Trong số đó,Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương là một trong những hiệp định đặcbiệt quan trọng được đánh giá là đã mang đến nhiều tác động tích cực trong việc t
TỔNG QUAN VỀ HIỆ9P ĐỊNH ĐỐI TÁ́C TOÀN DIỆ9N VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁ́I BÌNH DƯƠNG
Khái quát chung về Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) 3
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của CPTPP
CPTPP (Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership) là từ viết tắt của Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Đây là hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa 11 nước, tiếp nối TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) sau khi Hoa Kỳ rút khỏi hiệp định này.
Hiệp định CPTPP đã có một cuộc hành trình dài, bắt đầu từ những buổi đàm phán của Hiệp định TPP giữa 12 nước thành viên (Singapore, Chile,New Zealand, Brunei, Hoa Kỳ, Australia, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bả̉n) từ tháng 3/2010 Trả̉i qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, đến ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP chính thức được ký kết và được các nước thành viên đặt nhiều kỳ vọng vào thời điểm triển khai (dự kiến là năm 2018) Tuy vậy, hiện thực chẳng phả̉i màu hồng khi mà vào tháng 1/2017, Hoa Kỳ tuyên bố rút khỏi TPP, khiến cho những điều kiện ban đầu giờ đây không còn phù hợp TPP lúc bấy giờ đã ở bờ sụp đổ.
Trước tình hình đó, 11 nước thành viên còn lại đã thống nhất tiếp tục Hiệp định, cùng nhau, họ đã điều chỉnh một số nội dung cốt lõi và cũng như thay đổi tên gọi cũ thành Hiệp định CPTPP Vào tháng 3/2018, Hiệp định CPTPP được chính thức ký kết tại Chile, đạt được cái kết viên mãn và chấm dứt chuyến hành trình 8 năm bấp bênh này.
Những cột mốc từ TPP đến CPTPP
- 3/6/2005, Singapore, Chile, New Zealand, Brunei là 4 thành viên sáng lập đã kí kết TPP, khi đó được là Hiệp định P4.
- 22/9/2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia P4 cũng như đề nghị đàm phán một Hiệp định mới (TPP).
+ Năm 2009, Việt Nam gia nhập TPP với tư cách thành viên quan sát đặc biệt.
- 10/2010, Malaysia tham gia Hiệp định TPP.
- 13-14/11/2010, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định TPP.
- 10/2012, Mexico, Canada gia nhập TPP.
- 3/2013, Nhật Bả̉n gia nhập TPP, nâng tổng số nước tham dự thành 12 thành viên.
- 4/2/2016, 12 nước tham dự Lễ ký kết để xác định lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, New Zealand.
- 30/1/2017, Hoa Kỳ chính thức rút khỏi Hiệp định TPP giống như điều Donald Trump đã công bố vào ngày 21/11/2016.
Vào tháng 11 năm 2017, trong khuôn khổ Tuần lễ Cấp cao APEC tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã đồng ý thay đổi nội dung cốt lõi và đổi tên hiệp định từ TPP thành CPTPP.
- 8/3/2018, các Bộ trưởng của 11 nước thành viên đã chính thức ký kết Hiệp định CPTPP tại thành phố Santiago, Chile.
1.1.2 Sự khác biệt giữa TPP và CPTPP
Hiệp định CPTPP kế thừa các cam kết cốt lõi của Hiệp định TPP và tiếp tục đẩy mạnh mở cửa thị trường, đồng thời cho phép các nước thành viên tạm hoãn thực thi khoảng 20 nghĩa vụ trong các lĩnh vực trọng yếu như sở hữu trí tuệ, đầu tư, mua sắm chính phủ và dịch vụ tài chính.
Về số lượng thành viên và dân số
Hiệp định TPP có 12 thành viên bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bả̉n Sau khi Mỹ chính thức rút khỏi TPP, 11 nước thành viên còn lại tiếp tục ký kết hiệp định CPTPP.
Về đóng góp vào thương mại và GDP toàn cầu
Giá trị đóng góp vào GDP và thương mại toàn cầu của Hiệp định TPP tương ứng là 40% và 30% trong khi giá trị đóng góp của Hiệp định CPTPP tương ứng là 15% và 15%.
Mục tiêu và vai trò của CPTPP
CPTPP là cơ hội xây dựng một khu vực thương mại tự do rộng lớn xuyên suốt châu Á - Thái Bình Dương, với thị trường lên tới khoảng 500 triệu người và đóng góp vào khoảng 13,5% GDP toàn cầu (khoảng 10.100 tỷ USD) Việc tham gia CPTPP giúp tối ưu thương mại bằng cách giảm đáng kể chi phí xuất nhập khẩu và rút ngắn thời gian giao dịch, mở ra những cơ hội tiếp cận thị trường và chuỗi cung ứng hiệu quả hơn Đối với các nước nhỏ, CPTPP là động lực để thúc đẩy nền kinh tế thị trường, thu hút đầu tư và tăng thu nhập cho người dân.
Bên cạnh đó, khi gia nhập TPP (tiền thân của CPTPP), một số quốc gia Đông Á đã mong muốn nương nhờ "kẻ mạnh" Hoa Kỳ, một phần là để thúc đẩy kinh tế và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ Mặt khác, xem Mỹ thành chỗ dựa để đối đầu với yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc - một vấn đề khá gay gắt ở thời điểm hiện tại.
Mỗi quốc gia thành viên khi gia nhập vào TPP hay CPTPP đều có những dự tính riêng biệt cho bả̉n thân, cũng như đạt được những lợi ích khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau.
Tổng quan nội dung chính của CPTPP
Hiệp định CPTPP bao gồm các văn kiện: Lời mở đầu, 7 điều khoả̉n và 1 phụ lục, quy định về mối quan hệ với Hiệp định giữa các nước thành viên, cũng như xử lý các vấn đề liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập CPTPP.
LỜI MỞ ĐẦU và 7 điều khoả̉n: Điều 1 Tích hợp Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Điều 2 Tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoả̉n Điều 3 Hiệu lực Điều 4 Rút khỏi Hiệp định Điều 5 Gia nhập Điều 6 Rà soát Hiệp định CPTPP Điều 7 Các lời văn xác thực
Trong thông báo từ Bộ Công Thương, nội dung chính của Hiệp định TPP vẫn giữ được các nội dung cơ bản từ Hiệp định cũ, gồm 30 chương và 9 phụ lục Tuy nhiên, các nước thành viên được phép tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ để cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ, trong đó có 11 nghĩa vụ liên quan đến Chương 18 về Sở hữu trí tuệ; 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương 15 về Mua sắm của Chính phủ; và 7 nghĩa vụ còn lại thuộc 7 chương liên quan đến Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng.
NỘI DUNG HIỆ9P ĐỊNH CPTPP
Chương I Các điều khoả̉n và định nghĩa chung
Chương 2 Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa Chương 3 Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ
Chương 5 Hả̉i quan và tạo thuận lợi thương mại Chương 6 Phòng vệ thương mại
Chương 7 Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật Chương 8 Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
Chương 10 Thương mại dịch vụ xuyên biên giới
Chương 11 Dịch vụ tài chính
Chương 12 Nhập cả̉nh tạm thời cho khách kinh doanh
Chương 14 Thương mại điện tử
Chương 15: Mua sắm chính phủ
Chương 16 Chính sách cạnh tranh
Chương 17 Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp độc quyền chỉ định
Chương 18 Sở hữu trí tuệ
Chương 21 Hợp tác và nâng cao năng lực
Chương 22 Tính cạnh tranh và thuận lợi hóa kinh doanh
Chương 24 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương 25.Hài hòa các quy định
Chương 26 Minh bạch hóa và chống tham nhũng
Chương 27 Các điều khoả̉n hành chính và thể chế
Chương 28 Giả̉i quyết tranh chấp
Chương 29 Các ngoại lệ và điều khoả̉n chung
Chương 30 Các điều khoả̉n cuối cùng
1.3.1 Các cam kết về thuế nhập khẩu
Các nước thành viên cam kết xóa bỏ gần như toàn bộ thuế nhập khẩu trong Biểu thuế quan nhập khẩu của nước mình Cụ thể, Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam đã áp dụng chung Biểu thuế quan nhập khẩu, trong khi Canada, Chile, Mexico và Nhật Bản duy trì Biểu thuế quan nhập khẩu riêng cho từng nước thành viên.
Các cam kết về xóa bỏ và cắt giả̉m thuế nhập khẩu trong CPTPP được chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay: Thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ ngay khi Hiệp định chính thức có hiệu lực
- Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình: Sau một khoả̉ng thời gian nhất định, thuế nhập khẩu sẽ được đưa về 0%
- Nhóm áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ): Thuế nhập khẩu chỉ xóa bỏ hoặc cắt giả̉m với một số lượng hàng hóa nhất định. Đối với những hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu Cụ thể:
Canada cam kết xóa bỏ 95% số dòng thuế
Nhật Bả̉n cam kết xóa bỏ 86% số dòng thuế ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và gần 90% dòng thuế sau 5 năm.
Peru cam kết xóa bỏ 80,7% số dòng thuế ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,4% số dòng thuế vào năm thứ 17 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Mexico cam kết xóa bỏ 77,2% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ xóa bỏ thuế đối với 98% số dòng thuế vào năm thứ 10 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Theo Hiệp định, Chile cam kết xóa bỏ 95,1% số dòng thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực và tới năm thứ tám kể từ ngày có hiệu lực sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,9% số dòng thuế.
New Zealand cam kết xóa bỏ 94,6% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 7 kể từ khi thực hiện Hiệp định.
Singapore cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả̉ các mặt hàng ngay từ lúc Hiệp định có hiệu lực.
Malaysia cam kết xóa bỏ 84,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ dần có lộ trình đối với các dòng thuế còn lại Vào năm thứ 11, số dòng thuế cam kết cắt giả̉m của Malaysia lên tới 99,9%.
Bru-nây cam kết xóa bỏ 92% số dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam (tương đương 7.639 dòng) ngay khi Hiệp định có hiệu lực, xóa bỏ tới 99,9% vào năm thứ 7 và xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu vào năm thứ 11.
1.3.2 Cam kết một số ngành hàng a Giày dép
Hiệp định Việt Nam – Canada mang lại lợi ích thuế quan đáng kể cho ngành giày dép khi 78% kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc được hưởng mức cắt giảm thuế tới 75% so với mức thuế suất hiện tại, giúp tăng tính cạnh tranh và mở rộng thị trường tại Canada.
Việt Nam sang Nhật Bả̉n: Thuế nhập khẩu sẽ được giả̉m dần đều và được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Mexico và Peru: Thuế sẽ được giả̉m dần đều và xóa bỏ vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. b Thủy sả̉n
Canada và Nhật Bả̉n sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực Các mặt hàng thủy sả̉n khác cũng nhận mức thuế quan khác nhau tùy theo loại Đặc biệt vào năm thứ 3 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, cá tra và cá basa sẽ được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu qua Mexico. c Gạo
Nhờ CPTPP, Việt Nam có thị trường xuất khẩu mới tại Mexico và có cơ hội tăng trưởng đáng kể ở Canada đối với mặt hàng gạo khi được hưởng 0% thuế ngay sau khi hiệp định có hiệu lực Tuy nhiên, khi xuất khẩu sang Nhật Bản, hàng hóa Việt Nam vẫn chịu sự điều chỉnh bởi hạn ngạch thuế quan theo cam kết của Nhật Bản trong WTO Các mặt hàng chủ lực như cafe, chè, hạt tiêu và hạt điều được hưởng lợi từ các cam kết này.
Ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, mặt hàng cà phê được hưởng thuế suất 0%; Mexico sẽ xóa bỏ thuế cho Robusta ở năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, trong khi Arabica và cà phê chế biến được giảm 50% so với mức thuế hiện hành ở năm thứ 5 và năm thứ 10 kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực Mục e Đồ gỗ cũng được nêu trong khuôn khổ thỏa thuận.
Xuất khẩu đồ gỗ nội ngoại thất sang các nước Canada, Peru sẽ được hưởng mức thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. f Về dệt may
Vị trí và vai trò của VN trong CPTPP
Theo nguyên chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (2018), việc gia nhập và phê chuẩn sớm Hiệp địnhCPTPP giúp Việt Nam khẳng định vị thế và vai trò của đất nước trong Đông Nam Á nói riêng cũng như châu Á - Thái Bình Dương nói chung Triển khai hiệp định CPTPP sẽ củng cố hợp tác với các đối tác quan trọng trong khu vực, góp phần tăng cường đan xen lợi ích, làm mối quan hệ giữa ViệtNam và các nước thành viên CPTPP càng trở nên sâu sắc, tốt đẹp Bên cạnh đó giúp ta nâng cao vị thế của quốc gia trong khối ASEAN và cả̉ quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ với đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng Sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc của Việt Nam trong những thập niên gần đây đã hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển kinh tế toàn khối ASEAN, nâng cao vị thế của ViệtNam như một cường quốc kinh tế mới trong khối.
Tình hình chung về hoạt động thương mại quốc tế VN
1.5.1 Trước khi hiệp định CPTPP có hiệu lực
Việt Nam trước khi CPTPP có hiệu lực cũng đã kí kết những Hiệp định về kinh tế khác như FTA, EVFTA, hay tham gia khối ASEAN, Tuy nhiên mức tăng trưởng của Việt Nam ở thời điểm đó vẫn chưa cao hay có sự phát triển đáng kể.
1.5.2 Sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực
Có thể nói CPTPP đã mang lại sự thay đổi đáng kể cho các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng Nhờ nỗ lực không ngừng của Nhà nước, Việt Nam đã đạt được các kết quả tích cực ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, kể cả trong giai đoạn dịch Covid-19 gây nhiều thách thức cho nền kinh tế toàn cầu CPTPP tiếp tục hỗ trợ mạnh mẽ hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước thành viên, mở cửa thị trường, hưởng ưu đãi thuế và tối ưu chuỗi cung ứng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng thương mại và thu hút đầu tư.
Cụ thể, năm 2019, Việt Nam xuất khẩu sang 6 nước thành viên thuộc CPTPP (Mexico, Canada,Australia, New Zealand, Singapore và Nhật Bả̉n) đạt 34,3 tỷ USD, tăng 8,1%, được ghi nhận từ nước nhập siêu sang xuất siêu Đặc biệt là ở Nhật Bả̉n, một gương mặt không mấy xa lạ với Việt
Nam nhờ Hiệp định FTA, đã trở thành thị trường xuất siêu khá lớn của Việt Nam, tăng 8,9% trong
Trong năm 2020, xuất khẩu sang 6 nước này duy trì ở mức gần tương đương năm 2019, đạt 34 tỷ USD; tỷ trọng trong tổng xuất khẩu năm 2018 là 12,02%, năm 2019 là 13% và năm 2020 là 12,02% Đến tháng 7 năm 2021, Việt Nam xuất siêu 59,08 triệu USD sang thị trường CPTPP, tăng 60,52% so với tháng 6/2021 và giảm 22,58% so với tháng 7/2020 Về xuất khẩu, giá trị hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này đạt 3,98 tỷ USD, tăng 0,79% so với tháng 6/2021 và tăng 21,64% so với tháng 7/2020.
Trong 4 năm đồng hành kể từ năm 2019, nhiều ghi nhận cho thấy VIệt Nam có thế mạnh trong việc xuất khẩu điện thoại, linh kiện, máy móc, thiết bị phụ tùng, hàng thủy sả̉n, Theo thống kê của VASEP, thị trường 10 nước thành viên CPTPP chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy hả̉i sả̉n nước ta, đặc biệt Nhật Bả̉n luôn giữ vị trí top 3 trung thành với thị trường xuất khẩu thủy hả̉i sả̉n Vừa qua trong bối cả̉nh dịch Covid gây khó dễ làm sụt giả̉m xuất khẩu vào năm 2020, thì việc xuất khẩu sang các thị trường lớn vẫn được ghi nhận với mức tăng trưởng dương như sang Australia tăng 9%, Peru tăng 8%, Canada và Chile tăng 14% và còn tiếp tục tăng vào năm 2021.
Mặt khác, một số ngành được kỳ vọng sẽ đạt được mức tăng trưởng cao khi tham gia CPTPP như dệt may, da giày, lại không đạt được thành công như mong đợi Xuất nhập khẩu dệt may của ViệtNam sang CPTPP (7/2021) đã thu hẹp từ 13,04% của 7 tháng đầu năm 2020 xuống còn 10,92%.Việc chưa đáp ứng được yêu cầu “từ sợi trở đi” đã khiến Việt Nam chưa thể hưởng được ưu đãi thuế quan cao nhất.
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN HIỆ9N TẠI TRONG QUAN HỆ9 KINH TẾ GIỮA VIỆ9T NAM VÀ CÁ́C NƯỚC THÀNH VIÊN CP-TPP
Mối quan hệ kinh tế giữa VN và các nước thành viên CP-TPP trước và sau khi hiệp định có hiệu lực
Toàn cầu hóa và hội nhập với kinh tế thế giới là một trong những bước đi tất yếu trong sự phát triển của một quốc gia, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Điều này tạo điều kiện cho Việt Nam không những giúp cho Việt Nam có thể giao lưu và học hỏi với các quốc gia về kinh tế - văn hóa – chính trị mà còn đem lại nhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế, tiếp cận được thị trường, thu hút được đầu tư nước ngoài, xóa bỏ được hàng rào thuế quan Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho việc toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam không thể không kể tới đó chính là tham gia vào TPP.
Sau khi tham gia CP-TPP, Việt Nam và các nước thành viên CP-TPP có mối quan hệ kinh tế ngày càng khởi sắc, với việc thiết lập quan hệ FTA ở một số nước thành viên, mở rộng thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng thế mạnh, cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu được đa dạng hóa và giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, đồng thời công nghệ và vốn đầu tư nước ngoài không ngừng được cải thiện Dưới đây là một số quốc gia thành viên CP-TPP được đánh giá có mối quan hệ tốt và là đối tác phát triển tiềm năng của Việt Nam, cụ thể:
Trả̉i qua hơn 49 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao và phát triển song phương với nhau, Canada đã trở thành một trong nước quốc gia được coi đối tác phát triển chiến lược hàng đầu của Việt Nam.Đặc biệt, sau khi CPTPP có hiệu lực đã giúp cả̉i thiện khả̉ năng tiếp cận cho hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Canada và Việt Nam, củng cố một bộ quy tắc chung, giả̉m chi phí đối với thương mại và giúp cho hoạt động đầu tư dễ dự đoán hơn Điều này làm cả̉i thiện lợi thế cạnh tranh của các sả̉n phẩm tại hai thị trường Và để có cái nhìn tổng quan hơn thì tình hình giá trị hàng hóa thương mại giữa Việt Nam và Canada trong giai đoạn 2018-2020 sau khi hiệp định CP-TPP có hiệu lực, sẽ được thể hiện qua đồ thị dưới đây:
Biểu đồ 1: Giá trị hàng hóa song phương giữa Vtệt Nam và Canada giai đoạn 2018 – 2020 Đơn vị tính: Tỷ đô Canada
Giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada
Theo đồ thị 1 từ nguồn dangcongsan.vn, giá trị hàng hóa giao dịch giữa Việt Nam và Canada trong giai đoạn 2018–2020 cho thấy xu hướng tăng trưởng liên tục theo từng năm Cụ thể, quy mô trao đổi song phương đã tăng từ năm 2018 sang 2019 và duy trì ở mức cao hơn vào năm 2020, phản ánh sự mở rộng của thương mại và sự hồi phục tích cực của mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Canada.
Năm 2019, giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada đạt 7,95 tỷ đô tăng 1,46 tỷ đô so với năm 2018, tương đương với tỷ lệ tăng 22,49%
Năm 2020, giá trị hàng hóa song vương giữa Việt Nam và Canada đạt 8,9 tỷ đô tăng 0,95 tỷ đô so với năm 2019 tương đương với tỷ lệ tăng 12,07%
Mặc dù năm 2020, giá trị gia tăng hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada tăng ít hơn tuy nhiên giá trị này vẫn đạt mức kỷ lục trong lịch sử, bất chấp ả̉nh hưởng tiểu cực của đại dịch Covid
19 đến thương mại toàn cầu Và nguyên nhân khiến cho giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada trong giai đoạn này ghi nhận được nhiều thành quả̉ đáng mong đợi như vậy chủ yếu là do tác động của hiệp định CP-TPP đã thiết lập khả̉ năng tiếp cận miễn thuế cho thương mại hàng hóa giữa Canada và Việt Nam; đồng thời, làm cho những sả̉n phẩm chất lượng cao của Canada có giá phả̉i chăng hơn đối với người tiêu dùng tại Việt Nam đồng thời sả̉n phẩm của Việt Nam lại được phân phối và thương mại rộng rãi, dễ dàng tiếp xúc với thị trường Canada hơn.
Hiệu lực của CP-TPP ngoài việc cả̉i thiện khả̉ năng tiếp cận cho hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Canada và Việt Nam, thì còn giúp cho Việt Nam thiết lập được quan hệ FTA, tận dụng và xóa bỏ được hàng rào thuế quan để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Điều đó được thể hiện qua việc, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Canada trong giai đoạn 2019-2021 có mức tăng trưởng đáng ghi nhận, và cao hơn rất nhiều so với các giai đoạn trước như sau:
Bảng 1: Kim nghạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada giai đoạn
2019-2021 Đơn vị tính: Tỷ USD
Giá CC Giá CC Giá CC
Chỉ tiêu trị (%) trị (%) trị (%) trị % trị %
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam)
Bả̉ng 1 cho thấy kim ngạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada giai đoạn 2019-
2021 ghi nhận sự gia tăng đáng kể về kim ngạch xuất khẩu của các ngành mạnh Việt Nam so với các năm trước Trong năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu của các ngành thế mạnh của Việt Nam đạt 4361 tỷ đồng, tăng 439 tỷ đồng so với năm 2019, tương đương mức tăng 11.19% Điều này cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng rõ rệt của các ngành hàng chủ lực trong giai đoạn này.
2021 đạt 5269 tỷ USD tăng 908 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 20.82% Cụ thể:
- Đối với các mặt hàng dệt, may:
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 793 tỷ USD tăng 61 tỷ USD so với năm 2019 tương đuơng với tỷ lệ tăng 8.33%
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 934 tỷ USD tăng 141 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 17.78%
- Đôí với ngành linh kiện, điện tử:
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 365 tỷ USD, tăng 20 tỷ USD so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 5,79%.
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 408 tỷ USD, tăng 43 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 11,78%
- Đối với các sả̉n phẩm từ hạt điều:
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 93 tỷ USD, tăng 5 tỷ USD so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 5,68%.
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 112 tỷ USD, tăng 19 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 20,43%
Như vậy có thể thấy rõ ràng trong giai đoạn 2019-2021, thì kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sang Canada những năm đầu tuy có tăng song chỉ tăng một cách đồng đều chưa có sự biến động quá lớn Nhưng sang đến 2021, kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng này lại có sự gia tăng đáng kể cả̉ về giá trị lẫn tỷ lệ Nguyên nhân chủ yếu là do, những năm đầu trong giai đoạn 2019-2021, là lúc CP-TPP bắt đầu có hiệu lực vì vậy tốc độ tăng trưởng chưa thực sự lớn Nhưng từ 2020-2021, nhờ vận dụng được những lợi thế từ hàng rào thuế quan từ FAT mà kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam gia tăng đáng kể.
Dù có sự gia tăng đáng kể từ lợi thế thiết lập FATCA của CP-TPP, tỷ lệ tận dụng ưu đãi CPTPP chung của xuất khẩu Việt Nam đối với các nước khác chỉ đạt 1,67%, trong khi với Canada lên tới 8% Điều này cho thấy quan hệ kinh tế–thương mại Việt Nam–Canada là một trong những mẫu hình thành công và hiệu quả nhất trong việc thực hiện CPTPP Thành quả này là nhờ nỗ lực vượt bậc của Chính phủ và doanh nghiệp hai nước trong thiết lập cơ chế, khai thác thị trường, tăng cường kết nối hợp tác kinh doanh và vượt qua các trở ngại cả khách quan lẫn chủ quan suốt những năm qua.
Một trong những nước thành viên nổi bật nhất của TPP không thể không kể tới Chile Dù là một quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ với khoả̉ng cách địa lý nửa bán cầu thế nhưng không vì thế mà cả̉n trở mối quan hệ ngoại giao toàn diện song phương được xây dựng lâu năm giữa Việt Nam và Chile.
Trước khi CP-TPP có hiệu lực, thì Chile là quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ đầu tiên xây dựng quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 25/03/1971 Trong gần 51 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Chile luôn đồng hành vào thực chiến kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam và đồng thời cũng là quốc gia duy nhất xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc đồng thời tham gia nghiên cứu các mạng lưới y tế để tiến hành cấp cứu và điều trị cho những nạn nhân chịu thiệt hại và ả̉nh hưởng do chiến tranh tại Việt Nam Bên cạnh công tác đồng hành thực chiến và hỗ trợ hậu qua hậu chiến tranh tại Việt Nam, Chile cũng là quốc gia duy nhất đưa ra quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng ý chấp thuận để Chính phủ Cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam đặt cơ đại diện tại Chile Chính những sự giúp đỡ và hợp tác này đã tạo nền tả̉ng xây dựng nên nhiều trang mới trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam và Chile Và mối quan hệ ngoại giao này lại một lần nữa được khẳng định, gắn bó và phát triển khi hai nước thông qua ký kết các hiệp định thương mại song phương trên nhiều lĩnh vực hợp tác toàn diện vào tháng 05/2007 Trong đó có lẽ phả̉i kể tới Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Chile được thiết lập và có hiệu lực vào ngày 01/01/2014.
Từ những bước đầu thiết lập thì sau ba năm triển khai FTA, thì đến năm 2017 tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam – Chile đạt 1,28 tỷ USD so với năm 2016 tức là tăng 24,3% và đồng thời cao gấp 2,5 lần thời cao so với 2016 thì kết quả̉ này cao gấp 2,5 lần thời điểm trước khi FTA có hiệu lực Kết quả̉ đáng ghi nhận này đã đưa Chile trở thành đối tháng thương mại lớn đứng thứ 4 của Việt Nam sau Brazil, Mexico và Argentina tại khu vực Mỹ Latinh.
Trong hai năm 2019 và 2020 vừa qua, mặc dù khu là một trong những quốc gia Nam Mỹ phả̉i chịu nhiều hậu quả̉ xấu do đại dịch Covid19 trên toàn thế giới, thì kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Chile vẫn đạt được những kết quả̉ đáng ghi nhận Và điều đó được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2: Tổng trao đổi thương mại hai chiều 2019 – 2020 giữa Việt Nam và Chile Đơn vị tính: Triệu USD
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam, 2021)
Biểu đồ cho thấy tổng trao đổi thương mại hai chiều năm 2020 đạt hơn 1285 triệu USD, tăng 57,5 triệu USD so với năm 2019 tương đương với tỷ lệ tăng 4,4% Cụ thể:
Những thuận lợi và khó khăn hiện tại
2.2.1.1 Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
CPTPP có hiệu lực sẽ là động lực lớn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam Theo tính toán của Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), CPTPP sẽ giúp GDP Việt Nam tăng thêm 1,7 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu tăng trên 4 tỷ USD, tương ứng tăng 1,32% và 4,04% Những kết quả này cho thấy CPTPP mở rộng thị trường và chuỗi cung ứng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam.
2035, bên cạnh góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, CPTPP còn đóng vai trò xóa bỏ dần chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, giảm thiểu các rào cản và những ảnh hưởng gây cản trở đến thương mại toàn cầu, từ đó thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế và thương mại trên thế giới.
2.2.1.2 Mở rộng thị trường xuất khẩu,
Hiệu lực của CP-TPP đã giúp cho Việt Nam mở rộng được thị trường xuất khẩu và tiếp cận được với nhiều thị trường mới trên thế giới do không phả̉i chịu quá nhiều áp lực từ hàng rào thuế quan. Các ngành hàng thế mạnh như nông sả̉n, thực phẩm, dệt may có nhiều cơ hội để chinh phục những thị trường khó tính, điều này làm cho mức tăng trưởng các nhành hàng được cả̉i thiện, giá trị kim ngạch xuất khẩu được gia tăng đáng kể Các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh sé được phát triển và nâng cao khả̉ năng cạnh tranh với các doanh nghiệp và sả̉n phẩm quốc tế.
Bên cạnh những lợi ích về xuất khẩu, CP-TPP hiệu lực còn giúp Việt Nam gia tăng kĩ thuật công nghệ, kĩ thuật và chất lượng gia công của hàng hóa xuất khẩu, thúc đẩy quá trình phát triển, học hỏi, tiếp thu đối với các công nghệ kĩ thuật sả̉n xuất hàng hóa cao như của Australia, Mehico, Nhật Bả̉n, Canada.
2.2.1.3 Góp phần cải cách thể chế tại Việt Nam
CP-TPP có hiệu lực sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, thương mại và đầu tư Để tận dụng hiệu quả quá trình hội nhập, Việt Nam cần đổi mới và cải cách thể chế, bảo đảm sự phù hợp với khuôn khổ kinh tế thế giới và mô hình tăng trưởng khi đất nước tham gia thị trường toàn cầu Mục tiêu là xây dựng một môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, thu hút sự tham gia của các đối tác đa quốc gia và nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập.
2.2.1.4 Góp phần giải quyết việc làm, giải quyết an sinh xã hội
CP-TPP có tác động giúp cho nền kinh tế được cả̉i thiện, chất lượng và số lượng hàng hóa, công việc nhiều bên cạnh đó việc các doanh nghiệp, công ty nước ngoài vào VIệt Nam đầu tư cũng ngày một nhiều lên đòi hỏi một lượng lớn nhân lực để phục vụ hoạt động sả̉n xuất, kinh doanh, thương mại Điều này sẽ góp phần giả̉i quyết việc làm cho một phần bộ phận lao động tại các địa phương của Việt Nam Thặng dư tư hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu cũng khiến cho thu nhập của người dân tăng lên, đời sống được cả̉i thiện từ đó góp phần xóa đói giả̉m nghèo, ổn dịnh để phát triển kinh tế xã hội.
2.2.1.5 Tạo ra lợi ích trong mua sắm công
CP-TPP hiệu lực sẽ giúp cho việc mở cửa thị trường mua sắm công trở nên minh bạch hơn, giúp cả̉i thiện điều kiện mua sắm công tại Việt Nam, đồng thời lấy đó làm chuẩn mực để lực chọn các nhà cùng cấp sả̉n phẩm và dịch vụ tốt nhất.
2.2.1.6 Là cơ sở tham chiếu để kí kết các Hiệp định thương mại tự do khác
Việc tham gia vào CP-TPP đã giúp cho Việt Nam thiết lập được mối quan hệ thương mại lâu dài với nhiều quốc gia lớn Điều này khiến cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được gia tăng, điều này khiến cho Việt Nam có thêm uy tín và nhiều cơ hội để kí kết các Hiệp định thương mại tự do khác trên thế giới nhằm phát triển một cách toàn diện.
2.2.1.7 Giảm những thiệt hai khi không phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác Đối với các mặt hàng May mặc, khi tham gia vào CP-TPP Việt Nam sẽ không phả̉i chịu sự phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc Bởi giá trị xuất khẩu từ các mặt hàng may mặc của Việt Nam sẽ được gia tăng và phân bổ đồng đều thêm sang các nước thành viên của CP-TPP, trong khi các nước cạnh tranh khác không tham gia vào CP-TPP sẽ chịu thiệt hại và phụ thuộc vào giao thương chuyển hướng của Trung Quốc. Đối với sả̉n phẩm thế mạnh là gạo: Việt Nam vẫn luôn phả̉i cạnh tranh với hai đối thủ mạnh là ThắiLan và Ấn Độ tron gnhiều năm qua Việc tham gia CP-TPP sẽ giúp Việt Nam không phả̉i cạnh tranh gay gắt với Thái Lan và Ấn Độ khi hai quốc gia này không tham gia TPP Điều này sẽ giúp Việt Nam mở rộng thêm được thị trường xuất khẩu gạo trang các nước thành viên của CP-TPP tạo cơ hội gia tăng kim ngạch xuất khẩu, quả̉ng bá sả̉n phẩm thế mạnh đồng thời tiếp cận thêm với nhiều đối tượng và thị trường tiềm năng mới
TPP không chỉ mang đến cơi hội về quan hệ FTA với các nước thành viên mà còn mang lại những khó khăn thách thức cho chính Việt Nam Thị trường thế giới rộng mở tuy nhiên nếu Việt Nam không chủ động tìm hiểu, thâm nhập, học hỏi và đổi mới công nghệ thì khó lòng thực hiện việc chiếm lĩnh thị trường Đặc biệt là khi sả̉n phẩm, dịch vụ của Việt Nam đã được cả̉i thiện tuy nhiên sức cạnh tranh so với các sả̉n phẩm, dịch vụ của các nước thành viên còn hạn chế, khả̉ năng đánh mất thị trường nội địa và bị đào thả̉i khỏi thị trường quốc tế tương đối cao.
Tham gia CPTPP đồng nghĩa với Việt Nam phải cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết, làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, khi nhiều nước thành viên cũng giảm thuế cho Việt Nam, tác động tiêu cực được dự báo không quá nghiêm trọng Trong bối cảnh thuế nhập khẩu giảm, Chính phủ Việt Nam đã xem xét và phê duyệt các biện pháp giữ lại thuế xuất khẩu đối với các nguồn thu lớn như dầu thô và khoáng sản nhằm tránh làm giảm thu ngân sách nhà nước.
Khi tham gia vào TPP, khó khăn còn đặt nặng lên vai của các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều. Thực tế cho thấy nguồn lực của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, trình độ và kĩ thuật của nhận lực còn chưua cao, công nghệ chưa thực sự tiên tiến, vốn và tư bả̉n không đủ mạnh Do đó khả̉ năng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam còn kém Điều này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam phả̉i có đủ năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời cũng phả̉i thích ứng với môi trường kinh doanh, thể chế chính trị,, điều kiện, thị hiếu, yêu cầu về chất lượng và cả̉ những thể chế khắc nghiệt của thị trường thế giới.