1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực tại khoa thần kinh bệnh viện tâm thần phú thọ năm 2021

42 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 746,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.3. Đặc điểm lâm sàng 10 (11)
  • 1.1.4. Chẩn đoán 12 (14)
  • Tài liệu tham khảo (41)

Nội dung

Trong giai đoạn hưng cảm người bệnh tự gây tổn hại cho bản thân mình hoặc những người khác, hoặc có các xung động kích động mà bản thân họ không nhận ra có thể gây nguy hiểm, nghiêm trọn

Đặc điểm lâm sàng 10

Theo ICD-10, một giai đoạn trầm cảm được xác định bất kể mức độ nặng nhẹ; dù ở mức độ nặng, vừa hay nhẹ, người bệnh vẫn được coi là trải qua một giai đoạn trầm cảm khi xuất hiện các biểu hiện đặc trưng Những biểu hiện này thường bao gồm mood buồn rầu kéo dài hoặc mất hứng thú với hầu hết các hoạt động hàng ngày, mệt mỏi kéo dài, rối loạn giấc ngủ (mất ngủ hoặc ngủ nhiều), thay đổi khẩu vị và cân nặng, giảm khả năng tập trung và quyết định, cảm giác vô vọng hoặc tự ti, và đôi khi có ý nghĩ tự hại hoặc tự sát Việc nhận diện đúng các biểu hiện này đóng vai trò thiết yếu cho can thiệp sớm và điều trị hiệu quả, thông qua kết hợp chăm sóc y tế và hỗ trợ tâm lý, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

- Mất mọi quan tâm thích thú

- Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi, dù chỉ một cố gắng nhỏ;

Thường có những triệu chứng phổ biến khác là:

- Giảm sự tập trung chú ý

- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin

- Có ý tưởng bị tội không xứng đáng

- Nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan

- Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát

- Thể trạng nặng thường có các triệu chứng sinh học sút cân mất 5% trọng lượng cơ thể/1 tháng, giảm dục năng, mất ngủ, thức giấc sớm

- Phải có 2/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm

- 2/7 triệu chứng phổ biến khác hay gặp trong trầm cảm

- Không có triệu chứng sinh học của trầm cảm

- Kéo dài ít nhất 2 tuần

- Phải có 2/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm

- Có ít nhất 3/7 triệu chứng phổ biến khác hay gặp trong trầm cảm

- Gây nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, xã hội, nghề nghiệp

- Kéo dài ít nhất 2 tuần

- Phải có 2/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm

- Có ít nhất 3/7 triệu chứng phổ biến khác hay gặp trong trầm cảm

- Có triệu chứng sinh học của trầm cảm

- Ít khả năng tiếp tục gia đình, xã hội, nghề nghiệp

- Tăng khí sắc nhẹ và dai dẳng nhiều ngày

- Tăng năng lượng và hoạt động

- Cảm giác thoải mái làm việc có hiệu suất dễ chan hòa, ba hoa, suồng sã, có thể cáu kỉnh, tự phụ, thô lỗ

- Ít ngủ (giảm nhu cầu ngủ)

- Khả năng tập trung chú ý giảm

- Không gián đoạn công việc

*Hưng cảm vừa (Hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần)

- Khí sắc tăng cao, không tương xứng với hoàn cảnh người bệnh

- Có thể thay đổi từ vui vẻ đến kích động gần như không thể kiểm tra được

- Tăng năng lượng hoạt động thái quá, nói nhanh

- Mất khả năng kiềm chế xã hội thông thường

- Chú ý không thể duy trì được, dùng từ rõ rệt

- Tự cao quá mức, khuếch đại, lạc quan

- Đánh giá sâu sắc rực rỡ đẹp, nhạy cảm chủ quan ranh giới

- Lao vào mưu đề ngông cuồng, không thực tế

- Công kích đam mê, si tình, đùa đến không thích hợp

- Có thể cau có ngờ vực

- Thời gian ít nhất 1 tuần

- Gián đoạn công việc xã hội và gia đình

*Hưng cảm nặng có các triệu chứng loạn thần

- Khí sắc tăng quá cao

- Hoạt động thể lực mạnh kéo dài dẫn đến kích động xâm phạm hoặc hung bạo

- Tự đánh giá quá mức dẫn đến ý tưởng tự dao, hoang tưởng tự cao hay tôn vinh về nguồn gốc, vai trò nổi bật, đôi khi còn hoang tưởng

- Tư duy phi tán, nói nhanh có thể làm cho người khác không hiểu được người bệnh

- Sao nhãng ăn uống, vệ sinh cá nhân dẫn đến mất nước

- Có thể hoang tưởng hoặc ảo giác có hoặc không phù hợp với khí sắc

Một số dấu hiệu của rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Người mắc rối loạn cảm xúc lưỡng cực thường thay đổi tâm trạng rất nhanh hoặc có những lần thay đổi không đều đặn, với hai trạng thái cơ bản là hưng cảm và ức chế (hoặc trầm cảm) Người bệnh cũng có thể gặp tâm trạng đan xen, tức là dấu hiệu hưng cảm và trầm cảm xảy ra đồng thời, gây ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày.

Trong trạng thái ức chế của rối loạn lưỡng cực, người bệnh thường có triệu chứng giống trầm cảm như thiếu năng lượng, rối loạn ăn ngủ và khó tập trung; tuy nhiên, cần được khám tại cơ sở y tế để xác định đúng là trầm cảm hay rối loạn lưỡng cực vì hai bệnh có phương pháp điều trị hoàn toàn khác nhau Bên cạnh đó, khi ở giai đoạn hưng cảm sẽ có cảm giác hạnh phúc hoặc phấn chấn, còn ở trạng thái ức chế, cảm xúc buồn bã và chán nản có thể đến mà không có nguyên nhân, thậm chí kèm với ý nghĩ tự tử; bệnh nhân có thể cảm thấy tuyệt vọng hoặc vô dụng, mất hứng thú với các hoạt động từng yêu thích và giảm ham muốn tình dục.

Ở người bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực, giấc ngủ thường dao động theo từng giai đoạn: trong giai đoạn trầm cảm, thói quen ngủ có thể biến động mạnh, dẫn đến ngủ quá nhiều hoặc ngủ quá ít; ở giai đoạn hưng cảm, người bệnh ngủ ít hơn so với người bình thường nhưng vẫn cảm thấy tràn đầy sinh lực; khi gặp chứng mất ngủ hoặc có cảm giác như không cần ngủ, năng lượng vẫn dồi dào và hoạt động vẫn diễn ra.

Mọi người đều trải qua những biến động của tâm trạng, nhưng khi trạng thái hưng phấn lên mức quá cao, nó có thể được xem như dấu hiệu của bệnh tâm thần Trong giai đoạn hưng phấn, người bệnh thường tăng năng suất làm việc và sự sáng tạo, đồng thời cảm thấy cực kỳ vui vẻ, hạnh phúc và hứng thú một cách rõ rệt Tình trạng này có thể kéo dài mà không có lý do rõ ràng, khiến cảm xúc hạnh phúc tột độ trở thành đặc trưng nhận diện của rối loạn tâm thần.

Chứng tăng động giảm chú ý ở người lớn thể hiện qua cảm giác kích động, bứt rứt, bồn chồn và dễ bị xao nhãng; đây là dấu hiệu cho thấy người bệnh gặp khó khăn trong việc duy trì sự tập trung và kiểm soát hành vi Người lớn mắc ADHD thường khó tập trung vào công việc, dễ bỏ lỡ chi tiết và thậm chí khó đưa ra những quyết định nhỏ trong cuộc sống hàng ngày Khi rơi vào giai đoạn trầm cảm, họ có thể cảm thấy mệt mỏi, đờ đẫn và thiếu động lực, khiến chất lượng công việc và sinh hoạt bị ảnh hưởng.

Trong trạng thái hưng cảm, người đang ở trạng thái này có thể nổi cáu với người khác một cách bất ngờ khi không bị khiêu khích, dễ bị xúc động và dễ tức giận hơn so với khi ở tâm trạng bình thường.

Nói nhanh và nghĩ nhanh

Người bệnh nói quá nhanh đến mức người nghe khó theo kịp hoặc không thể hiểu được, thậm chí không để người khác có cơ hội nói chuyện Họ đưa ra những suy nghĩ hay ý tưởng rất nhanh và mong muốn đảm nhận nhiều công việc cùng lúc Bên cạnh đó, họ tham gia vào nhiều hoạt động, kể cả những việc dường như vô nghĩa và không có mục đích rõ ràng, mà không quan tâm đến ăn uống hay ngủ nghỉ.

Việc tự tin quá mức có thể dẫn đến quyết định sai lầm và khiến người bệnh ảo tưởng về bản thân, từ đó có thể làm những việc vượt quá khả năng và làm tăng nguy cơ rủi ro Trong trạng thái này, cái tôi của họ rất lớn hoặc tự trọng cao hơn bình thường, khiến họ tin mình có thể hoàn thành những nhiệm vụ quá sức hoặc tưởng tượng có mối quan hệ đặc biệt với các nhân vật quan trọng hay với hiện tượng siêu nhân.

Những người bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực có tỷ lệ sử dụng rượu bia cao hơn so với người bình thường; trong giai đoạn hưng cảm, họ thường uống rượu hoặc dùng ma túy, và ở giai đoạn trầm cảm họ có thể tìm đến chất kích thích để cải thiện tâm trạng Việc lạm dụng rượu bia và ma túy ở cả hai pha của bệnh có thể gây hại cho sức khỏe, làm phức tạp quá trình điều trị và gia tăng nguy cơ biến chứng hoặc tác dụng phụ của thuốc điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực Do đó, việc nhận diện sớm và có sự can thiệp của y tế là rất quan trọng để quản lý hành vi sử dụng chất kích thích và ổn định tâm trạng.

Chẩn đoán 12

Tùy theo từng giai đoạn bệnh hiện tại mà người ta phân thành các loại sau:

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ F31.0 (Bipitar affective Disorder, Curent Episode Hypomanic) Để chẩn đoán xác định:

- Giai đoạn hiện nay phải có đầy đủ các tiêu chuẩn hưng cảm nhẹ(F30.0)

- Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trước đây

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần F31.1 (Bipitar affctive Disorder, Curent Episode Manic Without Psyclotic Symptoms)

- Phải có đầy đủ tiêu chuẩn của hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần (F30.1)

- Ít nhất có giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm trầm cảm hoặc hỗn hợp) trong quá khứ

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (F31.2) (Bipitar affctive Disorder, Curent Episode Manic With Psyclotic Symptoms)

- Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (F30.2)

- Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trong quá khứ

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa F31.3 (Bipitar affctive Disorder, Curent Episode Mild or Moderate Depression)

- Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (F32, F32.1)

- Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm hoặc hỗn hợp trong thời gian quá khứ

RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần F31.4(Bipitar affctive Disorder, Curent Episode Severe DepresionWithout Psyclotic Symptoms)

- Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần F32.3

- Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm, hoặc hỗn hợp trong giai đoạn trước đây

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần F31.5 (Bipitar affctive Disorder, Curent Episode Severe Dipresion With Psyclotic Symptoms)

- Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần (F32.3.)

- Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm hoặc hỗn hợp trong quá khứ

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn hỗn hợp F31.6 (Bipitar affctive Disorder, Curent Episode Mixed)

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực được đặc trưng bởi ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm, hưng cảm nhẹ hoặc pha trộn, có thể xuất hiện cùng nhiều triệu chứng thay đổi nhanh chóng từ ngày này sang ngày khác hoặc từ giờ này sang giờ khác Hình thái điển hình gồm các giai đoạn trầm cảm và hưng cảm xen kẽ, ở giữa là quãng thời gian khí sắc bình thường Các giai đoạn này có thể đi kèm với các đặc trưng như trong giai đoạn trầm cảm: buồn bã kéo dài, giảm hoạt động và giảm nói chuyện; và trong giai đoạn hưng cảm: khí sắc hưng phấn hoặc kích động, ý tưởng tự cao, gia tăng nói năng và tăng ham muốn hoạt động Triệu chứng trầm cảm và hưng cảm có thể chuyển đổi nhanh chóng từ ngày này sang ngày khác và từ giờ này sang giờ khác.

Chẩn đoán rối loạn cảm xúc lưỡng cực hỗn hợp chỉ được thực hiện khi cả hai nhóm triệu chứng nổi bật trong phần lớn giai đoạn hiện tại của bệnh và giai đoạn này kéo dài ít nhất hai tuần.

Rối loạn phân biệt cảm xúc E25

Đây là nhóm rối loạn xuất hiện theo từng giai đoạn, trong đó các triệu chứng cảm xúc và các triệu chứng nhận diện (phân biệt) nổi bật đồng thời trong cùng một giai đoạn của bệnh, thường xảy ra đồng thời hoặc ít nhất cũng cách nhau vài ngày Mối liên hệ của chúng với rối loạn cảm xúc điển hình (E30 - E39) và với các rối loạn phân biệt (E20 - E24) vẫn chưa được khẳng định; chúng được coi là một thể rối loạn riêng Vì chúng rất phổ biến nên không thể bỏ qua trong đánh giá và điều trị các rối loạn tâm thần.

- Hoạt động hưng cảm: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực lôi cuốn hữu ích

+ Rối loạn cảm xúc lượng cực, ngôn ngữ có mục đích, có ý nghĩa sát thực tại + Tâm thần phân liệt, ngôn ngữ xa rời thực tại khó hiểu

+RLCXCL khoan khoái dễ chịu

+Tâm thần phân liệt (TTPL) đơn điệu nghèo nàn, ít di động

+ Tâm thần phân liệt vô cảm xúc, bàng quan

- Thời gian giữa cơn: giữa cơn rối loạn cảm xúc hoàn toàn bình thường

+ Giữa cơn TTPL nhiều biểu hiện biến đổi nhân cách, thiếu hòa hợp

+ TTPL càng tiến triển vết phân biệt càng rõ rệt theo một số tác giả sau cơn thứ 3 TTPL làm biến đổi nhân cách rõ rệt

Trạng thái sa sút trí tuệ

- Khoái cảm, giải thể bản năng hoang tưởng tự cao rõ rệt

- Lâm sàng: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực trí tuệ không sa sút, người bệnh không mất hoàn toàn khả năng tự kiểm soát hành vi tác phong

- Sa sút trí tuệ: Trí tuệ sa sút: dịch não tủy BW (+)

- Triệu chứng thần kinh người bệnh sa sút trí tuệ có biểu hiện tay run, nói khó lưỡi thập thò

* Nguyên tắc Điều trị triệu chứng: nhằm mục đích điều trị các giai đoạn (hưng hoặc trầm) Nếu các giai đoạn nặng phải nhập viện

+ Trầm cảm: Nhập viện đề phòng nguy cơ tự sát cao

+ Hưng cảm: Nhập viện để đối phó các hậu quả do kích động gây ra

* Điều trị giai đoạn trầm cảm

+Nếu lo âu, thì nên dùng thuốc chống trầm cảm gây êm dịu như Amitriptilive liều từ 50 - 100mg/ngày

+Nếu dạng ức chế thì dùng thuốc chống trầm cảm hoạt hóa Survetor 100- 200mg/ngày hoặc chống trầm cảm trung gian Auafanil 50 - 150mg/ngày

+Nếu lo âu dùng thuốc chống trầm cảm mới như Stablon 12,5- 37,5mg/ngày

+Điều trị bằng thuốc chống trầm cảm thường phải được điều trị trong thời gian dài

4 - 6 tháng đối với mức trung bình, 6 tháng đến 1 năm đối với hội chứng trầm cảm nặng Việc chấm dứt điều trị cần được tiến hành dần dần trong 1- 2 tháng

* Điều trị giai đoạn hưng cảm

- Các thuốc an thần kinh được chỉ định để điều trị cơn hưng cảm

- Chống loạn thần và làm êm dịu:

- Chống loạn thần mạnh, có tác dụng tối đa đối với các loại hoang tưởng ảo giác.Haloporiclol 5 - 20mg/ngày

Thuốc an thần kinh luôn luôn phải được điều chỉnh tùy theo sự dung nạp và hiệu quả [1], [6]

Thuốc điều chỉnh khí sắc

Muối Lithium có hiệu quả điều trị, nhưng tác dụng đầy đủ chỉ xuất hiện sau khoảng 8 ngày sử dụng, vì vậy cần phối hợp với các thuốc an thần kinh từ lúc khởi đầu Việc phối hợp này đòi hỏi theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng chặt chẽ để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

Carbamazepin:hiệu quả điều trị xảy ra nhanh hơn so với Lithium và trong khoảng

Ba ngày đầu được ưu tiên sử dụng trong trường hợp bệnh hưng trầm cảm có chu kỳ ngắn và được kết hợp với một thuốc an thần kinh ở giai đoạn khởi đầu điều trị Cần theo dõi lâm sàng chặt chẽ để đề phòng dị ứng, với liều dùng từ 200–800 mg mỗi ngày.

Depakin: đã được sử dụng trong điều chỉnh các rối loạn khí sắc của bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực

+ Làm ổn định cảm xúc

+ Êm dịu và tăng hiệu qủa êm dịu của các thuốc hướng thần khác được chỉ định Depakin

+ An thần kinh ở giai đoạn cấp tính giảm nhanh tình trạng loạn thần và hưng cảm tâm lý vận động hơn là dùng an thần kinh đơn thuần

- Dự phòng tái phát bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực số cơn và thời gian kéo dài cơn + Giảm số lần tới nhập viện từ 60 - 80%

+ Liều thấp duy trì: 300 - 600mg

Liều lượng thuốc nên được điều chỉnh theo khả năng dung nạp của từng người điều trị Với điều trị Đa tự nhiên, nên bắt đầu với liều thấp hơn và tăng dần dựa trên phản ứng cơ thể để tối ưu hiệu quả Đối với Đơn tự liệu, thuốc nên được dùng tối đa hai lần mỗi ngày để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

Hiện nay, điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực chủ yếu dựa trên việc sử dụng thuốc an thần kinh và thuốc điều chỉnh khí sắc nhằm can thiệp vào các thể trầm cảm của bệnh Các nhóm thuốc phổ biến bao gồm thuốc an thần kinh như Risperidone và Olanzapine, cùng các thuốc điều chỉnh khí sắc như Carbamazepine và Valproate.

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực thường tái phát và người bệnh có nhiều giai đoạn phát bệnh trong suốt cuộc đời; giữa các giai đoạn họ có thể hoàn toàn khỏe mạnh, vì vậy điều trị dự phòng là rất cần thiết Chỉ định dự phòng được xác định khi người bệnh bị mỗi năm một cơn hoặc hai đến ba cơn, nhằm hạn chế tái phát và ổn định tình trạng Các muối được dùng để duy trì trong dự phòng bao gồm Lithium, Carbamazepin và Depakin.

Trong chăm sóc người bệnh, cần chú ý cân đối sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý, đồng thời giảm thiểu căng thẳng cảm xúc để người bệnh ổn định tinh thần Theo dõi sức khỏe người bệnh vào mùa thu và mùa hè là rất quan trọng vì đây là thời điểm dễ phát bệnh, do đó cần điều trị sớm ngay từ những triệu chứng đầu tiên như rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi và sự thay đổi hoạt động của người bệnh—có thể giảm hoặc tăng bất thường so với trạng thái bình thường Việc can thiệp sớm khi xuất hiện các dấu hiệu này sẽ giúp cải thiện kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Rối loạn cảm xúc trước đây còn được gọi là bệnh hưng trầm cảm; khi lên cơn hưng cảm, người bệnh cảm thấy vui vẻ quá mức, tràn đầy sinh lực, sức khỏe dồi dào và không cảm thấy mệt mỏi, mọi việc dường như đều tốt đẹp, quá khứ và tương lai đều sáng sủa Họ thể hiện sự lạc quan thái quá, tự đánh giá cao bản thân, lập nhiều kế hoạch và đầu tư vào những lĩnh vực chưa có kiến thức, thậm chí tiêu xài phóng khoáng và tin tưởng tuyệt đối vào thành công của mình Đôi khi họ có vẻ thành đạt, thích khoe khoang và có khả năng thuyết phục người đối diện với vẻ tự tin cao; nhưng nếu để ý, có thể nhận thấy họ thuộc kiểu “thùng rỗng kêu to” và có gì đó bất thường Thật vậy, tiếp xúc thường xuyên cho thấy họ có tính hoang tưởng và phóng đại về dòng dõi, tài năng, địa vị; ở phụ nữ, họ tự tin cho rằng mình rất xinh đẹp hoặc được nhiều người săn đón, thành công trong việc “hạ gục đối phương.” Người bệnh luôn vận động, làm nhiều việc cùng lúc đến mức quá bận rộn, nói nhiều về nhiều đề tài không mệt mỏi mà thiếu tập trung vì ý tưởng tuôn ra dồn dập; trong gia đình hay nơi làm việc, họ thường can thiệp vào mọi công việc, thích chỉ huy và có tính độc tài nhưng không hoàn thành công việc một cách triệt để.

Ngược lại với giai đoạn hưng cảm, người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực rơi vào giai đoạn trầm cảm với khung khí sắc hoàn toàn trái ngược, tư duy bị ức chế, hoạt động tâm thần giảm sút và vận động chậm lại Lúc này người bệnh thường buồn bã vô cớ, không tìm thấy lối thoát từ quá khứ cũng như tương lai và dễ cảm thấy tội lỗi, tuyệt vọng Ý nghĩ tự tử xuất hiện khiêm tốn nhưng vẫn có thể dẫn đến những cố gắng tự làm hại bản thân, dù nhiều trường hợp được phát hiện sớm Những lý do dẫn đến cái chết đôi khi rất mơ hồ và phi lý, khó có thể chấp nhận Ngay cả ở những nước có mức sống vật chất cao nhưng thiếu sự quan tâm của gia đình và cộng đồng, vẫn có nhiều người mắc rối loạn cảm xúc lưỡng cực Bệnh ở mức nặng không trực tiếp gây tử vong về mặt bệnh lý, nhưng tỷ lệ tự tử ở người mắc rối loạn cảm xúc lưỡng cực không phải là nhỏ.

Khác với tâm thần phân liệt và các bệnh thực thể của não bộ, rối loạn cảm xúc lưỡng cực không dẫn tới sa sút tâm thần, mất trí hoặc biến đổi nhân cách; người bệnh vẫn có một cuộc sống bình thường, tiếp tục học tập và làm việc trong môi trường chung với người bình thường Tuy nhiên, nhiều trường hợp vẫn bị đồng nghiệp hoặc bạn bè nhận diện qua những nhận xét như “thằng này hâm”, “cô này tưng tửng” hay “ông này có vấn đề” và vẫn cố che giấu bệnh Nếu gia đình và bạn bè nhận ra dấu hiệu bất thường và thuyết phục họ đi khám để chẩn đoán sớm và điều trị đúng, khả năng hồi phục hoàn toàn là rất cao.

Hiện nay trên thế giới, do cuộc sống căng thẳng và sự đứt kết nối của mối quan hệ gia đình và cộng đồng, rối loạn cảm xúc lưỡng cực trở thành một vấn đề thời sự được các chuyên gia ngành tâm thần hết sức quan tâm Việc chẩn đoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực đang được quan tâm ngày càng nhiều nhờ tác động của triệu chứng lên chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ xã hội Chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp của đội ngũ bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học và gia đình người bệnh, đồng thời tăng cường nhận thức của cộng đồng về dấu hiệu và nguy cơ Bài viết tập trung làm rõ các dấu hiệu nhận biết, các phương pháp chẩn đoán và các lựa chọn điều trị phù hợp nhằm giảm gánh nặng cho người bệnh và gia đình Đồng thời, chúng ta sẽ xem xét những yếu tố ảnh hưởng, thách thức trong quản lý lâu dài và các chiến lược chăm sóc liên tục trong đời sống hàng ngày.

Hiện nay có nhiều hướng dẫn điều trị và thuốc dự phòng tái phát rối loạn cảm xúc lưỡng cực, bao gồm các thuốc chống động kinh và thuốc chống loạn thần Tuy nhiên, xã hội cần chú trọng nhận diện sớm những người đang chịu đựng căn bệnh này để họ được chẩn đoán và điều trị kịp thời, từ đó cải thiện kết quả lâu dài.

Nhiều nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu đã mô tả kinh nghiệm của điều dưỡng khi chăm sóc người bệnh rối loạn lưỡng cực Mặc dù các báo cáo này không luôn có mức độ bằng chứng cao, những kinh nghiệm ấy vẫn phản ánh chính xác các hoạt động điều dưỡng thường xuyên thực hiện trong chăm sóc người bệnh rối loạn lưỡng cực [7-8].

Quản lý quy trình điều dưỡng

Ngày đăng: 20/02/2022, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Linh Doan(2010),Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, Hà nội Khác
2. Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ (2016),Quy trình chăm sóc người bệnh tâm thần, Phú Thọ Khác
3. Lê Hiếu (2014), Lâm sàng rối loạn cảm xúc lương cực giai đoạn trầm cảm,HộinghịkhoahọcBệnhviệnTâmthầnTrungươnglầnthứ3,tr.1- 17 Khác
4. Bùi Quốc Tuyên (2015), Rối loạn cảm xúc lưỡng cực trên người bệnhgiai đoạn mắc trầm cảm, Bệnh viện tâm thần Trung ương II,tr.21- 25 Khác
5. Thiên Kim (2012), Rối loạn cảm xúc lưỡng cực trong xã hội hiện đại, tạp chí ViệtBáo Khác
6. Nguyễn Việt Kim (2013), Tâm thần học người già, Nhà xuất bản Y Học, HàNội. Tiếng Anh Khác
7. Malhi GS, Tanious M, Berk M. Mania: diagnosis and treatment recommendations. Curr Psychiatry Rep. 2012 Dec;14(6):676- 86. [PubMed] Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm