1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

79 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bài 1: Vật liệu, công nghệ chế tạo lưới cụ (0)
    • 1.1. Vật liệu xơ, sợi (3)
      • 1.1.1. Các đặc trưng chủ yếu của vật liệu xơ, sợi (3)
      • 1.1.2. Các loại xơ sợi thường dùng trong nghề cá (9)
    • 1.2. Dây lưới và dây thừng (11)
      • 1.2.1. Kết cấu dây (11)
      • 1.2.2. Các phương pháp biểu thị độ thô của dây (12)
      • 1.2.3. Các loại dây thường dùng trong nghề cá (14)
      • 1.2.4. Quy cách và kiểm thu (15)
    • 1.3. Lưới tấm, các đặc tính kỹ thuật của lưới tấm (16)
      • 1.3.1. Cấu tạo mắt lưới (16)
      • 1.3.2. Rút gọn tấm lưới (17)
      • 1.3.3. Tính khối lượng áo lưới (19)
      • 1.3.4. Quy cách và kiểm thu lưới tấm (19)
    • 1.4. Phao và chì (20)
      • 1.4.1. Lý luận tính sức nổi của phao, sức chìm của chì (20)
      • 1.4.2. Tính số lượng phao chì trang bị cho lưới (21)
      • 1.4.3. Các loại phao chì thường dùng trong nghề cá (22)
    • 1.5. Công nghệ lưới cụ (23)
      • 1.5.1. Đan lưới (23)
      • 1.5.2. Cắt lưới (24)
      • 1.5.3. Ghép lưới (25)
      • 1.5.4. Lắp ráp lưới (25)
      • 1.5.5. Tu sửa lưới (26)
    • 1.6. Bảo quản lưới cụ (28)
      • 1.6.1. Nguyên nhân chủ yếu làm hư hỏng lưới cụ (28)
      • 1.6.2. Biện pháp bảo quản lưới cụ (29)
  • Bài 2: Kỹ thuật đánh bắt (0)
    • 2.1. Lưới cụ đánh bắt cá trong ao hồ nhỏ (31)
      • 2.1.1. Nguyên lý và đối tượng đánh bắt (31)
      • 2.1.2. Cấu tạo (31)
      • 2.1.3. Kỹ thuật đánh bắt (32)
    • 2.2. Một số lưới cụ đánh bắt cá trong các mặt nước lớn nội địa (32)
      • 2.2.1. Lưới rê (32)
      • 2.2.2. Lưới úp hai lớp (38)
      • 2.2.3. Lưới rùng (39)
      • 2.2.4. Lưới liên hợp (42)
    • 2.3. Ngư cụ cố định (44)
      • 2.3.1. Lưới đăng (44)
      • 2.3.2. Đó đèn (46)
      • 2.2.3. Chài quăng (48)
  • Bài 3: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (0)
    • 3.1. Khái niệm (52)
      • 3.1.1. Khái niệm bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (52)
      • 3.1.2. Khái niệm phát triển nguồn lợi thuỷ sản (52)
      • 3.1.3. Mối quan hệ giữa bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (52)
    • 3.2. Nguồn lợi Thủy sản cá nước ngọt (52)
      • 3.2.1. Nguồn lợi thuỷ sản đồng bằng sông Hồng (52)
      • 3.2.2. Nguồn lợi thuỷ sản đồng bằng sông Cửu Long (54)
    • 3.3. Nguồn lợi cá biển Việt Nam (60)
      • 3.3.1. Vịnh Bắc Bộ (60)
      • 3.3.2. Nguồn lợi cá biển Trung Bộ (61)
      • 3.3.3. Nguồn lợi cá biển Đông Nam Bộ (62)
      • 3.3.4. Nguồn lợi cá biển Tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan) (63)
    • 3.4. Những hoạt động kinh tế của con người ảnh hưởng đến nguồn lợi Thủy sản (67)
      • 3.4.1. Khai thác quá mức và không hợp lý (67)
      • 3.4.2. Hoạt động du lịch không hợp lý (67)
      • 3.4.3. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động trên bờ (68)
    • 3.5. Biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (68)
      • 3.5.1. Bảo vệ môi trường sống các loài thuỷ sản (68)
      • 3.5.2. Quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (69)
      • 3.5.3. Khu vực cấm khai thác và khu vực cấm khai thác có thời hạn (72)
    • 3.6. Những định hướng về bảo vệ và quản lý nguồn lợi Thủy sản (73)
      • 3.6.1. Về chính sách, pháp luật (74)
      • 3.6.2. Tổ chức điều tra nguồn lợi thuỷ sản (75)
      • 3.6.3. Xây dựng và quản lý các khu vực bảo vệ (75)
      • 3.6.5. Tăng cường tiềm lực, đào tạo cán bộ (76)
      • 3.6.6. Nghiên cứu khoa học (77)
    • 3.7. Giới thiệu pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (78)

Nội dung

Thực ra thời điểm xác định độ biến dạng đàn hồi nhanh và chậm rất khó phân biệt, nghiên cứu độ biến dạng của xơ, sợi khi kéo dãn để biết được mức độ đàn hồi của vật liệu, nhằm chọn vật l

Vật liệu, công nghệ chế tạo lưới cụ

Vật liệu xơ, sợi

1.1.1 Các đặc trưng chủ yếu của vật liệu xơ, sợi:

Xơ sợi thành phần cơ bản để cấu tạo thành sợi, chỉ lưới Xơ sợi có các đặc trưng chủ yếu sau đây:

Ngậm ẩm ở xơ, sợi là khả năng hút và nhả nước của chúng, hai quá trình này diễn ra đồng thời và liên tục Vì vậy, sau một thời gian nhất định trong môi trường nhất định, xơ, sợi sẽ đạt trạng thái cân bằng động về ngậm ẩm: lượng nước xơ hút vào bằng lượng nước xơ nhả ra môi trường, tạo nên độ ẩm xác định cho xơ sợi.

Độ ẩm của xơ sợi là tỷ lệ phần trăm giữa lượng nước có trong xơ sợi và trọng lượng xơ sợi khi khô hoàn toàn Đại lượng này được xác định bằng công thức MC = (m_wet − m_dry) / m_dry × 100% hoặc MC = (lượng nước trong xơ sợi) / (trọng lượng xơ sợi khô) × 100% Trong đó m_wet là khối lượng xơ sợi có nước và m_dry là khối lượng xơ sợi sau khi khô.

Trong đó: WX - Độ ẩm xơ, sợi (%)

G - Khối lượng xơ lúc ẩm (g)

GK - Khối lượng xơ lúc khô (g)

Độ ẩm của xơ, sợi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và độ ẩm không khí Khi độ ẩm không khí vượt quá 80%, nhiệt độ môi trường giảm, làm tăng độ ẩm của xơ, sợi và tăng khả năng hấp thu nước Ngược lại, khi độ ẩm không khí dưới 80%, nhiệt độ môi trường tăng khiến độ ẩm của xơ, sợi giảm và khả năng hấp thu nước cũng giảm.

Để đánh giá độ hút ẩm của vật liệu xơ sợi và so sánh độ hút ẩm giữa các loại xơ sợi khác nhau, các điều kiện đo được thống nhất Độ hút ẩm của xơ sợi được đo trong những điều kiện này và được gọi là độ hút ẩm tiêu chuẩn (Wc) Độ hút ẩm tiêu chuẩn (Wc) được đo trong điều kiện sau: xơ, sợi được để trong phòng kín 24 giờ ở nhiệt độ 20±3 °C và độ ẩm không khí 65±5%.

Bảng 1 Giá trị độ ẩm tiêu chuẩn của một số loại xơ, sợi thường dùng trong nghề cá

Tên vật liệu Độ tiêu chuẩn (%) Tên vật liệu Độ tiêu chuẩn (%)

Độ ẩm xơ, sợi đóng vai trò quan trọng đối với tính chất của vật liệu: khi xơ sợi hút nước, đường kính tăng lên và đi kèm với sự toả nhiệt Việt Nam có khí hậu nhiệt đới với độ ẩm không khí cao khiến xơ sợi dễ bị ẩm, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển Vi sinh vật phá hoại xơ sợi, làm cho xơ bị mục nát nhanh chóng và từ đó làm giảm đáng kể độ bền của sản phẩm.

Mặt khác, độ ẩm và nhiệt độ không khí luôn biến đổi nên khối lượng xơ sợi tại các địa điểm và thời điểm khác nhau sẽ không đồng nhất, làm cho giao dịch mua bán vật liệu xơ sợi và các chế phẩm từ chúng gặp khó khăn Vì vậy, khi mua bán vật liệu xơ sợi hay các chế phẩm làm từ chúng, cần xác định độ ẩm tiêu chuẩn của vật liệu và từ đó tính ra khối lượng tiêu chuẩn theo công thức, nhằm đảm bảo tính chính xác và công bằng trong giao dịch và nâng cao độ tin cậy của thị trường vật liệu xơ sợi.

Trong đó: G, W - Khối lượng, độ ẩm thực tế

GC, WC - Khối lượng, độ ẩm tiêu chuẩn

1.1.1.2 Độ dài, độ nhỏ của xơ sợi:

Độ dài của xơ, sợi là khoảng cách giữa hai đầu của xơ ở trạng thái kéo căng Mỗi loại xơ có độ dài xác định, và độ dài này ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất của chế phẩm: xơ càng dài thì độ bền của chế phẩm càng cao, độ đồng đều càng lớn và năng suất máy gia công xơ sợi càng tăng.

Nếu cùng vật liệu và hình dáng (đường kính, chiều dài) xơ, sợi nào có độ dài lớn hơn thì sản phẩm của nó bền hơn

Độ thô của xơ, sợi (độ to nhỏ) không thể đo trực tiếp bằng đường kính tiết diện ngang do kích thước quá nhỏ Để biểu thị độ thô, người ta sử dụng các phương pháp đo lường xơ sợi, trong đó một cách phổ biến là biểu thị bằng số chi hay chi số (N).

Số chi biểu thị độ to nhỏ của xơ tự nhiên

Số chi xác định bằng tỉ số giữa chiều dài và khối lượng lượng xơ sợi:

Trong hệ quy ước này, L đại diện cho chiều dài của xơ và G đại diện cho khối lượng của xơ Để thuận lợi trong tính toán, quy ước chọn G bằng 1.000 g Ví dụ: N = 1 cho biết xơ có chiều dài 1.000 m và cân nặng 1.000 g; N = 5 cho biết xơ có chiều dài 5.000 m và cân nặng 1.000 g.

Nếu L, G tính bằng m, g thì chi số đó gọi là chi số quốc tế (Nm)

Nếu L, G tính bằng mã, bảng Anh thì chi số đó gọi là chi số Anh (Nc)

Mối quan hệ giữa Nm và Nc: Nm = 1,693Nc hay Nc= 0,591Nm b Biểu thị bằng số Denier(D):

Số Denier biểu thị độ nhỏ của sợi hóa học

Thường dùng ký hiệu: (chuẩn số) D Ví dụ: 210 D

Số Denier biểu thị bằng tỉ số giữa khối lượng trên chiều dài của 9000m xơ Hay là khối lượng tính bằng (g) của 9.000m xơ (sợi)

Ví dụ: 210 D nghĩa là 9.000m xơ, sợi nặng 210gam

D càng lớn sợi càng thô, ngược lại D càng nhỏ sợi càng thanh

Mối quan hệ giữa giữa D và N: D.Nm = 9.000 c Biểu thị bằng số Tex (T):

Số Tex biểu thị độ nhỏ của sợi hóa học

Số Tex biểu thị bằng tỉ số giữa khối lượng của sợi trên chiều dài của 1.000m sợi đó Hay Tex biểu thị bằng khối lượng của 1.000m sợi

Biểu diễn: Trị số của Tex rồi đến Tex 1Tex là trọng lượng 1 gam của 1.000m xơ, sợi Ví dụ: 29tex nghĩa là 1.000m xơ, sợi nặng 29gam

Mối quan hệ giữ T và Nm: T.Nm = 1000

Bảng 2: Mối quan hệ giữa N, D v à T N.Tex = 1.000 N.D = 9.000 1 D = 9 T T = 0,111 D

1.1.1.3 Những tính chất cơ học của xơ sợi: a Ý nghĩa:

Tính chất cơ học của xơ, sợi là những tính chất xuất hiện mới khi xơ sợi bị tác dụng của ngoại lực Dưới tác dụng của ngoại lực, xơ, sợi bị biến dạng và đến thời điểm nhất định sẽ bị phá huỷ Vì vậy, trong thực tế sử dụng cần phân biệt xơ sợi bị biến dạng như thế nào và phải biết trong điều kiện nào thì xơ sợi bị phá huỷ

Có như vậy mới đặt ra được tiêu chuẩn kỹ thuật cho ngư cụ và bảo đảm an toàn khi thao tác b Tính chất:

- Biến dạng của xơ, sợi khi kéo dãn:

+ Tính biến dạng của xơ, sợi khác với các loại vật liệu khác Xét mẫu xơ sợi có chiều dài ban đầu là L0, nếu ta tác dụng một lực theo chiều dọc trục xơ sợi sẽ giãn dài , đo chiều dài ta có giá trị L1 (lực tác dụng không lớn hơn lực đứt của xơ) Giá trị L1 lớn hay nhỏ phụ thuộc vào vật liệu xơ sợi, lực tác dụng lớn hay bé, thời gian tác dụng của lực nhanh hay chậm, trạng thái xơ sợi ướt hay khô Khi thôi lực tác dụng chiều dài xơ sợi thu nngắn lại và đo chiều dài ta được giá trị L2 Nếu để thêm một thời gian và đo lại chiều dài xơ sợi ta có giá trị L3 (L3 < L2), L3 là giá trị nhỏ nhất sau khi xơ sợi bị lực tác dụng và cũng không có khả năng hồi phục lại chiều dài ban đầu L0 Ta có khái niệm sau: Đại lượng: L 1 = L 1 -L 2 gọi là độ biến dạng đàn hồi nhanh Đại lượng: L2= L2-L3 gọi là độ biến dạng đàn hồi chậm Đại lượng: L3= L3-L0 gọi là độ biến dạng đàn hồi vĩnh cửu

Việc xác định thời điểm biến dạng đàn hồi nhanh hay chậm rất khó, vì vậy cần nghiên cứu độ biến dạng của xơ và sợi khi kéo dãn để đánh giá mức độ đàn hồi của vật liệu và chọn vật liệu phù hợp cho từng loại ngư cụ Trong quá trình đánh giá, khi vật liệu vượt quá giới hạn đàn hồi và xuất hiện biến dạng dẻo, ngư cụ sẽ mất giá trị sử dụng.

+ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến dạng xơ, sợi:

Tốc độ kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất dãn dài của cùng một loại xơ Khi tốc độ kéo dài thay đổi, đặc tính dãn dài của xơ cũng có sự biến đổi tương ứng Cụ thể, tốc độ kéo dài càng nhanh thì xơ càng dễ bị đứt, làm giảm độ bền và khả năng chịu kéo của sợi trong quá trình gia công và ứng dụng.

Độ ẩm và nhiệt độ tác động lên xơ theo từng loại khác nhau: xơ thực vật khi bị ẩm sẽ tăng cường độ, trong khi xơ nhân tạo khi bị ẩm sẽ giảm cường độ.

Biến dạng của xơ và sợi khi bị kéo đứt được thể hiện qua lực đứt (Pd), là tải trọng mà xơ chịu đựng ở thời điểm xảy ra đứt Đơn vị của Pd là Kilogram, phản ánh mức chịu kéo của từng loại vật liệu xơ, sợi Độ bền của xơ, sợi được đo bằng máy đo độ bền và cho biết khả năng chịu kéo của vật liệu Mỗi loại vật liệu xơ, sợi có độ bền đứt riêng xác định, ảnh hưởng đến thiết kế và ứng dụng trong các lĩnh vực dệt và composite.

- Biến dạng của xơ, sợi khi bị uốn:

Dây lưới và dây thừng

1.2.1 Kết cấu dây: a Hướng xoắn:

Trong quá trình xe xoắn xơ, sợi thành dây luôn xuất hiện các đường xoắn ở bên ngoài chế phẩm theo một hướng cố định được gọi là hướng xoắn Có hai loại hướng xoắn là hướng xoắn phải và hướng xoắn trái.

+ Hướng xoắn phải (kí hiệu là S) là hướng xoắn khi nhìn vào chế phẩm từ trên xuống, đường xoắn đi từ trái sang phải (hình 2a)

+ Hướng xoắn trái (kí hiệu là Z) là hướng xoắn khi nhìn vào chế phẩm từ trên xuống, đường xoắn đi từ phải sang trái (hình 2b)

Hình 2: Hướng xoắn của chỉ lưới

- Quy ước về cách ghi, đọc hướng xoắn bên số hiệu chỉ lưới:

+ Hướng xoắn viết về bên phải ở vị trí ngoài cùng là hướng xoắn bên ngoài của chỉ lưới

+ Hướng xoắn viết về bên trái ở vị trí trong cùng là hướng xoắn ban đầu của xơ xe thành sợi

+ Hướng xoắn viết ở giữa là hướng xoắn của các quá trình xe trung gian

+ Trường hợp bên cạnh số hiệu chỉ lưới chỉ ghi một ký hiệu hướng xoắn hiểu đó là hướng xoắn bên ngoài của chỉ lưới b Kết cấu dây:

Sợi được hình thành từ sự sắp xếp lại của các xơ và chỉ qua một lần xe thành, do đó sợi tự mở xoắn và không thể trực tiếp đan thành lưới được Sợi gồm ba loại chính: sợi thô (staple yarn), sợi nguyên (single yarn) và sợi con (folded yarn).

Sợi nguyên là sợi được tạo thành từ các xơ dài có chiều dài bằng nhau và được vặn một lần; sợi nguyên có chất lượng cao, nhẵn bóng nhưng phải trải qua quá trình chải kỹ Sợi đơn cũng được gọi là sợi nguyên, còn được gọi là sợi cơ bản hay sợi đơn vị Thường được dùng trong nghề cá.

Sợi thô có chất lượng kém hơn do các xơ ngắn chắp nối trong quá trình xe, khiến bề mặt sợi thô thô ráp và dễ lộ đầu xơ Vì đặc tính này, sợi thô ít được dùng trong ngành nghề cá.

- Sợi con: Do sợi thô, sợi nguyên xe cùng chiều xe hoặc do một số sợi đơn xe lại với nhau

Sợi đơn là sợi dài vô hạn, không có vòng xoắn, bề mặt trơn bóng và thường được gọi là sợi cước Do có kết cấu đặc biệt khác biệt so với các loại sợi khác, sợi đơn có thể được đan trực tiếp thành lưới (lưới rê), nên còn được gọi là dây lưới hoặc chỉ lưới.

Căn cứ vào mức độ xe xoắn người ta chia ra hai loại dây: Dây đơn và dây phức

Dây đơn là loại dây được sản xuất qua hai lần xe xoắn: lần đầu tập hợp nhiều xơ thành sợi thô, lần hai ghép các sợi thô thành dây hoàn chỉnh Quá trình này giúp dây đơn có độ bền ổn định và sự đồng nhất cao, nên loại dây này thường được dùng làm chỉ lưới và trong các ứng dụng yêu cầu chịu lực tốt.

Dây phức là loại dây được tạo thành từ ít nhất ba lần xe xoắn các sợi lại với nhau, tạo nên một cấu trúc bền chắc và linh hoạt Loại dây này thường được dùng làm dây diềng và các dây công tác khác, nhờ có khả năng chịu tải và độ bền kéo cao Cách xe xoắn mô tả quá trình ghép các sợi thành dây phức bằng cách xoắn chúng theo một chu trình nhất định để đạt được sự đồng đều và cứng chắc cần thiết cho các ứng dụng công nghiệp.

Nhiều xơ chắp nối xe xoắn để trở thành sợi thô và nhiều sợi thô xe xoắn thành sợi đơn và nhiều sợi đơn xe xoăn thành dây lưới

Trong quá trình xoắn dây, lần xoắn tiếp theo thường ngược chiều với lần xoắn trước, giúp cân bằng cấu trúc và tăng độ ổn định của sợi Tuy nhiên, ở một số giai đoạn cuộn trung gian, cũng có khi xuất hiện lần xoắn cùng chiều với lần xoắn trước nhằm làm cho dây mềm mại và linh hoạt hơn, từ đó cải thiện tính dẻo dai của dây.

1.2.2 Các phương pháp biểu thị độ thô của dây: a Dây lưới: Độ thô là chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng của dây lưới, độ thô của dây lưới có thể biểu diễn bằng diện tích mặt cắt ngang hoặc đường kính dây lưới Do dây lưới có cấu trúc đặc biệt, mặt ngoài dây lưới không đều nhau do các vòng xoắn không đều nhau Hơn nữa dây lưới là vật liệu mềm, có kích thước ngang nhỏ nên rất khó khăn để đo được chính xác các kích thước trên Để khắc phục những khó khăn đó có thể sử dụng đại lượng gián tiếp để biểu diễn độ thô Có ba phương pháp biểu diễn độ thô của dây lưới sau:

1 Biểu thị bằng phân số (N/n) Trong đó tử số là số chi, mẫu số là số lượng sợi

Ví dụ: 20/12; 210/4 x 3; 210/6… Đây là cách biểu thị phổ biến, thực tế thường hay viết dưới dạng PA 210N/4 x 3 Ý nghĩa của phương pháp biểu diễn này là giúp xác định các thông số kỹ thuật để đánh giá và so sánh độ thô của dây lưới Cụ thể, ký hiệu cho phép nhận diện các tham số như kích thước, số sợi và cấu trúc mắt lưới, từ đó hỗ trợ so sánh độ thô giữa các sản phẩm và lựa chọn dây lưới phù hợp với yêu cầu sử dụng.

- Chỉ số độ thô của sợi nguyên

- Số lượng sợi thô, sợi con có trong một dây lưới

- Hướng xoắn của chỉ (dây) lưới thành phẩm

2 Biểu thị bằng hệ Tex (HT = T x n) Trong đó: T là số Tex, n là số lượng sợi

3 Biểu thị bằng đường kính (d): Xác định đường kính dây lưới bằng cách đo trực tiếp Đo bằng thiết bị chuyên dùng: đây là phương pháp có độ chính xác cao

Thiết bị đo là dụng cụ quang học gồm kính lúp và thước đo chính xác để đo đường kính dây lưới, trong đó người ta căng dây ở độ căng nhất định và quan sát qua kính lúp để xác định đường kính dây lưới; phương pháp này thường được ứng dụng trong phòng thí nghiệm vì đòi hỏi dụng cụ đo và cách đo phức tạp Ngoài ra, đo bằng phương pháp thủ công bằng cách quấn dây quanh một vật tròn thành một số vòng (thường 10 hoặc 20 vòng) rồi đo chiều dài của các vòng quấn, tổng chiều dài này bằng tổng đường kính các vòng và từ đó tính đường kính dây lưới bằng các phép tính đơn giản; để tăng độ tin cậy, nên thực hiện nhiều lần đo và lấy giá trị trung bình của các phép đo đã thực hiện Đơn vị tính là mm và phương pháp này chỉ dùng với dây gai, dây đay hoặc dây có độ thô lớn b Dây thừng:

Vì độ thô của dây thừng tương đối lớn nên người ta có thể đo trực tiếp đường kính tiết diện ngang của dây bằng thước, và chỉ có một cách biểu thị độ thô của chúng bằng đường kính Φ, theo phương pháp thực hiện như đối với dây lưới, đơn vị tính là mm.

1.2.3 Các loại dây thường dùng trong nghề cá: a Yêu cầu chung:

- Dây có độ bền cao, mềm mại chịu ẩm tốt

- Nhẹ, ít ngấm nước, ít mục nát

- Tính ổn định cao, chịu được ma sát

Dây lưới bông có độ không đều thấp, tính kháng mục và phơi nắng cao hơn gai; rơi chìm chậm và độ dãn lớn, được dùng để đan các loại lưới, trừ lưới lê.

Dây lưới gai bền hơn bông, có độ dãn và độ săn chắc cao, rơi chìm nhanh Tuy nhiên, độ không đều lớn ở sợi, dây thô dễ mục và chịu ma sát kém Thường được dùng làm lưới giã, lưới rê, với độ thô từ 0,3–3 mm.

Lưới tấm, các đặc tính kỹ thuật của lưới tấm

Lưới tấm là các tấm lưới được đan hoặc dệt từ chỉ lưới thành dạng phẳng Từ những tấm lưới này, người ta cắt và ghép lại để tạo ra áo lưới hoàn chỉnh, phù hợp với các mẫu và kích thước mong muốn.

Mắt lưới là đơn vị nhỏ nhất của tấm lưới Mắt lưới có dạng hình thoi, gồm có cạnh mắt lưới và gút lưới (hình 3) a Cạnh mắt lưới:

Cạnh mắt lưới được ký hiệu là a, với kích thước mắt lưới (chiều dài mắt lưới) bằng 2a mm Đơn vị đo là mm Trong tấm lưới yêu cầu các cạnh mắt lưới bằng nhau để đảm bảo tính đồng nhất và chất lượng của sản phẩm.

Sự biến dạng thường gặp của cạnh và mắt lưới (hình 4)

Hình 4: Sự biến Dạng của mắt lưới b Gút lưới:

Gút lưới là điểm giới hạn của cạnh mắt lưới

Trong cấu trúc gút lưới, có hai dạng cơ bản là gút dẹt và gút chân ếch Mỗi dạng gút lưới cơ bản có các kiểu gút gồm gút đơn, gút kép và gút biến dạng, được mô tả và minh họa rõ trong hình 5.

Hình 5: Các kiểu gút lưới

- Gút dẹp đơn (5a): ưu điểm chịu lực dọc tốt, ít tốn chỉ lưới, gút nhỏ độ mài mòn ít, lưới mềm Nhược điểm: chịu lực ngang kém

Gút chân ếch đơn (5b) có kích thước nhỏ, ít tốn chỉ và chịu lực ngang tốt hơn gút dẹp Nhược điểm là gút tròn, thể tích lớn, nên dễ bị mài mòn khi thao tác.

- Gút chân ếch kép (5c): chịu lực ngang tốt nhưng gút to, tốn chỉ dễ bị mài mòn

1.3.2 Rút gọn tấm lưới: a Khái niệm:

Rút gọn tấm lưới (RGTL) là quá trình luồn dây diềng qua từng mắt lưới ở mép áo lưới phía trên và phía dưới theo chiều dài của tấm lưới, nhằm ổn định và định hình mắt lưới theo một hệ số nhất định Hệ số này được gọi là hệ số rút gọn và cho phép điều chỉnh mức độ căng, độ co và sự nhất quán của mắt lưới sau khi thực hiện RGTL Quá trình này giúp tăng tính ổn định của cấu trúc lưới và cải thiện chất lượng mép áo lưới trong sản xuất.

Hệ số rút gọn (HSRG) được xác định bằng tỉ số giữa độ dài đường chéo của mắt lưới và kích thước mắt lưới theo cả hai phương ngang và dọc, qua đó đo lường mức độ co rút và biến dạng của tấm lưới HSRG là chỉ số cơ bản dùng để đánh giá hiệu quả rút gọn và so sánh các thiết kế mắt lưới khác nhau Trong lý luận về rút gọn tấm lưới, người ta xem xét sự phụ thuộc của HSRG vào các tham số hình học như kích thước mắt lưới, hướng rút và tỉ lệ giữa các cạnh, từ đó xây dựng các mô hình dự đoán biến dạng và đề xuất giải pháp tối ưu nhằm hạn chế biến dạng không mong muốn.

Trong bài toán này, ta xem một mắt lưới ABCD có cạnh a Điểm O là giao điểm của hai đường chéo và đồng thời là trung điểm của mỗi đường chéo Độ dài đường chéo ngang được cho bằng 2x, còn đường chéo dọc là 2y (hình 6) Theo khái niệm về HSRG, các tham số x và y được dùng để mô tả kích thước và vị trí của các yếu tố trên lưới, từ đó xác định mối quan hệ giữa các đường chéo và tâm O.

Trong đó U1 và U2 là HSRG ngang và dọc của mắt lưới ABCD

* Xét cho một tấm lưới bất kỳ:

Giả sử một tấm lưới bất kỳ có n mắt lưới theo chiều ngang, có m mắt lưới theo chiều cao Từ biểu thức (1) và (1') ta có: n a n

Nhận xét: Thực chất 2x.n là độ dài gây diềng hay còn gọi là độ dài tấm lưới sau rút gọn (L); 2y.n là chiều cao dây diềng hay còn gọi là chiều cao của tấm lưới sau rút gọn (H); 2a.n là độ dài kéo căng của tấm lưới hay độ dài trước rút gọn (L0); 2a.m là độ cao kéo căng của tấm lưới hay độ cao trước rút gọn (H0).

(3) và (3) là biểu thức về HSRG ngang và dọc cho một tấm lưới c) Quan hệ giữa hệ số rút gọn ngang và dọc

Quan hệ giữ U1 và U2 theo biểu thức sau:

Từ các công thức trên ta lập được bảng giá trị về mối quan hệ giữa U1 và U2 như sau:

Nhận xét cho mối quan hệ giữa U1 và U2 cho thấy chúng có quan hệ nghịch trong giới hạn từ 0 đến 1; khi U1 bằng U2 bằng 0,707, mắt lưới sẽ trở thành hình vuông và diện tích của mắt lưới đạt giá trị lớn nhất Người ta gọi trạng thái này là diện tích tối đa của mắt lưới.

Hình 6: tích tấm lưới ở HSRG giới hạn; hệ số rút gọn ngang cho các loại lưới được lựa chọn trong giới hạn: 0 < U1 < 0,707(lý thuyết); Thực tế 0,45 < U1 < 0,707

1.3.3 Tính khối lượng áo lưới

Mục đích là dự toán khối lượng áo lưới và từ đó dự trù kinh phí mua lượng lưới cần thiết để lắp ráp một lưới cụ hoàn chỉnh Các phương pháp tính chủ yếu được áp dụng cho mục tiêu này gồm nhiều cách tính khác nhau, trong đó một phương pháp quan trọng là tính theo diện tích giả của tấm lưới.

Quan niệm: diện tích giả S0 = L0 H0

Trong đó: M là khối lượng áo lưới cần tính;

M0 là khối lượng 1 m 2 diện tích giả của vật liệu lưới đan sẵn M0 có thể tra bảng hoặc xác định theo công thức: k

Trong đó: Mk là khối lượng đoạn dây lưới tiêu chuẩn,

S0k là diện tích giả có được do đan từ đoạn dây ấy b) Tính theo diện tích thật của tấm lưới

Quan niệm: Diện tích thật của tấm lưới là S = L H

Trong đó: K là HSRG diện tích và K = U1 U2

Trong thực tế người ta tìm S dễ hơn S0 nên công thức này được áp dụng phổ biến

1.3.4 Quy cách và kiểm thu lưới tấm a) Quy cách

Mỗi tấm lưới do nhà máy sản xuất ra có quy cách nhất định, bao gồm các tham số n, m, L0, H0, 2a, N/n, U1, kiểu rút lưới, M và màu sắc lưới, được ghi rõ trên nhãn hàng Căn cứ vào các quy cách này, ta chọn tấm lưới phù hợp với yêu cầu thiết kế hoặc để kiểm tra chất lượng sản phẩm tại nơi sản xuất Trong quá trình kiểm thu, việc đối chiếu quy cách và nhãn mác giúp đảm bảo tấm lưới đáp ứng đúng tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật.

Phương pháp kiểm tra các chỉ tiêu quy cách lưới tấm theo các phương pháp sau:

- Kích thước tấm lưới: kéo căng tấm lưới theo chiều dài, dùng thước đo chiều dài, sai số không lớn 0,1m Về chiều rộng đếm số mắt lưới

Để xác định kích thước mắt lưới, trong tấm lưới chọn các vị trí đại diện để đo kích thước mắt lưới tại những vị trí này Đối với mắt lưới có 2a > 30 mm, tiến hành kiểm tra 20 mắt lưới; với mắt lưới có 2a < 30 mm, kiểm tra 10 mắt lưới Sai số cho phép không quá 2-4% so với cạnh mắt lưới.

- Kiểm tra độ thô dây lưới: đếm số lượng sợi

- Kiểm tra gút lưới: kiểm tra ở 5-7 gút xem cấu trúc gút lưới có đúng như ghi trên nhãn hàng

- Kiểm tra U1: đếm số mắt lưới trên chiều dài dây diềng là 0,5m, rồi xác định

U1 = 0,5/2a.n (n là số mắt lưới đếm được)

- Kiểm tra khối lượng áo lưới: lấy mẫu lưới đặt trong điều kiện tiêu chuẩn, xác định Wc từ đó xác định Gc, so sánh với M ghi ở nhãn hàng

- Kiểm tra chất lượng lưới: xem màu sắc lưới kết hợp với ngửi mùi Nếu lưới có lốm đốm bạc, ngửi phát hiện mùi mốc là lưới bị mục

Ngoài ra có điều kiện kiểm tra trọng lượng lưới, trắc định độ bền dây lưới.

Phao và chì

Trang bị phao chì cho lưới nhằm giữ lưới ở hình dạng cố định và vị trí mong muốn dưới nước, từ đó tăng độ ổn định và hiệu quả vận hành Mỗi loại lưới có yêu cầu trang bị phao chì khác nhau để phù hợp với đặc tính và mục đích sử dụng riêng.

Vì vậy nghiên cứu trang bị phao chì cho lưới là quan trọng

1.4.1 Lý luận tính sức nổi của phao, sức chìm của chì

1.4.1.1.Tính sức nổi của phao

Theo định luật Archimedes (đôi khi gọi là định lý Acsimet), khi một vật được nhúng vào chất lỏng, nó chịu một lực đẩy lên theo hướng thẳng đứng bằng trọng lượng của khối chất lỏng bị vật chiếm chỗ Lực đẩy này, còn được gọi là lực đẩy Archimedes, phụ thuộc vào thể tích chất lỏng bị vật chiếm chỗ và giúp giải thích vì sao vật có thể nổi hay chìm tùy thuộc vào mật độ của vật so với chất lỏng.

Xét 1 vật A có thể tích là V, nhúng chìm trong nước, khi đó nó chịu tác dụng: lực đẩy Acsimet (P) và trọng lực bản thân (G) Vật A có giá trị làm phao khi

P > G Giá trị lớn hơn đó gọi là sức nổi của phao (Qf)

Qf = P - G = V. n V. f V( n  f ) mà V = Gf/ f nên ta có:

(q f gọi là tỷ suất nổi hay suất nổi của phao)

Ta có: Qf = Gf qf (KG)

1.4.1.2.Tính sức chìm của chì

Như ví dụ trên, vật A sẽ chìm khi trọng lực tự thân của nó (G) lớn hơn lực đẩy Acsimet (P) Giá trị lớn hơn giữa hai lực này được gọi là sức chìm của chì (Qc).

Qc = G - P = V  c V. n V( c  n ) mà V = Gc/ c nên ta có:

 = qc (qc gọi là tỷ suất chìm hay suất chìm của chì)

Khi đó có: Qc = Gc qc (KG)

1.4.1.3.Sức chìm tổng cộng (Q ctc )

Q ctc = Q c + Q al + Q dd + … = G c q c + G al q al + G dd q dd + …

  dd n dd dd al n al al c n c c G G

1.4.2 Tính số lượng phao chì trang bị cho lưới

Trong thực tế thường khối lượng chì (Gc) trang bị cho lưới được tính bằng 10-30% khối lượng áo lưới và dây diềng (Gad)

Khi đó số lượng chì (nc) được tính: nc = Gc/gc (gc là khối lượng một viên chì)

1.4.2.2 Tính số lượng phao trang bị cho lưới

Trong quá trình làm việc của lưới đánh cá trong nước, sức nổi của tấm lưới phụ thuộc vào tầng nước nơi lưới hoạt động: ở tầng nổi thì Qf > Qctc; ở tầng đáy thì Qf < Qctc; ở tầng giữa thì Qf = Qctc Tuy nhiên thực tế quá trình làm việc dưới nước còn chịu tác động của nhiều yếu tố như sức chìm của cá, sóng gió và sức cản của nước, khiến việc đảm bảo sức nổi an toàn cho lưới trở nên phức tạp Để đảm bảo an toàn nổi cho tấm lưới khi làm việc dưới nước, người ta tăng thêm sức nổi cho lưới và giá trị tăng thêm này được gọi là hệ số sức nổi an toàn Ka.

Nếu khối lượng một quả phao là gf thì số lượng phao (nf) là: nf f f ctc a.g q

1.4.3 Các loại phao chì thường dùng trong nghề cá

1.4.3.1 Tính năng sử dụng của phao

Yêu cầu chung đối với phao là nhẹ, ít thấm nước, bền, dễ gia công và có chi phí rẻ Thường người ta sử dụng một số loại phao khác nhau, trong đó phao gỗ là loại phổ biến nhất ở nước ta vì dễ kiếm, dễ làm và rẻ tiền.

Thường dùng một số gỗ như: vàng tâm, bồ đề, ngát, gạo… hình dáng phao tuỳ theo yêu cầu về sức nổi, về thao tác mà có khác nhau Ví dụ: hình bầu dục dùng cho lưới vây, hình trụ dùng cho lưới rê b) Phao ống bằng nứa, vầu: Loại phao có sức lớn nhưng cồng kềnh dễ hỏng, thường dùng làm cho phao ganh lưới rê, lưới rút, phao lưới dùng và phao biên Kích thước phao ống không có quy cách cụ thể, tuỳ từng loại lưới c) Phao thuỷ tinh: Sức nổi lớn, không thấm nước nhưng cồng kềnh, dễ vỡ, dễ mất

Thường được dùng phổ biến ở lưới giã, lưới vây rút d) Phao hoá học: Loại phao có sức nổi lớn không thấm nước Được dùng phổ biến ở lưới vây có dạng hình trống e) Phao thuỷ động: Là loại phao có sức nổi thuỷ động lớn khi vận động trong nước

Sức nổi thuỷ động phụ thuộc: tốc độ vận động của phao trong nước và hình dạng phao

1.4.3.2 Tính năng sử dụng của chì a) Chì bằng Pb: Nặng không sét rỉ, dễ gia công nhưng dễ rúc bùn Dùng phổ biến ở các loại lưới rê, vây, giã b) Chì bằng đá: Làm từ nguyên liệu rẻ tiền nhưng rất khó gia công, sử dụng thì cồng kềnh Dùng phổ biến ở lưới rê thu, lưới rút, lưới giã thủ công c) Chì bằng gang: Nặng, ít sét rỉ nhưng đắt tiền Dùng phổ biến ở lưới vây d) Chì bằng gốm: Rẻ tiền, dễ gia công, không sục bùn, nhưng dễ vỡ Thường dùng làm chì lưới giã e) Chì bằng sắt: Hay bị sét rỉ dùng làm chì lưới giã cơ giới.

Công nghệ lưới cụ

1.5.1.2 Các phương pháp gây lưới

- Gây bằng hàng nửa mắt lưới

- Gây từ hàng lưới cũ

- Gây từ một mắt lưới

1.5.1.3 Các phương pháp đan tăng giảm mắt lưới

- Đan tăng mắt lưới: Có hai cách là đan tăng trong tấm lưới (tăng treo, tăng nửa mắt lưới) và tăng ở biên lưới

- Đan giảm mắt lưới: Có hai cách giảm ở biên lưới (giảm hở cạnh) và giảm ghép mắt lưới

1.5.1.4 Tính tỷ số đan tăng giảm mắt lưới

Trong kỹ thuật đan, tỷ số tăng giảm mắt lưới được biểu thị bằng phân số a/b, trong đó a là số mắt lưới cần đan tăng hoặc giảm theo chiều ngang của tấm lưới, còn b là chu kỳ đan tăng giảm, tính bằng số hàng mắt lưới Phân số này cho phép xác định cách mật độ mắt lưới thay đổi theo thời gian và vị trí trên tấm lưới, từ đó người đan có thể điều chỉnh nhịp đan để đạt được mẫu thiết kế mong muốn Nếu a dương, mật độ mắt lưới tăng theo chiều ngang; nếu a âm, mật độ mắt lưới giảm; chu kỳ đan được xác định bởi b, cho biết bao nhiêu hàng mắt lưới được điều chỉnh mỗi lần thay đổi Việc nắm vững ký hiệu a/b giúp tối ưu hóa thiết kế và đảm bảo sự nhất quán của kết cấu trên toàn bộ tấm lưới.

Phương pháp xác định tỷ lệ đan lưới cho tấm lưới hình thang ABCD dựa trên ba tham số chính: đáy lớn n1, đáy nhỏ n2 và chiều cao m mắt lưới Mục tiêu là duy trì hình học của hình thang khi đan bằng cách xác định tỷ lệ đan sao cho mỗi cấp độ mắt lưới cân đối giữa hai đáy Công thức tổng quát để tính tỷ số đan lưới liên hệ giữa m, n1 và n2, cho phép điều chỉnh mật độ đan lưới theo chiều cao của tấm lưới để đảm bảo tấm lưới có độ bền và hình dạng mong muốn.

- Mục đích cắt lưới là để tạo ra các mảnh áo lưới có hình dạng nhất định theo thiết kế

- Các phương pháp cắt lưới:

Cắt thẳng đứng là kỹ thuật thực hiện phép cắt hai cạnh của một mắt lưới về một phía, thường là bên trái hoặc bên phải điểm gút lưới theo hướng thẳng đứng Phương pháp này giúp xác định và làm sạch cạnh của mắt lưới, tạo đường cắt song song với trục dọc và đảm bảo sự đồng nhất cho từng mắt lưới Áp dụng cắt thẳng đứng mang lại lợi ích dễ ghép nối các mắt lưới, kiểm tra kích thước và nâng cao tính thẩm mỹ cùng độ chính xác trong quy trình gia công và sản xuất lưới.

+ Cắt thẳng ngang là thực hiện phép cắt hai cạnh của một mắt lưới cùng vế một phía trên hay dưới điểm gút lưới theo hướng thẳng ngang.(b)

+ Cắt xiên là thực hiện phép cắt hai cạnh đối lập trong một mắt lưới theo hướng xiên phải hay xiên trái.(c)

+ Cắt kết hợp là thực hiện cắt kết hợp giữa hai hay ba phương pháp cắt lưới trên

Hình 7: Các phương pháp cắt lưới

- Tính tỷ số cắt lưới:

Để cắt một mảnh lưới có hình dạng phức tạp, trước tiên ta căn cứ vào hình vẽ thiết kế để tính tỷ số cắt lưới Tỷ số này được biểu thị bằng phân số c/d, trong đó c là số mắt lưới cắt theo chiều thẳng đứng (nếu c/d > 0) và là số mắt lưới cắt theo chiều thẳng ngang (nếu c/d < 0), còn d là số mắt lưới ở chiều kia tương ứng Việc xác định đúng tỷ số cắt lưới giúp định vị các đường cắt, tối ưu hóa lượng vật liệu và đảm bảo mảnh lưới được cắt đúng theo thiết kế.

D là chu kỳ cắt lưới (tính bằng số mắt lưới theo chiều cao của áo lưới đó) Phương pháp tính tỷ số cắt lưới áp dụng cho một mảnh áo lưới hình thang ABCD, trong đó đáy lớn có n1 mắt lưới, đáy nhỏ có n2 mắt lưới và chiều cao có h mắt lưới Công thức tổng quát để tính tỷ số cắt lưới dựa trên các tham số h, n1 và n2 cho ra một giá trị d biểu thị mức cắt lưới giữa hai đáy.

Trong trường hợp tỷ số cắt lưới sau khi tính toán đã tối giản nhưng vẫn là một phân số lớn, cần phân tích tỷ số đó thành các tỷ số nhỏ hơn sao cho tổng tử số của các tỷ số nhỏ bằng tử số của phân số lớn và tổng mẫu số bằng mẫu số của phân số lớn; thực hiện cắt lưới theo các tỷ số nhỏ để đảm bảo tính đúng tỷ lệ và chính xác của kết quả.

Có hai phương pháp ghép lưới: sươn lưới và keo lưới

Sươn lưới là phương pháp ghép các tấm lưới và các mảnh áo lưới với nhau để sử dụng có tính tạm thời; sau thời gian ngắn, có thể tháo ra Ưu điểm của phương pháp này là dễ làm và nhanh chóng, giúp tiết kiệm công sức khi cần ghép nhanh nhiều tấm lưới Nhược điểm là độ chắc chắn thấp, nên chỉ phù hợp cho các công việc tạm thời và chịu được tải trọng nhẹ.

Kéo lưới là phương pháp thường được áp dụng để ghép các tấm lưới, các mảnh áo lưới nhằm sử dụng lâu dài hoặc khi không có ý định tháo ra Ưu điểm của phương pháp này là độ chắc chắn cao, giúp liên kết lưới bền và ổn định Nhược điểm của kéo lưới là khó làm, mất nhiều thời gian và tốn chỉ lưới.

Liên kết các vật liệu lưới cố định như áo lưới, dây diềng, phao và chì theo các thông số kỹ thuật đã được xác định trước để tạo ra lưới cụ hoàn chỉnh Quá trình lắp ráp tập trung vào các mối nối chắc chắn giữa các thành phần nhằm đảm bảo độ bền và sự ổn định của hệ thống Việc tuân thủ các thông số kỹ thuật giúp tối ưu hiệu suất vận hành, an toàn và tuổi thọ của lưới cụ Qua các bước kiểm tra chất lượng từ chuẩn bị vật liệu đến khi hoàn thiện, lưới cụ được đảm bảo đạt yêu cầu và sẵn sàng đưa vào sử dụng.

Phương pháp thực hiện trình tự các bước cơ bản sau:

- Bước 1: Chuẩn bị mặt bằng để thi công lắp ráp lưới

Diện tích mặt bằng Smb được xác định bằng hai công thức tùy thuộc điều kiện mặt bằng: Smb = 1,2.(L + H) khi có điều kiện về mặt bằng; ngược lại, Smb = 1/3L + 1,2H khi không có điều kiện Sau khi tính được Smb, tiến hành rải lưới và luồn dây diềng qua từng mắt lưới ở mép trên và mép dưới theo chiều dài của tấm lưới.

- Bước 2: Rút gọn tấm lưới, ổn định hình dạng mắt lưới theo U1 đã xác định + Căn cứ vào L, 2a L0, U1 tính số lượng mắt lưới (n1) trong 0,5m chiều dài dây diềng

Đếm n1 mắt lưới trên mỗi đoạn 0,5 m của dây diềng và cố định lại Thực hiện thao tác này dọc theo toàn bộ chiều dài tấm lưới rút gọn (L) để tạo diềng luồn lưới ở phía trên và phía dưới của tấm lưới.

+ Xác định chiều dài khoảng cách giữa hai quả phao: lf = L/nf - 1

+ Liên kết phao vào dây diềng theo lf và cố định, gọi là diềng băng phao

+ Liên kết diềng băng phao vào diềng luồn lưới phía trên, có diềng phao

+ Xác định chiều dài khoảng cách giữa hai viên chì: lc = L/nc -1

+ Kẹp chì vào dây diềng theo lc và cố định, gọi là diềng băng chì

+ Liên kết diềng băng phao vào diềng luồn lưới phía dưới, có diềng chì

+ Căn cứ vào H, 2a, H0, U2 tính số lượng mắt lưới (m1) trong 0,5m chiều dài diềng biên

Đếm một mắt lưới vào 0,5 m dây viền rồi cố định lại Làm như vậy cho đến hết chiều cao của tấm lưới rút gọn (H) để tạo viền biên ở hai bên trái và phải của tấm lưới.

Lưới đánh cá sau một thời gian sử dụng sẽ xuất hiện biến dạng và rách; nếu không kịp thời tu sửa, lưới có thể bị hỏng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến năng suất khai thác và an toàn lao động Để duy trì độ bền và hiệu quả, cần kiểm tra định kỳ, khắc phục nhanh các vết hỏng, thay thế những phần bị mỏng hoặc rách nặng, đồng thời bảo dưỡng lưới đúng cách nhằm kéo dài tuổi thọ, giảm thiểu chi phí sửa chữa và tăng cường hiệu suất đánh bắt.

Sau một thời gian sử dụng, do tác động của các ngoại lực lên các bộ phận lưới không đồng đều nên giữa tấm lưới và giữa các đoạn dây diềng có sự co giãn không đồng nhất Để đảm bảo hình dạng của lưới và duy trì độ bền, ta tiến hành điều chỉnh bằng cách đo lại độ dài của dây diềng và xem xét lại các mép lưới Nếu mép lưới và dây diềng biến dạng nhiều, cần tháo hẳn các bộ phận đó ra và điều chỉnh lại cho phù hợp với thiết kế.

Hình 8: Lắp ráp chì Hình 9: Lắp ráp phao

Trong qúa trình sử dụng, lưới rách đến đâu thì vá kịp thời đến đó; như vậy, hiệu suất sử dụng lưới và hiệu suất đánh cá mới cao a) Chỉnh lí chỗ rách: trong qúa trình vá lưới yêu cầu phải vá nhanh, đúng và tốt Vá nhanh giúp sản xuất kịp thời; vá tốt có nghĩa là vá sao cho chỗ rách chắc chắn, đều nhau như mắt lưới cũ, nhờ đó mới duy trì được hình dáng và độ bền của tấm lưới Khi chỉnh lý lưới rách phải chú ý đến độ kín của mắt lưới, sự cân đối của lưới và độ căng để lưới hoạt động ổn định.

- Mắt lưới nào rạn nứt, tuy chưa rách hẳn cũng cắt đi

Bảo quản lưới cụ

1.6.1 Nguyên nhân chủ yếu làm hư hỏng lưới cụ

1.6.1.1 Do tác dụng của vi sinh vật:

Vi sinh vật gây phá hoại lưới gồm Bacillus coli, Bacillus welchii, Staphylococcus aureus và các nấm Aspergillus, Penicillium Khi xơ, sợi có độ ẩm trên 9% và không khí có độ ẩm 75–80% ở nhiệt độ 20–24°C, các loại vi sinh vật này hoạt động rất mạnh Trong các nguyên liệu làm lưới, xơ sợi thực vật bị vi sinh vật phá hoại nhiều nhất, tơ bị phá hoại ít hơn và sợi hóa học hầu như không bị vi sinh vật phá hoại.

Vi sinh vật tiết ra một chất men để hòa tan các thành phần hóa học của xơ và sợi, khiến lưới bị mục Những chỗ bị nấm phá hoại trên dây lưới có màu sắc khác nhau tùy theo loại nấm Sự phát triển của vi khuẩn nói chung thường không thể hiện ra mặt ngoài của dây lưới Dây lưới bị vi khuẩn phá hoại có khả năng hòa tan trong kiềm Mức mất khối lượng của xơ sợi do phá hoại của vi khuẩn và nấm đạt khoảng 17–18%.

1.6.1.2 Do tác dụng của ánh nắng mặt trời:

Dây lưới phơi ngoài nắng có ưu điểm làm khô nhanh và ngăn mục, nhưng tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời phá hủy thành phần hóa học của xơ sợi Bên cạnh đó, hiện tượng oxy hóa do khí trời tác động lên các thành phần hóa học của xơ sợi gây biến dạng lưới và làm giảm độ bền cũng như độ giãn dài của sản phẩm.

Khi phơi áo lưới ngoài nắng trong một thời gian nhất định, độ bền của áo lưới khô và áo lưới ướt không đồng nhất Áo lưới ướt giảm độ bền gần 2 lần so với áo lưới khô, cho thấy trạng thái ẩm làm tăng tốc độ xuống cấp của chất liệu dưới tác động của ánh sáng mặt trời.

So sánh tính phơi nắng của các loại dây lưới thì xơ ly be ổn định hơn xơ tổng hợp, xơ tổng hợp ổn định hơn tơ tằm

1.6.1.3 Do các nguyên nhân khác:

Một số động vật thủy sinh gây phá hoại lưới phổ biến gồm cá nhám và các loài sứa Chúng tiết ra chất nhờn có tính axit cao khiến sợi lưới bị ăn mòn và giảm độ bền nhanh chóng Vì vậy, bảo vệ lưới khỏi các tác nhân này và thực hiện bảo trì định kỳ là cần thiết để duy trì hiệu suất và tuổi thọ của lưới.

- Một số động vật gậm nhấm như chuột, gián… phá hoại lưới

Lưới đánh bắt dễ bị mòn và rách do cọ sát với chướng ngại vật trong ngư trường, như mạn thuyền và vây cá Quá trình cọ xát này khiến lưới hao mòn nhanh, giảm độ bền và hiệu quả bắt cá, đồng thời làm tăng chi phí bảo dưỡng và sửa chữa lưới.

1.6.2 Biện pháp bảo quản lưới cụ

Để xác định phương pháp phòng mục cho lưới, trước tiên cần phân tích tính chất sử dụng của từng loại lưới để màu nhuộm phù hợp với đặc tính sản xuất Lưới vây và lưới giã luôn ở mức ẩm cao nên yêu cầu phòng mục phải được tăng cường, tuy nhiên hai loại này không cần đến yếu tố màu sắc Đối với lưới giã, dây lưới nếu không mềm mại cũng không sao; ngược lại, lưới rê và lưới vây rút sau khi nhuộm lại đòi hỏi dây lưới mềm mại và màu sắc phù hợp với màu nước để tăng hiệu suất đánh cá Do tính chất từng loại lưới, cần lựa chọn nguyên liệu nhuộm cho thích hợp để đạt hiệu quả cao.

1.6.2.2 Bảo quản và giữ gìn lưới

Sau khi kéo lưới bắt cá, lưới phải được giặt sạch và hong khô để loại bỏ rong rêu và các sinh vật bám; với những mẻ lưới có nhiều sinh vật dính, cần giặt ngay và giặt kỹ Khi thuyền về bờ, giặt sạch lưới bằng nước ngọt, phơi khô hoàn toàn và cất giữ trong kho để bảo quản cho lần sử dụng tiếp theo.

Kho cất lưới cần ở nơi khô ráo, sàn sạch và có nhiều cửa thông gió được lưới thép chắn để chuột không cắn; lưới không được đặt xuống sàn mà phải trên giá để lưới và cần kiểm tra định kỳ Khi phát hiện lưới ẩm, phải đem phơi ngay để tránh mốc Với mốc ở mức nhẹ, phun dung dịch NaCl 5% hoặc dung dịch Bicromatkali (K2Cr2O7) hoặc Bicomatnatri (Na2Cr2O7) ở nồng độ 2 ppm lên vùng bị mốc; ở mức nặng hơn, giặt và ngâm chỗ lưới bị mốc vào một trong các dung dịch trên từ 2-3 giờ Trường hợp mốc quá nặng không thể phục hồi được thì phải cắt bỏ, tránh lây lan.

Trong kho chứa, đặt vài chậu vôi bột để hút ẩm và giảm độ ẩm trong không khí Để giảm mòn lưới, các mạn thuyền kéo lưới và các thiết bị va chạm với lưới cần được bào nhẵn hoặc mài sạch để hạn chế ma sát Việc nâng cao độ trơn của các bề mặt này giúp tăng tuổi thọ của lưới và cải thiện hiệu quả đánh bắt, đồng thời giảm thiểu rủi ro hư hỏng khi vận hành.

Lưới diệt được làm bằng sợi tơ hoặc sợi hóa học không nên phơi trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời quá nhiều để hạn chế tác động của tia tử ngoại Tia tử ngoại có thể phá hủy cấu trúc sợi, làm giảm độ bền và hiệu quả bảo vệ của lưới theo thời gian Để kéo dài tuổi thọ và duy trì hiệu suất, nên phơi ở nơi có bóng râm hoặc che chắn và bảo quản nơi thoáng, tránh tiếp xúc trực tiếp với nắng gắt.

Kỹ thuật đánh bắt

Lưới cụ đánh bắt cá trong ao hồ nhỏ

2.1.1 Nguyên lý và đối tượng đánh bắt

Trong các cơ sở sản xuất cá giống, cá thương phẩm và các động vật thủy sản khác, quá trình sản xuất yêu cầu sử dụng các loại lưới cụ thể: lưới cá hương, lưới cá giống, lưới cá thịt và lưới cá đánh bắt cá bố mẹ a) Nguyên lý đánh bắt dựa trên việc phân loại theo kích thước và tuổi của cá để chọn loại lưới phù hợp, đảm bảo bắt đúng đối tượng cần thiết ở từng giai đoạn nuôi, hạn chế bắt nhầm cá bố mẹ, đồng thời tối ưu năng suất và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Lưới được thả từ một đầu ao hồ theo chiều rộng, nhờ lực kéo của người mà lưới tiến tới bờ đối diện Trong quá trình di chuyển dưới nước, lưới hoạt động theo nguyên tắc kéo vét (diềng phao luôn nổi trên mặt nước, diềng chì luôn sát đáy) Khi tới bờ đối diện, lưới được thu lên ở vị trí thích hợp và cá bị giữ lại trong lưới Đối tượng đánh bắt là cá.

Các loại lưới đánh bắt có tính chuyên dụng cao; theo yêu cầu kỹ thuật, mỗi loại lưới được thiết kế để bắt đúng một nhóm cá nhất định, chẳng hạn cá hương, cá giống, cá thịt hoặc cá bố mẹ, giúp tối ưu hiệu quả khai thác và đảm bảo chất lượng nguồn cá.

2.1.2 Cấu tạo a) Cấu tạo chung

Bốn loại lưới trên có cấu tạo chung là một tấm lưới hình chữ nhật được rút gọn trong một khung dây diềng hình chữ nhật; 2a đồng nhất trên toàn bộ tấm lưới; lưới có lắp phao và chì b) Thông số kỹ thuật

Các thông số kỹ thuật của lưới cá hương, cá giống, cá thịt và cá bố mẹ thể hiện ở bảng 3

Bảng 3: Thông số kỹ thuật các loại lưới đánh cá trong ao hồ nhỏ

Lưới Cá hương Cá giống Cá bố mẹ Cá thịt

7 Gl (kg) = Ka.Qctc/qf

8 Màu sắc lưới nâu, vàng nâu, vàng, xanh nâu, vàng nâu, vàng, xám tro

Cần thực hiện tốt 4 bước kỹ thuật đánh bắt sau:

1) Chuẩn bị: Bao gồm chuẩn bị nơi thả lưới; số lượng và chất lượng lưới; nhân lực kéo lưới; các dụng cụ bắt giữ cá và phương án tiêu thụ sản phẩm

2) Thả lưới: Thả lưới ở một đầu ao, hồ thích hợp (có độ sâu mực nước thấp, hướng kéo lưới thuận theo chiều gió); kiểm tra độ an toàn đường lưới sau thả (tránh để cuốn lưới, treo lưới)

3) Kéo lưới: Quá trình lưới làm việc trong nước phải được đảm bảo diềng phao luôn nổi trên mặt nước, diềng chì luôn sát đáy Kéo đều hai đầu lưới, để cho lưới cong tự nhiên

4) Thu lưới bắt cá: khi tới bờ đối diện, lựa chọn vị trí thích hợp (mái bờ ao thoải, lượng bùn đáy ít, bờ ao rộng, chắc chắn…) để thu lưới bắt cá Khi thu lưới: kéo diềng chì, rồi thu phần thịt lưới, sau cùng là kéo diềng phao Thu đều hai đầu lưới.

Một số lưới cụ đánh bắt cá trong các mặt nước lớn nội địa

2.2.1 Lưới rê a) Đặc điểm chung

- Tính chất đánh bắt bị động

- Kỹ thuật sử dụng đơn giản

- Đối tượng và phạm vi sử dụng lưới tương đối rộng b) Phân loại

- Căn cứ vào cấu tạo chia ra: Lưới rê đơn; lưới rê khuông; lưới rê 3 lớp; lưới rê hỗn hợp

- Căn cứ vào phương thức hoạt động chia ra: Lưới rê cố định; lưới rê vây; lưới rê trôi; lưới rê kéo c) Lưới rê đơn cố định

1) Nguyên lý và đối tượng đánh bắt;

Một tấm lưới rê đơn hay nhiều tấm liên kết lại tạo thành một vàng lưới rê đơn được thả chắn ngang đường cá hay qua lại Nhờ độ thô chỉ lưới nhỏ, kích thước mắt lưới phù hợp với cỡ cá đánh bắt và màu sắc lưới phù hợp với màu nước ngư trường, cá không phát hiện được lưới, đâm vào lưới, đóng và mắc vây vào mắt lưới

Ta thu lưới lên bắt được cá

Theo nguyên lý đánh bắt đã được mô tả, lưới rê đơn hoạt động hiệu quả để bắt các loại cá có vảy với cỡ cá phù hợp với kích thước mắt lưới 2a Việc chọn đúng kích thước mắt lưới cho phù hợp với cỡ cá giúp cá có vảy bị giữ lại tối ưu, tăng năng suất đồng thời hạn chế bắt cá nhỏ và các loài không mục tiêu Lưới rê đơn vì thế mang lại hiệu quả khai thác cao hơn khi người đánh bắt cân bằng giữa mục tiêu thương mại và quy định về kích thước mắt lưới 2a.

Cấu tạo chung của lưới rê đơn là hình chữ nhật với thiết kế đơn giản, mắt lưới có kích thước đồng nhất trên toàn bộ tấm lưới, và lưới được lắp phao cùng chì để đảm bảo khả năng nổi và cân bằng khi sử dụng.

* Các thông số kỹ thuật:

Kích thước mắt lưới (2a) ở lưới rê đơn đòi hỏi nghiêm ngặt và phụ thuộc vào cỡ cá đánh bắt

+ Dựa vào chiều dài thân cá: áp dụng công thức: a = K L

Trong đó: a là chiều dài cạnh mắt lưới (mm)

L là chiều dài thân cá định đánh bắt (m);

K là hệ số tỷ lệ được xác định qua thử nghiệm đánh bắt, dựa trên chu vi mặt cắt của thân cá Hệ số K phụ thuộc vào loài cá đánh bắt và được xác định cho từng loài; ví dụ Trắm đen có K = 0,126 và Mè hoa có K = 1,103.

+ Dựa vào khối lượng thân cá: áp dụng công thức: a = K 3 G Trong đó: G là khối lượng cá định đánh bắt (g)

K là hệ số tỷ lệ phụ thuộc vào hình dạng cá Với dạng cá thoi dài, K = 5 Với dạng cá ngắn mình, rộng bản, K = 7 Với dạng cá trung gian giữa hai dạng trên, K = 6.

Yêu cầu chung về độ thô của mắt lưới là phải mảnh để cá khó phát hiện lưới, đồng thời vẫn đảm bảo độ chắc chắn để khi cá bị mắc lưới không làm đứt chỉ và thoát ra khỏi lưới Mục tiêu là cân bằng giữa độ mảnh của mắt lưới và sức chịu tải, sao cho cá bị bắt giữ lại bên trong lưới và không thể thoát ra, đồng thời lưới vẫn bền dưới tác động của nước và cú giật của cá Thiết kế nên xem xét loại cá mục tiêu, điều kiện vận hành và độ sâu nước để tối ưu hiệu quả bắt cá, đảm bảo an toàn cho ngư cụ và tăng hiệu quả khai thác.

Theo đề nghị của một số chuyên gia Nga, Việt Nam tiến hành thử nghiệm đánh cá ở hồ chứa Thác Bà từ năm 1970 đến 1975, nên xác định mối quan hệ giữa độ thô của lưới (a) và kích thước cạnh mặt lưới (d) theo các mức sau: với a = 12–16 mm thì d/a = 0,02; với a = 30–50 mm thì d/a = 0,01; với a > 50 mm thì d/a dao động từ 0,005 đến 0,007.

Hệ số rút gọn của lưới rê thuộc bộ lưới đóng Khi chọn U1 ở mức cao, diện tích tấm lưới được tối ưu, nhưng đồng thời lực căng trên lưới tăng lên, dẫn đến giảm hiệu suất đánh bắt.

Mặt khác, để ngoại lực P nhỏ (sức căng chỉ lưới thấp) thì lượng phao chì trang bị cho lưới ở mức nhỏ nhất cho phép Thực tế thường chọn U 1 = 0,45 - 0,55

- Dây diềng: diềng phao, chì  = 4-6mm; diềng biên  = 2-4mm

- Khối lượng chì: Gc = (12-15%) Gad

- Khối lượng phao: nguyên tắc chung Qf > Qctc f ctc f aq

Trong hệ thống thiết kế lưới, nf là số lượng phao cần trang bị cho lưới để đảm bảo độ nổi và sự ổn định qf là suất nổi của loại phao sử dụng, đại diện cho khả năng nâng nổi của mỗi phao gf là khối lượng một quả phao lắp vào lưới, phục vụ cho tính toán cân bằng và cơ cấu nổi của toàn bộ lưới và phao Việc xác định nf dựa trên qf và gf giúp tối ưu hóa độ nổi và an toàn trong quá trình vận hành.

K a hệ số an toàn thường chọn K a = 1,3

- Màu sắc lưới, chọn phù hợp với màu sắc ngư trường

3) Kỹ thuật đánh bắt (bằng lưới rê cố định)

Cần thực hiện tốt 3 bước kỹ thuật đánh bắt sau:

- Bước 1: Chuẩn bị: Nội dung bao gồm chuẩn bị ngư trường thả lưới, lưới, tầu thuyền, nhân lực, tiêu thụ sản phẩm…

Bước 2: Thả lưới và cố định lưới: Dựa vào vị trí đã xác định, tiến hành thả lưới vào buổi chiều và sau đó cố định lưới để đảm bảo độ ổn định và hiệu quả sử dụng Có ba phương pháp cố định lưới được áp dụng tùy thuộc điều kiện thực tế, nhằm tối ưu vị trí và độ bền của lưới trên mặt nước.

+ Cố định lưới bằng cọc dài: áp dụng cho trường hợp nước nông, nền đáy mềm, sóng gió ít (Hình 10a)

Hình 10a: cố định lưới bằng cọc dài

+ Cố định lưới bằng cọc ngắn: áp dụng cho trường hợp mực nước sâu hơn, nền đáy cứng hơn và sóng gió lớn hơn (Hình 10b)

Hình 10b: cố định lưới bằng cọc ngắn

+ Cố định lưới bằng neo: áp dụng cho trường hợp mực nước sâu, nền đáy cứng, sóng gió to không thể đóng cọc được (hình 10c)

Hình 10c: cố định lưới bằng neo

Bước 3: Thu lưới bắt cá Lưới được ngâm qua đêm và sáng sớm hôm sau thu lưới để bắt cá; nếu cá đóng lưới nhiều, tháo lưới khỏi các dụng cụ cố định và tối đến thả lưới đánh cá tiếp, còn nếu cá đóng lưới ít, thu toàn bộ lưới và các dụng cụ cố định để triển khai đánh bắt ở vị trí khác Lưới rê 3 lớp được sử dụng như một phương pháp bổ sung trong quá trình này.

1) Nguyên lý và đối tượng đánh bắt

Một tấm lưới rê ba lớp, hoặc nhiều tấm lưới rê ba lớp liên kết với nhau, tạo thành một khối lưới được thả chắn ngang đường cá hoặc di chuyển qua lại Nhờ cấu tạo đặc biệt, khi cá đâm vào lưới, nó chui qua mắt lưới lớn ở lớp ngoài, mang theo phần thịt từ mắt lưới nhỏ ở lớp giữa, rồi vượt qua mắt lưới lớn ở mặt đối diện của lớp ngoài để hình thành một túi linh động giữ cá Khi thu lưới lên, ta thu được cá.

Nguyên lý đánh bắt bằng lưới rê ba lớp cho phép bắt được nhiều loài cá với các kích thước khác nhau Các đối tượng bị bắt đều thoả mãn điều kiện kích thước: lớn hơn kích thước mắt lưới của lớp giữa, nhờ đó lưới có khả năng phân loại và tối ưu hiệu quả đánh bắt.

Lưới rê ba lớp được lắp ghép trong một khung dây hình chữ nhật, gồm ba lớp lưới ghép chung Hai lớp lưới ngoài có kích thước mắt lưới bằng nhau và lớn hơn lớp lưới giữa từ 4 đến 6 lần Kích thước mắt lưới được đồng nhất trên toàn bộ một tấm lưới Lưới được lắp phao và chì để điều chỉnh nổi và cân bằng trọng lượng khi thả, giúp tăng độ ổn định và hiệu suất làm việc của hệ thống.

- Kích thước mắt lưới: Kích thước mắt lưới lớp giữa (2ag) xác định giống ở lưới rê đơn đánh bắt cùng cỡ cá, thường 2ag = (100-110)mm; 2an=(4-6)2ag, thường 2a n = (440-660)mm

- Độ thô chỉ lưới: d/ a (lớp giữa) = 0,006 – 0,009; d(lớp ngoài) = (1,8-2)d lớp giữa

Hệ số rút gọn U1 được dùng để điều chỉnh độ mở mắt lưới sao cho lớp lưới giữa có giá trị nhỏ để cá chui qua, còn lớp lưới ngoài có giá trị lớn để tăng độ mở; theo kinh nghiệm thiết kế, U1 cho lớp giữa là 0,45–0,55, còn U1 cho lớp ngoài là 0,55–0,60, và với U2 cần tra bảng dữ liệu để xác định giá trị tương ứng.

- Kích thước tấm lưới: L = 40-60m, thường L = 50m; H phụ thuộc vào độ sâu mực nước (hn): hn = 30 – 40m dùng lưới có H = 20m; hn < 20m dùng lưới có Hm; hn

Ngày đăng: 21/02/2022, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w