1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiến thức chăm sóc và dự phòng bệnh hô hấp cấp tính cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại bệnh viện nhi thái bình năm 2021

50 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 558,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lí luận (11)
    • 1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN (17)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VÀ DỰ PHÒNG BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CHO TRẺ DƯỚI 5 TUỔI CỦA BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN NHI TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2021 (0)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (22)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (22)
    • 2.3. Kỹ thuật tiến hành và các biến số cần thu thập (23)
    • 2.4. Xử lý và phân tích số liệu (26)
    • 2.5. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (26)
    • 2.6. Kết quả khảo sát (26)
  • Chương 3. BÀN LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN (0)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (33)
    • 3.2. Thực trạng kiến thức của bà mẹ về NKHHCT (33)
  • KẾT LUẬN (41)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ HÀ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC VÀ DỰ PHÒNG BỆNH HÔ HẤP CẤP TÍNH CHO TRẺ DƯỚI 5 TUỔI CỦA BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN NHI THÁI BÌNH NĂM 2021 BÁO

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lí luận

1.1.1 Kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhóm bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây ra các tổn thương viêm cấp tính ở một phần hoặc toàn bộ hệ thống đường hô hấp, từ tai, mũi và họng cho tới phổi Tác nhân phổ biến nhất là vi khuẩn và virus, gây viêm ở đường hô hấp trên và có thể lan xuống đường hô hấp dưới Triệu chứng và mức độ nhiễm khuẩn phụ thuộc vào vị trí bị ảnh hưởng và mức độ xâm nhập của tác nhân gây bệnh Việc nhận diện sớm và quản lý phù hợp đối với nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính giúp giảm nguy cơ biến chứng và cải thiện kết quả điều trị.

1.1.1.2 Phân loại về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

* Phân loại theo vị trí giải phẫu

Lấy nắp thanh quản là ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới Nếu tổn thương ở phía trên nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp trên, tổn thương ở phía dưới nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp dưới

Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG):

- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên gồm: Viêm tai giữa, mũi, họng

- Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới gồm: Viêm thanh quản, phế quản, phế nang

Phần lớn nhiễm khuẩn ở trẻ em là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, chiếm khoảng hai phần ba các trường hợp và gây ra các triệu chứng như ho, cảm lạnh, viêm họng, viêm mũi, viêm VA, viêm xoang hoặc viêm tai giữa Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên thường nhẹ, trong khi nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới ít gặp hơn (khoảng một phần ba trường hợp) nhưng thường nặng và dễ dẫn đến tử vong, điển hình là viêm thanh quản, viêm thanh khí - phế quản, viêm tiểu phế quản và viêm phổi; đặc biệt là viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ có tỉ lệ tử vong cao nhất, do đó cần được theo dõi chặt chẽ và phát hiện kịp thời.

* Phân loại theo mức độ nặng nhẹ

Phân loại theo mức độ nặng nhẹ hay được sử dụng nhằm xử trí kịp thời các trường hợp NKHHCT

Theo TCYTTG có thể dựa vào dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh

- Bệnh rất nặng: Trẻ có một trong các dấu hiệu nguy kịch

-Viêm phổi nặng: Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực

- Viêm phổi: Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực

- Không viêm phổi ( ho và cảm lạnh): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực [10],[11],[12]

1.1.1.3 Các biểu hiện lâm sàng

+ Trẻ < 2 tháng: nhịp thở ≥ 60 lần/phút là thở nhanh + Trẻ 2 – 12 tháng: nhịp thở ≥ 50 lần/phút là thở nhanh + Trẻ 12 tháng – 5 tuổi: nhịp thở ≥ 40 lần/phút là thở nhanh

- Rút lõm lồng ngực (RLLN):

+ Rút lõm lồng ngực là lồng ngực phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới của xương ức rút lõm xuống trong thì hít vào Dấu hiệu RLLN xuất hiện khi trẻ phải gắng sức nhiều hơn bình thường để hít vào Bình thường, toàn bộ lồng ngực (phần trên và dưới) và bụng phình ra khi trẻ hít vào Khi có rút lõm lồng ngực, phần dưới lồng ngực lõm xuống khi trẻ hít vào

+ Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ có RLLN nhẹ thì chưa có giá trị chẩn đoán vì lồng ngực của trẻ còn mềm RLLN phải mạnh và sâu mới có giá trị chẩn đoán

+ Trong trường hợp có RLLN, dấu hiệu này phải rõ ràng và thường xuyên Nếu bạn chỉ nhìn thấy có RLLN khi trẻ khóc hoặc đang bú, hoặc chỉ có phần mềm giữa các xương sườn lõm xuống khi trẻ hít vào, thì trẻ này không có dấu hiệu RLLN

Khò khè là âm thanh êm dịu nghe thấy ở thì thở ra, cho biết lưu lượng không khí ra ngoài bị hạn chế Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc nghẽn trong phổi do phế quản nhỏ bị hẹp lại.

+ Khò khè hay gặp trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi

+ Tiếng thở rít là tiếng thở thô ráp nghe thấy ở thì hít vào

+ Tiếng thở rít xuất hiện khi luồng khí đi qua chỗ hẹp ở thanh – khí quản

+ Hay gặp trong mềm sụn thanh quản bẩm sinh, viêm thanh quản rít, dị vật đường thở

Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

- Trẻ không uống được hoặc bỏ bú

- Ngủ li bì hoặc khó đánh thức: Là khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh trẻ vẫn ngủ li bì hoặc mở mắt rồi lại ngủ ngay (khó đánh thức)

- Thở rít khi nằm yên

Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi

- Bú kém hoặc bỏ bú

- Ngủ li bì hoặc khó đánh thức

- Thở rít khi nằm yên

- Sốt hoặc hạ nhiệt độ [9],[13]

1.1.1.4 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân thường gặp gây NKHHCT do virus và vi khuẩn[10],[11] Virus là nguyên nhân chủ yếu gây NKHHCT ở trẻ em vì:

- Virus có ái lực với đường hô hấp

- Khả năng lây lan của virus dễ dàng

- Tỷ lệ người lành mang virus cao

- Khả năng miễn dịch với virus ngắn và yếu

Trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT do virus chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân gặp nhiều nhất, tiếp đến là Adenovirus, virus cúm và á cúm (parainfluenza) Ở các nước đang phát triển, vi khuẩn vẫn chiếm một phần quan trọng trong gánh nặng NKHHCT, mặc dù phần lớn ca bệnh ở trẻ nhỏ do virus gây ra.

NKHHCT.Vi khuẩn hay gặp nhất là các vi khuẩn phế cầu và H.influenzae, sau đó đến tụ cầu, liên cầu và các vi khuẩn khác

Các nguyên nhân khác như nấm và ký sinh trùng ít gặp hơn [11] Mycoplasma thường gây NKHHCT ở trẻ em trên 5 tuổi, Pneumocystic carinii thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi

* Các yếu tố nguy cơ

Nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đang phát triển và ở nước ta đều có nhận xét chung về các yếu tố dễ gây NKHHCT ở trẻ em (yếu tố nguy cơ) [11],[17]

Nghiên cứu cho thấy trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh dưới 2500 g có tỷ lệ chết do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi cao hơn so với những trẻ có cân nặng trên 2500 g.

- Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ: nguy cơ tử vong do viêm phổi ở trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ

- Ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ niêm mạc hô hấp, các lông rung, quá trình tiết chất nhày cũng như hoạt động của đại thực bào, sự sản sinh các Globulin miễn dịch, do đó trẻ dễ bị NKHHCT

- Khói thuốc lá cũng là một yếu tố gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ

- Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em

- Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là điều kiện làm trẻ dễ mắc NKHHCT

CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Theo số liệu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), mỗi trẻ em trung bình trong 1 năm mắc NKHHCT từ 4 đến 9 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỷ lượt trẻ mắc NKHHCT chiếm 19 – 20% số trẻ dưới 5 tuổi tử vong trên toàn cầu Tỷ lệ tử vong do NKHHCT ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam cao gấp 30-50 lần ở các nước phát triển Theo số liệu của WHO, hàng năm có khoảng 4 triệu trẻ em tử vong vì NKHHCT, trong đó trên 90% là các nước đang phát triển Tỷ lệ trẻ tử vong do viêm phổi chiếm gần 1/5 số trẻ tử vong trên toàn thế giới Ở Châu Âu, tỷ lệ viêm phổi chiếm từ 30 đến 40 trường hợp/1000 trẻ/năm [25],[26]

Theo nghiên cứu của Kumar S Ganesh, Majumdar A và cộng sự (2015) trên

509 bà mẹ của trẻ em dưới 5 tuổi liên quan đến tỷ lệ mắc NKHHCT cùng với các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học và xã hội ở khu vực thành thị và nông thôn Tỷ lệ hiện mắc chung của NKHHCT được quan sát là 59,1%, với tỷ lệ lưu hành ở khu vực thành thị và nông thôn lần lượt là 63,7% và 53,7%[27]

Nghiên cứu của Shivaprakash N.C và Kutty D.N năm 2017 [28] cho thấy trẻ được bú mẹ, có dinh dưỡng tốt và tiêm chủng đầy đủ có liên quan đến việc giảm nguy cơ NKHHCT ở trẻ.

Nghiên cứu của Bipin năm 2012 và cộng sự chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức của bà mẹ về phòng và kiểm soát bệnh NKHHCT Cung cấp kiến thức cho bà mẹ có thể thay đổi được thái độ và hành vi chăm sóc sức khoẻ cho trẻ NKHHCT [29]

Nghiên cứu của Kumar R (2012) cho thấy kiến thức của các bà mẹ về nguyên nhân gây NKHHCT còn thấp, khi chỉ có 28% bà mẹ nhận diện đúng nguyên nhân gây NKHHCT Nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT cho các bà mẹ có thể làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em do NKHHCT, như được đề cập trong nghiên cứu [30].

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 132 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Nepal năm 2014 về kiến thức, thực hành quản lý bệnh NKHHCT [31], kết quả cho thấy phần lớn là các bà mẹ ở nhóm tuổi 20 – 24 tuổi, nghề nghiệp chủ yếu là nội trợ, hầu hết bà mẹ có thông tin về bệnh (93%) trong đó nguồn thông tin từ nhân viên y tế chiếm 30% Về kiến thức nhận biết dấu hiệu bệnh, 2 dấu hiệu được bà mẹ biết đến nhiều nhất là ho (78%), chảy nước mũi (71%) Chỉ có 48% bà mẹ biết đúng về dấu hiệu nguy hiểm của bệnh Sự thiếu hụt kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của bệnh đã đặt ra một đề xuất về chương trình giáo dục tại cộng đồng cho các bà mẹ về NKHHCT

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Với tỷ lệ tử vong cao ở trẻ em dưới 5 tuổi do NKHHCT, năm 1983 TCYTTG đã có chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em, chương trình được triển khai tại Việt Nam từ năm 1984 Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và đầu tiên của Châu Á có chương trình này[8], [13] Chương trình được triển khai từ rất sớm và đã đạt được những kết quả đáng kể [32] Tuy vậy, theo báo cáo hàng năm của Bộ

Y tế cho thấy NKHHCT luôn nằm ở nhóm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất, đặc biệt ở trẻ dưới 5 tuổi Các thống kê từ bệnh viện và cộng đồng cho thấy tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ em những năm gần đây không có xu hướng thuyên giảm Mục tiêu cơ bản của chương trình NKHHCT là làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi liên quan đến NKHHCT, đặc biệt là viêm phổi Giáo dục kiến thức cho bà mẹ để phát hiện sớm bệnh và đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời là một trong ba nội dung hoạt động chính của chương trình Chiến lược thành công của chương trình là cải thiện kiến thức, hướng dẫn bà mẹ, phòng ngừa và chăm sóc trẻ bệnh đúng.

Nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết (2010) về “Một số đặc điểm dịch tễ và hiệu quả can thiệp đối với nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện chợ mới, tỉnh Bắc Cạn” trên 593 bà mẹ Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ trước thời điểm can thiệp còn cao, chiếm 43,9%, nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp (36,1%), nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp (7,8%) Nhóm trẻ từ 36 – 60 tháng có tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp trên cao nhất (41,0%), nhóm trẻ từ 2 – 35 tuổi

- Trình độ học vấn: Trung học cơ sở trở xuống; trung học phổ thông; trung cấp/ cao đẳng,/ đại học; sau đại học

- Nghề nghiệp: Cán bộ, viên chức; công nhân; nông dân; nội trợ; khác

- Nơi cư trú: Thành thị; nông thôn

- Số con của bà mẹ: 1 con; từ 2 con trở lên

- Thông tin về tư vấn giáo dục sức khỏe: Có ; Không

- Nguồn thông tin về tư vấn giáo dục sức khỏe nhận được: Nhân viên y tế; thông tin truyền thông đại chúng; bạn bè/ người thân

2.3.2.2 Các biến số kiến thức của bà mẹ về NKHHCT

* Kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT: bao gồm kiến thức đúng về khái niệm, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ, dấu hiệu bệnh:

- Khái niệm về NKHHCT của bà mẹ : Đúng /Sai

- Nguyên nhân thường gặp gây NKHHCT: Đúng /Sai

- Các yếu tố nguy cơ

+ Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp (dưới 2500g)

+ Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ

+ Ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà, khói thuốc lá

+ Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em + Nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A

+ Rút lõm lồng ngực (RLLN)

- Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

+ Trẻ không uống được hoặc bỏ bú

+ Ngủ li bì hoặc khó đánh thức

+ Thở rít khi nằm yên

- Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi

+ Bú kém hoặc bỏ bú

+ Ngủ li bì hoặc khó đánh thức

+ Thở rít khi nằm yên

+ Sốt hoặc hạ nhiệt độ

- Nhận biết dấu hiệu rút lõm lồng ngực của bà mẹ: Đúng/ Sai

* Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT: bao gồm kiến thức đúng về cách làm thông thoáng đường thở, giảm khó thở, giảm ho bằng thuốc đông y, vệ sinh mũi và họng, giữ ấm cho trẻ, chế độ ăn uống hợp lý

- Làm thông thoáng đường thở và giảm khó thở cho trẻ bằng cách:

+ Tư thế vai cao, cổ ngửa

+ Làm sạch mũi họng: dùng khăn lau sạch/ dùng giấy thấm sâu kèn, nhỏ mũi và vệ sinh họng bằng dung dịch nước muối sinh lý

+ Trẻ đang bú mẹ thì bà mẹ cần vắt sữa đổ thìa

- Giảm ho, làm dịu đau họng: bằng các loại thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường, hoa hồng hấp đường, mật ong,…

- Giữ ấm cho trẻ về mùa lạnh và khi thời tiết thay đổi, đặc biệt phần cổ và ngực trẻ

- Chế độ ăn uống hợp lý là:

+ Cho trẻ ăn tốt hơn khi ốm, tiếp tục cho trẻ ăn lúc bệnh

+ Cho trẻ bú mẹ nhiều hơn bình thường, tăng cường bú mẹ bằng cách cho bú nhiều bữa hơn trong ngày hoặc bú với một lượng nhiều hơn trong một lần bú

+ Thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu

+ Chia làm nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít

+ Không kiêng trong chế độ ăn như: tôm, cua, dầu, mỡ…

- Cho trẻ uống nhiều nước ấm theo nhu cầu/ Bú mẹ nhiều lần

* Kiến thức của bà mẹ về dự phòng NKHHCT: bao gồm kiến thức đúng về các biện pháp phòng bệnh cho trẻ bằng cách:

- Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ Đặc biệt là vệ sinh mũi, họng cho trẻ

- Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh

- Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch

- Không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp, bụi, lông súc vật

- Không cho trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá trong nhà

- Trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và đảm bảo vitamin A

- Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan

Tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá kiến thức của bà mẹ về NKHHCT:

- Câu hỏi chọn ý đúng : Chọn đúng được 1 điểm; chọn sai 0 điểm

- Câu hỏi nhiều lựa chọn: Mỗi ý chọn đúng được 1 điểm, các ý chọn sai hoặc không biết được 0 điểm

Tổng số điểm tối đa đạt được của 18 câu hỏi là 44 điểm (kiến thức về bệnh NKHHCT tối đa được 25 điểm, kiến thức về chăm sóc tối đa được 11 điểm, kiến thức về phòng bệnh tối đa được 8 điểm) Bà mẹ có tổng điểm kiến thức ≥ 31 điểm (≥ 70% câu trả lời đúng) thì được xếp vào nhóm có kiến thức đạt và ngược lại các bà mẹ có điểm kiến thức < 31 điểm thì được đánh giá là kiến thức chưa đạt

- Cách tính điểm và phân loại kiến thức đạt và không đạt trước và sau can thiệp là giống nhau

- Xác định đúng/ sai dựa trên những nội dung về bệnh NKHHCT ở trẻ em trong các tài liệu chính thống [10], [11], [13], [14], [15]

Để đánh giá hiệu quả can thiệp giáo dục, bài viết so sánh sự thay đổi sau can thiệp với trạng thái trước can thiệp dựa trên hai tiêu chí chính: mức chênh lệch điểm trung bình khi trả lời các câu hỏi và sự khác biệt về tỷ lệ đúng đối với từng nội dung đánh giá Việc phân tích chênh lệch điểm trung bình giữa sau và trước can thiệp cho thấy mức độ cải thiện chung của nhóm tham gia, trong khi đo lường tỷ lệ đúng ở từng nội dung cho phép nhận diện những nội dung có hiệu quả cao hoặc cần điều chỉnh Kết quả được trình bày bằng bảng so sánh và các chỉ số thống kê phù hợp, nhằm cung cấp cái nhìn rõ ràng về tác động của can thiệp giáo dục lên kết quả học tập Các phát hiện từ phân tích này có thể dùng để tối ưu hóa chương trình giảng dạy và tăng cường nội dung đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.

Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu được thu thập vào các biểu mẫu

- Các thông tin thu thập được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0

Kiến thức của bà mẹ là biến số chính trong nghiên cứu Các biến liên quan được mã hóa và tính toán thành điểm số cho từng bà mẹ, từ đó xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng Kết quả này cung cấp cái nhìn tổng quan về mức độ hiểu biết của bà mẹ và làm cơ sở cho phân tích và can thiệp nhằm nâng cao kiến thức chăm sóc trẻ.

Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Bà mẹ tham gia vào nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích, lợi ích và quá trình phỏng vấn Bà mẹ có quyền đồng ý hay từ chối tham gia phỏng vấn mà không ảnh hưởng đến chất lượng khám và chữa bệnh của họ

- Sự tham gia của bà mẹ là hoàn toàn tự nguyện

- Các thông tin về bà mẹ tham gia nghiên cứu được giữ bí mật, lưu giữ và chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu.

Kết quả khảo sát

2.6.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n`) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Nhóm NC

Trung học cơ sở trở xuống 8 13,3

Trung cấp/cao đẳng/đại học 22 36,7

Nơi cư trú Thành thị 12 20

Số con của bà mẹ

Kết quả bảng 3.1 cho thấy, đa số bà mẹ tham gia nghiên cứu ở độ tuổi từ 25-

35 với tỷ lệ là 68,3% Bà mẹ ở độ tuổi dưới 25 với tỷ lệ là 20,0%.Bà mẹ ở độ tuổi trên 35 với tỷ lệ là 11,7%

Tỷ lệ đối tượng có học vấn trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,3% Tỷ lệ đối tượng có trình độ trung học cơ sở trở xuống là 13,3%

Các đối tượng nghiên cứu chủ yếu đến từ vùng nông thôn là 76,7% và có từ

2 con trở lên là 53,3% Đa số đối tượng nghiên cứu là công nhân là 53,3% Nông dân chiếm tỷ lệ 11,7 % Tỷ lệ cán bộ viên chức tại nhóm nghiên cứu16,7%

Bảng 2.2 Các đặc điểm về thông tin GDSK Đặc điểm Nhóm CT

Nguồn thông tin nhận được từ

Mong muốn nhận thông tin từ nguồn

Kết quả bảng cho thấy 41,7% đối tượng được tư vấn về bệnh, chăm sóc và dự phòng NKHHCT; nguồn cung cấp thông tin cho bà mẹ nhiều nhất ở cả hai nhóm là nhân viên y tế với tỷ lệ 56,0%; và đa số bà mẹ mong muốn nhận thông tin từ nhân viên y tế, chiếm 73,3% ở nhóm nghiên cứu.

2.6.2 Thực trạng kiến thức của bà mẹ về NKHHCT

Bảng 2.3 Kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT Kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT

Trả lời của bà mẹ Nhóm NC (n`) Đúng Sai

Nhận biết dấu hiệu rút lõm lồng ngực 23 38,3 37 61,7

Nghiên cứu cho thấy kiến thức về nhận biết dấu hiệu rút lõm lồng ngực của các bà mẹ còn ở mức thấp, với 38,3% trả lời đúng Kiến thức đúng của bà mẹ về khái niệm và nguyên nhân mắc bệnh lần lượt đạt 43,3% và 48,3% trong nhóm nghiên cứu.

Bảng 2.4 Kiến thức của bà mẹ về nhận biết yếu tố nguy cơ gây bệnh NKHHCT Kiến thức của bà mẹ về Trả lời của bà mẹ nhận biết yếu tố nguy cơ Nhóm NC (n`) Đúng Sai

1 Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp

Ngày đăng: 20/02/2022, 23:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. World Health Organization (2019). Pneumonia,https://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/pneumonia Link
1. Regamey, Nicolas, Kaiser et al (2008), Viral Etiology of Acute Respiratory Infections With Cough in Infancy: A Community-Based Birth Cohort Study, Pediatric Infectious Disease Journal, 27(2), 100 - 105 Khác
2. Shamshiri A.R, Fahimzad A, Tabatabaie S.A. et al (2013). Frequency of Pediatric Acute Respiratory Tract Infections in Iran; A Systematic Review.Arch Pediatr Infect Dis, 1(2), 44-52 Khác
4. Bộ Y tế (2011), Các bệnh mắc và chết cao nhất trên toàn quốc, Niên giám thống kê y tế năm 2011, Nhà xuất bản Hà Nội, 203 - 210 Khác
5. Đàm Thị Tuyết (2010), Một số đặc điểm dịch tễ và hiệu quả can thiệp đối với nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện chợ mới, tỉnh Bắc Cạn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Thái Nguyên Khác
6. Mai Anh Tuấn (2008), Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã miền núi tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Khác
7. Nguyễn Thị Minh Hiếu (2012), Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong thực hành xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Đan Phượng và Ba Vì, Hà Nội, Luận văn tiến sĩ y tế công cộng, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương Khác
8. Lý Thị Chi Mai và Huỳnh Thanh Liêm (2011), Nghiên cứu tình hình mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, Trung tâm y tế dự phòng Trà Vinh Khác
9. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 07/2011/TT-BYT – Thông tư hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Khác
10. Bộ môn Nhi (2013), Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em, Bài giảng Nhi khoa, Trường Đại học y Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội, 380-390 Khác
11. Bộ Y tế (2006), Chăm sóc trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, Điều dưỡng Nhi khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 181- 204 Khác
12. Đinh Ngọc Đệ (2012),Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em, Chăm sóc sức khoẻ trẻ em, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam, 150 - 160 Khác
13. Bộ Y tế (2014), Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI), Y tế - Sức khoẻ, 150 - 158 Khác
14. Bộ Y Tế (2008), Đánh giá và phân loại trẻ bệnh từ 2 tháng đến 5 tuổi, Hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh, Tài liệu huấn luyện kỹ năng xử trí lồng ghép trẻ bệnh cho cán bộ y tế phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã, quyển 2, Hà Nội, 4 - 12 Khác
15. Bộ Y tế (2008), Xử trí trẻ bệnh từ 0 đến 2 tháng tuổi, Hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh, Tài liệu huấn luyện kỹ năng xử trí lồng ghép trẻ bệnh cho cán bộ y tế phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã, quyển 6, Hà Nội, 5 - 10 Khác
16. Phan Văn Tính và Trần Ngọc Hữu (2012), Tác nhân gây bệnh và đặc điểm dịch tễ học những trường hợp viêm phổi do vi rút ở trẻ em dưới 5 tuổi tại tỉnh Bến Tre năm 2009, Tạp chí Y Học Thực Hành, 3(810),64 - 66 Khác
17. Pore P.D, Ghattargi C.H and Rayate G.H (2010), Study of risk factors of acute respiratory infection (ARI) in under fives in Solapur, National Journal of Community Medicine, 1(2), 64 - 67 Khác
18. Trần Thanh Thảo (2012). Vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cuộc sống. Chuyên đề phụ nữ Khác
19. Trần Quý Long (2007). Lao động, nội trợ của phụ nữ trong gia đình nông thôn. Viện xã hội học Khác
20. Bộ Y tế (2008), Điều trị trẻ bệnh, Hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh, Tài liệu huấn luyện kỹ năng xử trí lồng ghép trẻ bệnh cho cán bộ y tế phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã, quyển 4, Hà Nội, 8 - 14 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w