Vì nhiều người trong số những người nghiện rượu này cũng có các vấn đề về tâm thần, điều dưỡng sức khỏe tâm thần chưa cung cấp theo dõi và hướng dẫn đầy đủ khi người bệnh điều trị ngoại
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc điểm chung về lạm dụng rượu và nghiện rượu
1.1.1.1 Khái niệm lạm dụng rượu
Uống rượu là một tập quán giao tiếp xã hội tồn tại từ lâu trên thế giới và được ghi nhận trong nhiều nền văn hóa Tuy rượu là một chất tác động tâm thần được cho là mang lại cảm giác sảng khoái, vui vẻ và sự nhanh nhẹn khi uống ở mức vừa phải, nhưng khi uống với liều lượng lớn, người uống dễ bị say rượu, mất kiểm soát hành vi và có thể rơi vào hôn mê hoặc ngộ độc cấp tính, gây hại cho sức khỏe Lạm dụng rượu là khái niệm khó xác định ranh giới giữa sử dụng thông thường và sử dụng gây hại, có thể dẫn đến phụ thuộc rượu và nghiện rượu.
1.1.1.2 Tiêu chuẩn lạm dụng rượu theo DSM-IV(1994 )
Theo DSM-IV (1994) của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, tiêu chuẩn lạm dụng rượu được ghi nhận như sau: hình thức sử dụng rượu không tương thích gây ra biến đổi về chức năng hoặc một sự chịu đựng có ý nghĩa lâm sàng, đặc trưng bằng có mặt ít nhất một trong các biểu hiện sau trong vòng một năm; ví dụ, việc sử dụng rượu lặp đi lặp lại dẫn đến làm mất khả năng thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu trong công việc, ở nhà hoặc ở trường.
Việc lạm dụng rượu lặp đi lặp lại trong các tình huống gây hại cho sức khỏe thể chất; các vấn đề pháp lý liên quan đến rượu được nhắc lại, ví dụ như bị bắt giữ vì hành vi bất bình thường do uống rượu; và nhiều người vẫn tiếp tục sử dụng rượu mặc dù biết có những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn giữa các cá nhân và xã hội do tác dụng của rượu, mà không có dấu hiệu nghiện rượu.
1.1.2 Một số khái niệm về nghiện rượu
Vào năm 1849, Huss M (Thụy Sĩ) là người đầu tiên dùng thuật ngữ “nghiện rượu” để chỉ những người uống rượu thường xuyên và quá mức, kèm theo các vấn đề về sức khỏe thể chất và tâm thần; cho đến nay, nghiện rượu được xem là một bệnh lý do rượu gây ra, có các tác nhân thúc đẩy và nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa thế nào về nghiện rượu vẫn còn khó xác định và có nhiều định nghĩa khác nhau đề cập đến các khía cạnh của nghiện rượu Năm 1951, Pouget định nghĩa nghiện rượu là khi một cá nhân đã sử dụng rượu mà bị mất tự do trước rượu; sau đó, năm 1994, Hardy P và Keureis O định nghĩa nghiện rượu theo hai mặt: về lượng, nghiện rượu là sử dụng hàng ngày vượt quá 1 ml rượu cho 1 kg cân nặng hoặc 3/4 lít rượu vang 10% cồn cho một người đàn ông nặng 70 kg; về mặt xã hội, nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá mức sử dụng thông thường và truyền thống.
1.1.2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu
Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10 (1992) [11] được xác định như sau:
+ Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
+ Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng
+ Xuất hiện hội chứng cai rượu khi việc sử dụng rượu bị ngừng lại hoặc bị giảm bớt
+ Có những bằng chứng về sự dung nạp như tăng liều
+ Dần dần xao nhãng những thú vui hoặc những thích thú trước đây
+ Tiếp tục sử dụng mặc dù có những hậu quả tai hại
Chỉ được chẩn đoán nghiện rượukhi có từ 3 điểm trở lên đã được trải nghiệm hay biểu hiện trong vòng 1 năm trở lại đây
1.1.3 Mức độ phổ biến của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Việc tiêu thụ rượu, bia có chiều hướng tăng theo nhiều thập kỷ và theo Godard J (1992) có sự tương đồng trong mức tiêu thụ rượu ở các nước khác nhau: bia tăng ở các nước La Tinh, rượu vang phổ biến ở các nước Anglo Xacxông và rượu mạnh được sử dụng ở nhiều nơi, khiến tỷ lệ nghiện rượu có xu hướng tăng ở nhiều quốc gia Tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới trên 15 nước công nghiệp phát triển cho thấy: năm 1929 chỉ có 0,03% dân số nghiện rượu, năm 1940 tăng lên 0,33% và năm 1975 tăng lên 1,23%; tỷ lệ nghiện rượu ở các nước phương Tây tăng so với trước chiến tranh khoảng 2-2,5 lần Ở nước ta, các báo cáo tại Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu năm 1994 cho thấy: tại khu vực thành phố tỷ lệ lạm dụng rượu chiếm từ 5-10,4% dân số, khu vực nông thôn 0,57-1,2%; tỷ lệ nghiện rượu ở thành phố là 1,16-3,61% dân số, miền núi 2,34%, nông thôn 0,14-0,42%.
Năm 2005, theo Lâm Xuân Điền, tỷ lệ nghiện rượu ở Thành phố Hồ Chí Minh là khoảng 3%, còn tỷ lệ nghiện rượu trên toàn quốc dao động từ 0,31% đến 3% dân số; ngày nay con số này có thể còn tăng cao hơn.
1.1.4 Hậu quả của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Nghiện rượu và lạm dụng rượu gây hậu quả nghiêm trọng cho chính người uống, ảnh hưởng tới sức khỏe, đời sống gia đình và chất lượng công việc Bên cạnh tác động cá nhân, vấn đề này còn tạo gánh nặng kinh tế cho xã hội thông qua chi phí y tế, giảm năng suất và tăng chi phí an ninh trật tự Những hệ quả này cũng ảnh hưởng đến an ninh xã hội do các hành vi liên quan đến rượu có thể dẫn đến tai nạn, xung đột và rối loạn trật tự công cộng Việc nhận diện, can thiệp y tế hiệu quả và các biện pháp phòng ngừa sớm được xem là cách giảm thiểu cả tác động cá nhân lẫn tổn thất kinh tế xã hội liên quan đến nghiện và lạm dụng rượu.
1.1.4.1 Hậu quả đối với cá nhân
Rượu sau khi vào cơ thể sẽ được phân bổ đến các cơ quan nội tạng; lạm dụng và nghiện rượu kéo dài sẽ dần làm rối loạn chức năng các cơ quan nội tạng, gây ra các rối loạn và bệnh lý khác nhau Người nghiện rượu có thể biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn chức năng tiểu não như mất điều hòa và khó khăn với các kỹ năng vận động tinh, nói lắp, nhịp tim nhanh, suy giảm trí nhớ, rung giật nhãn cầu, hành vi bị ức chế hoặc hạ huyết áp Họ có thể biểu hiện run, lú lẫn hoặc thay đổi trạng thái tâm thần, rối loạn nhịp tim, lòng bàn tay hồng hào, vàng da, báng bụng hoặc các dấu hiệu khác của bệnh gan tiến triển Cũng có thể có u mạch hình mạng nhện, gan to hoặc lách to ở giai đoạn đầu; gan bị xơ và teo lại khi bệnh tiến triển Họ có thể bị rối loạn chảy máu, thiếu máu, viêm hoặc loét dạ dày hoặc viêm tụy do các biến chứng của việc sử dụng rượu Các kết quả xét nghiệm có thể cho thấy thiếu máu, giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, hạ natri máu, tăng natri huyết, tăng amoniac hoặc giảm nồng độ B12/folate khi bệnh gan tiến triển Tại Việt Nam năm 1996, Lâm Xuân Điền và cộng sự điều tra tại 5 bệnh viện đa khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 17,1% số người bệnh có sử dụng rượu; trong đó các bệnh về tiêu hóa chiếm 20,9%, các bệnh về khớp và cơ 19,2%, các bệnh hô hấp 11,6%, các bệnh nhiễm khuẩn 8,1%, tim mạch 7,0%.
1.1.4.2 Hậu quả về kinh tế -xã hội
Theo Ades.J (1990), tại Pháp lạm dụng rượu và nghiện rượu là nguyên nhân của 60% số tử vong do tai nạn giao thông, 10-20% số tử vong do tai nạn lao động và 25% số tử vong do tự sát Ở Bắc Mỹ và Châu Âu, tỷ lệ tử vong ở người lạm dụng rượu tăng từ 1,6 đến 4,7 lần Vì vậy, WHO xếp các bệnh lý liên quan đến rượu là nguyên nhân gây tử vong thứ ba sau tim mạch và ung thư Ở Việt Nam, tổng hợp các báo cáo tại Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu cho thấy trong số những người lạm dụng và nghiện rượu có tới 31% mất việc làm; 8-18% gia đình tan vỡ; 5-20% gây tai nại cho người khác; 5-34% bị thương do uống rượu gây tai nạn cho chính mình; 5-25% bị bắt giữ vì phạm pháp Số người lạm dụng và nghiện rượu bị sa sút về kinh tế chiếm từ 45-68,5%.
Dịch tễ học của nghiện rượu
Người trưởng thành từ 30 tuổi trở lên có nguy cơ nghiện rượu cao, nhưng tỷ lệ nghiện rượu tăng nhanh theo lứa tuổi: khoảng 70% người nghiện rượu ở dưới 40 tuổi, 90% ở dưới 50 tuổi và 93,6% ở dưới 60 tuổi Các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam của các tác giả như Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị và Quách Văn Ngư cho thấy 27-50% số người nghiện rượu nằm trong độ tuổi 30-40, tức nhóm lao động quan trọng của xã hội Một số tác giả ước tính tuổi trung bình của người nghiện rượu tại Việt Nam vào khoảng 42 tuổi.
Tỷ lệ nam/nữ nghiện rượu nói chung dao động từ 4/1 đến 8/1, và hầu hết các nghiên cứu lâm sàng hiện nay cho thấy phần lớn người bệnh là nam giới Theo tác giả Starova L.V (1976), tỷ lệ nghiện rượu ở nữ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số người bệnh Ở Việt Nam, các nghiên cứu về nghiện rượu đều cho thấy hầu hết người bệnh là nam giới và số người bệnh ở nữ rất nhỏ, có lẽ do phong tục tập quán của nước ta khác với phương Tây Phụ nữ Việt Nam rất ít uống rượu nên tỷ lệ nữ bị nghiện rượu rất thấp.
Nghề nghiệp là môi trường có ảnh hưởng lớn đến lạm dụng rượu, từ đó phát sinh ra nghiện rượu Có 3 loại nghề nghiệp liên quan đặc biệt đến nghiện rượu là nông dân với môi trường nông thôn; tầng lớp công nhân lao động chân tay nặng nhọc; những nghề phải tiếp xúc với công chúng nhiều như bồi bàn, nhân viên chuyển hàng và giới kinh doanh.Nghiên cứu của tác giả Lý Trần Tình
(2006) cho thấy công nhân chiếm tỷ lệ 34,4%, nông dân 32,3%, viên chức 6,3%, và 21,7% làm nghề tự do [4]
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy có một tỷ lệ đáng kể người bệnh có trình độ học vấn thấp Theo Soayka M (1990) cho thấy 64,2% có học vấn phổ thông trung học và 13,2% có học vấn tiểu học.Tác giả Trần Viết Nghị (1996) cho thấy có tới 80,6%số người nghiện rượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học
1.2.5 Lượng rượu uống hàng ngày
Các nghiên cứu về lượng rượu uống hàng ngày ở người nghiện rượu cho thấy mức tiêu thụ thay đổi tùy vùng miền và thói quen sinh hoạt địa phương Nói chung, lượng rượu uống mỗi ngày vượt quá 300 ml rượu có nồng độ 40 độ được xem là ngưỡng để có nguy cơ trở thành nghiện rượu sau 10 năm uống liên tục; đây chỉ là giới hạn dưới của mức nghiện Trên thực tế, người bệnh nghiện rượu thường uống rải rác trong ngày và tổng lượng uống có thể lên tới 1000 ml rượu 40 độ.
1.2.6 Thời gian uống rượu của người bệnh nghiện rượu Đa số các tác giả đều cho rằng thời gian uống rượu phải trên 10 năm mới trở thành nghiện rượu.Chỉ một số rất ít các người bệnh uống rượu trên 5 năm đã trở thành nghiện rượu Nói chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống dưới 5 năm chỉ chiếm khoảng 10% số trường hợp, tỷ lệ cao nhất gặp trong nhóm uống rượu từ 10-15 năm chiếm 60%, các người bệnh ở các nhóm thời gian uống rượu 15-20 năm chiếm 30%
1.2.7 Tiền sử gia đình của người bệnh nghiện rượu
Con cái của người nghiện rượu có tỷ lệ nghiện cao gấp 4-5 lần so với con cái của những người không nghiện rượu Nghiện rượu được xem là một bệnh có yếu tố di truyền, trong đó phần lớn nguy cơ đến từ di truyền và phần khác liên quan đến lối sống và sinh hoạt của bố mẹ Các nghiên cứu về song sinh cho thấy di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ nghiện rượu: ở các cặp sinh đôi cùng trứng có gen di truyền giống nhau, trong khi ở các cặp sinh đôi khác trứng có gen di truyền khác nhau Khoảng 60% trường hợp người nghiện rượu có bố mẹ hoặc anh chị em cũng là người nghiện.
Biểu hiện lâm sàng của nghiện rượu
1.3.1 Giai đoạn I (giai đoạn giống suy nhược thần kinh) Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiện rượu Thật ra lúc này người bệnh chưa trở thành nghiện rượu vì khi bỏ rượu họ không có hội chứng cai rượu Tuy nhiên, đây là bước đầu tiên quan trọng mà người nghiện rượu nào cũng phải trải qua.Người bệnh thích uống rượu và lượng rượu cũng tăng dần Nếu không uống rượu thì người bệnh cảm thấy thèm và nhớ rượu Vì thế người bệnh tận dụng mọi cơ hội để uống rượu Đôi khi, có thể ghi nhận các cơn say rượu bệnh lý của người bệnh.Đó là tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, xuất hiện đột ngột sau khi uống một lượng rượu nhỏ Trong cơn say bệnh lý, người bệnh có thể có các rối loạn hành vi rất trầm trọng như đánh người, đập phá Cơn say rượu bệnh lý thường kết thúc đột ngột bằng một giấc ngủ Khi thức dậy người bệnh không nhớ những gì đã xảy ra trong cơn (quên trong cơn ) Cơn say rượu bệnh lý tuy hiếm nhưng rấtđặc trưng cho giai đoạn I của nghiện rượu Cơn say rượu bệnh lý có thể tái phát ngày càng trầm trọng và mật độ cơn ngày càng nhiều nếu người bệnh vẫn tiếp tục uống rượu Các người bệnh này dần dần thay đổi tính tình Họ dần trở lên độc ác, hay nổi cáu vô cớ, hay quấy nhiễu và đa nghi Những nạn nhân của họ thường là vợ con và các thành viên khác trong gia đình Người bệnh hay quên, mất ngủ, trí nhớ và chú ý rất kém, hay mệt mỏi khả năng lao động giảm sút nghiên trọng (có hội chứng suy nhược thần kinh) Vì vậy giai đoạn này còn gọi là giai đoạn giống suy nhược thần kinh Trong giai đoạn này, nếu người bệnhcai rượu thì các triệu chứng nêu trên dần biến mất Nếu người bệnh tiếp tục uống rượu thì bệnh nhận sẽ chuyển sang giai đoạn II của nghiện rượu [4]
1.3.2 Giai đoạn II (giai đoạn có hội chứng cai)
Ở giai đoạn này, người bệnh thực sự trở thành nghiện rượu, luôn chịu đựng cơn thèm rượu dữ dội và có thể uống bất cứ lúc nào Khi bị cấm uống, họ sẽ tìm mọi cách để uống và thường cần uống ở những khoảng thời gian ngắn hơn, khiến quá trình uống rượu trở nên liên tục và dễ dẫn tới trạng thái say rượu kéo dài Nếu không được uống, họ có thể gặp hội chứng cai rượu khi nồng độ cồn trong máu giảm xuống, thường xuất hiện vào buổi sáng sau một đêm không uống; vì vậy, nhiều nơi trên thế giới ghi nhận hành vi uống rượu vào sáng sớm là dấu hiệu của nghiện rượu Trong giai đoạn này, biểu hiện phụ thuộc thực thể chiếm ưu thế, tình trạng say rượu ngày càng gia tăng và mang tính cưỡng bức Người bệnh vẫn có đủ nghị lực để đối mặt với cơn thèm, nhưng các triệu chứng ở giai đoạn I không biến mất mà ngược lại có xu hướng tăng lên; đặc trưng nổi bật là hội chứng cai xuất hiện khi người bệnh không uống rượu vài giờ hoặc vài ngày, đi kèm rối loạn tâm thần, rối loạn thần kinh và các rối loạn cơ thể, các triệu chứng này chỉ giảm đi hoặc mất khi người bệnh uống rượu trở lại Các triệu chứng tâm thần ở giai đoạn này có thể đi kèm với trạng thái khí sắc thấp, buồn rầu, dễ cáu gắt, giận dữ, nghi ngờ và thậm chí ảo thị/ảo thính; giấc ngủ không sâu, ác mộng và cảm giác bất tiện sau khi ngủ dậy Hội chứng cai còn thể hiện ở các rối loạn thần kinh tự chủ như nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, run tay chân, khô miệng, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn, tiêu chảy, tăng tiết mồ hôi và có thể run nhẹ các cơ mặt.
Biểu hiện rối loạn tâm thần trong giai đoạn cai rượu thường tiến triển cấp tính và kéo dài với nhiều triệu chứng ngày càng rõ, đặc biệt ở người nghiện rượu Sảng rượu hay delirium tremens là hội chứng cai nặng gặp ở người có tiền sử uống rượu kéo dài, diễn biến nhanh với rối loạn thần kinh mạnh, ý thức u ám, rối loạn định hướng không gian và thời gian và sa sút trí nhớ Người bệnh kích động mạnh, mất thư giãn, sợ hãi, mất ngủ kéo dài vài ngày, run tay biên độ lớn và thất điều, kèm rối loạn thần kinh thực vật như ra mồ hôi nhiều, sốt, đánh trống ngực và dao động huyết áp Xét nghiệm máu thường cho thấy tăng bạch cầu (đặc biệt bạch cầu hạt), rối loạn chức năng gan, mất nước và rối loạn điện giải Sảng rượu kéo dài vài ngày, triệu chứng nặng hơn vào ban đêm và sau khi kết thúc sảng người bệnh ngủ được và quên những gì xảy ra trong giai đoạn này Sau đó là giai đoạn III—giai đoạn bệnh não thực tổn do rượu.
Ở giai đoạn này, sự biến đổi từ từ làm cho các triệu chứng ở giai đoạn II trở nên nặng hơn và xuất hiện thêm nhiều triệu chứng mới Thèm rượu có khuynh hướng giảm đi và bớt lè nhè, quấy rầy hơn trước, nhưng cơn thèm bắt buộc đối với rượu vẫn xuất hiện do các yếu tố loạn tâm thần nội sinh Khả năng dung nạp rượu kém khiến trạng thái say xảy ra ở liều lượng nhỏ hơn so với giai đoạn I và II trước đó Hội chứng cai ở giai đoạn này kéo dài hơn, với biểu hiện rối loạn thần kinh vận mạch, rối loạn cơ thể và rối loạn kinh cũng nặng nề hơn so với giai đoạn I và II Biểu hiện nghiện ở người bệnh còn thể hiện bằng mạch chậm và xẹp mạch.
Giai đoạn bệnh não thực tổn do rượu thể hiện lạm dụng rượu hàng ngày dù liều thấp, được coi là nghiện rượu thực sự; nhân cách người bệnh suy đồi và bất chấp sự lên án của gia đình, xã hội, mọi suy nghĩ tập trung vào rượu Người bệnh dễ xuất hiện hoang tưởng ghen tuông, chống đối xã hội, hành vi thô bạo, căng thẳng hoặc nổi cáu và trí nhớ giảm sút, có xu hướng chuyển sang rối loạn tâm thần Các bệnh não thực tổn do rượu gồm Korsakov, viêm não Wernicke và mất trí do rượu Trước đây, người ta nghi ngờ rượu gây mất trí hoặc nghiện rượu gây hội chứng Korsakov, nhưng bằng chứng gần đây cho thấy nghiện rượu mạn tính chính là nguyên nhân gây mất trí.
1.3.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu
- Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
- Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng về thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng rượu bị ngừng lại hoặc giảm bớt
- Có những bằng chứng về sự dung nạp như tăng liều
- Dần dần sao nhẵng những thú vui hoặc những thích thú trước đây
Người ta vẫn tiếp tục uống rượu mặc dù biết hoặc đã gặp phải những hậu quả tai hại của nó Việc chẩn đoán nghiện rượu được thực hiện khi có ít nhất 3 triệu chứng trở lên và các triệu chứng này xuất hiện trong vòng một năm trở lại đây.
Hội chứng cai rượu
Hội chứng cai rượu có nhiều triệu chứng phong phú, xuất hiện lần lượt theo thời gian Vài giờ sau khi ngừng uống rượu, người bệnh sẽ cảm thấy thèm rượu dữ dội và không thể kiềm chế được cơn thèm Khi cơn thèm tăng lên, người bệnh bắt đầu có run tay với biên độ trung bình, xuất hiện cả khi nghỉ ngơi và khi làm việc.
Trong cai rượu, người bệnh thường mệt mỏi, uể oải và chán ăn, nhiều người bỏ ăn hoặc không uống nước; mất ngủ xuất hiện ngay tối đầu tiên sau khi cai và diễn tiến nặng dần từ ngày thứ 3 đến thứ 5, kèm cảm giác mệt mỏi khi thức dậy và ác mộng Bệnh còn kèm rối loạn thần kinh thực vật như mạch nhanh trên 100 lần/phút, huyết áp dao động, ra mồ hôi nhiều và thân nhiệt tăng 38-39°C khiến rối loạn nước điện giải trở nên nghiêm trọng, có thể dẫn tới tử vong nếu không được chăm sóc y tế Người bệnh dễ kích động, la hét, chửi bới và phá hoại; hoang tưởng và ảo giác thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến thứ 5 sau khi ngừng uống, khi cả hai hiện tượng cùng tồn tại được gọi là hội chứng paranoid do cai rượu Ảo giác thường gặp nhất là ảo thanh, người bệnh có thể nghe thấy tiếng chửi rủa từ bên ngoài vọng vào trong đầu, và hoang tưởng gặp ở khoảng 65% số người cai rượu, trong khi tỷ lệ ảo giác lên tới khoảng 85% trong các trường hợp cai rượu.
Hoang tưởng ở người cai rượu thường là hoang tưởng ghen tuông Một số bệnh nhân có hoang tưởng bị hại cho rằng ma quỷ hại mình Triệu chứng nặng nhất của hội chứng cai rượu là cơn co giật kiểu động kinh, xuất hiện ở những người bệnh có hội chứng cai rượu nặng, đột ngột từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 Cơn co giật diễn biến như một cơn động kinh lớn, với giai đoạn co cứng vài giây rồi co giật kéo dài 1-2 phút Tiếp theo là trạng thái mất tỉnh, hôn mê ngắn và hồi phục, người bệnh quên trong cơn Tất cả các đặc điểm này dễ nhầm với động kinh cơn lớn Cơn co giật kiểu động kinh được coi là triệu chứng nặng vì nó xuất hiện khi hội chứng cai rượu đạt đỉnh và là dấu hiệu cho thấy người bệnh sắp bước vào giai đoạn sảng rượu Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần khẩn cấp; nếu không được điều trị kịp thời đúng quy cách thì tỷ lệ tử vong rất cao Sảng rượu xuất hiện trên nền hội chứng cai rượu mức độ nặng; khi đã có sảng rượu thì việc điều trị trở nên rất khó khăn và tiên lượng sẽ rất nặng.
1.4.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-IV
• Ngừng hoặc giảm sử dụng rượu khi sử dụng liều cao và kéo dài
• Có ít nhất 2 dấu hiệu dưới đây xảy ra do tiêu chuẩn A vài giờ đến vài ngày Tăng hoạt động tự động ( nhịp tim tăng > 100 lần / phút)
• Aỏ thị giác, ảo thính giác, ảo khứu giác hay hoang tưởng Kích động tâm thần vận động
• Có trạng thái lo âu mạnh mẽ
• Có cơn co giật kiểu động kinh cơn lớn
• Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây nguy kịch hoặc suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác
• Các triệu chứng này không do một bệnh lý thực tổn và một bệnh rối loạn tâm thần nào khác gây ra.
Loạn thần do rượu
1.5.1 Ảo giác do rượu Đặc trưng của ảo giác do rượu là ảo thanh, thường là tiếng người nói xấu người bệnh hoặc đe dọa người bệnh, xảy ra khi ý thức của người bệnh hoàn toàn tỉnh táo Tiếng nói làm người bệnh rất khó chịu, lo âu và mất khả năng thư giãn Ảo giác do rượu nhìn chung rất bền vững Nếu không được điều trị, ảo giác do rượu có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí đến 1 năm Điều trị ảo thanh do rượu:
Việc cai rượu cho người bệnh được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần nhằm đảm bảo an toàn và giám sát chặt chẽ trong quá trình cai nghiện Sau khi kết thúc hội chứng cai rượu, người bệnh cần tiếp tục dùng thuốc an thần để điều trị ảo thanh do rượu, thường áp dụng một trong các phác đồ điều trị đã được chỉ định bởi bác sĩ.
+ Haloperidol 1,5mg x 8 viên/ ngày+ trihex 2mg x 4 viên/ ngàyuống sáng 1/2 liều, tối 1/2 liều
Phác đồ 2: olanzapin 10 mg x 1 viên/ ngày, uống buổi tối.Phác đồ 3: risperidon 2mg x 3 viên/ ngày, sáng uống 1,5 viên, tối uống 1,5 viên
Thời gian điều trị từ 3-6 tháng Chống tái nghiện rượu cho người bệnh bằng esperal 500mg x1/2 viên/ ngày, uống buổi sáng
Thời gian uống thuốc chống tái nghiện tối thiểu là 2 năm
1.5.2 Hoang tưởng do rượu Đặc trưng của hoang tưởng do rượu là các hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại, xảy ra khi ý thức của người bệnh vẫn hoàn toàn tỉnh táo Khi hoang tưởng do rượu kết hợp với ảo thanh do rượu sẽ tạo nên hội chứng paranoid [2]Cũng như ảo thanh do rượu, hoang tưởng do có thể hết nếu được điều trị bằng thuốc an thần và cai rượu co người bệnh Nhưng các triệu chứng này sẽ xuất hiện trở lại nhanh chóng nếu người bệnh tái nghiện rượu.Điều trị hoang tưởngdo rượu.-Phải cai rượu cho người bệnh tại các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần.-Sau khi hết họi chứng cai rượu, người bệnh cần tiếp tục dùng thuốc an thần để điều trị hoang tưởng, thường sử dụng phác đồ sau: Haloperdol 1,5mg x8 viên/ ngày+Trihex 2mgx4 viên/ ngàyuống sáng 1/2liều , tối 1/2 lieuthời gian điều trị từ 3-6 thángChống tái nghiện rượu cho người bệnh bằng esperal 500mg x1/2 viên/ ngày, uống buổi sáng Thời gian uống thuốc chống tái nghiện tối thiểu là 2 năm
Phân loại sảng rượu: Theo bảng phân loại của tổ chức Y tế thế giới lần thứ
10 ( ICD 10 ) năm 1992, sảng rượu được phân loại như sau:-F10.03: Sảng do ngộ độc rượu cấp-F10.1: trạng thái cai với mê sảng, trong đó có:
+ Trạng thái cai với mê sảng không có co giật
+ Tạng thái cai với mê sảng có co giật
Các giai đoạn của sảng rượu:
Giai đoạn khởi phát của sảng rượu có thể diễn ra đột ngột và cấp tính sau khi ngừng uống rượu, từ một đến vài ngày; dấu hiệu báo trước lần đầu là người bệnh uống liên miên dù mỗi lần uống không nhiều và luôn ở trạng thái say Biểu hiện ban đầu gồm rối loạn giấc ngủ với mất ngủ và ác mộng; người bệnh mệt mỏi, run lẩy bẩy, ra nhiều mồ hôi, tim đập nhanh, có cảm giác nóng bừng hoặc rét và sợ hãi lo lắng Sảng rượu thường bắt đầu vào buổi chiều và nặng lên về đêm, kèm theo hồi tưởng và ảo giác thị giác Người bệnh không nhận biết thời gian, không biết đang ở buổi chiều hay buổi sáng; nét mặt kém linh hoạt, chú ý giảm và tâm trạng bất ổn, dễ thay đổi cảm xúc.
Khoảng 10-15% số người bệnh ở giai đoạn khởi phát của sảng rượu có các cơn co giật kiểu động kinh Trên nền hội chứng cai rượu mức độ nặng,người bệnh xuất hiện các cơn co giật kiểu động kinh một cách đột ngột Đây là dấu hiệu báo trước sảng rượu sẽ sớm xuất hiện
- Giai đoạn toàn phát: Các triệu chứng của giai đoạn này rất đa dạng và phong phú, biến đổi liên tục nhưng sảng rượu luôn có 3 triệu chứng sau:
+ Mất ngủ hoàn toàn: người bệnh không ngủ được lúc nào trong vài ngày liên tục
+ Không biết mình là ai Sau đó người bệnh có u ám ý thức rồi chuyển thành hôn mê
Rối loạn nhận thức ở người bệnh rượu thể hiện bằng không có khả năng nhận thức các điều mới, kèm theo hoang tưởng ghen tuông bị hại và ảo giác rầm rộ Sảng rượu hay delirium tremens là dạng rối loạn thần kinh nặng, đi kèm với rất nhiều rối loạn thần kinh khác, đặc biệt là tình trạng run Người bệnh thường run ở đầu chi, run có biên độ nhỏ và tần số nhanh, được gọi là sảng run Tình trạng run và các rối loạn thần kinh này xuất phát từ mất nước ở người bệnh.
Giai đoạn lui bệnh: Đa số các trường hợp sảng rượu có kết thúc tốt, bệnh lui dần với các triệu chứng tăng rồi giảm xen kẽ Sảng rượu cấp thường tiến triển trong 3–4 ngày, sau đó người bệnh đi vào giấc ngủ sâu và kéo dài Sau cơn sảng, người bệnh chỉ có thể nhớ lại một cách đứt quãng và có thể nhớ rất rõ nội dung ảo thị, ảo thanh nhưng nhớ rất kém những gì xảy ra quanh đó Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu:
A Rối loạn ý thức: (có nghĩa là giảm rõ ràng trong nhận thức về môi trường ) cùng với giảm khả năng tập chung, sự chú ý luôn xê dịch
B Rối loạn nhận thức: giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rói loạn ngôn ngữhoặc rối loạn khả năng quan sát mà những rối loạn này không do sa sút trí tuệ trước đây, đã được xác định hoặc đang tiến triển
C Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày ) và tiến triển có khuynh hướng dao động trong ngày
D Có bằng chứng về một bệnh nội khoa, một trạng thái nhiễm độc, một hội chứng cai Điều trị sảng rượu: Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, tỷ lệ tử vong rất cao (22-33%) nên cần phải khẩn trương bằng mọi cách làm giảm nhẹ mức độ của sảng rượu để tránh nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh
Ở tuyến cơ sở, quản lý sảng rượu nhằm làm nhẹ triệu chứng và ổn định ý thức người bệnh Trong một số phương pháp cổ điển, người bệnh có thể được cho uống một lượng nhỏ rượu nhằm giảm sảng rượu và khi tái dùng rượu với liều thấp, tình trạng ý thức có thể được cải thiện và người bệnh vượt qua cơn nguy cấp Nên cho thêm các thuốc sau:
+ Seduxen 10mg x1 ống/ tiêm bắp
+ Vitamin B1 100mg x1 ống/ tiêm bắp Sau đó chuyển lên tuyến trên điều trị
Ở khoa tâm thần, sảng rượu được điều trị ngay tại phòng cấp cứu được trang bị đầy đủ bình oxy, máy hút và các thiết bị cấp cứu cần thiết khác Bệnh nhân được tiếp nhận và xử trí theo quy trình cấp cứu nhằm ổn định hô hấp và tuần hoàn, theo dõi các dấu hiệu sống và biến chứng, đồng thời tiến hành các biện pháp hỗ trợ cần thiết để ổn định triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng Quản lý người bệnh được tiến hành liên tục, đảm bảo an toàn cho người bệnh và người chăm sóc cho đến khi tình trạng ổn định hoặc có chỉ định chuyển viện.
+ Cố định người bệnh tại giường bằng dây chuyên dụng
+ Chế độ hộ lý cấp I
+ Hút đờm dãi nếu có
+ Thở oxy nếu có khó thở.+Lấy máu xét nghiệm
+ Dùng thuốc:-Seduxen 10mg x2-4 ống/ tiên bắp sáng 1/2 liều, tối 1/2 liều
• Vitamin B1 100mg x2 ống/ tiêm bắp
• Ringer lactat 500ml x2 chai, truyền tĩnh mạch 60 giọt/ phút
• Haloperidol 5mg x2 ống/ tiêm bắp.
Điều trị nghiện rượu
- Sử dụng liệu pháp tâm lý kết hợp với liệu pháp môi trường
- Sử dụng các liệu pháp y học tổng hợp:
+ Các phương pháp giải độc bằng thuốc
+ Các phương pháp làm dịu cơn thèm rượu bắt buộc bằng các thuốc hướng tâm thần
+ Các phương pháp phục hồi chức năng sinh lý các cơ quan trong cơ thể + Điều trị chống tái phát
+ Điều trị các rối loạn cơ thể khác
1.6.2 Điều trị hội chứng phụ thuộc rượu
Người bệnh phải tự nguyện hoặc bị gia đình cưỡng ép nhập viện điều trị nội trú tại các cơ sở y tế Để khắc phục hội chứng cai, có thể dùng thuốc bình thần thuộc nhóm cacbamazin Phác đồ tham khảo gồm Seduxen 10 mg, 2 ống/ngày, tiêm bắp sáng 1 ống và tối 1 ống, dùng trong 7 ngày Đồng thời điều trị hoang tưởng và ảo giác trong hội chứng cai rượu.
Trong trường hợp người bệnh có hoang tưởng và ảo giác rầm rộ, xuất hiện liên tục, chi phối hành vi, có thể xem xét cho thêm thuốc an thần sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ Liều có thể là Haloperidol 5 mg x 2 ống, được tiêm theo chỉ định của bác sĩ để kiểm soát triệu chứng nhanh chóng và an toàn.
Sử dụng vitamin B1 trong điều trị hội chứng cai rượu
Vitamin B1 0,1g x2 ống/ ngày, tiêm bắp sáng và tối
Bù nước và điện giải cho người bệnh có hội chứng cai rượu
Ringer lactac 500ml x2 chai, truyền tĩnh mạch chậm 60 giọt/ phút
Việc dự phòng tái phát nghiện rượu sau cai có thể khó khăn gấp nhiều lần so với điều trị cai rượu ban đầu Hiện nay, các bác sĩ thường sử dụng Disulfiram 500 mg, uống mỗi sáng 1/2 viên, với thời gian điều trị tối thiểu là 24 tháng Để thuốc có hiệu quả và đảm bảo thuốc được hấp thu vào dạ dày người bệnh, bệnh nhân không thể tự quản lý hay uống thuốc một mình Người nhà phải trực tiếp cho bệnh nhân uống thuốc hàng ngày, công việc này đòi hỏi sự kiên trì cao và sự đồng lòng của cả gia đình trong quá trình điều trị chống tái nghiện rượu.
Cơ sở thực tiễn
WHO (2018) khuyến nghị với những người uống rượu nguy hiểm và có hại, các biện pháp can thiệp ngắn hạn được chỉ định Đối với người lệ thuộc ở mức độ trung bình đến nặng hoặc lệ thuộc với các nhu cầu phức tạp, các can thiệp chuyên khoa hơn thường được chỉ định, bao gồm cắt cơn được hỗ trợ về mặt y tế và các can thiệp tâm lý xã hội và thuốc để thúc đẩy việc bỏ rượu Những người có triệu chứng cai nghiện tối thiểu vẫn có được kết quả tốt từ can thiệp của bác sĩ chuyên khoa.
Can thiệp ngắn hạn mở rộng được chỉ định cho tình trạng uống rượu có hại và tập trung vào giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe Phương pháp này đòi hỏi các kỹ năng cơ bản về lắng nghe thấu cảm và phỏng vấn tạo động lực để hỗ trợ người uống nhận thức rõ hơn về hậu quả hành vi và tự thúc đẩy quá trình thay đổi Mục tiêu của can thiệp là thiết lập các mục tiêu SMART, xây dựng kế hoạch hành động phù hợp với hoàn cảnh và tăng cường động lực duy trì thay đổi lâu dài.
Nó không chỉ là những lời khuyên ngắn nhằm cung cấp cho người bệnh những công cụ họ cần để thay đổi hành vi liên quan đến rượu, mà còn là một khung can thiệp có hiệu quả để hỗ trợ thay đổi thói quen Các can thiệp ngắn mở rộng nên được triển khai ngay sau buổi trình bày liên quan đến rượu để tối ưu hóa tác động, tận dụng sự chú ý và sự kết nối giữa người bệnh và đội ngũ chăm sóc sức khỏe Việc tích hợp các yếu tố động viên, đánh giá rủi ro, và lập kế hoạch can thiệp tiếp theo sẽ gia tăng tỷ lệ duy trì hành vi lành mạnh và giảm tiêu thụ rượu ở lâu dài.
“thời điểm có thể giáo dục được” [11]
Một đánh giá gần đây của Cochrane tổng hợp 21 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy các biện pháp can thiệp ngắn tại các cơ sở lâm sàng thông thường có hiệu quả trong việc giảm lượng rượu ở nam giới, với mức giảm đáng kể được duy trì sau hơn một năm theo dõi; hiệu quả ở phụ nữ vẫn chưa rõ Việc cai nghiện được hỗ trợ y tế được chỉ định khi có nghiện rượu, với mục tiêu chính là ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng như cơn sảng rượu và co giật, làm cho bệnh nhân thoải mái, và giới thiệu các biện pháp can thiệp khác để thúc đẩy và duy trì kiêng rượu Bất cứ khi nào có thể, cai nghiện nên là một phần của kế hoạch điều trị tổng thể có chăm sóc sau điều trị, dựa trên mục tiêu và động lực của người bệnh Tuy nhiên, tại các bệnh viện đa khoa, cai nghiện thường không có kế hoạch cụ thể, do đó cần nâng cao nhận thức và cảnh giác với các dấu hiệu và triệu chứng sinh lý của cai nghiện.
1.7.2 Trong nước Ở Việt Nam, theo thống kê của bệnh viện tâm thần Trung ương, tính đến cuối năm 9/2014 có khoảng 204.000 người nghiện rượu, tăng gần 23.000 người (tăng 12%) so với cùng kỳ năm 2013 Theo Bộ Lao động thương binh và xã hội năm 2015 cả nước đã có 204.400 người nghiện rượu có hồ sơ quản lý Ở Việt Nam có các mô hình cai nghiện rượu khác nhau Đã từng có đề xuất rằng trị liệu phối hợp có thể đưa đến hiệu quả được cải thiện so với đơn trị liệu Nhờ vào cơ chế tác động khác nhau của các thuốc, về mặt lý thuyết có thể là thích hợp để kết hợp các thuốc này làm tăng thêm lợi ích của trị liệu Theo tài liệu này, sự kết hợp disulfiram và naltrexone không cho thấy tăng thêm lợi ích so với sử dụng riêng từng thuốc Những nghiên cứu kiểm tra việc phối hợp disulfiram và acamprosate chỉ ra rằng phối hợp này cho kết quả hiệu lực điều trị được cải thiện, nhưng không có nhiều tài liệu đánh giá việc sử dụng cùng lúc những thuốc này Phần lớn tài liệu này tập trung vào phối hợp giữa naltrexone và acamprosate Thử nghiệm COMBINE đã kết luận phối hợp này thì an toàn và đượcdung nạp tốt nhưng không có thêm lợi ích so với dùng naltrexone đơn thuần Một thử nghiệm khác, 160 người bệnh được chọn ngẫu nhiên dùng acamprosate, naltrexone, naltrexone + acamprosate hoặc giả dược Nhóm dùng thuốc phối hợp có sự hạ thấp đáng kể tỷ lệ tái phát so với nhóm giả dược và nhóm acamprosate, nhưng không hiệu quả hơn nhóm naltrexone Nói chung, phối hợp naltrexone và acamprosate cho thấy là an toàn, dung nạp tốt, nhưng làm tăng một số tác dụng phụ như tiêu chảy và buồn nôn Phối hợp này dường như cho một số lợi ích so với dùng acamprosate đơn độc Điều trị phối hợp có thể là lựa chọn có giá trị cho một số người bệnh không đáp ứng với đơn trị liệu.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN THỰC TRẠNG CHĂM SÓC
Quy trình tổ chức khám và điều trị cho người bệnh nghiện rượu
Bệnh nhân được bác sĩ khám và chỉ định vào khoa điều trị; tại đây, nhân viên phòng khám hướng dẫn làm thủ tục nhập viện và sau đó đưa bệnh nhân vào khoa lâm sàng điều trị.
Bước 2: Tại khoa điều trị
- Người bệnh được khoa điều trị tiếp nhận
Bác sĩ trực tiếp khám bệnh cho người bệnh và gia đình người bệnh, làm hồ sơ bệnh án nằm viện và lên phác đồ điều trị Trong quá trình khám, bác sĩ chỉ định thuốc phù hợp và các xét nghiệm cần thiết nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe, từ đó đảm bảo đủ dữ liệu cho quyết định điều trị và cho quá trình chăm sóc nội trú được triển khai đầy đủ.
Điều dưỡng viên chăm sóc người bệnh bằng cách hỗ trợ thay quần áo bệnh viện cho người bệnh và sắp xếp chăn màn, giường chiếu cho người bệnh và gia đình người bệnh, nhằm tạo sự thoải mái và thuận tiện trong quá trình chăm sóc và hồi phục.
+ Người bệnh được điều dưỡng đo các chỉ số sinh tồn và các chỉ định của bác sĩ đồng thời viết vào hồ sơ bệnh án
+ Hàng ngày người bệnh được điều dưỡng đôn đốc tắm gội thay quần áo, cắt móng tay, móng chân cạo râu cho người bệnh
Người bệnh ăn cơm theo giờ ăn của bệnh viện theo thực đơn chung do khoa dinh dưỡng cung cấp để đảm bảo dinh dưỡng và lịch trình hợp lý Trong một số trường hợp đặc biệt mà người bệnh không thể ăn cơm, chế độ ăn sẽ được chuyển sang sữa hoặc cháo tùy tình trạng sức khỏe của người bệnh.
+ Người bệnh được dùng thuốc theo y lệnh của bác sĩ (uống thuốc hay tiêm, truyền theo giờ )
Theo quy định của bệnh viện, người bệnh ở chế độ chăm sóc cấp 2 và quản lý cấp 2 trở lên sẽ được lập hồ sơ bệnh án bằng phiếu chăm sóc 2 ngày/ lần, vào thứ 2, 4, 6 hàng tuần Nếu người bệnh có chỉ định tiêm thuốc an thần kinh thì điều dưỡng kiểm tra dấu hiệu sinh tồn trước và sau khi tiêm Nếu người bệnh có chỉ định truyền dịch thì điều dưỡng kiểm tra dấu hiệu sinh tồn trước, trong và sau khi truyền, và theo dõi sát tình trạng người bệnh trong quá trình truyền.
Người bệnh được quản lý sát sao tại khoa điều trị và không được rời khỏi khoa nếu không có người nhà bảo lãnh đi cùng Trong thời gian điều trị, bệnh nhân không được tiếp xúc với người khác và không được uống rượu.
+ Điều dưỡng cho người bệnh hoạt động liệu pháp tại khoa nếu người bệnh có thể đáp ứngđược sức khỏe, bằng liệu pháp tập thể dục, xem ti vi
+ Một số người bệnh trong giai đoạn ổn định thì được đưa sang khoa hoạt động liệu pháp để phục hồi chức năng cho người bệnh
Bước 3: Khi người bệnh được điều trị ổn định, gia đình xin xuất viện cho người bệnh Khoa điều trị sẽ tiến hành các thủ tục xuất viện và kê đơn thuốc mang về nhà cho người bệnh uống.
Công tác chăm sóc NB cai rượu tại Khoa Thần Kinh- BV Tâm thần Phú Thọ
Để mô tả thực trạng công tác chăm sóc người bệnh cai rượu , chúng tôi tiến hành khảo sát hai vấn đề sau:
- Khảo sát kiến thức của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh cai rượu
- Khảo sát thực trạng điều kiện, trang thiết bị - vật tư y tế phục vụ cho công tác chăm sóc
2.2.1 Khảo sát kiến thức của điều dưỡng vê chăm sóc người bệnh cai rượu Để kiểm tra kiến thức của điều dưỡng tại khoa Khoa Thần Kinh- BV Tâm thần Phú Thọ, chúng tôi tiến hành khảo sát theo các nội dung sau :
- Kiến thức của điều dưỡng về xác định mức độ phụ thuộc rượu
- Nguyên nhân gây nghiện rượu
- Chăm sóc người bệnh cai rượu
2.2.2 Kiến thức của điều dưỡng về xác định mức độ phụ thuộc rượu (n)
Bảng 1: Tỷ lệ hiểu biết của điều dưỡng về xác định mức độ phụ thuộc rượu
STT Nội dung Đúng Sai Số ĐD trả lời đúng 5 ý
2 Loại rượu, mức độ của từng loại 9 90% 1 10%
3 Tần suất và khoảng thời gian dùng trong ngày 7 70% 3 30%
Qua bảng trên ta thấy có 06 (60%) ĐD trả lời đúng 5 ý, có 04 (40%) ĐD trả lời không đúng từ 1- 5 ý
2.2.3 Kiến thức của ĐD về nguyên nhân nghiện rượu
Bảng 2: Tỷ lệ hiểu biết của ĐD về nguyên nhân nghiện rượu
STT Nội Dung Đúng Sai Số ĐD trả lời đúng 3 ý
1 Hoàn cảnh gia đình chi phối
2 Đối tượng có khuynh hướng nghiện
3 Môi trường và xã hội 8 80% 2 20%
Qua bảng trên ta thấy có 07 (70%) ĐD trả lời đúng 3 ý, 3 (30%) ĐD trả lời không đúng từ 1- 3 ý
2.2.4 Chăm sóc người bệnh cai rượu
Bảng 3: Tỷ lệ hiểu biết của ĐD về chăm sóc người bệnh cai nghiện rượu
STT Nội Dung Đúng Sai Số ĐD trả lời đúng 5 ý
3 Các giai đoạn điều trị giảm hội chứng cai 10 100% 0 0 %
4 Đề phòng NB hoang tưởng tấn công người xung quanh
5 Tư vấn giáo dục tránh tái sử dụng rượu 7 70% 3 30%
Qua bảng trên ta thấy có 7(70%) ĐD trả lời đúng 5 ý, 3(30%) ĐD trả lời không đúng từ 1-5 ý
2.2.5 Khảo sát thực trạng cơ cở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc người bệnh cai nghiện rượu tại khoa Thần Kinh
Bảng 4 : Tình hình cơ cở vật chất, trang thiết bị tại khoa
Qua bảng trên ta thấy chưa đảm bảo đủ các phương tiện cần thiết phục vụ cho công tác chăm sóc người bệnh, thiếu 1- 2 khoản.
Nhận xét tồn tại trong chăm sóc người bệnh cai rượu
2.3.1 Về phía nhân viên y tế
Kế hoạch chăm sóc người bệnh hiện nay còn sơ sài và thiếu tính cụ thể cho từng người bệnh và từng thời điểm diễn biến của bệnh, khiến quy trình chăm sóc chưa đồng bộ và chưa có định hướng rõ ràng Điều này dẫn tới việc kế hoạch chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người bệnh và gia đình người bệnh, làm giảm chất lượng chăm sóc và hiệu quả điều trị.
Vai trò của người điều dưỡng chưa được phát huy hết để thực hiện chăm sóc bệnh nhân một cách toàn diện; hiện tại nhiều nơi vẫn chỉ dừng ở việc cho bệnh nhân uống thuốc, thực hiện y lệnh của bác sĩ, động viên người bệnh ăn uống và nhắc nhở vệ sinh cá nhân hoặc nhờ người nhà thực hiện vệ sinh cho bệnh nhân Chăm sóc toàn diện đòi hỏi người điều dưỡng thực hiện đánh giá tình trạng sức khỏe liên tục, quản lý triệu chứng, giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà, hỗ trợ vận động và phục hồi chức năng, tư vấn dinh dưỡng, chăm sóc tinh thần và an toàn cho người bệnh, cũng như phối hợp chặt chẽ với bác sĩ và đội ngũ y tế để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc Đồng thời, tăng cường vai trò hướng dẫn tự chăm sóc, tham gia quy trình chăm sóc sau xuất viện và chuyển giao cho gia đình về cách chăm sóc tại nhà, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và phục hồi nhanh chóng cho người bệnh.
- Điều dưỡng chưa thật sự lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người bệnh, giúp đỡ họ về mặt tâm lý
Điều dưỡng chưa phát huy hết tác dụng của liệu pháp tâm lý cho người bệnh; thay vào đó vẫn dừng lại ở việc cho người bệnh tập thể dục và xem ti vi, dẫn đến sự nhàm chán và thiếu hứng thú trong quá trình điều trị.
Trong quá trình người bệnh dùng thuốc, nhân viên y tế chưa theo dõi kịp thời, đầy đủ và chính xác các tác dụng phụ để xử trí đúng lúc Họ dựa chủ yếu vào báo cáo từ người nhà và người bệnh, chỉ nhận được thông tin khi người nhà hoặc người bệnh thông báo, dẫn đến thiếu sót trong quản lý tác dụng phụ và chăm sóc an toàn cho người bệnh.
- Khi sử dụng thuốc cho người bệnh, nhân viên y tế bào đảm thuốc vào tới dạ dày người bệnh
- Tại khoa điều trị người bệnh cai rượu được quản lý chặt chẽ không được tiếp xúc và uống rượu
Trong quá trình điều trị, nhân viên y tế tư vấn bỏ rượu cho bệnh nhân, nhưng nhiều bệnh nhân và gia đình vẫn chưa hiểu rõ tác hại của uống rượu nhiều và mức độ nguy hiểm của nghiện rượu đối với sức khỏe và quá trình điều trị Số người cai rượu nằm điều trị rải rác ở các khoa khiến việc chăm sóc người bệnh không được tập trung cụ thể và chuyên biệt, ảnh hưởng đến hiệu quả cai nghiện và quản lý điều trị.
- Người bệnh chưa hiểu rõ tính chất nguy hại của việc uống rượu nhiều
- Người bệnh không tự giác cai rượu mà đều do gia đình bắt buộc đến viện
- Khi được nhân viên y tế tư vấn bỏ rượu thì người bệnh chỉ ậm ừ cho qua chuyện
- Chế độ lao động, dinh dưỡng của người bệnh chưa được chú trọng.Hoạt động liệu pháp nhàm chán người bệnh không thích thú
2.3.3 Về phía gia đình người bệnh
- Gia đình người bệnh chán nản mệt mỏi, kinh tế khó khăn nên chưa có sự quan tâm đúng mức đến người bệnh
- Chưa có đủ kiến thức về bệnh nghiện rượu cũng như cách chăm sóc và phòng chống tái phát cho người bệnh
- Về cơ bản người bệnh nghiện rượu đến điều trị tại Bệnh Viên Tâm Thần Phú Thọ được chăm sóc tương đối tốt
- Nhân viên y tế nhiệt tình chu đáo với người bệnh và gia đình người bệnh
- Nhân viên y tế hoàn thành công việc được giao Không để xảy ra tình trạng người bệnh tử vong
- Điều dưỡng cho người bệnh huốc bảo đảm thuốc tới tận dạ dày
- Người bệnh trong quá trình điều trị được quản lý chặt chẽ không tiếp xúc và uống rượu
- Người bệnh được điều dưỡng động viên bỏ rượu không uống rượu
- Sau quá trình điều trị người bệnh cai rượu ra viện hết các triệu chứng nghiện rượu, tăng cân và sức khỏe ổn định
-Về cơ bản người bệnh và gia đình người bệnh đã hài lòng với sự phục vụ của nhân viên y tế trong bệnh viên
- Bệnh Viện đã tạo điều kiện cung cấp cơ sở vật chất cơ bản để phục vụ chăm sóc cho người bệnh.
Nguyên nhân của các việc đã làm được và chưa làm được
Nguyên nhân của việc đã làm được
- Nhân viên y tế tuân thủ“ 12 điều y đức ”của bộ y tế đề ra
Nhân viên y tế thực hiện đúng Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế, thể hiện qua lời nói nhẹ nhàng và thái độ lịch sự, tôn trọng người bệnh và gia đình người bệnh Việc tuân thủ quy tắc này góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, tăng sự hài lòng và tin tưởng từ người bệnh, đồng thời giữ gìn môi trường làm việc chuyên nghiệp và an toàn trong các cơ sở y tế.
- Nhân viên y tế không uống rượu bia, hút thuốc lá trong giờ làm việc
- Kịp thời báo cáo với lãnh đạo khoa, lãnh đạo bệnh viện về những biến cố đột xuất xảy ra trong bệnh viện
Nguyên nhân của những việc chưa làm được
- Không đủ thời gian lắng nghe tâm tư nguyện vọng của từng người bệnh
- Cơ sở vật chất phục vụ người bệnh và nhân viên y tế còn sơ sài
- Bệnh viện chưa phát huy mô hình chống tái phát cho người bệnh sau cai rượu
- Người bệnh không tự giác và thiếu ý chí quyết tâm cai rượu
- Gia đình thiếu sự quan tâm động viên người bệnh.
XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHĂM SÓC
Đối với nhân viên y tế
- Lập kế hoạch chăm sóc toàn diện cho từng người bệnhcai rượu cụ thể từng giai đoạn bệnh
- Giáo dục sức khỏe, hướng dẫn giải thích cho người bệnh người nhà người bệnh hiểu rõ tác hại của việc uống rượu nhiều
- Động viên, quan tâmvà giúp đỡ người bệnh tự giác bỏ rượu
- Khi người bệnh chống đối dùng thuốc thì phải giải thích tại sao phải uống thuốc
- Động viên người bệnh yên tâm điều trị
- Nhân viên y tế hướng dẫn cho người bệnhvà gia đình sau khi dùng thuốc sẽ có một số tác dụng phụ
- Phục hồi chức năng cho người bệnh sau khi điều trị bệnh ổn định Hướng dẫn người bệnh cách tự chăm sóc cho bản thân như tắm giặt, thay quần áo, vệ sinh cá nhân
- Các liệu pháp tâm lý - xã hội chủ yếu hướng vào việc tác động lên trạng thái tâm lý của người bệnh, giúp người bệnh có tâm trạng thoải mái vui vẻ, nâng cao sự tự tin, hình thành sự lạc quan tin tưởng vào qua trình điều trị
Sau khi người bệnh ra viện, gia đình cần tự giác bỏ rượu, không uống rượu, bia và các đồ uống có chứa cồn để hỗ trợ quá trình cai rượu Người bệnh phải thực hiện nghiêm túc quyết tâm và kiên trì theo đúng kế hoạch cai rượu để đạt được hồi phục bền vững Thành công của quá trình cai rượu phụ thuộc vào sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và người bệnh, cùng với ý chí không uống rượu và các đồ uống có chứa cồn.
- Động viên gia đình kề vai sát cánh giúp người bệnh bỏ rượu
- Hướng dẫn gia đình người bệnh cách dùng thuốc cho người bệnh tại nhà và cách quản lý thuốc
Nhân viên y tế hướng dẫn người bệnh nắm vững kỹ năng cộng đồng, trong đó có việc đi du lịch để giảm căng thẳng và tham gia các hoạt động thư giãn an toàn Người bệnh được chỉ dẫn cách sử dụng hiệu quả các dịch vụ công cộng và các nguồn hỗ trợ xã hội liên quan, nhằm tăng khả năng tự chăm sóc và tham gia cộng đồng Đồng thời, họ được hướng dẫn tiếp cận các dịch vụ tại bệnh viện khi cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và sự tự chủ trong cuộc sống.
Thông qua giáo dục sức khỏe, người bệnh nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, đồng thời nắm bắt trách nhiệm trong quá trình chăm sóc và điều trị Họ được hướng dẫn cách yêu cầu được giúp đỡ khi cần thiết và biết cách tham gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng, từ đó tăng cường sự hỗ trợ và gắn kết xã hội Việc nâng cao nhận thức này góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe và thúc đẩy sự tham gia có ý thức của người bệnh vào đời sống cộng đồng.
Đối với gia đình người bệnh
Trước tiên, gia đình người bệnh cần nhận thức rằng chăm sóc cai rượu không chỉ dựa vào thuốc mà còn dựa vào sự quan tâm, chăm sóc và động viên liên tục từ phía người thân; sự ủng hộ về tinh thần và môi trường gia đình là yếu tố then chốt giúp người bệnh có nghị lực quyết tâm từ bỏ rượu và duy trì không uống nữa, đồng thời phối hợp với các biện pháp điều trị để gia tăng cơ hội hồi phục lâu dài.
Gia đình luôn ở bên cạnh, gần gũi và động viên người bệnh bằng sự cảm thông và chia sẻ những mặc cảm của họ Nhờ sự hỗ trợ tinh thần ấy, người bệnh dạn dĩ chia sẻ khó khăn, tự tin tham gia lao động tập thể, học việc và học nghề Việc gia đình tạo điều kiện và khuyến khích tham gia hoạt động như vậy giúp người bệnh rèn luyện kỹ năng, tăng cơ hội hòa nhập xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Khi người bệnh trở về cộng đồng thì vai trò của gia đình tạo công ăn việc làm ổn định cho người bệnh
- Bố trí thời gian cho người bệnh tham gia đầy đủ các lớp tập huấn kiến thức về tác hại của nghiện rượu và cách phòng tránh
- Cho người bệnh khám lại theo lịch của bác sĩ
- Quản lý thuốc chặt chẽ và cho người bệnh uống thuốc đều hàng ngày theo đơn và hướng dẫn của thầy thuốc.
Đối với mạng lưới y tế cấp cơ sở
- Điều tra dịch tễ học nghiện rượu cấp cơ sở
Chúng tôi duy trì lịch thăm khám bệnh cho người bệnh đã cai rượu tại gia đình nhằm nắm bắt đầy đủ hoàn cảnh kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh nghiện rượu Qua các buổi thăm khám tại nhà, bác sĩ sẽ đánh giá mức độ hồi phục, nhận diện các yếu tố môi trường, tâm lý và xã hội tác động tới tình trạng nghiện, từ đó điều chỉnh kế hoạch can thiệp và hỗ trợ phù hợp Việc thăm khám tại gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giúp gia đình quản lý tốt hơn chi phí chăm sóc, duy trì liều lượng điều trị và giảm nguy cơ tái nghiện, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
- Khám bệnh hàng tháng, hàng quý cho người bệnh sau cai rượu
- Tích cực vận động người bệnh và gia đình tham gia bảo hiểm y tế
Liên hệ với các tổ chức tại địa phương để tạo điều kiện cho người bệnh sau cai rượu tái hòa nhập cộng đồng và không tham gia vào các cuộc nhậu nhoẹt rượu bia Các hoạt động hỗ trợ sau cai, bao gồm tư vấn tâm lý, kết nối việc làm và chương trình phục hồi, cùng các hoạt động xã hội an toàn, giúp họ ổn định cuộc sống, xây dựng mạng lưới hỗ trợ và duy trì không uống rượu trong quá trình tái hòa nhập.
Chương trình tập huấn dành cho gia đình người bệnh nghiện rượu nhằm cung cấp kiến thức toàn diện về bệnh nghiện rượu, nhận biết dấu hiệu và tác động của rượu đối với sức khỏe, đồng thời trang bị kỹ năng chăm sóc người bệnh tại gia đình Khóa học nhấn mạnh các phương pháp hỗ trợ điều trị, quản lý căng thẳng, giao tiếp tích cực và xây dựng môi trường sống lành mạnh để hỗ trợ quá trình phục hồi Nội dung tập huấn còn hướng dẫn cách phòng ngừa tái nghiện sau cai rượu, theo dõi tiến triển và phối hợp với đội ngũ y tế để nâng cao hiệu quả chăm sóc và chăm sóc lâu dài cho người bệnh.
- Phát huy mô hình chống tái phát cho người bệnh sau cai rượu
- Đối tượng học viên trong lớp là các thành viên trong gia đình người bệnh nghiện rượu
- Thời gian đào tạo bố trí phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ, tốt nhất là bố trí thời gian ngoài giờ.
Đối với bệnh viện Tâm Thần Phú Thọ
- Người bệnh cai rượu được đưa vào khoa cai rượu
- Điều dưỡng được phân công chăm sóc người bệnh toàn diện như: mỗi điều dưỡng có thể chăm sóc 2-3 người bệnh
Bệnh viện cung cấp thêm cơ sở vật chất phục vụ người bệnh, bao gồm các đồ dùng cho người bệnh phục hồi chức năng tại khoa bóng bàn, cầu lông, nhằm nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh.
Chương trình truyền thông sức khỏe được tăng cường bằng loa đài, tờ rơi và áp phích tại địa phương nhằm giúp người dân nắm bắt rõ tác hại của uống rượu nhiều và nhận thức về bệnh nghiện rượu, từ đó thúc đẩy họ sớm đưa người bệnh đi khám bác sĩ Nội dung tuyên truyền tập trung giải thích các nguy cơ sức khỏe liên quan tới rượu, nhận diện các dấu hiệu nghiện rượu và cách can thiệp tại gia đình cũng như cộng đồng Đồng thời phối hợp với cơ sở y tế để người dân có thể tiếp cận dịch vụ khám chữa phù hợp, từ đó giảm thiểu tác động tiêu cực của rượu và nâng cao nhận thức về phòng ngừa nghiện rượu.
Đào tạo liên tục và đào tạo lại hàng năm cho đội ngũ bác sĩ trẻ và điều dưỡng viên trong bệnh viện tâm thần là cách để cập nhật những kiến thức mới và các phương pháp điều trị mới Chương trình này giúp nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh, từ đó đạt kết quả điều trị tốt hơn Việc cập nhật liên tục kiến thức mới và kỹ thuật lâm sàng hiện đại đảm bảo an toàn và chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện tâm thần Nhờ đó, bác sĩ trẻ và điều dưỡng viên có thể tối ưu phác đồ, cải thiện chăm sóc tâm thần và nâng cao trải nghiệm người bệnh.
- Thành lập phòng tái khám cho người bệnh sau cai rượu
- Xây dựng mô hình chống tái phát cho người bệnh sau cai rượu về các mạng lưới y tế cơ sở.