BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH PHẠM THU HUYỀN THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VỆ SINH CỦA BÀ MẸ CÓ CON BỊ TIÊU CHẢY NHIỄM KHUẨN TẠI KHOA TIÊU HÓA BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2021 BÁO
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THU HUYỀN
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VỆ SINH CỦA BÀ MẸ CÓ CON BỊ TIÊU CHẢY NHIỄM KHUẨN TẠI KHOA TIÊU HÓA BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2021
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI – 2021
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THU HUYỀN
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VỆ SINH CỦA BÀ MẸ CÓ CON BỊ TIÊU CHẢY NHIỄM KHUẨN TẠI KHOA TIÊU HÓA BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2021
Chuyên ngành: Điều dưỡng nhi khoa
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS BS VŨ VĂN THÀNH
HÀ NỘI – 2021
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Tiêu chảy 4
1.1.1 Định nghĩa tiêu chảy 4
1.1.2 Nguyên nhân gây tiêu chảy nhiễm khuẩn 4
1.1.3 Phân loại tiêu chảy 5
1.1.4 Biểu hiện trẻ bị tiêu chảy nhiễm khuẩn 7
1.1.5 Phương thức lây truyền 7
1.1.6 Các yếu tố nguy cơ gây tiêu chảy ở trẻ em 7
1.1.7 Phòng ngừa tiêu chảy nhiễm khuẩn 8
1.2 Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy 11
1.2.1 Dùng dung dịch Oresol đúng cách 11
1.2.2 Cho trẻ ăn và uống nhiều hơn thường ngày bao gồm cả bú mẹ 12
1.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước Error! Bookmark not defined 1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 15
1.3.2 Các nghiên cứu ngoài nước 15
Chương 2 Mô tả vấn đề cần giải quyết Error! Bookmark not defined 2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương 18
2.2 Mô tả vấn đề cần giải quyết 20
2.4 Thực trạng chăm sóc vệ sinh của bà mẹ có con bị tiêu chảy nhiễm khuẩn 24
2.4.1 Vệ sinh tay bà mẹ 24
2.4.2 Vệ sinh tay trẻ 25
2.4.3 Vệ sinh trước khi cho trẻ bú/ăn 26
2.4.4 Vệ sinh khi trẻ đi ngoài phân lỏng 26
Chương 3 BÀN LUẬN 28
3.1 Thực trạng chăm sóc vệ sinh của bà mẹ có con bị tiêu chảy nhiễm khuẩn tại khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi Trung ương năm 2021 28
3.2 Tồn tại 33
3.3 Đề xuất giải pháp 34
Trang 4Phụ lục 1: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
Tổ chúc y tế thế giới
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ẢNH
Bảng 1.1 Xác định mức độ mất nước……… ….14
Bảng 1.2 Đánh giá và phân loại lâm sàng tiêu chảy mất nước……….14
Biểu đồ 2 1 Tuổi của bà mẹ 22
Bảng 2 2 Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy cấp 23
Bảng 2 4 Thực trạng vệ sinh tay của bà mẹ 24
Bảng 2 5 Thực trạng vệ sinh tay trẻ 25
Bảng 2 6 Thực trạng vệ sinh trước khi cho trẻ bú/ăn 26
Bảng 2 7 Thực trạng vệ sinh khi trẻ đi ngoài phân lỏng 26
Bảng 2 8 Kiến thức khác của bà mẹ về cho trẻ tiêu chảy ăn, uống 27
Biểu đồ 2.1 Tuổi của trẻ ……… ……….25
Biểu đồ 2.2 Nơi ở của đối tượng nghiên cứu……….26
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêu chảy là tình trạng cơ thể rối loạn hấp thu nước và điện giải dẫn đến bài tiết quá mức các thành phần chứa trong ruột Theo định nghĩa của Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) bệnh tiêu chảy là tình trạng người bệnh đi ngoài phân lỏng nhiều hơn 3 lần mỗi ngày hoặc đi ngoài nhiều lần [23] Theo Bộ Y tế Việt Nam: Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng bất thường từ 3 lần trở lên trong 24 giờ [11] Nguyên nhân chính gây tử vong của tiêu chảy là do cơ thể bị mất nước và điện giải Đặc biệt, tiêu chảy cấp do Rotavirus gây nên tình trạng đi ngoài phân tóe nước có thể lên đến 20 lần trên ngày, kèm theo nôn [11]
Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO), gần 9 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong mỗi ngày
và tiêu chảy là nguyên nhân thứ hai sau viêm phổi, gây ra những ca tử vong đó Thống
kê của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), mỗi ngày có khoảng 2200 trẻ tử vong do tiêu chảy, nhiều hơn cả AIDS, sốt rét và bệnh sởi cộng lại,
có 801.000 trẻ em tử vong mỗi năm do tiêu chảy và hơn 1,7 tỷ trường hợp bị mắc các bệnh về tiêu chảy trên toàn thế giới Bệnh tiêu chảy là một vấn đề toàn cầu, là gánh nặng kinh tế đối với các nước đang phát triển như ở Việt Nam: Trên 1/3 số giường bệnh của trẻ em là dành cho tiêu chảy, dịch truyền đắt tiền và mất nhiều ngày công lao động của
bố mẹ Chính vì vậy, năm 1978 WHO đã thiết lập "Chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy (CDD) "nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong và giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ bằng cách sử dụng rộng rãi Oresol và cải thiện dinh dưỡng [24] Một cuộc khảo sát
đã được tiến hành tại Khoa Khám và Điều trị, Bệnh viện Nhi Trung ương, từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 1 năm 2019 trên số ca nhập viện vì tiêu chảy cấp thì có 80.2% trẻ nhập viện được chẩn đoán tiêu chảy do Rotavirus, đỉnh điểm là tháng 12 chiếm 35,41% Năm 2020 trong 6 tháng đầu năm tỷ lệ bệnh nhi nhập viện có chẩn đoán xác định tiêu chảy Rotavirus chiếm 39,6% Đặc thù của bệnh nhi là khi bị bệnh rất dễ lây lan thành dịch, do trẻ còn đi học tập trung, chưa có ý thức chăm sóc bản thân và giữ gìn vệ sinh cá nhân cũng như tập thể [8]
Đối với trẻ bị tiêu chảy, việc theo dõi và chăm sóc đúng của người mẹ là hết sức quan trọng, góp phần lớn vào hiệu quả điều trị bệnh Bà mẹ là người đầu tiên và trực tiếp chăm sóc trẻ khi trẻ bắt đầu bị tiêu chảy tại nhà cũng như tại bệnh viện Vì vậy, kiến thức
Trang 8cũng như thực hành chăm sóc trẻ bị tiêu chảy của bà mẹ là rất quan trọng Nó không chỉ mang lại hiệu quả cho quá trình điều trị, mà còn giúp bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà tốt hơn
Vì vậy, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đánh giá: “Thực trạng chăm sóc vệ sinh của bà mẹ có con bị tiêu chảy nhiễm khuẩn tại Khoa Tiêu hóa bệnh viện Nhi trung ương năm 2021” với hai mục tiêu sau
Trang 10vì nếu chỉ đi ngoài nhiều lần mà phân bình thường thì không phải là tiêu chảy Ví dụ: trẻ được bú mẹ hoàn toàn đi ngoài phân sệt là bình thường) [11]
1.1.2 Nguyên nhân gây tiêu chảy nhiễm khuẩn
Bệnh tiêu chảy nhiễm khuẩn là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi Nhưng chủ yếu hay gặp ở trẻ em và người già, do hệ tiêu hóa ở những đối tượng này kém hơn so với những người bình thường
Nguyên nhân gây tiêu chảy nhiễm khuẩn là do một số loại vi khuẩn sau:
– Lỵ amip: sốt nhẹ, phân ít, lỏng, có nhầy hoặc máu, bụng đau quặn, mót rặn – Phẩy khuẩn tả: không sốt, đi ngoài liên tục, nôn, phân nước màu đục
– Tụ cầu: không sốt, nôn và buồn nôn, phân lỏng nước
– Vi khuẩn đường ruột E.coli: sốt, mót rặn, đau bụng, phân lẫn nhầy hoặc máu – Vi khuẩn Salmonella: sốt cao, đau bụng, đi ngoài
* Virus:
Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa tính mạng cho trẻ dưới
2 tuổi Trẻ lớn và người lớn ít bị tiêu chảy do Rotavirus
Các virus khác có thể gây tiêu chảy: Adenovirus, Enterovirus, Norovirus
* Vi khuẩn:
- Coli đường ruột Escherichia Coli (E.Coli)
Trang 11Trong đó E coli sinh độc tố ruột là tác nhân gây tiêu chảy cấp phân nước ở trẻ
em
- Trực khuẩn lỵ (Shigella): gây hội chứng lỵ phân máu
- Campylobacter jejuni: gây bệnh cho trẻ em, tiêu chảy phân nước hoặc phân máu
- Vi khuẩn tả Vibrrio cholerae: gây tiêu chảy xuất tiết bằng độc tố tả, mất nước
và mất điện giải nặng ở cả trẻ em và người lớn
- Cryptosporidium: gây bệnh ở trẻ nhỏ, trẻ bị suy giảm miễn dịch Tiêu chảy nặng
và kéo dài ở trẻ SDD hoặc AIDS
* Nguyên nhân khác: do sai lầm chế độ ăn, dị ứng thức ăn, sử dụng kháng sinh
1.1.3 Phân loại tiêu chảy
Tiêu chảy cấp: Là tình trạng đi ngoài phân lỏng ≥ 3 lần/ngày, kéo dài không quá
14 ngày, thường dưới 7 ngày, đây là thể hay gặp nhất, chiếm 80% có đặc điểm tiêu chảy phân lỏng, nhiều nước, không thấy máu, có thể gây tử vong chủ yếu do mất nước và điện giải Thể này là mục tiêu chính của chương trình Quốc gia phòng, chống bệnh tiêu chảy Các tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp thường là Rotavirus, E.coli, Shigella, Vibrio cholerae, Salmonella
Tiêu chảy kéo dài: Là tình trạng đi ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày, kéo dài trên 14 ngày Trung bình có 3% - 5% tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài Người bệnh thường bị sút cân rõ rệt Lượng phân đào thải lớn gây mất nước nhiều Không có tác nhân vi sinh vật riêng biệt nào gây tiêu chảy kéo dài E.coli, Shigella có thểcó vai trò quan trọng hơn các tác nhân gây bệnh khác Tiêu chảy kéo dài khác với tiêu chảy mạn tính, tính chất của tiêu chảy mạn tính là hay tái phát và kéo dài do các nguyên nhân không nhiễm khuẩn như mẫn cảm với Gluten hay rối loạn chuyển hóa di truyền
Trang 12Hội chứng lỵ: Là tình trạng ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày với đặc điểm phân nhầy máu, thường là có sốt Tốt nhất đưa người bệnh đến cơ sở y tế để có sự chỉ định thuốc đặc hiệu tác nhân gây bệnh Tác hại chính của lỵ là người bệnh chán ăn, sụt cân nhanh, niêm mạc ruột bị tổn thương do sự xâm nhập của vi khuẩn Bệnh còn gây các biến chứng khác Nguyên nhân quan trọng nhất của lỵ cấp là Shigella, ít gặp hơn là E.coli, Salmonella [10] Bộ Y tế cũng đưa ra phân loại tiêu chảy như sau:
* Phân loại tiêu chảy theo cơ chế bệnh sinh
- Tiêu chảy xâm nhập: yếu tố gây bệnh xâm nhập vào liên bào ruột non, ruột già, nhân lên, gây phản ứng viêm và phá huỷ tế bào Các sản phẩm này bài tiết vào lòng ruột
và gây tiêu chảy phân máu (Shigella, Coli xâm nhập, Coli xuất huyết, Campylobacter Jejuni, Salmonella, E.Histolytica)
- Tiêu chảy thẩm thấu: Rotavirus, Giardia lamblia, Cryptosp-ordium bám dính vào niêm mạc ruột, gây tổn thương diềm bàn chải của các tế bào hấp thu ở ruột non, các chất thức ăn không tiêu hóa hết trong lòng ruột không được hấp thu hết sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu, hút nước và điện giải vào lòng ruột, gây tiêu chảy và bất dung nạp các chất trong đó có Lactose
- Tiêu chảy do xuất tiết: phẩy khuẩn tả tiết độc tố ruột, không gây tổn thương đến hình thái tế bào mà tác động lên hẻm liên bào nhung mao làm tăng xuất tiết Có thể cả tăng xuất tiết và giảm hấp thu
* Phân loại tiêu chảy theo lâm sàng
- Tiêu chảy cấp phân nước (bao gồm cả bệnh tả): Là đợt tiêu chảy cấp, thời gian không quá 14 ngày, thường khoảng 5 - 7 ngày, chiếm khoảng 80% tổng số các trường hợp tiêu chảy Nguy hiểm chính là mất nước và điện giải Gây giảm cân, thiếu hụt dinh dưỡng nếu không được tiếp tục nuôi dưỡng tốt
- Tiêu chảy cấp phân máu (hội chứng lỵ) Nguy hiểm chính là phá huỷ niêm mạc ruột và gây tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc Nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết, suy dinh dưỡng và gây mất nước Chiếm khoảng 10% - 15%, có nơi 20% tổng số các trường hợp tiêu chảy Do vị trí tổn thương của niêm mạc ruột nên tính chất phân có thể khác nhau, nếu tổn thương ở đoạn trên ống tiêu hóa (ruột non) thì phân có nhiều nước lẫn máu
Trang 13nhầy (như nước rửa thịt) Nếu tổn thương ở thấp (đại tràng) phân ít nước, nhiều nhầy máu, có kèm theo mót rặn, đau quặn
- Tiêu chảy kéo dài: Là đợt tiêu chảy cấp kéo dài liên tục trên 14 ngày, chiếm khoảng 5% - 10% tổng số các trường hợp tiêu chảy Nguy hiểm chính là gây suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn nặng ngoài đường ruột và mất nước Thường phân không nhiều nước, mức độ nặng nhẹ thất thường, kèm theo rối loạn hấp thụ nặng hơn tiêu chảy cấp Tiêu chảy kèm theo suy dinh dưỡng nặng (Marasmus hoặc Kwashiokor) Nguy hiểm chính là nhiễm trùng toàn thân nặng, mất nước, suy tim, thiếu hụt vitamin và vi lượng
* Phân loại dựa vào nồng độ Natri máu
- Mất nước đẳng trương
- Mất nước ưu trương (Tăng Na+ máu)
- Mất nước nhược trương
* Phân loại theo mức độ mất nước
- Mất dưới 5% trọng lượng cơ thể: Chưa có dấu hiệu lâm sàng
- Mất từ 5 -10% trọng lượng cơ thể: Gây mất nước từ trung bình đến nặng
- Mất trên 10% trọng lượng cơ thể: Suy tuần hoàn nặng [11]
Khi trẻ đi ngoài phân nhầy có máu, mót rặn, sốt, kết quả xét nghiệm phân có hồng cầu và bạch cầu dương tính giúp bác sĩ chẩn đoán tiêu chảy do tác nhân vi khuẩn hay còn gọi là bệnh tiêu chảy nhiễm khuẩn
Ngoài ra, tiêu chảy nhiễm khuẩn có thể kèm theo một số biểu hiện sau:
- Trẻ có thể sốt hoặc không
- Nôn hoặc buồn nôn
- Nặng có thể mệt mỏi, nhức đầu, hạ huyết áp, mất nước
1.1.5 Phương thức lây truyền
Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy thường lây lan qua đường phân – miệng thông qua việc tiêu thụ thức ăn hoặc chất lỏng bị nhiễm phân hoặc tiếp xúc trực tiếp với phân
bị nhiễm bệnh [21]
1.1.6 Các yếu tố nguy cơ gây tiêu chảy ở trẻ em
Trang 14- Vật chủ (người mắc bệnh)
Tuổi: từ 6 tháng đến 2 tuổi hay bị mắc tiêu chảy do trẻ mới tập ăn dặm, giảm kháng thể thụ động, kháng thể chủ động chưa hoàn thiện Nguy cơ tiếp xúc mầm bệnh tăng lên khi trẻ biết bò và tăng hoạt động cá nhân
Suy dinh dưỡng: trẻ suy dinh dưỡng (SDD) dễ mắc tiêu chảy và các đợt thường kéo dài hơn Đặc biệt trẻ SDD nặng bị tiêu chảy có tỷ lệ tử vong rất cao
Suy giảm miễn dịch: Trẻ suy giảm miễn dịch tạm thời hay gặp sau sởi, các đợt nhiễm virus khác như thủy đậu, quai bị, viêm gan hoặc suy giảm miễn dịch kéo dài (AIDS) dễ mắc tiêu chảy và tiêu chảy kéo dài
- Tập quán, điều kiện môi trường sống: trẻ bú bình không đảm bảo vệ sinh, nguy
cơ tiêu chảy cao gấp 10 lần so với bú mẹ hòan toàn hoặc không bú bình
- Thức ăn bị ô nhiễm trước và sau khi chế biến
- Nước uống không sạch (không đun sôi hoặc để lâu) hoặc nguồn nước sinh hoạt
bị ô nhiễm
- Dụng cụ, tay người chế biến thức ăn bị nhiễm bệnh
- Xử lý chất thải đã nhiễm bệnh không đúng cách, quan niệm phân trẻ em không bẩn như phân người lớn
- Không có thói quen rửa tay sau khi đại tiện, trước khi chế biến thức ăn trước khi cho trẻ ăn
1.1.7 Phòng ngừa tiêu chảy nhiễm khuẩn
Để giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy ở trẻ em, WHO đã thành lập
“Chương trình Phòng chống bệnh tiêu chảy toàn cầu” Ngoài ra còn có các Trung tâm nghiên cứu bệnh tiêu chảy quốc tế và quốc gia cũng đã được thành lập Tại thủ đô Dhaka, Bangladesh có Trung tâm quốc tế nghiên cứu bệnh tiêu chảy Với sự hỗ trợ của Chương trình này, Bộ Y tế Việt Nam đã thành lập Chương trình Phòng chống bệnh tiêu chảy quốc gia, gồm hệ điều trị và hệ dự phòng
- Hệ điều trị gồm các bệnh viện từ tuyến Trung ương đến các tuyến tỉnh, huyện
và trạm Y tế cấp xã/phường, với sự thành lập của các đơn vị điều trị bệnh tiêu chảy
Trang 15(DTU), đơn vị bù dịch bằng đường uống (đơn vị ORT), góc Điều trị bằng đường uống (góc ORT)
- Hệ dự phòng gồm Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Y tế dự phòng huyện và các Trạm y tế xã/phường Nội dung huấn luyện
xử trí bệnh tiêu chảy đã được đưa vào chương trình giảng dạy của các trường đại học Y, các trường Cao đẳng và Trung cấp Y tế Từ năm 1984 đến 1997, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích trong công tác phòng chống bệnh tiêu chảy, cụ thể là đã giảm được tỷ
lệ nhập viện, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ SDD và ngăn ngừa bệnh tiêu chảy kéo dài nặng nhờ áp dụng liệu pháp bù dịch sớm, sử dụng phác đồ điều trị hiệu quả cũng như cho trẻ ăn chế
độ dinh dưỡng đúng trong và sau điều trị bệnh tiêu chảy Phòng bệnh tiêu chảy là mục tiêu lâu dài nhằm làm giảm tỷ lệ mắc một cách bền vững Phòng bệnh tiêu chảy có rất nhiều biện pháp song những biện pháp sau đây được xem là có hiệu quả cao gắn liền với sinh hoạt và cuộc sống của cộng đồng: cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm thật tốt, nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn sam hợp vệ inh, tăng cường giám sát và phòng chống bệnh tả và các bệnh dịch đường tiêu hóa ở vùng nguy cơ, nhất là các ổ dịch cũ [15]
Cung cấp nước sạch cho sinh hoạt
Thống kê cho thấy rằng những gia đình, cộng đồng sử dụng nguồn nước sạch ít
có nguy cơ bị bệnh đường ruột, đặc biệt là bệnh tiêu chảy Hầu hết các tác nhân gây bệnh tiêu chảy lây lan theo đường phân - miệng, thông qua thức ăn nước uống bị ô nhiễm hoặc lây lan trực tiếp từ người này sang người khác Vì vậy, việc cung cấp nước sạch giúp vệ sinh tốt hơn như rửa tay, rửa thực phẩm, dụng cụ chứa thức ăn được sạch sẽ, những việc này sẽ góp phần ngăn ngừa các tác nhân của bệnh tiêu chảy [22]
Vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm
Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn và sau mỗi lần đi đại tiện, tiểu tiện để tránh phát tán mầm bệnh Mọi người, mọi nhà đều thực hiện ăn chín, uống sôi Không ăn ra sống, không uống nước lã Không ăn thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là mắm tôm sống, hải sản sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua Tất cả những thói quen sinh hoạt lành mạnh, hợp vệ sinh sẽ giảm nguy cơ mắc tiêu chảy [16]
Trang 16Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
Nguyên nhân lây truyền bệnh tiêu chảy theo phương thức đường ăn uống Khi thức ăn và nước uống bị nhiễm phân có chứa mầm bệnh không được xử lý nhiệt hoặc đã
xử lý nhưng dễ bị tái nhiễm [25] Phân người cần có nhà tiêu để quản lý chặt chẽ, mỗi
hộ gia đình cần có một nhà tiêu hợp vệ sinh, cấm đi tiêu bừa bãi Các nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước đều minh chứng được là sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
và xử lý phân đúng quy định sẽ ngăn ngừa được các bệnh truyền qua phân; trong đó, có tiêu chảy trẻ em [2]
Nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ từ khi sinh đến 6 tháng tuổi Sữa mẹ đảm bảo
vệ sinh, chứa kháng thể bảo vệ là dịch tự nhiên không tốn kém và sữa mẹ dung nạp rất tốt
Cho trẻ ăn sam (ăn dặm)
Cho ăn sau 6 tháng nếu đủ sữa mẹ Thức ăn bổ sung thêm phải đủ chất dinh dưỡng,
đủ năng lượng Chế biến, bảo quản và dùng nguồn nước hợp vệ sinh để chế biến Thức
ăn khi chế biến phải đi từ loãng, sền sệt đến đặc (theo độ tuổi của trẻ) Nếu thực hiện theo đúng các hướng dẫn của cán bộ y tế sẽ giảm nguy cơ mắc tiêu chảy cho trẻ Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tình trạng dinh dưỡng ít bị ảnh hưởng bởi thời gian tiêu chảy kéo dài mà bị ảnh hưởng bởi chế độ nuôi dưỡng [12] Nghiên cứu của tác giả Ogbo FA và cộng sự cho thấy nếu cải thiện hành vi ăn uống của người mẹ sẽ làm giảm gánh nặng tiêu chảy ở trẻ [15]
Tiêm phòng
Hiện nay, một giải pháp khác để phòng bệnh tiêu chảy đó là tiêm vắc xin phòng bệnh Phải tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch tiêm chủng mở rộng
- Tiêm phòng sởi có thể giảm tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Tất
cả trẻ em cần tiêm phòng sởi ở độ tuổi khuyến nghị
- Vắc xin Rotavirus: đã triển khai ở các nước phát triển cho thấy hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do Rotavirus rất tốt Hiện nay, có nhiều dạng chế phẩm vắc xin phòng Rotavirus, liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và Chương trình
Trang 17tiêm chủng quốc gia Từ tháng 6 năm 2009, Tổ chức Y tế thế giới đã chính thức khuyến cáo đưa vắc xin Rota vào trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trên toàn cầu Việt Nam đang cân nhắc việc đưa vắc xin phòng Rotavirus vào trong chương trình Tiêm chủng mở rộng trong tương lai Một nghiên cứu ở các nước châu Á cho thấy nếu tiêm vắc xin Rota có thể giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy trẻ em được 40%
- Vắc xin tả uống và vắc xin thương hàn được chỉ định sử dụng cho những vùng
có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của Cục Y tế Dự phòng và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia Ngoài ra còn một số vắc xin khác như vắc xin lỵ, vắc xin E.Coli đang được nghiên cứu sản xuất và sẽ được đưa vào sử dụng trong tương lai [14]
1.2 Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới liệu pháp bù nước điện giải bằng đường uống nên kế thợp với những hướng dẫn thực hành nuôi dưỡng thích hợp Việc tiếp tục cho con bú giai đoạn cấp tính của bệnh tiêu chảy và bảo vệ chống lại
sự mất nước, chống lại sự mất protein và calo tiêu thụ có ảnh hưởng lớn nhất vào việc giảm tiêu chảy và suy dinh dưỡng ở trẻ em
Trang 18Cần nhấn mạnh rằng Oresol mới được coi là một loại thuốc và đã được nằm trong danh sách các mẫu thuốc thiết yếu của WHO [20]
Cần pha dung dịch Oresol hàng ngày, bảo quản sạch sẽ Không dùng dung dịch
đã pha quá 24 giờ Lưu ý rằng phải dùng một lượng nước chính xác để pha gói Oresol Nếu pha không đủ nước, dung dịch sẽ quá đặc gây nguy hiểm Nếu quá nhiều nước thì dung dịch lại quá loãng, sẽ không đạt hiệu quả điều trị mong muốn
- Cách cho trẻ uống Oresol [11]:
Liều lượng: 20ml/ kg trọng lượng cơ thể mỗi giờ
Trẻ sơ sinh cho uống bằng bơm tiêm (tháo bỏ đầu kim tiêm) hoặc ống nhỏ giọt; trẻ em dưới 2 tuổi cho uống bằng thìa cứ1-2 phút một thìa; trẻ lớn hơn uống từng ngụm bằng cốc Tránh dùng bình bú
Nôn có thể xảy ra khi cho uống quá nhanh Nếu trẻ nôn chờ 5-10 phút rồi cho trẻ bắt đầu uống Oresol lại với tốc độ chậm hơn
- Dấu hiệu bù dịch thành công [11]:
Nếp véo da trở lại bình thường
Trẻ hết khát nước
Bắt đầu tiểu
Trẻ trở nên nằm yên khi mà trước đó kích thích và trở nên buồn ngủ
1.2.2 Cho trẻ ăn và uống nhiều hơn thường ngày bao gồm cả bú mẹ
* Nguyên tắc 1: Cho trẻ uống nhiều dịch hơn bình thường để phòng mất nước + Những loại dịch thích hợp: Phần lớn các loại dịch trẻ thường dùng đều có thể
sử dụng Các loại dịch này có thể chia thành hai nhóm là các dung dịch chứa muối và các dung dịch không chứa muối
Các dung dịch chứa muối: Oresol (Oresol chuẩn cũ và Oresol nồng độ thẩm thấu thấp); dung dịch có vị mặn (ví dụnhư nước cháo muối, nước cơm có muối); Súp rau quả hoặc súp gà, súp thịt Hướng dẫn bà mẹ cho khoảng 3g muối (nhúm bằng 3 ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa) khi pha chế 1 lít dung dịch để có một dung dịch hoặc súp không quá mặn [11], [18]
Trang 19 Các dung dịch không chứa muối: Nước sạch; nước cơm (hoặc các loại ngũ cốc khác); súp không mặn; nước dừa; trà loãng; nước hoa quả tươi không đường
Những dung dịch không thích hợp: Một số dung dịch có thể gây nguy hiểm nên phải tránh sử dụng khi tiêu chảy, đặc biệt là những loại nước uống ngọt có đường vì có thể gây tiêu chảy thẩm thấu và tăng natri máu, ví dụ như nước uống công nghiệp chứa CO2, nước trà đường, nước trái cây công nghiệp Một số dung dịch khác nên tránh vì chúng là những chất kích thích gây lợi tiểu và là thuốc tẩy, ví dụ như cà phê, các loại trà thuốc hoặc dung dịch truyền
Lượng dịch cần uống: Nguyên tắc chung là cho trẻ uống tuỳ theo trẻ muốn cho tới khi ngừng tiêu chảy
Trẻ dưới 2 tuổi: khoảng 50-100ml sau mỗi lần đi ngoài
Trẻ 2-10 tuổi: khoảng 100-200ml sau mỗi lần đi ngoài
Trẻ lớn: uống theo nhu cầu
* Nguyên tắc 2: Tiếp tục cho trẻ ăn để phòng SDD
Khẩu phần ăn hàng ngày nên được tiếp tục và tăng dần lên Không được hạn chế trẻ ăn và không nên pha loãng thức ăn Nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ thường xuyên Phần lớn trẻ tiêu chảy phân nước sẽ thèm ăn trở lại ngay khi được bù đủ nước Trái lại, những trẻ tiêu chảy phân máu thường kém ăn kéo dài hơn cho đến khi bệnh thuyên giảm Những trẻ này cần được khuyến khích ăn lại chế độ ăn bình thường càng sớm càng tốt
Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng giúp cơ thể tiếp tục tăng trưởng, hồi phục nhanh cân nặng và chức năng đường ruột, gồm khả năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng Trái lại những trẻ ăn kiêng hoặc thức ăn pha loãng sẽ bị giảm cân, thời gian tiêu chảy kéo dài hơn và chức năng đường ruột phục hồi chậm hơn
Các loại thức ăn: Điều này phụ thuộc vào tuổi của trẻ, thức ăn trẻ thích và cách nuôi dưỡng trước khi bị bệnh, tập quán văn hoá cũng rất quan trọng Nhìn chung thức ăn thích hợp cho trẻ bị tiêu chảy cũng giống như những loại thức ăn cần thiết cho trẻ khoẻ mạnh Những khuyến cáo đặc biệt được nêu dưới đây:
Sữa: Trẻ ở bất kỳ lứa tuổi nào nếu đang bú mẹ cần được khuyến khích nên tiếp tục cho bú nhiều lần hơn và lâu hơn nếu trẻ muốn Trẻ không được bú mẹ nên cho trẻ ăn
Trang 20những sữa trẻ thường dùng, mỗi lần ăn cách nhau 3 giờ, nếu có thể cho uống bằng cốc Những sữa công thức thương mại được quảng cáo cho tiêu chảy thì đắt và không cần thiết Không nên sử dụng chúng thường lệ Bất dung nạp sữa có ý nghĩa về mặt lâm sàng
là vấn đề hiếm gặp
Trẻ dưới 6 tháng tuổi không được bú mẹ hoàn toàn và phải ăn thêm các loại thức
ăn khác, cần được tăng cường bú mẹ Khi trẻ hồi phục và bú sữa mẹ tăng lên, những thức
ăn khác sẽ được giảm xuống (nếu những chất lỏng khác nhiều hơn sữa mẹ, sử dụng ly, không sử dụng bình bú) Điều này có thể thường mất khoảng 1 tuần Nếu có thể, trẻ nên
bú mẹ hoàn toàn
Điều quan trọng hơn là theo dõi đáp ứng lâm sàng của trẻ (ví dụ: phục hồi cân nặng, những cải thiện chung) Biểu hiện sự bất dung nạp sữa chỉ quan trọng về mặt lâm sàng nếu lượng phân tăng đáng kể làm tình trạng mất nước nặng hơn và thường đi kèm với sút cân
Những loại thức ăn khác: Trẻ dưới 6 tháng tuổi không được bú mẹ hoàn toàn
và phải ăn thêm các loại thức ăn khác cần cho ăn ngũ cốc, rau quả, các loại thức ăn khác
và cho thêm sữa Nếu trẻ trên 6 tháng tuổi chưa được cho ăn những thức ăn này, nên sớm bắt đầu cho ăn trong hoặc sau khi ngừng tiêu chảy Khi hướng dẫn về chế độ ăn, nên lưu
ý về tập quán ăn uống, các thực phẩm năng lượng, dinh dưỡng cao, cung cấp đầy đủ vi chất chủ yếu mà có sẵn tại địa phương Thực phẩm nên được chế biến và nghiền nhỏ để
dễ tiêu hoá Nên trộn sữa với ngũ cốc Cho thêm 5 -10ml dầu thực vật vào mỗi bữa ăn Nên khuyến khích cho ăn thịt, cá hoặc trứng Thực phẩm giàu Kali như chuối, nước dừa
và nước hoa quả tươi rất hữu ích
Những thức ăn nên tránh: Không nên cho trẻ ăn những rau sợi thô, củ quả, hạt ngũ cốc có nhiều chất xơ vì khó tiêu hoá Nước cháo loãng chỉ có tác dụng bù nước chỉ làm cho trẻ có cảm giác no mà không đủ các chất dinh dưỡng Những thức ăn chứa quá nhiều đường có thể gây tiêu chảy thẩm thấu, gây tiêu chảy nặng hơn
Lượng thức ăn của trẻ: Khuyến khích trẻ ăn nhiều như trẻ muốn, cách nhau 3 hoặc 4 giờ (6 bữa/ngày) Cho ăn thường xuyên với lượng nhỏ thì tốt hơn vì thức ăn sẽ
dễ hấp thu hơn so với ăn ít bữa, số lượng nhiều Sau khi tiêu chảy ngừng, tiếp tục cho trẻ
Trang 21ăn thức ăn giàu năng lượng và cung cấp thêm một bữa phụ mỗi ngày trong ít nhất hai tuần Nếu trẻ suy dinh dưỡng, bữa ăn phụ nên được tiếp tục cho đến khi trẻ đạt được cân nặng bình thường theo chiều cao
* Nguyên tắc 3: Cho trẻ uống bổ sung kẽm (10mg; 20mg) hàng ngày trong 10
-14 ngày Cho trẻ uống càng sớm càng tốt ngay khi tiêu chảy bắt đầu Kẽm sẽ làm rút ngắn thời gian và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Kẽm rất quan trọng cho hệ hống miễn dịch của trẻ và giúp ngăn chặn những đợt tiêu chảy mới trong vòng 2 -3 tháng sau điều trị Kẽm giúp cải thiện sự ngon miệng và tăng trưởng Trẻ < 6 tháng tuổi: 10mg/ngày, trong vòng 10 -14 ngày Trẻ ≥ 6 tháng tuổi: 20mg/ngày, trong vòng 10 -14 ngày Nên cho trẻ uống kẽm lúc đói [11], [18]
II Cơ sở thực tiễn
1.1 Nghiên cứu ngoài nước về chăm sóc trẻ tiêu chảy của bà mẹ
Nghiên cứu cử Peder Digre và cộng sự tại Burkina Faso về nhận thức của người chăm sóc và việc sử dụng dung dịch bù nước uống và các phương pháp điều trị tiêu chảy khác cho trẻ nhỏ năm 2014 cho biết có 80% các bà mẹ biết ORS nhưng chỉ có dưới 50% biết vai trò của ORS và một tỷ lệ nhỏ cho rằng việc cho trẻ uống ORS là khó khăn [19]
Amare.D và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu từ tháng 4-5 năm 2014 trên 846 bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại bang Amhara, Tây Bắc Ethiopia với kết quả 63,5% bà mẹ có kiến thức tốt về bệnh tiêu chảy nhưng lại có tới 54,1% bà mẹ thực hành kém về quản lý tiêu chảy [17]
Nghiên cứu của Agbolade và cộng sự (2015) đã nghiên cứu trên 403 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại bang Oyo, Nigeria về kiến thức bệnh tiêu chảy ở trẻ em Kết quả cho thấy có 26,8% bà mẹ có kiến thức tốt, 60,8% bà mẹ có kiến thức trung bình và 12,4% bà
mẹ có kiến thức kém Nghiên cứu còn chỉ ra kiến thức về bệnh tiêu chảy và cách phòng bệnh của bà mẹ có ảnh hưởng tích cực đến quản lý bệnh tiêu chảy ở trẻ em [13]
1.2 Nghiên cứu trong nước về chăm sóc trẻ tiêu chảy của bà mẹ
Một nghiên cứu gần đây của tác giả Trần Văn Đang (2020) về Kiến thức của bà
mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, thành phố Lạng Sơn cho kết quả cho thấy tuổi trung bình của đối tượng
Trang 22nghiên cứu là 27,7 ± 5,4; trong đó, nhóm tuổi từ 18 – 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao là 77,8%; tiếp đó, đến nhóm tuổi trên 35 tuổi chiếm tỷ lê là 15,2%; còn lại là nhóm tuổi dưới 18 chiếm tỷ lệ là 7,0% Nghề nghiệp chủ yếu của các bà mẹ trong nghiên cứu là nông dân chiếm tỷ lệ 45,2%; tiếp đó là buôn bán chiếm 21,7%; còn lại là nghề nghiệp công chức, viên chức chiếm 18,9%; nghề nghiệp công nhân 14,1% Nguồn nước các gia đình sử dụng chủ yếu là nước máy chiếm tỷ lệ là 63,3% Nhà tiêu của các gia đình sử dụng chủ yếu là thấm dội nước/tự hoại chiếm 92,2% Phần lớn các bà mẹ đều trả lời đúng về cách cho trẻ bú khi bị tiêu chảy cấp là cho trẻ bú nhiều hơn chiếm tỷ lệ 50,7%; tỷ lệ các bà
mẹ cho trẻ bú bình thường chiếm 30,7%; tuy nhiên, vẫn còn 15,6% bà mẹ cho trẻ bú ít hơn bình thường Trong 270 bà mẹ tham gia nghiên cứu 94,1% các gia đình đều xử lý phân của trẻ tiêu chảy là đổ vào nhà xí, chỉ có 5,9% gia đình đổ phân của trẻ ra vườn 79,6% các bà mẹ đều rửa tay thường xuyên trước khi ăn; 20,4% các bà mẹ thỉnh thoảng rửa tay trước khi ăn Trong 270 bà mẹ tham gia nghiên cứu có 88,9% các bà mẹ rửa tay sau khi đi đại tiện và 11,1% các bà mẹ thỉnh thoảng rửa tay sau đại tiện Có 86,7% các
bà mẹ rửa tay khi chế biến thức ăn nhưng vẫn còn đến 13,3% các bà mẹ thỉnh thoảng rửa tay khi chế biến thức ăn [3]
Nghiên cứu của Tưởng Thị Huế về thay đổi kiến thức chăm sóc và phòng bệnh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi Nam Định năm
2017 Trong tổng số 82 đối tượng nghiên cứu, bà mẹ trong nhóm từ 18–35 tuổi chiếm tỷ
lệ cao nhất (73,2%), bà mẹ trên 35 tuổi chiếm tỷ lệ 22%, còn lại là bà mẹ dưới 18 tuổi
Bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu bệnh tiêu chảy chiếm 42,7% Có 80,5% bà mẹ có kiến thức đúng về đường lây bệnh tiêu chảy Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về việc thay bỉm cho trẻ khi bị tiêu chảy là 81,7%, về cách vệ sinh cho trẻ sau khi đi ngoài là 68,3%, kiến thức về rửa tay bằng xà phòng là 75,6% [4]
Năm 2013, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Hùng trên 460 bà mẹ có con điều trị tiêu chảy cấp ở bệnh viện Nhi Hải Dương cho kết quả: tiêu chảy cấp chiếm 8,9% tổng
số trẻ đến khám và điều trị; tỷ lệ trẻ mắc bệnh cao nhất ở nhóm 6-24 tháng tuổi; 69% bà
mẹ có kiến thức đúng và đủ về bệnh tiêu chảy; 59% bà mẹ nhận biết đúng và đủ dấu hiệu mất nước; các bà mẹ có kiến thức khá tốt liên quan đến Oresol và việc bù nước; 77% bà
Trang 23mẹ có kiến thức cho ăn đúng khi trẻ bị tiêu chảy; 52% bà mẹ có kiến thức phòng tiêu chảy đúng [5]
Trang 24Chương 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương và Khoa Tiêu hóa
Bệnh viện Nhi Trung ương là Bệnh viện Nhi đa khoa, trực thuộc Bộ Y tế, được thành lập theo Quyết định số111/CP ngày 14 tháng 7 năm 1969 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính phủ), được xác định lại tại Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc BộY tế Bệnh viện chịu sự quản lý nhà nước về y tế của Bộ Y tế và cấp có thẩm quyền; chịu sự quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, nơi Bệnh viện đặt trụ sở làm việc Bệnh viện Nhi trung ương là một trong những bệnh viện nhi khoa hàng đầu Việt Nam, chuyên chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh cho trẻ em Với việc đầu tư, ứng dụng máy móc và công nghệ hiện đại, Bệnh viện Nhi trung ương Hà Nội ngày càng phát triển, đồng thời hợp tác quốc tế, duy trì quan hệ để cung cấp các dịch
vụ đứng đầu cho thế hệ tương lai của đất nước Tiền thân của Bệnh viện Nhi trung ương vốn là Khoa nhi thuộc Bệnh viện Bạch Mai Vào năm 1960 –1975, do cuộc sống quá khó khăn, rất nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng, bị bệnh nặng nên vào ngày 14/07/1969,
“Viện Bảo vệ sức khỏe trẻ em” ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho trẻ em Dưới sự dẫn dắt của các lãnh đạo và sự hoạt động hết cái tâm của đội ngũ y – bác sĩ, Bệnh viện Nhi trung ương dần trở thành địa chỉ đáng tin cậy, uy tín trong việc khám bệnh, điều trị cho trẻ em trên toàn quốc Cho đến nay, trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, bệnh viện nhi trung ương đã tự hào đón nhận nhiều danh hiệu cao quý do Nhà nước trao tặng Bệnh viện Nhi Trung ương mang tầm nhìn là Bệnh viện Nhi khoa tốt nhất Việt Nam và là một trong 3 bệnh viện hàng đầu khu vực trong lĩnh vực Nhi khoa Sứ mạng của bệnh viện là: Cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trẻ em tốt nhất Việt nam; đầu tư, ứng dụng các công nghệ cao và hiện đại để đạt được kết quả ngày một tốt hơn cho sức khoẻ trẻ em; phát triển trung tâm đào tạo và nghiên cứu nhi khoa, chỉ đạo phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trẻ em trong cả nước;