Pensions, health and long-term care in Switzerland ” [report], p 05

Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Đan Mạch

Sau đây là những phân tích về từng điểm khác biệt cụ thể của từng chế độ trợ cấp hưu trí khác nhau

1.2.2.1/ Trợ cấp hưu trí bổ sung ATP, SP

Trợ cấp hưu trí bổ sung ATP và SP hình thành tại Đan Mạch năm 1964 Tính đến năm 2006, hai chương trình này đã phủ sóng 85,5% dân số Đan Mạch ở độ tuổi 16–65 và 98% dân số trên 50 tuổi Mục đích của ATP và SP là bổ sung nguồn thu cho Quỹ hưu trí do Nhà nước quản lý và lấp đầy các khoảng trống lương hưu cho người lao động khi về hưu Đây là chương trình bắt buộc đối với người lao động làm công hưởng lương trong độ tuổi từ 16 đến 65, riêng với ATP bổ sung có điều kiện là người lao động làm việc trên 9 giờ mỗi tuần tại Đan Mạch Với người lao động tự do, ATP và SP chỉ áp dụng ở hình thức tự nguyện Mức lương hưu sẽ được chi trả khi người lao động bước sang tuổi 65 cho cả nam lẫn nữ Tuy nhiên, quy định này chỉ đến hết năm 2023; từ năm 2024 Đan Mạch áp dụng lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu, mỗi năm thêm 6 tháng cho đến năm 2027 đạt 67 tuổi.

43 Torben M Andersen, (2015), “The Danish pension system: Properties, outcomes and challenges”, p 12

44 OECD, (2008), “Pension Country Profile: Denmark” (Extract from the OECD Private Pensions

Ở Đan Mạch, đến năm 2027 trợ cấp hưu trí bổ sung ATP, SP sẽ bắt buộc và mở rộng cho người lao động ở độ tuổi từ 16 đến 67 tuổi có thời gian làm việc trên 9 giờ mỗi tuần, và chương trình này cũng áp dụng cho người lao động nghỉ hưu sớm ở tuổi 60 theo luật hiện hành; tuy nhiên từ năm 2019 Chính phủ áp dụng lộ trình nghỉ hưu sớm mới, mỗi năm tuổi nghỉ hưu sớm tăng thêm sáu tháng, nên từ 2019 đến 2022 tuổi nghỉ hưu sớm sẽ tăng từ 60 lên 62 tuổi, nhằm đến năm 2022 người lao động Đan Mạch phải đạt tối thiểu 62 tuổi để nhận được ATP, SP ở mức hưởng đầy đủ nhất khi nghỉ hưu sớm; quá trình tham gia ATP có sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, với người lao động đóng 1/3 và người sử dụng lao động đóng 2/3 các khoản đóng góp, các đóng góp của người lao động được tự động trừ vào thu nhập hàng tháng và mức hưởng được xác định dựa trên mức đóng cũng như thời gian đóng ngắn hạn hay dài hạn; một điểm đặc biệt khiến ATP khác biệt so với các loại bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ và các nước khác là các khoản đóng góp không phụ thuộc vào thu nhập hay độ tuổi mà phụ thuộc vào thời gian làm việc, và tùy thuộc từng loại hợp đồng lao động mà mức đóng ATP có sự đa dạng, mang lại nhiều lựa chọn cho các bên tham gia.

45 Ole Beier Sorensen, Chresten DenTCTKe, (2011), “Balancing the Security and Affordability of Funded Pension Schemes, The Denmark” [article], The European Parliament (EP), p 01

46 Ole Beier Sorensen, Chresten DenTCTKe, (2011), tlđd, p 01

48 Andersen, T.M., (2015), “Robustness of the Danish pension system”, CESifo DICE Report, p 25

Mức đóng hàng tháng dựa trên tiêu chí số giờ làm việc

Mức đóng người sử dụng lao động (tính theo đơn vị tiền tệ Đan Mạch là DKK)

Mức đóng người lao động (tính theo đơn vị tiền tệ Đan Mạch là DKK)

Dựa vào số giờ làm việc/tháng

Dựa vào số giờ làm việc/tuần

0 Đối với người lao động làm việc theo giờ 0,64/giờ 1,28/giờ

Đối với chương trình hưu trí SP, người lao động tự đóng góp 1% trên lương gộp và mức đóng này được xem như một phần đóng góp của người lao động Khi chi trả lương hưu từ SP, người lao động được nhận trợ cấp một lần nếu số dư trong tài khoản tiết kiệm hưu trí dưới 15.000 DKK, và được hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc theo từng giai đoạn khi số dư vượt trên 15.000 DKK Bên cạnh đó, trợ cấp hưu trí bổ sung ATP cho SP không có sự hỗ trợ tài chính từ Chính phủ như chế độ hưu trí toàn dân theo nguyên tắc PAYG, do mức thụ hưởng của mỗi người lao động bị ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan đến cá nhân và quỹ.

Lương gộp là tổng thu nhập mà người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận, được ghi rõ trên hợp đồng lao động, nhưng chưa trừ các khoản nghĩa vụ bắt buộc mà người lao động phải nộp như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thuế thu nhập cá nhân Đây là mức lương trước khi trừ các khoản khấu trừ bắt buộc, cho phép xác định rõ thu nhập thực nhận sau khi trừ các khoản nêu trên.

51 Nguyên tắc PAYG (Pay As You Go) là nguyên tắc tương trợ, nghĩa là lương hưu chi trả cho người nghỉ hưu ở thời điểm hiện tại được lấy từ đóng góp của nhiều cá nhân đang lao động và cả phần lợi nhuận đầu tư từ các khoản đóng góp vào quỹ lương hưu; do đó, với trợ cấp hưu trí bổ sung ATP, người lao động là chủ thể chịu rủi ro tài chính chính trong quá trình đóng góp, còn với chế độ hưu trí toàn dân thì Nhà nước là chủ thể chịu rủi ro tài chính đối với các khoản chi trả cho người lao động khi họ bước vào giai đoạn thụ hưởng; mặc dù vẫn tồn tại những rủi ro tài chính trong quá trình tham gia.

2006, trợ cấp hưu trí bổ sung ATP, SP đã bao phủ khoảng 2,5 triệu lao động và năm

2007 quỹ hưu trí ATP, SP trên cả nước đã có các tài sản tích lũy đạt 505,8 tỷ DKK (tương đương 99,9 tỷ USD) 52

1.2.2.2/ Chương trình hưu trí công cộng

Chế độ này được thành lập vào năm 1989 - 1991 tại Đan Mạch; 53 trong năm năm đầu tiên của quá trình triển khai, chế độ hưu trí này chỉ bao phủ khoảng 20% người lao động trong độ tuổi lao động từ 16 đến 65 tuổi trên thị trường lao động của Đan Mạch Tuy nhiên, tính đến năm 2012, chế độ hưu trí này đã mở rộng diện bao phủ khoảng 80% tổng số lao động trên thị trường lao động Đan Mạch và 93% lao động có thu nhập trong độ tuổi 30 đến 60 54 Đây là chế độ hưu trí được xây dựng dưới hình thức một mạng lưới các chính sách bảo hiểm hưu trí công cộng

Về đối tượng tham gia, chương trình hưu trí công cộng áp dụng đối với tất cả người lao động trong độ tuổi lao động luật định từ 16 tuổi đến 65 tuổi trong khu vực nhà nước và cả tư nhân Tuy nhiên, hình thức áp dụng không mang tính “bắt buộc” như chế độ bảo hiểm hưu trí toàn dân, trợ cấp hưu trí bổ sung ATP và cũng không mang tính “tự nguyện” như chương trình hưu trí tiết kiệm cá nhân, mà chế độ này có hình thức áp dụng “bán bắt buộc” Bởi lẽ, chương trình hưu trí công cộng không chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của Luật liên bang, việc vận hành chính sách cụ thể tùy thuộc sự điều chỉnh của từng tiểu bang và từng tổ chức tài chính – bảo hiểm ở tiểu bang đó Chế độ hưu trí này không đưa ra quy định bao phủ phạm vi tham gia của tất cả lao động đang làm việc tại Đan Mạch, mà phạm vi bao phủ rộng hay hẹp phụ thuộc ý chí tham gia của người sử dụng lao động, nghĩa là khi người sử dụng lao động đăng kí tham gia chương trình hưu trí công cộng thì người lao động làm việc tại

Ở Đan Mạch, khi người lao động gia nhập quan hệ lao động và muốn nhận mức lương hưu cao khi nghỉ hưu, họ cần thông báo nguyện vọng với người sử dụng lao động và hai bên phải thương lượng, thống nhất về các chính sách cụ thể của chương trình hưu trí Pháp luật Liên bang không bắt buộc sự tham gia của người sử dụng lao động, song có quy định ràng buộc khi có yêu cầu tham gia của người lao động, buộc người sử dụng lao động tham gia và tạo điều kiện cho quá trình đóng góp của người lao động vào chương trình hưu trí công cộng Vì vậy, chương trình hưu trí ở Đan Mạch vận hành ở dạng tham gia “bán bắt buộc” Mặc dù về mặt pháp lý chương trình hưu trí công cộng gần như mang tính tự nguyện và phụ thuộc ý chí tham gia của hai bên, nhưng trên thực tế nó lại rất phổ biến trong hợp đồng lao động của nhiều doanh nghiệp và được coi là một yếu tố bổ sung tài chính quan trọng cho hệ thống bảo hiểm hưu trí toàn dân Do đó, phần lớn người lao động khu vực tư nhân ở Đan Mạch được doanh nghiệp cung cấp chế độ hưu trí này ngay từ khi tuyển dụng.

Quỹ hưu trí công cộng hình thành từ quá trình đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, với sự tham gia được quy định thông qua thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp Mức lương hưu khi về hưu phụ thuộc vào mức đóng và thời gian đóng của từng cá nhân; mức đóng cụ thể do hai bên thỏa thuận quyết định và thường nằm trong khoảng 12%–18% trên lương gộp của người lao động, có thể cao hơn đối với nhóm có thu nhập cao trong xã hội Cụ thể, tỷ lệ đóng góp theo phần trăm trên thu nhập là 9% cho lao động phổ thông (blue-collar workers), 15% cho lao động trí óc (white-collar workers) và 12% cho lực lượng lao động thuộc khu vực nhà nước Trong khu vực tư nhân, quá trình đóng góp của người lao động đi kèm với trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động theo mức đóng như sau: người lao động đóng 1/3 các khoản đóng góp và chủ sử dụng lao động đóng 2/3 các khoản.

55 Ole Beier Sorensen, Chresten DenTCTKe, (2011), tlđd, p 02

Trong khu vực Nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chi trả đầy đủ các chi phí hỗ trợ cho lực lượng lao động thuộc khu vực này Quy định này thể hiện vai trò của nhà nước trong bảo đảm nguồn lực và điều kiện làm việc cho lực lượng lao động công vụ, nhằm duy trì hoạt động và ổn định của khu vực công.

Chính phủ Đan Mạch không tham gia chia sẻ rủi ro tài chính trong hệ thống hưu trí công cộng, nên các cá nhân đóng góp là chủ thể chịu rủi ro tài chính chủ yếu trong quan hệ bảo hiểm hưu trí Nội dung chính sách, hình thức tham gia và phương thức điều chỉnh giữa các doanh nghiệp còn khác nhau nhằm thu hút lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp thông qua các thỏa thuận cung cấp cho người lao động các khoản lợi ích hưu trí và các lợi ích bổ sung trong trường hợp rủi ro ốm đau, thương tật hoặc chết.

1.2.2.3/ Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân tại Đan Mạch Đây không phải là chương trình trợ cấp hưu trí thuộc hệ thống BHXH của Đan Mạch, chế độ này như một loại bảo hiểm nhân thọ chủ yếu được cung cấp bởi các tổ chức bảo hiểm và ngân hàng nhằm đảm bảo như một biện pháp tài chính hữu hiệu bổ sung cho chế độ hưu trí toàn dân do Nhà nước quản lý Chế độ này bao phủ tất cả người lao động Đan Mạch có nhu cầu thụ hưởng cao, quá trình tham gia dựa trên ý chí tự nguyện của mỗi cá nhân Hình thức tham gia thông qua việc tạo lập tài khoản tiết kiệm hưu trí cá nhân tại ba tổ chức sau đây: (1) ngân hàng, (2) chính tổ chức bảo hiểm mà người sử dụng lao động tham gia các chính sách trợ cấp hưu trí cho người lao động, (3) Tổ chức bảo hiểm khác ngoài phạm vi tham gia của người sử dụng lao động Tuy nhiên, các tổ chức bảo hiểm tại Đan Mạch luôn có sự gắn kết chặt chẽ đối với các ngân hàng trong vấn đề chi trả lương hưu bổ sung và các khoản lợi ích bổ sung khác trên tài khoản đóng góp của cá nhân Vấn đề chi trả lương hưu được thực hiện khi người lao động đến tuổi nghỉ hưu pháp luật quy định, việc chi trả có thể diễn ra sớm hoặc muộn nhưng không sớm hơn hoặc muộn hơn 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu luật định Hình thức chi trả theo hàng tháng, từng giai đoạn cụ thể hoặc chi trả một lần Các quy định cụ thể đều do các tổ chức bảo hiểm, các ngân hàng quy định, pháp luật không có quy định điều chỉnh trực tiếp vấn đề này Các trợ cấp về rủi ro thương tật, chết trong quá trình đóng góp các khoản lợi ích hưu trí tùy thuộc vào sự điều chỉnh của các tổ chức bảo hiểm cũng như tùy thuộc sự lựa chọn của cá nhân tham gia đối với từng gói dịch vụ lợi ích hưu trí

Đan Mạch, như các nước châu Âu và thế giới, có hệ thống hưu trí đa trụ cột với chế độ hưu trí bổ sung vẫn đối mặt nhiều rủi ro trong vận hành quỹ và chi trả lương hưu cho người lao động Trong khi hưu trí toàn dân chịu tác động của già hóa dân số, các chế độ hưu trí bổ sung lại chịu rủi ro kinh tế - tài chính, gồm rủi ro từ đầu tư khi tích lũy tài khoản, rủi ro lạm phát và rủi ro từ hệ thống ưu đãi thuế của Chính phủ Do đó, trước thách thức già hóa và mở rộng thị trường lao động, hệ thống hưu trí sẽ chịu áp lực và có thể dẫn tới mức lương hưu trong tương lai thấp hơn so với người về hưu hiện tại, làm gia tăng sự mất cân bằng giữa các thế hệ Để đối phó, Chính phủ đã thực hiện nhiều cải cách chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm đạt được mức tỷ lệ thay thế bình quân được dự báo tăng từ 74% năm 2002 lên 90% năm 2045, và đảm bảo phủ rộng hơn cho các nhóm lao động có thu nhập thấp và trung bình tại Đan Mạch.

Phân tích các vấn đề lý luận của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm làm rõ khái niệm và nội dung liên quan, đồng thời cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về cơ chế này Từ kinh nghiệm thực tiễn ở một số quốc gia, bài viết rút ra những bài học quý giá để triển khai và hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam Việc gắn kết và tìm kiếm sự tương đồng giữa mô hình hưu trí đa trụ cột của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới được nhấn mạnh, song mọi học hỏi từ nước ngoài đều đòi hỏi sự chọn lọc và điều chỉnh sao cho phù hợp với thách thức mới của nền kinh tế, bối cảnh xã hội trong nước, quan điểm của Đảng và Nhà nước và trên hết là lợi ích của nhân dân.

Tỷ lệ thay thế bình quân là tỷ số giữa tổng thu nhập sau thuế của một người lao động khi về hưu và tổng thu nhập sau thuế của người lao động đang trong quá trình lao động Chỉ số này cho thấy thu nhập khi nghỉ hưu so với thu nhập khi còn làm việc, là thước đo quan trọng để đánh giá sự ổn định tài chính hưu trí, lên kế hoạch tiết kiệm và đánh giá hiệu quả các chế độ bảo hiểm xã hội.

Thực trạng chế độ hưu trí bổ sung ở Việt Nam

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w