1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp bảo lĩnh nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự anh và kinh nghiệm cho việt nam”

90 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (15)
    • 1.1. Khái niệm biện pháp bảo lĩnh (15)
      • 1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam (15)
      • 1.1.2. Khái niệm biện pháp bảo lĩnh ở Anh (19)
    • 1.2. Đặc điểm của biện pháp bảo lĩnh (23)
      • 1.2.1. Đặc điểm của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam (23)
      • 1.2.2. Đặc điểm của biện pháp bảo lĩnh ở Anh (27)
    • 1.3. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh (29)
      • 1.3.1. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam (29)
      • 1.3.2. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh ở Anh (32)
    • Chương 2. SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ANH VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH (36)
      • 2.1. Căn cứ áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh (36)
        • 2.1.1. Căn cứ áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Việt Nam (36)
        • 2.1.2. Căn cứ áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Anh (42)
        • 2.1.3. Đánh giá quy định về căn cứ áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh của Việt Nam và Anh (46)
      • 2.2. Đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh và những trường hợp không được áp dụng (46)
        • 2.2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh và những trường hợp không được áp dụng theo quy định của Việt Nam (46)
        • 2.2.2. Đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh và những trường hợp không được áp dụng theo quy định của Anh (47)
        • 2.2.3. Đánh giá quy định về đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh và những trường hợp không được áp dụng của Việt Nam và Anh (48)
      • 2.3. Thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp bảo lĩnh (49)
        • 2.3.1. Thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Việt Nam (49)
        • 2.3.3. Đánh giá quy định về thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp bảo lĩnh của Việt Nam và Anh (55)
      • 2.4. Thủ tục áp dụng biện pháp bảo lĩnh (56)
        • 2.4.1. Thủ tục áp dụng biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Việt Nam (56)
        • 2.4.2. Thủ tục áp dụng biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Anh (57)
        • 2.4.3. Đánh giá quy định về thủ tục áp dụng biện pháp bảo lĩnh của Việt Nam và Anh (59)
      • 2.5. Chủ thể nhận bảo lĩnh và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể (62)
        • 2.5.1. Chủ thể nhận bảo lĩnh và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể theo quy định của Việt Nam (62)
        • 2.5.2. Chủ thể nhận bảo lĩnh và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể theo quy định của Anh (63)
        • 2.5.3. Đánh giá quy định về chủ thể nhận bảo lĩnh và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể của Việt Nam và Anh (65)
    • Chương 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA ANH (68)
      • 3.1. Những ưu điểm trong pháp luật tố tụng hình sự của Anh về biện pháp bảo lĩnh (68)
      • 3.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về biện pháp bảo lĩnh trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam (73)
  • KẾT LUẬN (35)

Nội dung

Vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp bảo lĩnh: Nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình, với m

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Khái niệm biện pháp bảo lĩnh

1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam

Biện pháp bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn (BPNC) được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 Vì vậy, để hiểu rõ bản chất pháp lý của biện pháp bảo lĩnh cần phải nghiên cứu biện pháp này trong mối liên hệ có tính hệ thống với các BPNC

Khái niệm biện pháp ngăn chặn ở Việt Nam

Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến nay BPNC trong tố tụng hình sự (TTHS) ở Việt Nam bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh Các BPNC này được BLTTHS năm 2015 quy định tại Chương VII từ Điều 109 đến Điều 125 Mặc dù các BPNC đã được pháp luật ghi nhận và quy định trong một chương riêng biệt nhưng vẫn chưa có một điều luật cụ thể nào quy định về khái niệm BPNC Do đó, trong khoa học pháp lý vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này

Theo Từ điển Luật học: “BPNC là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng do điều tra viên, kiểm sát viên và tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác minh sự thật về vụ án hoặc sẽ tiếp tục hoạt động phạm tội, cũng như để bảo vệ việc thi hành án” 1 Khái niệm này tuy thể hiện được bản chất của BPNC là biện pháp cưỡng chế nhưng lại chưa nêu đầy đủ những đối tượng có thể bị áp dụng BPNC

Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Hà nội đưa ra khái niệm BPNC như sau:

1 Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, tr.49

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, hay còn gọi là biện pháp cưỡng chế, được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật và có hành vi cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Khái niệm này đã trình bày được những đối tượng có thể bị áp dụng, mục đích và căn cứ của việc áp dụng BPNC nhưng lại chưa nêu được những chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC

Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật – Trường đại học Quốc gia Hà Nội thì: “BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn” 3 Khái niệm này đã đề cập đến những đối tượng có thể bị áp dụng, mục đích của việc áp dụng BPNC nhưng cũng không nêu lên những chủ thể có thẩm quyền áp dụng

Quan điểm của tác giả Bình Nguyên cho rằng:

“Những BPNC được áp dụng trong hoạt động TTHS là những biện pháp do pháp luật quy định được thực hiện khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn kẻ phạm tội đang có hành vi thực hiện tội phạm hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm, loại trừ việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và ngăn ngừa bị can, bị cáo, người bị kết án trốn tránh để đảm bảo cho việc thi hành án được thực hiện” 4

Khái niệm của tác giả Bình Nguyên đã thể hiện rất sát với nội dung Biện pháp ngăn chặn (BPNC), cho thấy BPNC chỉ được áp dụng khi xét thấy cần thiết để ngăn chặn tội phạm; khái niệm này cũng nêu lên được mục đích của việc áp dụng BPNC, nhưng chưa làm rõ chủ thể có thẩm quyền và những đối tượng có thể bị áp dụng Nhìn chung, các quan điểm khoa học đều chỉ ra các yếu tố cần có của một BPNC, gồm xác định thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng và mục đích áp dụng, được quy định trong BLTTHS; tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vấn đề chưa được làm rõ và cần sự bổ sung, đặc biệt là sự xác định cụ thể về thẩm quyền và thực tiễn áp dụng.

2 Trường đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật TTHS, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.197

3 Trường đại học Quốc Gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội

4 Bình Nguyên (1995), “Từ thực tiễn áp dụng những BPNC trong TTHS Việt Nam”, Kỷ yếu Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của TTHS Việt Nam, VKSND tối cao, tr.98-100 còn những điểm chưa đầy đủ, thiếu sót Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về BPNC như sau:

BPNC là một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định trong luật TTHS, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã, người bị kết án hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội mới, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Khái niệm biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam

Bảo lĩnh là một BPNC đã được quy định từ rất lâu trong pháp luật TTHS của nước ta, từ BLTTHS năm 1988 (Điều 75), BLTTHS năm 2003 (Điều 92) cho đến BLTTHS năm 2015 (Điều 121) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất về biện pháp bảo lĩnh, nên còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này

Tác giả Nguyễn Duy Thuân đưa ra khái niệm: “Bảo lĩnh là BPNC do CQĐT, VKS và tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo có người nhận bảo lĩnh” 5 Khái niệm này khá đơn giản, chỉ mới dừng lại ở mức giới thiệu biện pháp bảo lĩnh như là một BPNC trong TTHS, nêu được cơ quan có thẩm quyền áp dụng và đối tượng bị áp dụng của biện pháp bảo lĩnh nhưng chưa thể hiện được căn cứ áp dụng, hình thức và mục đích của việc áp dụng Vì vậy, không thể xem đây là một khái niệm đầy đủ của biện pháp bảo lĩnh

Tác giả Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: “Bảo lĩnh là BPNC trong TTHS được các CQTHTT áp dụng đối với bị can, bị cáo khi cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các CQTHTT” 6 Tác giả Nguyễn Ngọc Chí đã nêu được đối tượng áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền áp dụng, hình thức và mục đích áp dụng của biện pháp bảo lĩnh, nhưng lại chưa làm rõ căn cứ áp dụng, cũng như nhân thân của người bị áp dụng Quan điểm của tác giả cũng chưa đề cập đến cơ sở pháp lý của việc áp dụng

5 Nguyễn Duy Thuân (1999), Các BPNC trong TTHS - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công An

Nhân Dân, Hà Nội, tr.90

6 Trường đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.230

Theo quan điểm của tác giả Trần Quang Tiệp thì: “Bảo lĩnh là BPNC được các CQTHTT áp dụng đối với bị can, bị cáo có nhân thân, lai lịch rõ ràng, để thay thế biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các CQTHTT khi cần” 7 Quan điểm này đã nêu lên được đối tượng áp dụng của biện pháp bảo lĩnh là bị can, bị cáo và nhân thân của họ, khẳng định bảo lĩnh là BPNC để thay thế biện pháp tạm giam và đưa ra được mục đích của việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đề cập cụ thể về cơ sở pháp lý để CQTHTT có thẩm quyền áp dụng, chưa nêu rõ căn cứ và hình thức áp dụng biện pháp bảo lĩnh

Tác giả Nguyễn Mai Bộ cho rằng: “Bảo lĩnh là BPNC do CQĐT, VKS hoặc tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo thể hiện ở việc cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận trách nhiệm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của CQTHTT” 8 Mặc dù khái niệm này đã nêu được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, hình thức và mục đích áp dụng, nhưng lại chưa đưa ra căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh

Quan điểm của GS TS Võ Khánh Vinh cho rằng:

Đặc điểm của biện pháp bảo lĩnh

1.2.1 Đặc điểm của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, biện pháp bảo lĩnh là một trong số những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Luật TTHS, và do đó mang một số đặc điểm chung với các biện pháp ngăn chặn nói chung đồng thời có những đặc thù riêng Cụ thể, biện pháp bảo lĩnh nhằm bảo đảm sự có mặt của người bị can trước phiên tòa và ngăn ngừa bỏ trốn, đồng thời được thực thi thông qua hình thức bảo lãnh hoặc nộp tài sản đảm bảo, kèm theo các nghĩa vụ và biện pháp giám sát được quy định bởi pháp luật.

Thứ nhất, biện pháp bảo lĩnh có ảnh hưởng đến một số quyền nhất định của người bị áp dụng Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi CQTHTT áp dụng BPNC nhất định đối với một cá nhân thì sẽ hạn chế một số quyền cơ bản của họ như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại,… Đối với biện pháp bảo lĩnh cũng vậy, mặc dù chủ thể bị áp dụng vẫn được tại ngoại để điều tra nhưng bản thân họ cũng chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý nhất định Trước hết, bị can, bị cáo bắt buộc phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ mà họ đã cam đoan với CQTHTT Nếu như họ vi phạm các cam đoan này thì sẽ bị chuyển sang BPNC khác có tính nghiêm khắc hơn là tạm giam Bên cạnh đó, bị can, bị cáo sẽ chịu sự giám sát của những cá nhân hay cơ quan, tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh cho họ Trong trường hợp bị can, bị cáo vi phạm các cam đoan thì bên nhận bảo lĩnh cũng sẽ bị phạt tiền tùy theo tính chất, mức độ vi phạm Quy định này vừa góp phần tăng tính hiệu quả trong việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh, vừa mang tính chất ràng buộc đối với bên nhận bảo lĩnh, khiến cho họ phải cân nhắc thấu đáo trước khi quyết định xem có đứng ra nhận bảo lĩnh hay không

Thứ hai, biện pháp bảo lĩnh phải được áp dụng bởi CQTHTT và theo một trình tự luật định Vì biện pháp bảo lĩnh là một trong những biện pháp cưỡng chế trong TTHS nên việc quyết định áp dụng thuộc thẩm quyền của các CQTHTT, cụ thể là CQĐT, VKS, Tòa án, chứ không phải bất kỳ một cơ quan nhà nước nào khác Những cơ quan này chỉ được thực hiện trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình, nếu vượt quá phạm vi quyền hạn được giao cũng bị xử lý tùy theo mức độ vi phạm Mặc dù biện pháp bảo lĩnh tuy ít nghiêm khắc hơn so với các BPNC khác, nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ở một mức độ nhất định Nếu áp dụng không đúng pháp luật về trình tự, thủ tục sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, cũng như ảnh hưởng đến cả quá trình tiến hành tố tụng và cả người có thẩm quyền áp dụng Do đó, khi áp dụng biện pháp bảo lĩnh, CQTHTT phải thận trọng, khách quan, xem xét đầy đủ các điều kiện, căn cứ áp dụng, cũng như các tình tiết, tài liệu của mỗi vụ án cụ thể để có thể định hướng xử lý cho mỗi vụ án, mỗi bị can, bị cáo riêng biệt, từ đó quyết định áp dụng những biện pháp tố tụng cụ thể khác nhau một cách phù hợp

Thứ ba, mục đích của biện pháp bảo lĩnh là nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các CQTHTT Đây cũng là mục đích chung của các BPNC Để đạt được mục đích đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh và bị can, bị cáo được bảo lĩnh đều phải làm giấy cam đoan thực hiện một số nghĩa vụ bắt buộc Quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh đồng nghĩa với việc đưa bị can, bị cáo trở về với xã hội, không để họ bị cách ly khỏi gia đình và xã hội Nhờ có sự giúp đỡ, giám sát của gia đình, của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh sẽ tạo điều kiện cho họ hướng thiện, tái hòa nhập cộng đồng Đây là biện pháp có ý nghĩa nhất định trong TTHS thể hiện sự thu hút vai trò của quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng và chống tội phạm

Bên cạnh những đặc điểm của một BPNC nói chung, biện pháp bảo lĩnh cũng có một số đặc điểm riêng biệt như sau:

Biện pháp bảo lĩnh (BPNC) là một biện pháp ngăn chặn được sử dụng để thay thế biện pháp tạm giam, áp dụng trong những trường hợp chưa đến mức phải tạm giam nhưng vẫn cần ngăn chặn, phòng ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc gây cản trở trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Khi quyết định áp dụng BPNC, cơ quan có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi cũng như nhân thân của người bị áp dụng để bảo đảm sự đúng đắn, hợp lý và khách quan của vụ án BLTTHS năm 2015 nêu rõ nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì sẽ bị tạm giam theo quy định; đồng thời, trong trường hợp đang bị tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét cho họ áp dụng biện pháp bảo lĩnh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việc thực hiện BPNC thể hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Thứ hai, biện pháp bảo lĩnh là một BPNC có tính ít nghiêm khắc trong số các

BPNC của TTHS Nếu so với biện pháp tạm giam thì tính nghiêm khắc của biện pháp bảo lĩnh thấp hơn nhiều Khi bị tạm giam, đối tượng bị cách ly với thế giới bên ngoài, còn đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh thì không bị cách ly, tách ra khỏi đời sống trước đó của mình Họ vẫn sinh hoạt, làm việc bình thường, tự do đi

19 Điều 8 BLTTHS năm 2015 lại và chỉ phải chịu sự giám sát của những cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh cho họ, sao cho đảm bảo sự có mặt của họ mỗi khi được CQTHTT triệu tập, đảm bảo họ không vi phạm những điều kiện luật định cũng như không tiếp tục phạm tội mới Nếu so với biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì giữa biện pháp này và biện pháp bảo lĩnh có nhiều điểm pháp luật quy định gần giống nhau về mặt hình thức, chỉ khác ở chỗ đối với biện pháp đặt tiền thì chính bị can, bị cáo dùng tiền của mình để bảo đảm cho mình được tại ngoại, còn đối với biện pháp bảo lĩnh thì chỉ cần có bên thứ ba (cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức) đứng ra cam kết nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo được tại ngoại Trong mối tương quan với những BPNC khác như bắt, tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú thì biện pháp bảo lĩnh cũng ít nghiêm khắc hơn Chính vì vậy, có quan điểm cho rằng nếu như biện pháp tạm giam được xem là PBNC mang tính nghiêm khắc nhất thì ngược lại biện pháp bảo lĩnh lại là BPNC ít nghiêm khắc nhất 20 Có thể nói biện pháp bảo lĩnh là một BPNC tiến bộ của pháp luật TTHS Việt Nam, thể hiện được tính nhân đạo của Nhà nước ta, nhất là khi mà quyền con người, quyền công dân ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ cộng đồng quốc tế

Thứ ba, đối tượng bị áp dụng của biện pháp bảo lĩnh chỉ có thể là bị can, bị cáo Trong nhóm các BPNC, có biện pháp áp dụng được cho chủ thể này nhưng lại không áp dụng được cho chủ thể khác, và cũng có những biện pháp chỉ áp dụng được đối với một số chủ thể nhất định, trong đó có biện pháp bảo lĩnh Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì chỉ có bị can, bị cáo mới có thể trở thành đối tượng bị áp dụng của biện pháp bảo lĩnh Nghĩa là, biện pháp bảo lĩnh chỉ có thể được áp dụng đối với người bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Ngoài bị can, bị cáo ra thì không có bất kỳ đối tượng nào khác có thể bị áp dụng BPNC này

Thứ tư, bên cạnh người có thẩm quyền áp dụng và đối tượng bị áp dụng, bảo lĩnh còn có sự xuất hiện của bên thứ ba, đó là bên nhận bảo lĩnh Theo quy định của BLTTHS năm 2015, cá nhân hoặc tổ chức có thể đứng ra nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo Đây là đặc điểm nổi bật giúp phân biệt biện pháp bảo lĩnh với các biện pháp bảo đảm khác trong TTHS Sự xuất hiện của bên nhận bảo lĩnh nhằm giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của bị can, bị cáo và đồng thời ràng buộc trách nhiệm của chính cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh.

20 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2007), Hướng dẫn học tập môn TTHS, Nxb Thanh Niên,

Hồ Chí Minh, tr.41 ra nhận bảo lĩnh mà để cho bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị phạt tiền theo quy định của pháp luật Nghĩa vụ pháp lý của bên nhận bảo lĩnh sẽ phát sinh kể từ khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ phía CQTHTT Có thể nói sự tham gia của bên nhận bảo lĩnh là một trong những yếu tố quyết định việc CQTHTT có chấp nhận cho bị can, bị cáo được áp dụng bảo lĩnh hay không

1.2.2 Đặc điểm của biện pháp bảo lĩnh ở Anh

Nghiên cứu và đánh giá các quan điểm xoay quanh khái niệm bảo lĩnh ở Anh cho thấy biện pháp bảo lĩnh tại nước này có những đặc điểm nổi bật được hệ thống hóa từ nhiều quan điểm lý thuyết và thực tiễn Bài viết tổng hợp các quan điểm về khái niệm bảo lĩnh ở Anh, làm rõ cách thức áp dụng và những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấp bảo lĩnh Từ phân tích này có thể rút ra những đặc điểm chính của biện pháp bảo lĩnh ở Anh, bao gồm phạm vi áp dụng, điều kiện và ràng buộc liên quan, cũng như tác động của khung pháp lý và thực tiễn tố tụng đối với hiệu quả và sự công bằng của biện pháp này.

Thứ nhất, biện pháp bảo lĩnh không mang tính trừng phạt Đặc điểm đầu tiên và thường xuyên được nhấn mạnh, đó là bảo lĩnh ở Anh không phải là một biện pháp dùng để trừng phạt người vi phạm pháp luật, nên nó sẽ không được sử dụng như là một công cụ pháp lý để trừng phạt bị cáo Mục đích chính của việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh ở Anh trong suốt quá trình tố tụng trước khi một bị cáo bị kết tội bởi tòa án, đó là nhằm đảm bảo một người sẽ có mặt tại cơ quan tố tụng (sở cảnh sát hoặc tòa án) đúng thời hạn đã cam kết, chứ không phải nhằm trừng trị họ Trong trường hợp một người đã được nhận bảo lĩnh nhưng lại tiếp tục vi phạm những nghĩa vụ đã cam kết, thì họ có thể sẽ bị bắt giam trở lại Tuy nhiên, pháp luật vẫn luôn có những hướng xử lý để họ có thể được xem xét tiếp tục được nhận bảo lĩnh hay không bằng cách thay đổi những điều kiện kèm theo khi nhận bảo lĩnh

Thứ hai, bảo lĩnh là quyền lợi của công dân, chứ không phải nghĩa vụ Trong hệ thống thông luật nói chung và pháp luật TTHS Anh nói riêng,biện pháp bảo lĩnh thể hiện một quyền cơ bản và quan trọng của công dân, đó là quyền bảo lĩnh (right to bail) Quyền bảo lĩnh của công dân được pháp luật TTHS Anh công nhận lần đầu tiên trong Đạo luật về Bảo lĩnh năm 1976 và tiếp tục được khẳng định trong Đạo luật về Quyền con người năm 1998 (Human Right Act 1998) Quy định này cũng đi đúng với tinh thần được thể hiện trong Công ước Châu Âu về Nhân quyền (European Convention on Human Rights) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights) Theo đó, bất kỳ người nào cũng có quyền được nhận bảo lĩnh trong khi chờ xét xử Quyền bảo lĩnh sẽ không thể nào bị tước đi trong suốt tiến trình tố tụng nếu không có đủ những căn cứ thuyết phục và chắc chắn Cảnh sát và tòa án sẽ phải luôn xem xét cho phép một người được nhận bảo lĩnh, công việc này được đặt lên ưu tiên hàng đầu và chỉ có thể từ chối quyền bảo lĩnh khi có những lý do xác đáng

Thứ ba, mục đích chính của việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với một người là nhằm đảm bảo sự có mặt của họ tại sở cảnh sát hoặc tòa án theo đúng thời gian, địa điểm đã cam kết Một khi cảnh sát hoặc tòa án áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với một người, dù vô điều kiện hay có điều kiện kèm theo, thì đều nhằm mục đích đảm bảo sự có mặt của họ tại cơ quan tố tụng mà không phải tạm giam họ Bên cạnh đó, việc áp dụng bảo lĩnh đối với một người còn nhằm đến nhiều mục đích khác như: nhằm đảm bảo tiến trình tố tụng được diễn ra được thuận lợi, hạn chế khả năng bị can, bị cáo có những hành vi gây khó khăn cho nạn nhân hoặc nhân chứng,…

Thứ tư, biện pháp bảo lĩnh có thể được sử dụng ở bất cứ một giai đoạn nào của tiến trình tố tụng Pháp luật TTHS Anh cho phép cảnh sát áp dụng bảo lĩnh ngay tại nơi bắt người mà không cần giải đối tượng về đồn cảnh sát Cảnh sát cũng có thể cho người bị bắt nhận bảo lĩnh tại đồn cảnh sát, trước hoặc sau khi họ bị kết tội, miễn là đảm bảo được sự có mặt của họ sau đó tại cơ quan tố tụng như đã cam kết Ngoài ra, Tòa án còn có thể cho phép một bị cáo nhận bảo lĩnh ngay tại phiên tòa sơ thẩm, hoặc sau khi đã kết án Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi áp dụng biện pháp bảo lĩnh ở Anh là rất rộng, không chỉ giới hạn ở giai đoạn tiền xét xử mà có thể áp dụng xuyên suốt trong quá trình xét sử sở thẩm, tái thẩm hoặc trong các trường hợp kháng cáo, kháng nghị

Vị trí, vai trò, ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh

1.3.1 Vị trí, vai trò, ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam

- Vị trí của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam:

Biện pháp bảo lĩnh là một trong các BPNC được quy định trong Luật TTHS Việt Nam, là một bộ phận hợp thành quan trọng trong các biện pháp cưỡng chế TTHS Bên cạnh hai biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và đặt tiền để bảo đảm, biện pháp bảo lĩnh là một trong ba BPNC không giam giữ, có tính chất ít nghiêm khắc và không hạn chế quyền công dân, miễn là việc thực hiện những quyền đó không gây trở ngại cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

Mặc dù so với các BPNC khác, biện pháp bảo lĩnh có tính ít nghiêm khắc hơn, nhưng biện pháp bảo lĩnh vẫn giữ một vị trí quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Biện pháp bảo lĩnh quan trọng bởi lẽ đây được xem như là một biện pháp dùng để thay thế Các biện pháp như bắt, tạm giữ, tạm giam là những BPNC có tính chất nghiêm khắc và chỉ đặt ra khi thực sự cần thiết, còn nếu xét thấy không cần thiết thì CQĐT, VKS, Tòa án có thể thay đổi bằng những biện pháp ít nghiêm khắc hơn, trong đó có biện pháp bảo lĩnh

Biện pháp bảo lĩnh chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, bởi đây là biện pháp có tính nhân văn, nhân bản và dân chủ nhất, đồng thời bảo đảm quyền tự do của người bị tạm giữ và giữ vững nguyên tắc công bằng, minh bạch trong quá trình tố tụng.

Trong hệ thống các biện pháp bảo đảm trong TTHS, khi áp dụng biện pháp bảo lĩnh, quyền con người được đề cao nhất Đây là một biện pháp không giam giữ và không cách ly người bị áp dụng khỏi cuộc sống bình thường của họ Người bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh vẫn có thể sinh hoạt, học tập và lao động như thường lệ, và các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại của họ vẫn được bảo đảm Cuộc sống của bản thân người bị áp dụng và gia đình họ không hề bị xáo trộn hay thay đổi.

- Vai trò của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam:

Biện pháp bảo lĩnh có vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được Hiến pháp ghi nhận, thể hiện tính dân chủ và đề cao quyền con người Biện pháp bảo lĩnh có tác dụng ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm, mục đích chính của biện pháp bảo lĩnh là ngăn không cho bị can, bị cáo thực hiện những hành vi bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, hoặc gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, chẳng hạn như tiêu hủy, giả mạo chứng cứ Do đó, biện pháp bảo lĩnh đảm bảo cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các CQTHTT diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, thực hiện tốt các nhiệm vụ mà BLTTHS đề ra

Việc pháp luật trao cho người có thẩm quyền được áp dụng biện pháp bảo lĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi pháp luật của họ, đồng thời cũng là trách nhiệm của họ, phải đảm bảo sao cho việc áp dụng được thực hiện đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, phải xuất phát từ pháp luật và những đòi hỏi thực tiễn chứ không được áp dụng một cách tùy tiện, chủ quan Mọi trường hợp vi phạm trong việc áp dụng, gây hậu quả, thiệt hại cho công dân đều bị xử lý nghiêm minh Đối với quần chúng nhân dân, biện pháp bảo lĩnh có vai trò nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cũng như hiểu biết pháp luật, tạo điều kiện cho những người khác trong cộng đồng phát huy trách nhiệm cá nhân trong công tác phòng, chống tội phạm Bảo lĩnh là một BPNC ít nghiêm khắc hơn so với các BPNC khác, nên những đòi hỏi trong việc áp dụng biệt pháp này là rất chặt chẽ Theo đó, biện pháp bảo lĩnh thường chỉ được áp dụng đối với những bị can, bị cáo có nhân thân tốt, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi không cao Họ phải có ý thức trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình, tức là nhận thức được là có lỗi và mong muốn sửa chữa hành vi đó Đối với bên nhận bảo lĩnh, họ cũng phải đảm bảo một số điều kiện nhất định Nếu là cá nhân thì người đó phải có tư cách tốt, có uy tín để có thể giáo dục, giám sát người được bảo lĩnh; còn nếu là tổ chức thì cũng là dịp để tổ chức trao đổi về pháp luật, giáo dục, nhắc nhở chung cho tất cả các thành viên của mình về việc tuân thủ pháp luật và giám sát đối với người mà tổ chức đã đứng ra nhận bảo lĩnh, với niềm tin rằng họ vẫn là một thành viên tốt của tổ chức và là một công dân tốt của xã hội

- Ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh ở Việt Nam:

Biện pháp bảo lĩnh góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế, ý thức thượng tôn pháp luật Thể hiện thái độ không khoan nhượng của Nhà nước trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm Việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động của các CQTHTT được thuận lợi, đạt hiệu quả cao, bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp thừa nhận

Trong hệ thống các BPNC biện pháp bảo lĩnh là biện pháp thể hiện rõ nét nhất tư tưởng tiến bộ nhân đạo của Nhà nước ta Nguyên tắc nhân đạo là tư tưởng xuyên suốt trong tất cả các văn bản pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Tính nhân đạo của biện pháp bảo lĩnh thể hiện ở chỗ, tuy người bị áp dụng là người bị buộc tội nhưng vẫn tạo điều kiện cho họ được tại ngoại và về cơ bản họ vẫn được gần gũi người thân, vẫn được sinh hoạt như bình thường Biện pháp bảo lĩnh còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc khi không cách ly người bị áp dụng ra khỏi cuộc sống bình thường trước đó Mọi hoạt động làm ăn, sinh sống của họ không hề bị xáo trộn, không dẫn đến những hệ lụy khó lường vì những kỳ thị của dư luận xã hội

Việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp giảm gánh nặng cho Nhà nước trong việc giam giữ người và tiết kiệm một phần chi phí ăn ở cho họ – một khoản chi phí đáng kể mà Nhà nước và xã hội phải chi hàng năm cho các đối tượng bị tạm giam Là biện pháp thay thế biện pháp tạm giam, bảo lĩnh góp phần khắc phục tình trạng quá tải ở các trại tạm giam hiện nay, đồng thời tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt hơn chế độ kiểm tra, kiểm sát an toàn nơi giam giữ Việc áp dụng biện pháp này cũng giúp cho quá trình phân loại người bị tạm giam diễn ra thuận lợi hơn, và tiết kiệm được nhân lực, vật lực phục vụ cho công tác quản lý trại giam.

1.3.2 Vị trí, vai trò, ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh ở Anh

- Vị trí của biện pháp bảo lĩnh ở Anh:

Mặc dù pháp luật TTHS của Anh không quy định biện pháp bảo lĩnh nằm trong một hệ thống các BPNC như ở Việt Nam, nhưng biện pháp này vẫn giữ một vị trí hết sức quan trọng và to lớn trong hệ thống pháp luật tố tụng của quốc gia này

“Trong các phiên tòa hình sự thì những quyết định liên quan đến việc bảo lĩnh là một bước quan trọng trong tiến trình tố tụng” 21

Với một lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, hệ thống bảo lĩnh ở Anh được xem như là một hình mẫu điển hình cho nước trên thế giới tuân theo và học tập, đặc biệt là các quốc gia thuộc hệ thống thông luật như Mỹ, Úc, Canada, Kể từ khi được quy định tại Đạo luật về Bảo lĩnh năm 1976, hệ thống bảo lĩnh ở Anh đã nhanh chóng thể hiện được nhiều điểm tiến bộ và ưu việt của mình, tuy nhiên các quy định về bảo lĩnh vẫn luôn liên tục được cập nhật và sửa đổi ở các Đạo luật sau đó, chẳng hạn như Đạo luật về Cảnh sát và Chứng cứ Hình sự năm 1984, Đạo luật về Tư pháp và Trật tự Công cộng năm 1994 (Criminal Justice and Public Order Act

1994), Đạo luật về Tư pháp Hình sự năm 2003 (Criminal Justice Act 2003),… Thực tế, “tính đến thời điểm hiện tại, Vương quốc Anh cũng là một nước điển hình mà tỷ lệ áp dụng bảo lĩnh đứng hàng cao nhất thế giới” 22

- Vai trò của biện pháp bảo lĩnh ở Anh:

21 The Home Office (2017), Bail and refusal of bail by criminal courts and police officers [Dịch: Bảo lĩnh và việc từ chối bảo lĩnh của tòa án hình sự và cảnh sát], Anh, tr.5

22 Li Jiao (2009), Comparative Study Of Bail [Dịch: Nghiên cứu so sánh về bảo lĩnh], Central European Uni- versity, Hungary, tr.12

Biện pháp bảo lĩnh ở Anh được quy định một cách chính thức lần đầu tiên tại Đạo luật về Bảo lĩnh năm 1976 Mặc dù bảo lĩnh đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử tố tụng của Anh trước đó nhưng việc áp dụng biện pháp này chưa phát huy được hiệu quả và còn nhiều hạn chế vì còn thiếu một cơ sở pháp lý rõ ràng “Những nghiên cứu được tiến hành trong khoảng cuối thập niên 1960 và 1970 cho thấy có nhiều bị cáo vẫn bị giam cầm trong khi họ có thể được nhận bảo lĩnh một cách an toàn và việc giam giữ này đã gây ra những ảnh hưởng rất bất lợi cho bị cáo và vụ việc của họ” 23 Vì vậy, sự ra đời của Đạo luật năm 1976 có một vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hệ thống pháp luật ở Anh nói chung và thủ tục TTHS nói riêng Đạo luật đã hoàn thiện quy định của pháp luật về chế định bảo lĩnh, công nhận quyền bảo lĩnh như là một quyền cơ bản của tất cả mọi công dân, theo đó tòa án phải luôn xem xét cho một người được nhận bảo lĩnh trừ những trường hợp ngoại lệ

Bên cạnh đó, việc cảnh sát hay tòa án ra quyết định đồng ý cho một người nhận bảo lĩnh hay không còn có thể tạo ra những ảnh hưởng đáng kể đối với nạn nhân của vụ án đó nói riêng, và quần chúng nhân dân nói chung Tòa án và cảnh sát cần phải đưa ra được những căn cứ, thông tin chính xác để giải thích cho quyết định của mình, khi xem xét cho phép một người nhận bảo lĩnh hoặc từ chối quyền nhận bảo lĩnh của họ Điều này nhằm đảm bảo đạt được mục đích áp dụng của biện pháp bảo lĩnh, không gây ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng cũng như không đi ngược với ý kiến của quần chúng nhân dân, dư luận xã hội

- Ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh ở Anh:

SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ANH VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH

SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ANH

VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH

2.1 Căn cứ áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh

2.1.1 Căn cứ áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Việt Nam

2.1.1.1 Căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh theo quy định của Việt Nam

Mục đích của việc quy định căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh là nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh được dễ dàng, thuận lợi hơn Các căn cứ này phải được quy định trong BLTTHS, bởi nếu không có căn cứ do pháp luật quy định thì người có thẩm quyền không thể áp dụng biện pháp bảo lĩnh Ngoài ra, việc áp dụng các căn cứ này phải đáp ứng được mục đích của biện pháp bảo lĩnh Bảo lĩnh là một trong các BPNC trong TTHS của nước ta, nên để có thể áp dụng biện pháp bảo lĩnh, trước tiên các CQTHTT phải xem xét đến các căn cứ chung trong việc áp dụng BPNC được quy định tại khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm

“Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.”

Theo quy định tại khoản 1 thì có thể chia căn cứ áp dụng BPNC thành 4 căn cứ bao gồm:

- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm;

- Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử;

- Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội;

- Để bảo đảm thi hành án Đây là những căn cứ chung mà các CQTHTT có thể dựa vào để quyết định áp dụng BPNC phù hợp Tuy nhiên, không phải BPNC nào cũng sử dụng tất cả các căn cứ này Khi xem xét áp dụng biện pháp bảo lĩnh, các CQTHTT không xem xét căn cứ thứ nhất “để kịp thời ngăn chặn tội phạm” mà chỉ xem xét một trong ba căn cứ sau đó là khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội; để bảo đảm thi hành án Ở căn cứ thứ nhất, đối tượng tác động ở đây là những người đang chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội quả tang Họ đều là những người chưa bị khởi tố về hình sự, đồng nghĩa với việc họ không phải là bị can, bị cáo, trong khi đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh đã được khẳng định rõ chỉ có thể là bị can, bị cáo Do đó, khi xem xét căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh theo căn cứ chung để áp dụng BPNC thì sẽ không xét đến căn cứ thứ nhất này

Về căn cứ thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử Người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 25 nhưng đối tượng của biện pháp bảo lĩnh chỉ xét đến bị can, bị cáo Đối với căn cứ này, khi CQTHTT nhận thấy khả năng bị can, bị cáo có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì họ sẽ quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh Tuy nhiên, vấn đề ở đây là cụm từ “gây khó khăn” chưa được các nhà làm luật giải thích rõ ràng, dễ dẫn đến việc hiểu sai, tùy tiện theo ý chí chủ quan của CQTHTT, người tiến hành tố tụng hoặc gây ra sự lúng túng khi áp dụng Kinh nghiệm thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy trong tất cả các vụ án thì phần lớn bị can, bị cáo đều có tâm lý muốn che giấu, tránh né hoặc làm giảm bớt trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm tội do họ gây ra Vì thế, họ

25 Điểm đ Khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 luôn tìm cách gây cản trở CQTHTT bằng những hành vi như bỏ trốn, tạo hiện trường giả hoặc làm xáo trộn hiện trường nhằm đánh lạc hướng điều tra, tiêu hủy chứng cứ, tạo bằng chứng ngoại phạm, thông cung hoặc không có mặt theo yêu cầu triệu tập làm chậm tiến trình điều tra Khi xem xét căn cứ này, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần dựa vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của từng vụ án, dựa vào diễn tiến, nhân thân của bị can, bị cáo, các mối quan hệ và vị thế của họ trong xã hội, ý thức của họ về trách nhiệm đối với hành vi phạm tội do mình gây ra như thế nào, cũng như tiến độ chứng minh chứng cứ Việc nhận định đúng hướng đi cho từng vụ án góp phần quan trọng cho việc đánh giá khách quan toàn bộ tình tiết của vụ án, cũng như quyết định các biện pháp cần thiết để áp dụng, bảo đảm cho hoạt động tố tụng được tiến hành đúng đắn theo quy định pháp luật

Về căn cứ thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội Trong trường hợp những bị can, bị cáo có biểu hiện tiếp tục phạm tội thì việc áp dụng BPNC đối với họ là rất cần thiết Đây là căn cứ dự báo và có thể được xác định dựa trên hai phương diện, đó là nhân thân và hành vi của bị can, bị cáo Xét về nhân thân thì bị can, bị cáo là những đối tượng có nhân thân xấu (chẳng hạn như bị can, bị cáo là người có ý thức chống đối giai cấp sâu sắc, những phần tử thuộc diện lưu manh, côn đồ, hung hãn…), bị can, bị cáo là những đối tượng phạm tội đã có nhiều tiền án, tiền sự hoặc những đối tượng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp Xét về hành vi thì bị can, bị cáo có những hành vi như: đe dọa trả thù người tố giác, người bị hại, người làm chứng; có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện cho việc phạm tội và xét thấy khả năng thực hiện được những hành vi này

Về căn cứ thứ tư, để đảm bảo thi hành án Căn cứ này cũng vô cùng cần thiết và quan trọng, bởi lẽ các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sẽ trở nên vô nghĩa nếu như thi hành án không được thực hiện Một bản án được thi hành kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chính là mục đích mà TTHS hướng tới, góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương, pháp chế, phát huy tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội Việc thi hành bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan trực tiếp đến người bị kết án Sự có mặt của họ là rất cần thiết để cho quyết định của Tòa án có hiệu lực trên thực tế Nếu người bị kết án bỏ trốn, thì việc truy cứu TNHS cũng không còn ý nghĩa Do đó, để thi hành án được thực hiện một cách thuận lợi, CQTHTT mà cụ thể là tòa án cần phải áp dụng các BPNC xuyên suốt quá trình xét xử nhằm đảm bảo cho việc xét xử và cũng như thi hành án sau này

Các căn cứ được quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2015 chỉ là các căn cứ chung áp dụng cho tất cả các BPNC Bên cạnh các căn cứ chung này, mỗi BPNC cũng có cho riêng mình những căn cứ mang tính chất đặc thù vì mỗi biện pháp lại có tính chất và mức độ ngăn chặn khác nhau Đối với biện pháp bảo lĩnh, ngoài các căn cứ chung nêu trên thì việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh còn phải thỏa mãn các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015, cụ thể như sau:

“Bảo lĩnh là BPNC thay thế tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, CQĐT, VKS, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh” Theo đó, khi xem xét áp dụng biện pháp bảo lĩnh thì các CQTHTT còn phải dựa vào các căn cứ sau:

Thứ nhất, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là căn cứ để phân chia tội phạm thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng là căn cứ để quy định loại hình phạt, khung hình phạt

Việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thường được thể hiện ở những nội dung như:

- Xem xét, cân nhắc lỗi, mục đích, động cơ của người phạm tội; phương tiện phạm tội; thủ đoạn phạm tội; thời gian và địa điểm phạm tội; khách thể xâm hại…

- Xem xét, cân nhắc hậu quả do hành vi phạm tội gây ra bao gồm hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản và hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội)

- Nếu là có đồng phạm cần xem xét tính chất của đồng phạm có ít người hay có nhiều người tham gia; xem xét, cân nhắc vị trí, vai trò của từng người trong đồng phạm để cá thể hoá TNHS khi quyết định hình phạt

Trong xét xử các vụ phạm tội có tổ chức, cần xem xét tính chất của tổ chức: quy mô có ít người hay nhiều người tham gia, mức độ cấu kết chặt chẽ giữa các thành viên và vai trò của từng người trong quá trình thực hiện tội phạm để cá thể hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt Việc đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố này giúp xác định mức độ nguy hiểm của tổ chức và mức độ đóng góp của từng cá nhân, từ đó đảm bảo hình phạt phù hợp với mức độ phạm tội và nguyên tắc công bằng Do đó, quyết định hình phạt phải dựa trên đặc điểm của tổ chức và đóng góp của từng cá nhân.

Thứ hai, nhân thân của bị can, bị cáo

“Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc tính, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội, tính cá biệt, không lặp đi lặp lại của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS” 26 Tùy thuộc vào mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau mà khái niệm “nhân thân người phạm tội” được hiểu là nhân thân bị can (trong giai đoạn điều tra và truy tố), hoặc nhân thân bị cáo (trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự), hoặc nhân thân người bị kết án hoặc nhân thân phạm nhân (trong giai đoạn thi hành bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án)

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
2. Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật số: 15/1999/QH10) ngày 21 tháng 12 năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Khác
3. Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật số: 100/2015/QH13) ngày 27 tháng 11 năm 2015 Khác
4. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Luật số: 19/2003/QH11) ngày 26 tháng 11 năm 2003 Khác
5. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Luật số: 101/2015/QH13) ngày 27 tháng 11 năm 2015 Khác
6. Bộ luật dân sự năm 2015 (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm 2015 Khác
7. Bộ luật doanh nghiệp năm 2014 (Luật số 68/2014/QH13) ngày 26 tháng 11 năm 2014 Khác
9. Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) được ký kết vào ngày 04/11/1950, có hiệu lực từ ngày 03/9/1953 Khác
10. Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), được ký kết vào ngày 19/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 Khác
17. Đạo luật về Cảnh sát và Chứng cứ Hình sự năm 1984 (Police and Criminal Evi- dence Act 1984) Khác
18. Đạo luật về Tư pháp hình sự và Trật tự Công cộng năm 1994 (Criminal Justice and Public Order Act 1994) Khác
19. Đạo luật về Quyền con người năm 1998 (Human Right Act 1998) 20. Đạo luật về Tư pháp hình sự năm 2003 (Criminal Justice Act 2003) Khác
21. Đạo luật về Tư pháp và Vụ chết bất thường năm 2009 (Coroners and Justice Act 2009) Khác
22. Đạo luật về Cảnh sát và Tội phạm năm 2017 (The Policing and Crime Act 2017) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w