Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban hành đầu tiên từ năm 1989, từng bước được hoàn thiện qua 3 lần sửa đổi, bổ sung và cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đến năm 2012 Luậ
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
Khái niệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính được thể hiện qua quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó ghi nhận đầy đủ các hình thức xử phạt và biện pháp áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm vi phạm hành chính, bảo đảm tính pháp lý và minh bạch trong công tác xử lý.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là văn bản do người có thẩm quyền ban hành, áp dụng quy phạm pháp luật hành chính theo đúng trình tự và thủ tục được pháp luật quy định, và chứa đựng quyết định về việc áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
Thi hành được định nghĩa là làm cho một quyết định hay văn bản có hiệu lực trên thực tế sau khi đã được chính thức quyết định Vì vậy, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là quá trình thực thi các văn bản hành chính do người có thẩm quyền ban hành về việc áp dụng chế tài hành chính, nhằm đảm bảo văn bản ấy có hiệu lực và được thực thi trên thực tế.
Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là quá trình thực hiện các hành động mang tính thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm nội dung và hiệu lực của quyết định xử phạt được thực thi đầy đủ Theo Chương III, Phần II của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC), gồm ba nhóm nội dung: thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, nhằm bảo đảm cho quyết định xử phạt được thực thi một cách chặt chẽ và có hiệu lực.
Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính bao gồm thực hiện các hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt, tuân thủ các thủ tục thi hành do pháp luật quy định Mỗi hình thức xử phạt có thủ tục thi hành riêng, nhằm bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và hiệu quả trong quá trình thực hiện quyết định.
Trong Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC), hai thuật ngữ quan trọng được sử dụng là “thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” và “chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” Chương liên quan quy định rõ thẩm quyền và trình tự thi hành các quyết định xử phạt, cũng như nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức phải chấp hành quyết định khi có hiệu lực “Thi hành” nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cưỡng chế và bảo đảm quyết định được thực thi, trong khi “chấp hành” nhấn mạnh nghĩa vụ của người vi phạm tuân thủ và thực hiện các yêu cầu như nộp tiền phạt, khắc phục hậu quả và hợp tác với cơ quan thi hành Luật quy định các biện pháp bảo đảm thi hành, thời hạn thi hành và chế tài đối với vi phạm trong thi hành, nhằm tăng cường hiệu lực và tính răn đe Việc phân định hai khái niệm giúp nâng cao sự rõ ràng trong thực tiễn áp dụng và bảo vệ quyền lợi của người bị xử phạt, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về xử phạt hành chính.
Phần II của Luật, có tên gọi là “thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt”, ghi nhận rằng dù tiêu đề nhấn mạnh thi hành quyết định xử phạt, nội dung cụ thể tại các điều vẫn bao gồm cả chấp hành quyết định xử phạt; đề mục của phần này quy định trình tự xử phạt, thẩm quyền và thời hạn thi hành, đồng thời nêu rõ các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt nhằm bảo đảm quyết định được thực thi đầy đủ và có hiệu lực.
1 Đại học luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.315
Theo các điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (điều 66, 70, 71, 73, 74, 75, 76, 85, 86, 88), nội dung của luật này dùng thuật ngữ "chấp hành quyết định xử phạt" thay cho "thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính"; khái niệm "chấp hành quyết định xử phạt" được quy định tại điều 73 của Luật XLVPHC Đồng thời Nghị định 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính cũng gồm cả hai từ "thi hành" và "chấp hành".
Để xử phạt vi phạm hành chính, cần phân biệt “thi hành” và “chấp hành” Theo từ điển Tiếng Việt, “thi hành” là làm cho điều đã chính thức quyết định có hiệu lực, còn “chấp hành” là thực hiện những quy định trong chính sách, pháp luật, kế hoạch, mệnh lệnh, phán quyết; tuy nhiên cách giải thích này không thật phù hợp với khung khái niệm thực thi pháp luật mà giáo trình luật học hiện nay mô tả, theo đó thực hiện pháp luật có các hình thức: 1) tuân thủ pháp luật, 2) thi hành (hay chấp hành) pháp luật, 3) sử dụng (vận dụng) pháp luật, 4) áp dụng pháp luật Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội khi nói tới thực hiện quy phạm pháp luật hành chính chỉ xác định hai hình thức là chấp hành và áp dụng quy phạm pháp luật trong đó “chấp hành quy phạm pháp luật hành chính” là hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính, cụ thể là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính đòi hỏi phải thực hiện; giáo trình này không định nghĩa về thi hành quy phạm pháp luật.
Trong Giáo trình Luật Hành chính của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, khái niệm chấp hành quy phạm pháp luật hành chính được định nghĩa là việc cơ quan nhà nước, tổ chức, cán bộ, công chức và cá nhân làm theo đúng các yêu cầu được đề ra trong quy phạm pháp luật hành chính Vì vậy, các giáo trình nêu trên không dùng khái niệm thi hành mà chỉ nói đến khái niệm chấp hành Tuy vậy, cách giải thích của từ điển tiếng Việt cho phép phân biệt giữa thi hành quyết định xử phạt và chấp hành quyết định xử phạt: thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền, trong khi chấp hành quyết định xử phạt là việc tuân thủ và thực hiện các nghĩa vụ mà quyết định đó đặt ra đối với cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt.
“chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” là nghĩa vụ của người vi phạm
3 Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt, tr 196
4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, tr.450
5 Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.57
6 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật Hành chính, Nbx Đại học quốc gia
Điều 73 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) quy định rõ việc thi hành quyết định xử phạt: cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt, đồng thời người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc thực hiện quyết định và thông báo kết quả thi hành cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính của Bộ.
Ở lĩnh vực tư pháp, cá nhân có quyền nộp đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi tới cơ quan đã ra quyết định xử phạt; sau khi nhận được đơn, trong vòng 5 ngày, người ra quyết định xử phạt sẽ xem xét và quyết định hoãn thi hành quyết định xử phạt đó Bộ luật hình sự năm 2015 cũng nêu cơ sở tương tự, với Điều 380 quy định rằng người có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ bị xử lý, và Điều 379 quy định người có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Theo chương III, phần II của Luật XLVPHC, khái niệm “chấp hành” không được xem là bao hàm trong khái niệm “thi hành”; ngược lại, “thi hành” bao gồm cả “chấp hành” Nói cách khác, chấp hành là một thành phần của thi hành và khi áp dụng luật, cơ quan chức năng cần phân biệt rõ hai phạm trù này để xác định hành vi tuân thủ quy định và quá trình thực thi các biện pháp xử lý vi phạm.
Điều 71 của Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định quy trình "Chuyển quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành" Từ "thi hành" ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao hàm cả thi hành và chấp hành, đồng nghĩa với việc quyết định xử phạt sau khi ban hành sẽ được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để thực thi và giám sát tuân thủ, bảo đảm việc thực hiện quyết định diễn ra đầy đủ, kịp thời và đúng quy định.
Tóm lại, cần hiểu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp
Trong nghĩa rộng và đúng với tên gọi của chương III Luật XLVPHC về "thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt", thi hành là tổng thể các hoạt động của các chủ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ cuối cùng là bảo đảm quyết định xử phạt được thi hành đầy đủ và có hiệu lực Mặc dù chương III chỉ dùng thuật ngữ "thi hành" mà không có từ "chấp hành", nội dung của chương lại quy định cả các điều khoản về chấp hành và về thi hành; do đó hiểu thi hành theo nghĩa rộng bao gồm cả chấp hành và thi hành là phù hợp với quy định của chương III của Luật.
Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Luật XLVPHC không có một chương hay mục riêng quy định về biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tuy nhiên, dựa vào nội dung các biện pháp khác được quy định trong Luật XLVPHC có nội dung liên quan đến thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên cần thừa nhận các biện pháp liên quan được quy định trong luật.
- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề
7 Trung tâm từ điển (1997), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẳng, tr 62
8 Ngôn ngữ Việt Nam (2016), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẳng, tr 783
- Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất
- Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Phân tích cụ thể dưới đây cho thấy việc thừa nhận ba biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) đã nêu trên có căn cứ vững chắc Những biện pháp này hướng tới đảm bảo tính hiệu lực của quyết định, tăng cường thi hành và ngăn ngừa tái phạm, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Qua phân tích, có thể khẳng định tính hợp pháp, khả thi và phù hợp của từng biện pháp, từ đó cho thấy việc áp dụng ba biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC là hoàn toàn có căn cứ.
1.2.1 Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề
1.2.1.1 Bản chất pháp lý của biện pháp tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề
Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép và chứng chỉ hành nghề là một trong những biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, được quy định tại Điều 125 (Chương 1 phần thứ tư, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
Theo Luật xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong trường hợp need ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính Tuy nhiên, Điều 125 quy định riêng về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép và chứng chỉ hành nghề, và Luật quy định các quy tắc cụ thể liên quan đến việc tạm giữ những đối tượng này.
“Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây: a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật này; b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội; c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều này”
Như vậy, 2 trường hợp đầu (a và b) là trường hợp có tính chất ngăn chặn còn trường hợp thứ ba (c) là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vì theo khoản
Điều 125 quy định rằng khi chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các giấy tờ liên quan đến tang vật hoặc phương tiện như giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành hoặc các giấy tờ cần thiết khác cho đến khi người vi phạm chấp hành xong quyết định xử phạt Nếu người vi phạm không có những giấy tờ trên, cơ quan xử phạt có thể tạm giữ tang vật hoặc phương tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này Điều kiện áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề như là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt chỉ khi áp dụng hình thức phạt tiền; nói cách khác, việc tạm giữ giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành phương tiện hoặc các giấy tờ liên quan đến tang vật nhằm bảo đảm người bị xử phạt nộp tiền phạt, sau khi nộp tiền phạt xong mới được nhận lại giấy phép hoặc tang vật Xét từ góc độ thi hành quyết định xử phạt, đây là biện pháp tạm giữ để bảo đảm thi hành hình thức phạt tiền Lưu ý: trong các hình thức xử phạt được quy định đối với vi phạm ở nhiều lĩnh vực thì phạt tiền là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất.
Biện pháp này có loại trừ trường hợp: đối với phương tiện giao thông vi phạm hành chính bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có địa chỉ rõ ràng, có điều kiện bến bãi, bảo quản phương tiện hoặc khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ phương tiện vi phạm dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đồng thời, theo khoản 7 Điều 125 Luật, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì có thể bị tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt; việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian chờ ra quyết định không làm ảnh hưởng quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức đó.
10 Khoản10 Điều 125 Luật XLVPHC năm 2012
11 Khoản 7 Điều 125 Luật XLVPHC năm 2012
Việc tạm giữ giấy phép và chứng chỉ hành nghề được xem như một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng đối với các trường hợp vi phạm đủ điều kiện bị xử phạt hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Nói cách khác, sự tạm giữ được coi là biện pháp bảo đảm thi hành khi vi phạm có khả năng bị xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Tuy nhiên, quy định này mang tính chất tương đối vì thẩm quyền có thể hoặc không áp dụng biện pháp này Mặc dù được quy định như một biện pháp bảo đảm thi hành, các nghị định xử phạt trên các lĩnh vực cho thấy không có quy định cụ thể nào về việc áp dụng tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề như một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; chỉ có các quy định chung trong Luật Xử lý vi phạm hành chính Theo nghiên cứu của tác giả, vì tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề là biện pháp ngăn chặn được áp dụng ngay khi phát hiện vi phạm nên các nghị định không cần thiết phải quy định như một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Theo quy định được nêu, Luật hạn chế việc tạm giữ tang vật liên quan đến vi phạm, gồm cả phương tiện vi phạm, giấy phép và chứng chỉ hành nghề, vẫn cho phép tạm giữ những tang vật đủ điều kiện nếu chủ sở hữu có địa chỉ rõ ràng, có điều kiện bến bãi, bảo quản phương tiện và khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh; khi đáp ứng các điều kiện này, phương tiện vi phạm có thể được giữ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Mục tiêu của cơ chế này là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người vi phạm đồng thời giảm áp lực cho các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý, bảo quản tang vật và phương tiện.
1.2.1.2 Đặc trưng của biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề
Biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép và chứng chỉ hành nghề là một trong các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (XLVPHC), là biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng trước khi có quyết định xử phạt, được pháp luật XLVPHC quy định và do người có thẩm quyền áp dụng khi có căn cứ khẳng định hành vi vi phạm đang xảy ra; đối tượng bị áp dụng phải chịu hậu quả bất lợi và quá trình áp dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục hành chính do pháp luật hành chính quy định Đồng thời, nó có các dấu hiệu đặc trưng của biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt ở chỗ thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bị giới hạn cho đến khi người vi phạm thực hiện xong nghĩa vụ nộp phạt Việc quy định tạm giữ như một biện pháp bảo đảm thi hành nhằm giải quyết thực tế còn tồn tại nhiều trường hợp người vi phạm không nộp phạt.
Trong năm 2013, có tới 1.339 trường hợp vi phạm chưa chấp hành xử phạt theo quy định Tại Đội Xử lý vi phạm, Phòng CSGT đường bộ - đường sắt (Công an tỉnh), từ tháng 11-2012 đến 11/2013 có 155 hồ sơ vi phạm quá thời hiệu thực hiện quyết định xử phạt nhưng người vi phạm không đến xử lý; ngoài ra, còn có 147 trường hợp vi phạm đã nhận quyết định xử phạt nhưng không đến Kho bạc Nhà nước nộp tiền, chấp nhận bỏ bằng lái Tại Đội CSGT thành phố Hải Dương từ đầu năm 2013 đến tháng 11/2013 cũng tồn đọng khoảng 1.800 hồ sơ vi phạm chưa nhận quyết định xử lý hành chính và nộp phạt.
Trong hai thành phố lớn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) phải lưu giữ hàng chục ngàn giấy phép lái xe (GPLX) do người vi phạm không nộp phạt để nhận lại Riêng tại TP Hồ Chí Minh, năm 2016 có tới 34.130 GPLX bị tạm giữ; theo thông tin từ Đội CSGT An Lạc thuộc Phòng CSGT (PC67) Công an TP.Hồ Chí Minh, đội này đang lưu giữ khoảng 21.000 GPLX bị tạm giữ từ đầu năm 2017 đến nay CSGT Bình Triệu tạm giữ 10.000 GPLX, phần lớn là các lỗi vi phạm có mức phạt tiền cao, như đi vào đường cấm, đi ngược chiều và lái xe khi nồng độ cồn vượt mức cho phép Tương tự, tại các đơn vị CSGT thuộc PC67 Công an TP.Hồ Chí Minh cũng đang tạm giữ GPLX.
TP Hà Nội cũng đang “ôm” mỗi nơi hàng ngàn GPLX do người vi phạm bỏ lại 13
Biện pháp này được xem là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, được quy định bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 và Nghị định số 127/2013/NĐ-CP, trong đó Nghị định 45/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 127/2013/NĐ-CP Các quy định này nhằm tăng cường hiệu quả thi hành và bảo đảm người vi phạm chấp hành quyết định xử phạt đúng hạn.
12 Hoàng Biên (2013), http://khoahocphothong.com.vn/bo-bang-lai-xe-de-tron-nop-phat-29527.html, Bỏ bằng lái xe để trốn nộp phạt, truy cập ngày 27/5/2017
Theo bài viết đăng trên Tuổi Trẻ ngày 15/05/2017, hàng ngàn người vi phạm trốn đóng phạt và bỏ luôn bằng lái cho thấy một thực trạng nhức nhối trong công tác xử phạt vi phạm giao thông Tình trạng này khiến ngân sách nhà nước thất thu và làm giảm hiệu lực của các biện pháp răn đe, đồng thời gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quản lý giấy phép lái xe Bài báo nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp mạnh tay hơn, tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp trốn phạt hoặc bỏ bằng lái nhằm đảm bảo an toàn giao thông và tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật.