1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát kiến thức của người chăm sóc chính về chăm sóc người bệnh bị tâm thần phân liệt tại khoa bán cấp tính nam bệnh viện tâm thần trung ương i

75 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 898,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH HOÀNG TIẾN LÂN KHẢO SÁT KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH BỊ TTPL TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM - BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUN

Trang 1

HOÀNG TIẾN LÂN

KHẢO SÁT KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH BỊ TTPL TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM - BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐINH - NĂM 2021

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

HOÀNG TIẾN LÂN

KHẢO SÁT KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH BỊ TTPL TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM - BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I

Chuyên ngành: Tâm thần

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

TS Trương Tuấn Anh

NAM ĐINH - NĂM 2021

Trang 3

MỤC LỤC

1.7 Tổng quan về quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL 11 1.8 Các yếu tố liên quan đến quản lý và chăm sóc NBTTPL 16

3.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tại gia đình 30

Trang 4

LỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định cùng các Thầy, Cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Trương Tuấn Anh, người Thầy đã dành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhất Tôi cũng xin cảm ơn tới Ban giám đốc bệnh viện và các khoa, phòng ở Bệnh viện Tâm thần Trung ương I đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè của tôi những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và làm chuyên đề

Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 2021 Người làm báo cáo

Hoàng Tiến Lân

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của

TS Trương Tuấn Anh Các kết quả trong chuyên đề là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 2021

Người viết cam đoan

Hoàng Tiến Lân

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ Người bệnh tâm thần phân liệt (NBTTPL) là người có biểu hiện khác lạ về lời nói, hành vi, nhân cách so với những người bình thường Người có bệnh tâm thần phân liệt thường không nhận thức được khuyết tật và sự bất thường của mình Khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và làm việc của người bệnh đều giảm sút Tình trạng bất thường về tâm thần có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau hàng tháng Người bệnh đôi khi cũng có những lúc có những biểu hiện bình thường như trước khi mắc bệnh [20]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) bệnh tâm thần phân liệt chiếm tỷ lệ 0,7-1% dân số và ước tính thế giới có khoảng 26 triệu NB TTPL Tại Việt Nam theo điều tra dịch tễ lâm sàng, tỷ lệ người bệnh TTPL là 0,47% [13]

Tại Việt Nam, trước năm 1998 NB TTPL thường được tập trung chăm sóc tại các bệnh viên có quy mô lớn Từ năm 1999, “Chương trình Mục Tiêu Bảo Vệ Sức Khỏe Tâm Thần Cộng Đồng” của Quốc gia được triển khai trong cả nước; người bệnh TTPL được phát hiện sớm, điều trị sớm và chú trọng phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng [15]

Trong “Chương trình mục tiêu Y tế-Dân số giai đoạn 2016-2020” đã nhấn mạnh quản lý, điều trị và phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh TTPL dựa vào cộng đồng rất cần thiết và quan trọng Đây là cơ hội tốt để NBTTPL được tái hoà nhập cộng đồng, nhưng cũng đòi hỏi hệ thống y tế và gia đình người bệnh phải làm tốt công tác quản lý và chăm sóc người bệnh [19]

Người chăm sóc NBTTPL trong gia đình cho NB uống thuốc hàng ngày theo hướng dẫn của nhân viên y tế Việc cho NB uống thuốc không tuân thủ điều trị theo hướng dẫn của nhân viên y tế sẽ gây hậu quả nghiêm trọng như: Diễn biễn bệnh nặng lên, tăng số lần NB phải nhập viện, NB dồn thuốc lại để tử tự…[31] [29] [36] [42] Để quản lý và chăm sóc tốt cho NBTTPL điều trị nội trú các thành viên trong gia đình phải là những người có kiến thức cơ bản về bệnh TTPL [12]

NBTTPL điều trị nội trú không chỉ cần tuân thủ điều trị về thuốc mà còn phải được chăm sóc về dinh dưỡng, vệ sinh, đặc biệt là về tâm lý để phục hồi chức

Trang 8

năng, phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường thông báo cho cán bộ y tế, nhờ đó kịp thời ngăn ngừa tái phát hoặc diễn biến những cơn bùng phát cấp tính [20]

Tuy nhiên cho đến nay, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề thực trạng quản lý và chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú Nhằm phục vụ cho công tác đánh giá người bệnh tâm thần phân liệt được quản lý và chăm sóc như thế nào sau khi ra viện tại cộng đồng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát kiến thức của người chăm sóc chính về chăm sóc người bị tâm thần phân liệt điều trị tại khoa Bán cấp tính Nam - Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 năm 2021” với mục tiêu:

1 Thực trạng quản lý và chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 năm 2021

2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý và chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt liệt điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 năm 2021

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm/định nghĩa

Khái niệm quản lý có tính đa nghĩa, có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp và có sự nhận thức khác nhau theo thời đại, xã hội, nghề nghiệp nên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý

Henri Fayol (1841-1925): Quản lý là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối và kiểm soát

Mary Parker Follet (1868-1933): Quản lý là nghệ thuật làm cho các công việc được thực hiện bởi mọi người

Harold Koontz (1909-1984): Quản lý là một nghệ thuật làm cho mọi công việc được thực hiện thông qua các nhóm người trong một tổ chức chính thức

Vậy quản lý là sự tác động của đối tượng quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường [7] Quản lý người bệnh TTPL sẽ bao gồm: thu thập thông tin và nhu cầu của người bệnh, xây dựng kế hoạch trợ giúp người bệnh, thực hiện kế hoạch trợ giúp người bệnh, theo dõi, rà soát việc thực hiện kế hoạch trợ giúp người bệnh và đánh giá [5]

Chăm sóc NB TTPL là hoạt động bao gồm: Hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điều trị và phòng tránh các nguy cơ từ môi trường [6]

Người chăm sóc NB TTPL ngoại trú là cá nhân, thường là thành viên trong gia đình người bệnh, người đã dành phần lớn thời gian trong việc chăm sóc, cung cấp hỗ trợ các hoạt động hàng ngày, kiểm tra thuốc men cho người bệnh [24]

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ có khuynh hướng mãn tính, căn nguyên chưa rõ, nhân cách bị biến đổi theo kiểu phân liệt, làm cho người bệnh tách dần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, học tập và làm việc sút kém [1]

Bệnh tâm thần phân liệt đã được biết từ lâu nhưng đến thế kỷ thứ XVIII mới được mô tả trong y văn

Trang 10

Năm 1857 nhà tâm thầm học người Pháp Morel B.A (1809 – 1873) lần đầu tiên mô tả một loại bênh tâm thần ở người trẻ tuổi và thường dẫn đến sa sút, gọi là bệnh sa sút sớm

Năm 1863 nhà tâm thần học người Đức Khalbaum K.L (1828 – 1899) mô tả một bệnh tâm thần phát triển ở người trẻ tuổi mang tính chất dữ dội gọi là tâm thần thanh xuân (hebephrénia)

Năm 1874 Khalbaum K.L lại mô tả một bệnh tâm thần biếu hiện chủ yếu rối loạn tâm lý vận động gọi là bệnh căng trương lực (catatonia)

Năm 1892 nhà tâm thần học Pháp Magran ( 1835 – 1816) mô tả bệnh loạn thần hoang tưởng mãn tính mà một số dẫn đến sa sút và vô cảm

Năm 1989 nhà tâm thần học Đức Karaepelin E đã thống nhất các thể bệnh độc lập được tác giả trên mô tả thành một loại bênh riêng gọi là bệnh sa sút sớm

Năm 1911 nhà tâm thần học Thụy Sỹ bleuler E đưa ra kết luận lý thú về các rối loạn chủ yếu của bệnh là sự chia cắt trong các mặt hoạt động tâm thần, đó là lý

do để ông đưa ra thuật ngữ mới: Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia) Theo ông nét đặc trưng của bệnh TTPL gồm 4 chữ A (rối loạn sự liên tưởng: Association, rối loạn loại cảm xúc: Affect, tự kỷ: Autism, tính hai chiều trái ngược : Ambevalence)

Năm 1939 Schneider K mô tả một số triệu chứng hàng đầu, được ông coi là đặc trưng cho tâm thần phân liệt (TTPL): là một bệnh tâm thần nặng, có tính chất tiến triển, căn nguyên chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân cách của bệnh nhân theo kiểu phân liệt, biểu hiện bằng sự mất thống nhất trong các hoạt động tâm thần Bằng mất dần liên hệ với thực tại xung quanh, bằng cảm xúc ngày càng khô lạnh, tác phong ngày càng kỳ dị khó hiểu, tư duy ngày càng lệch lạc trầm trọng cả về hình thức lẫn nội dung [17]

Như vậy, các tác giả đều thống nhất rằng: Bệnh TTPL làm mất tính thống nhất, chia cắt các hoạt động tâm thần, bệnh có xu hướng tiến triển mãn tính, làm biến đổi nhân cách của ngời bệnh theo hướng thiếu hoà hợp và tự kỷ, cùn mòn cảm xúc, tác phong kỳ dị khó hiểu

Người bệnh tâm thần phân liệt là người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt

Trang 11

1.2 Tình hình dịch tễ học

1.2.1 Tình hình dịch tễ học thế giới

Từ xa xưa, những người bệnh tâm thần thường được coi là do ma quỷ, thánh thần và không được điều trị, họ thường bị nhốt trong các nhà lao, trại giam Cùng với sự phát triển của khoa học, xã hội, nền y học nói chung và tâm thần học nói riêng, quan niệm về bệnh tâm thần và sức khỏe tâm thần ngày càng đúng đắn Năm

1948 Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra định nghĩa về sức khỏe, bao gồm sự thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, thì quan niệm về sức khỏe tâm thần mới được hiểu rõ ràng hơn, phạm vi các rối loạn về tâm thần được mở rộng hơn

Trên thế giới, tỷ lệ các bệnh tâm thần tăng dần từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2 bởi các yếu tố:

+ Tỷ lệ chết giảm, dân số tăng, tuổi thọ tăng Ví dụ: Tăng dân số ở độ tuổi nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt (độ tuổi 15-45) nên tỷ lệ bệnh này tăng Tăng dân số ở người cao tuổi nên tỷ lệ các bệnh tâm thần ở người già tăng

+ Sự biến động lớn về tâm lý- xã hội Trong hơn 40 năm qua do vấn đề công nghiệp hoá, đô thị hoá Ví dụ: Tỷ lệ các rối loạn tâm thần tăng liên quan đến stress, rối loạn hành vi và phạm pháp ở thanh thiếu niên, lạm dụng rượu, nghiện ma tuý, trầm cảm, tự sát

Ở Hoa Kỳ, theo nghiên cứu của Darrell Regier: tỷ lệ mắc trong đời các rối loạn tâm thần là 32,2% dân số, ít nhất 15% dân số Hoa kỳ bị rối loạn tâm thần trong

1 năm Theo Harold I.Kaplan, tỷ lệ mắc trong đời 1 số bệnh tâm thần như sau:

Bệnh Tâm thần phân liệt 1,5%

Rối loạn trầm cảm 1 cực 6,0%

Rối loạn trầm cảm 2 cực 1,0%

Nghiện rượu 13,3%

Nghiện ma tuý 5,9%

Rối loạn tâm căn 3-8%

Theo thông cáo báo chí của WHO năm 2001 Trên thế giới cứ 4 người thì có một người sẽ mắc chứng rối loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời Thế giới có khoảng 24 triệu người mắc bệnh tâm thần

Trang 12

phân liệt, mỗi năm trong số đó có khoảng: 1 triệu người tự sát, 10-20 triệu người có

ý định tự sát [4]

1.2.2 Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ năm 1964 đến nay đã có một số công trình điều tra cơ bản về bệnh tâm thần và thu được một số kết quả Song do phương pháp, công cụ và đặc biệt là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên tỷ lệ một

số rối loạn tâm thần có thay đổi

Năm 1981 Trần Văn Cường, Nguyễn Khánh Hợi điều tra tâm thần ở xã Hoà Bình Nguyễn Thị Mai và cộng sự điều tra về các bệnh tâm thần tại phường Lê Đại Hành, Hà Nội Nguyễn Văn Siêm và cộng sự điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã (phường) Hà Nội Các công trình này cho tỷ lệ mắc bệnh tâm thần dao động 18-20% dân số

Năm 1994 được sự giúp đỡ của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, ngành tâm thần Việt Nam đã tiến hành điều tra tâm thần tại 3 điểm : xã Tự Nhiên, xã Quất Động thuộc huyện Thường Tín, xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao – Phú Thọ và xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT) dựa vào cộng đồng Cho tỷ

lệ một số rối loạn tâm thần như sau:

Bệnh TTPL: 0,3% - 1% dân số

Rối loạn cảm xúc trầm cảm:2,0% - 3,0% dân số

Rối loạn tâm căn ( lo âu, ám ảnh, suy nhược thần kinh): 4.0% - 5,0%

Nhân cách bệnh: 0,5% - 1,0%

Nghiện ma tuý: 0,15% - 1,5%

Nghiện rượu: 0,21% - 3,0%

Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên (độ tuổi 10 – 17) là: 0,3% - 3,7%

Loạn thần do chấn thương sọ não: 0,15% - 0,2%

Chậm phát triển tâm thần: 0,5% - 1,0%

Động kinh: 0,5% - 1,5%

Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp tại cộng đồng từ năm 2000-2002 cho thấy [4]:

Trang 13

1.3 Nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt

Hiện nay chưa xác định được nguyên nhân đơn độc nào gây bệnh TTPL, tuy nhiên có một vài yếu tố cho thấy có liên quan tới việc phát bệnh:

+ Căng thẳng thần kinh: Các căng thẳng thần kinh thường là tiền đề cho việc khởi phát bệnh tâm thần phân liệt Những căng thẳng thần kinh đóng vai trò như biến cố thúc đẩy người dễ mắc bệnh Người bệnh TTPL thường trở nên lo âu, cáu kỉnh và không thể tập trung tư tưởng Điều này gây rắc rối cho công việc và học hành, làm cho các mối quan hệ dần suy tàn

+ Dùng rượu bia và các chất ma túy khác: Dùng rượu, bia và các chất ma túy độc hại khác có thể khơi dậy triệu chứng loạn thần ở những người dễ mắc bệnh TTPL Mặc dù dùng chất ma túy không gây ra bệnh TTPL, việc sử dụng nó có liên quan mạnh mẽ tới tái phát bệnh Người bệnh TTPL dễ dùng rượu và các chất ma túy khác hơn người bình thường và việc này có hại cho điều trị bệnh

+ Yếu tố di truyền: Bệnh TTPL có thể di truyền trong gia đình Nếu một người cha hoặc mẹ mắc bệnh TTPL thì con cái có nguy cơ mắc là 10%

+ Yếu tố sinh hóa: Người ta tin rằng một vài chất sinh hóa trong não cũng liên can đến bệnh TTPL, đặc biệt là một chất dẫn truyển xung động thần kinh có tên

Trang 14

là Dopamine Một nguyên do khả dĩ gây ra việc mất quân bình hóa chất này là bản chất di truyền của người đó đối với căn bệnh này Những tai biến trong lúc mang thai hay khi sinh nở làm tổn thương cấu trúc của não bộ cũng liên quan tới bệnh này

+ Quan hệ trong gia đình:

Người ta không tìm ra được bằng chứng gì để hỗ trợ cho đề nghị là các mối quan hệ trong gia đình gây ra căn bệnh này Tuy nhiên, một số NBTTPL dễ nhạy cảm với các căng thẳng trong gia đình, mà theo họ thì việc này có thể có liên quan đến các cơn bệnh tái diễn [1] [40]

1.4 Triệu chứng lâm sàng

* Giai đoạn khởi phát: Các biểu hiện tiến triển từ từ, lúc đầu khó nhận biết

- Người bệnh ngày càng giảm sút khả năng học tập và công tác, đầu óc mù

mờ khó suy nghĩ, cảm giác lạnh nhạt dần, khó thích ứng với ngoại cảnh, giảm dần các thích thú trước đây

- Một số người biểu hiện trang thái giống suy nhược thần kinh, đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, mất ngủ, khó tiếp thu cái mới, bồn chồn lo lắng, dễ nổi cáu

- Cảm giác bị động tăng dần, thấy như mình đuối sức trước cuộc sống, một

số người bệnh quan tâm nhiều đến các thế lực siêu nhiên Một số người trở nên say sưa đọc các loại sách triết học, lý luận viển vông không phù hợp với thực tiễn

* Giai đoạn toàn phát: Có nhiều thể TTPL, nhưng tất cả các thể đều có một

số nét chung

+ Tư duy:

- Thường có các hoang tưởng (có người hại, có người theo dõi, bỏ thuốc độc…) đặc trưng là các hoang tưởng kỳ quái (có người điều khiển, chi phối, ra lệnh NB…)

- Lời nói và hành động không liên quan, khó hiểu, bịa từ mới, có lúc không nói

+ Tri giác:

Trang 15

- Thường là các ảo giác: Nghe tiếng nói hoặc nhìn thấy những điều mà trong thực tế không có (như nghe thấy tiếng người chỉ trích hoặc ra lệnh cho người bệnh)

- Có lúc có cảm giác lạ trong cơ thể (có cảm giác như dòng điện chạy trong người, có con giun bò trong bụng…)

+ Cảm xúc:

- Cảm xúc không phù hợp với hoàn cảnh thực tế

-Cảm xúc cùn mòn: Không thể hiện cảm xúc trước mọi hoàn cảnh

+ Hành vi:

- Hành vi dị kỳ, không lường trước được

- Có các rối loạn hoạt động hàng ngày như ăn uống, vệ sinh (vệ sinh cơ thể kém, không vệ sinh khi ăn uống…)

* Giai đoạn ổn định: Các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác… giảm dần

* Giai đoạn di chứng: Hành vi ngày càng kỳ dị, giảm dần các hoạt động có

ý chí, chức năng sống ngày càng hạn chế

* Tái phát:

- Rối loạn giấc ngủ

- Thay đổi hành vi và cách sinh hoạt

- Thu mình, mất hứng thu trong công việc và các hoạt động giải trí

- Quan tâm đến các vấn đề kỳ lạ

- Thay đổi tính tình: dễ cáu gắt, đa nghi, lo lắng…

- Giảm khả năng tập trung và đưa ra quyết định [2]

1.5 Chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt

+ Căn cứ theo tiêu chuẩn chẩn đoán của TCYTTG về các rối loạn tâm thần

và hành vi thực hiện (ICD), căn cứ thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần [9]:

Tiêu chuẩn về lâm sàng là:

1 - Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt, bị đánh cắp hay bị phát thanh

2 - Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị tri phối hay bị động có liên quan rõ rệt với vận động thân thể hay các chi có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm

Trang 16

giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng

3 - Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của NB hay thảo luận với nhau về NB hoặc các ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận nào đó của cơ thể

4 - Các hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn toàn không thể có được tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhân (ví dụ: có khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang tiếp xúc với người của thế giới khác)

5 - Ảo giác dai dẳng với bất cứ loại nào có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc có kèm theo ý thức quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng

6 - Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói đưa đến tư duy không liên quan, lời nói không thích hợp hay bịa đặt

7 - Tác phong căng trương lực: kích động, giữ nguyên dáng, phủ định, không nói, sững sờ

8 - Các triệu chứng âm tính như vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn hay đáp ứng cảm xúc không thích hợp dẫn đến cách ly xã hội hay giảm hiệu suất lao động Các triệu chứng không do trầm cảm hay thuốc gây ra

9 - Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện tập tính của

cá nhân như mất hứng thú, thiếu mục đích, lười nhác, mải mê suy nghĩ về cá nhân, cách ly xã hội

- Tiêu chuẩn về lâm sàng phải có ít nhất 1 triệu chứng rõ ràng thuộc vào các nhóm triệu chứng từ (1) đến (4), nếu không rõ thì phải có 2 triệu chứng trở lên Hoặc có từ 2 triệu chứng trở lên trong nhóm các triệu chứng từ (5) đến (9)

Tiêu chuẩn về thời gian: các triệu chứng trên phải tồn tại từ một tháng trở lên dù được điều trị hay không [9]

1.6 Đặc điểm tiến triển lâm sàng của bệnh

TTPL có 4 nhóm tiến triển như sau:

- NB có một thời kỳ bị bệnh duy nhất sau đó bệnh ổn định hoàn toàn Kiểu tiến triển này chiếm 20% tổng số NBTTPL

Trang 17

- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát bệnh hầu như ổn định (chiếm 35%)

- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát có biểu hiện thiếu sót hành

Quản lý NBTTPL bao gồm quản lý về sử dụng thuốc và tâm lý xã hội [21] [26]

Bệnh TTPL thường không gây chết người đột ngột nhưng làm giảm sút khả năng lao động, học tập, làm đảo lộn sinh hoạt trong cuộc sống, tổn hại về kinh tế, gây căng thẳng cho các thành viên trong gia đình NBTTPL không được quản lý và chăm sóc tốt dẫn đến trạng thái tâm thần sa sút, người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [3] Trong khi đó nếu quản lý và chăm sóc tốt NBTTPL thì tỷ lệ tái phát bệnh sẽ giảm [33] [39]

Căng thẳng về môi trường được xem như là một nhân tố quan trọng trong việc tái phát bệnh TTPL được điều trị bằng thuốc Trong nghiên cứu có đối chứng cho thấy NBTTPL được quản lý tại gia đình ít tái phát bệnh và tiến triển tốt hơn [27] [32] [37] [23]

Chăm sóc người bệnh TTPL là một gánh nặng về kinh tế cho gia đình do suy giảm khả năng lao động, số lần tái phát phải nhập viên cao, nhưng tỷ lệ có thể giảm nếu người bệnh được quản lý và chăm sóc tốt trong tuân thủ điều trị thuốc [34] [22]

Theo lý thuyết tự chăm sóc của Dorothea Orem, tùy theo mức độ hạn chế của

tự chăm sóc, người bệnh được xếp cấp độ phụ thuộc vào sự chăm sóc bao gồm: Phụ thuộc hoàn toàn, phụ thuộc một phần và không phụ thuộc (tự chăm sóc) [8]

Trang 18

Không tuân thủ điều trị là một vấn đề thường gặp trong việc quản lý NBTTPL [38] Nguyên nhân là do người bệnh không hợp tác trong quá trình điều trị [28] Nguyên nhân khác do sự chủ khi bệnh tiến triển tốt, người bệnh không muốn dùng thuốc để tiếp túc điều trị [35] Nó dẫn đến hậu quả làm kinh tế gia đình người bệnh nghèo hơn [43], tăng nguy cơ tái phát bệnh phải điều trị nội trú[45], giảm chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ tự sát [41], cũng như mất chi phí cao hơn cho việc phải điều trị nội trú Vì vậy việc quản lý tuân thủ điều trị thuốc là rất quan trọng trong việc quản lý và chăm sóc NB TTPL [29]

Theo nghiên cứu của Coldham sự tuân thủ điều trị thuốc TTPL trong năm đầu tiên là: 39% không tuân thủ, 20% tuân thủ không đầy đủ, 41% tuân thủ điều trị [25] Trong nghiên cứu của Valenstein năm 2001 thì tỷ lệ không tuân thủ điều trị thuốc lên đến 49% [44]

Căn cứ theo Hướng dẫn chẩn đoán và quản lý các rối loạn tâm thần thường gặp trong chăm sóc sức khỏe ban đầu của Cục Y tế Dự phòng năm 2016 vai trò của nhân viên y tế gồm có [11]:

+ Quản lý: Theo dõi điều trị ngoại trú

- Quản lý thông tin cơ bản về người bệnh và gia đình

- Kiểm tra việc uống thuốc theo y lệnh, uống hết thuốc hay tự ý giảm hoặc tăng liều thuốc

- Theo dõi tiến triển bệnh

- Kiểm tra NB có biểu hiện tác dụng phụ của thuốc

- Tư vấn cho người bệnh và gia đình

- Khám và tư vấn bác sĩ chuyên môn

+ Chăm sóc:

- Sơ cấp cứu ban đầu NBTTPL

- Chuyển người bệnh đến cơ sở điều trị nội trú

- Giáo dục sức khỏe tâm thần

Căn cứ vào tài liệu “Hướng dẫn quản lý và thực hiện PHCN dựa vào cộng đồng” của Cục quản lý KCB, Bộ Y tế năm 2008, “Quy định về kê đơn thuốc trong

Trang 19

điều trị ngoại trú” của Bộ Y tế năm 2016 vai trò của người chăm sóc trong gia đình gồm có: [10] [20]

+ Quản lý:

-Tuân thủ điều trị của người bệnh TTPL:

o Nhận thuốc điều trị: Người chăm sóc (NCS) phải nhận thuốc điều trị cho

NB đều đặn hàng tháng để NB TTPL có thuốc uống hàng ngày

o Dùng thuốc đều đặn hàng ngày: Nếu người bệnh không được uống thuốc đều đặn hàng ngày thì tỷ lệ tái phát sẽ rất cao

o Uống thuốc đúng liều theo chỉ định của bác sỹ: Không có một liều thuốc chung cho mỗi NB TTPL, mỗi một NB sẽ có chỉ định về thuốc và hàm lượng tùy theo giai đoạn của bệnh Vì vậy, NCS không được tự ý tăng hoặc giảm liều đột ngột

o Cách uống thuốc: Cách uống đúng nhất với NB TTPL là đưa thuốc cho NB

và bảo NB uống trước mặt Hiện nay có khá nhiều NB tích thuốc để tự tử vì vậy NCS cần phải quản lý thuốc nghiêm ngặt, không được để cho NB tự lấy thuốc và uống NCS cũng phải kiểm tra xem NB có uống thuốc thật không do đó việc bảo

NB uống thuốc trước mặt nhằm hạn chế vấn đề NB tự ý bỏ thuốc hoặc giấu thuốc

o Tái khám định kỳ hàng tháng

- Quản lý sự an toàn cho người bệnh:

o Gia đình giành tình cảm, sự yêu thương, sự quan tâm và phải làm cho người bệnh thấy họ thuộc về gia đình, cho NB cảm giác được đảm bảo an toàn

o Gia đình phải chấp nhận sự thay đổi hành vi của NB là hậu quả của bệnh tật, làm cho NB có cảm giác được yêu thương, là thành viên của gia đình và cộng đồng

o Giải thích cho mọi người trong cộng đồng rõ thay đổi hành vi của người bệnh là do bệnh chứ không phải là do người bệnh cố ý làm như vậy Làm sao

để mọi người trong cộng đồng quan tâm giúp đỡ, chăm sóc cho NB hòa nhập xã hội

+ Chăm sóc:

 Vệ sinh

Trang 20

o Người chăm sóc (NCS) cần khuyến khích và đôn đốc để NB tham gia vệ sinh cá nhân hàng ngày, bên cạnh đó NCS nên hướng dẫn tỷ mỷ và kiên nhẫn, khích

lệ họ để họ cảm thấy vui, tích cực tham gia Nhưng NCS cần giám sát và trợ giúp khi cần, không nên để NBTTPL làm một việc gì lâu, mà nên nghỉ giải lao thường xuyên

o Hỗ trợ của gia đình: Nếu NB có thể tự tắm và gội, giặt quần áo được được thì để cho NB tự vệ sinh và tắm rửa Gia đình có thể hỗ trợ NB trong một chừng mực nào đó nếu NB cần hỗ trợ (vd: NB có thể tự tắm được thì gia đình giặt quần áo giúp)

o NCS cần phải giữ vệ sinh sạch sẽ cho người bệnh: Dù NB có thể tự làm hay gia đình phải hỗ trợ thì hàng ngày NB cần phải được vệ sinh cá nhân, quần áo, đầu tóc phải gọn gàng Không nên để cho NB bẩn thỉu và lôi thôi Có như vậy NB mới cảm thấy không tự ti, và bớt ánh mắt kỳ thị từ người khác Hơn nữa việc cơ thể được sạch sẽ có thể hạn chế được các bệnh nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễm khác Vì vậy người chăm sóc cần phải giúp đỡ để người bệnh luôn được sạch sẽ

 Dinh dưỡng

o Người bệnh tâm thần cũng cần phải được ăn uống đầy đủ ít nhất 3 bữa/ngày và

ít nhất 2 bát/ bữa, đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cơ thể

o Hỗ trợ gia đình: Trong một chừng mực nào đó gia đình có thể hỗ trợ NB như đi chợ giúp hoặc nấu cơm giúp Tuy nhiên gia đình cũng nên khuyến khích người bệnh tham gia tự giác chủ động nấu cơm và tự lấy cơm để ăn NB tâm thần phân liệt ở giai đoạn ổn định hoàn toàn có thể tham gia cùng gia đình thực hiện các công việc như nấu cơm hoặc rửa bát Gia đình không nên để người bệnh thụ động, không tham gia hoặc hỗ trợ hoàn toàn giúp NB

 Lao động và PHCN tâm lý cho NB

o Lao động: Gia đình cần khuyến khích và đôn đốc NB tham gia lao động Khi người bênh làm được việc gì dù là nhỏ nhất thì gia đình cũng nên khuyến khích động viên Làm việc giúp cho người bệnh cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đã hoàn thành được một điều gì đó, tự tin vào khả năng của mình, đồng thời đóng góp phần của mình vào cuộc sống xã hội Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để

Trang 21

giao tiếp với người khác, có bạn bè quan hệ tình cảm lành mạnh

o Giao tiếp: Muốn PHCN tâm lý cho NB thì phải phục hồi khả năng giao tiếp của NB Muốn vậy thì NCS cũng như gia đình NB phải hiểu rõ và tích cực giao tiếp để NB bớt mặc cảm, tự tin hơn Một trong những cách giúp cho NB giao tiếp trở lại là gia đình nên để NB ăn cơm cùng gia đình Việc cho NB ăn cơm cùng mâm sẽ làm cho NB không cảm thấy mình bị kỳ thị, trong bữa ăn mọi người sẽ cởi

mở và dễ nói chuyện hơn

o Tham gia tập luyện thể dục thể thao: Tập thể dục và nghỉ ngơi hợp lý cũng rất quan trọng đối với sức khỏe tâm thần của NB Đây cũng là phương pháp tốt để cho NB tái hòa nhập xã hội Do đó gia đình cũng nên khuyến khích và động viên để NB chủ động tham gia

 Tái khám định kỳ

Người bệnh TTPL cần được đi khám định kỳ ít nhất một năm 2 lần, tốt nhất là hàng tháng gia đình nên đưa NB đến kiểm tra và lĩnh thuốc Hiện nay trong chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần, thì khám định kỳ cho NB là một trong những nhiệm vụ cần phải thực hiện trên NB TTPL Việc tái khám định kỳ sẽ giúp cho bác sỹ biết được tình trạng của NB, điều chỉnh thuốc theo từng giai đoạn bệnh nhằm ngăn ngừa tái phát Gia đình không nên đợi đến khi NB có dấu hiệu phát bệnh trở lại mới đưa đi khám

1.8 Các yếu tố liên quan đến quản lý và chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt 1.8.1 Tác dụng phụ của thuốc điều trị TTPL

Theo tác giả Khasawneh FT các thuốc chống loạn thần có thể gây ra những phản ứng phụ trên tim mạch như loạn nhịp tim, huyết áp Trong quá trình chăm sóc người bệnh TTPL gia đình người bệnh phải định kỳ kiểm tra tim mạch và huyết áp cho người bệnh [30]

1.8.2 Trình độ của người chăm sóc:

Theo nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh và cộng sự tại huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010: Trình độ học vấn của người chăm sóc ảnh hưởng đến việc chăm sóc người bệnh TTPL [14]

Trang 22

1.8.3 Điều kiện kinh tế gia đình:

Theo nghiên cứu của Yu Y và cộng sự năm 2017 tại Trung Quốc: Gánh nặng tài chính là phổ biến nhất (76%) trong gánh nặng gia đình có người bệnh TTPL [46]

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Chúng tôi chọn 352 NCS người bệnh vào viện điều trị nội trú tại khoa bán cấp tính Nam - Bệnh viện Tâm thần Trung ương I

- Người trực tiếp và thường xuyên chăm sóc người bệnh TTPL ≥18 tuổi

- Có khả năng giao tiếp và đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Người có thời gian tham gia quản lý và chăm sóc NB TTPL liên tục dưới 1 tháng 2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Bộ công cụ nghiên cứu

* Nghiên cứu định lượng:

Bộ công cụ được tự xây dựng căn cứ theo:

Trang 23

- Hướng dẫn người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng (PHCN) dựa vào cộng đồng của các chuyên gia về PHCN và PHCN dựa vào cộng đồng của

Bộ Y tế, Nhà xuất bản Y học năm 2008

- PHCN người có bệnh tâm thần của Bộ Y tế, Nhà xuất bản Y học năm 2008

- Thông tư 05/2016/TT-BYT, ngày 29 tháng 2 năm 2016 của Bộ Y tế quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú

Bộ công cụ gồm 3 phần:

- Phần A: Thông tin về người chăm sóc chính trong gia đình (câu A1-A8)

- Phần B: Thông tin về NB TTPL được chăm sóc (câu B1-B8)

- Phần C: Quản lý và chăm sóc NB TTPL điều trị ngoại trú (câu C1-C28) + Chăm sóc dùng thuốc và quản lý dùng thuốc tổng 10 điểm được tính điểm như sau Câu 1: a-2 điểm; b-1 điểm; c-0 điểm Câu 2: Biết tên thuốc-1 điểm; không biết tên thuốc-0 điểm Câu 3: a-6 điểm; b-5 điểm; c-4 điểm; d-3 điểm; e-2 điểm; f-1 điểm; g-0 điểm Câu 4: a-2 điểm; b-3điểm; c-1 điểm Câu 5: a-1 điểm; các đáp án còn lại-0điểm Câu 6: a-1 điểm; các đáp án còn lại-0điểm Câu 7: a-0 điểm; lựa chọn 1 đáp án (trừ đáp án a)-1 điểm Câu 8: 0 điểm

+ Chăm sóc và quản lý về vệ sinh tổng 10 điểm được tính điểm như sau: Câu 9: Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 10: a-1 điểm; b-2 điểm; c-0 điểm Câu 11: Chọn mỗi đáp án-1 điểm Câu 12: a-2 điểm; b-1 điểm; c-0 điểm Câu 13: 0 điểm

+ Chăm sóc và quản lý về dinh dưỡng tổng 10 điểm được tính điểm như sau: Câu 14: a-0 điểm; b-3 điểm; c-4 điểm; d-2 điểm; e-1 điểm Câu 15: a-0 điểm; b-3 điểm; c-4 điểm; d-2 điểm; e-1 điểm Câu 16: Lựa chọn mỗi đáp án Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 17: a-2 điểm; b-1 điểm; c-0 điểm Câu 18: 0 điểm

+ Chăm sóc và quản lý về lao động và tái hòa nhập xã hội tổng 10 điểm được tính điểm như sau: Câu 19: Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 20: Lựa chọn mỗi đáp

án Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 21: Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 22: Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 23: 0 điểm

+ Quản lý về tái khám bệnh định kỳ tổng 10 điểm được tính điểm như sau: Câu 24: Có-1 điểm; Không-0 điểm Câu 25: a-6 điểm; b-5 điểm; c- 4 điểm; d-3

Trang 24

điểm; e-2 điểm; f-1 điểm; g-0 điểm Câu 26: a-1điểm; b-1 điểm; c-1 điểm; d-1 điểm Câu 27: a-0 điểm; b-1 điểm; c-1 điểm; d-1 điểm Câu 28: 0 điểm

- Bộ công cụ được đánh giá và xin đánh giá từ các chuyên gia trong lĩnh vực tâm thần

* Nghiên cứu định tính:

- Hướng thảo luận nhóm: Hỏi về thực trạng quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL, đâu là nguyên nhân, đưa ra giải pháp để thay đổi

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

* Nghiên cứu định lượng:

- Đơn vị mẫu và chọn mẫu: Chúng tôi chọn 352 NCS người bệnh vào viện điều trị nội trú tại khoa bán cấp tính Nam - Bệnh viện Tâm thần Trung ương I

* Nghiên cứu định tính: (thảo luận nhóm)

Có 3 cuộc thảo luận nhóm được thực hiện, cụ thể:

- Cuộc thảo luận nhóm 1: 9 người gồm: Lãnh đạo bệnh viện, Trưởng phòng điều dưỡng, Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến

- Cuộc thảo luận nhóm 2: 8 người gồm: ĐDT các khoa, Phòng điều dưỡng

- Cuộc thảo luận nhóm 3: 17 gồm có: : Lãnh đạo bệnh viện, Phòng điều dưỡng, Phòng Chỉ đạo tuyến, Điều dưỡng trưởng các khoa

2.2.4 Phương pháp chọn mẫu

* Nghiên cứu định lượng: Chọn mẫu nhiều giai đoạn

+ Giai đoạn 1: Lập danh sách người bệnh TTPL cùng với hộ gia đình

Lập danh sách tên tất những người bệnh TTPL và gia đình quản lý, chăm sóc họ theo thứ tự bảng chữ cái

+ Giai đoạn 2: Chọn mẫu cho nghiên cứu

Với danh sách hộ gia đình quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL ở giai đoạn 1 đã được lập khi người bệnh tái khám định kỳ lĩnh thuốc hàng tháng tại Khoa bán cấp tính Nam, ta chọn lần lượt từ NB đến tái khám đầu tiên khi đủ cỡ mẫu thì dừng lại

* Nghiên cứu định tính :

Các cuộc thảo luận nhóm diễn ra độc lập, do nghiên cứu viên điều hành, có

Trang 25

sự hỗ trợ của 1 thư ký Các nội dung của buổi thảo luận được thư ký ghi, quay video

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

* Nghiên cứu định lượng:

- Người thu thập số liệu: 8 Học viên đang học lớp “Định hướng về Sức khỏe Tâm thần” sau khi đã được tập huấn về kỹ năng thu thập số liệu và trưởng nhóm do nghiên cứu viên đảm nhiệm (học viên)

- Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc do nhóm nghiên cứu xây dựng để khảo sát thực trạng quản lý và chăm sóc NB TTPL điều trị nội trú, ngoại trú Bộ câu hỏi này được phát cho những NCS tham gia nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ đọc các nội dung thông tin để đối tượng nghiên cứu trả lời cho từng câu hỏi sau khi được nghiên cứu viên giải thích về mục đích, cách trả lời từng câu hỏi và cách điền mẫu phiếu (Phụ lục 1)

- Việc tham gia vào nghiên cứu của gia đình người bệnh là hoàn toàn tự nguyện và có thể ngừng trả lời câu hỏi bất cứ lúc nào Nếu gia đình người bệnh đồng ý tham gia vào nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 2)

- Thời gian cho mỗi trường hợp khoảng 15 - 20 phút

- Ngay sau khi NCS trả lời đủ thông tin, nghiên cứu viên sẽ kiểm tra lại bộ câu hỏi để đảm bảo tất cả những thông tin liên quan không bị bỏ sót

* Nghiên cứu định tính: Thảo luận nhóm

- Các nhóm sẽ thảo luận về chủ đề quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL điều trị nội trú, ngoại trú

- Sau thảo luận đưa ra được nguyên nhân, các yếu tố liên quan đến thực trạng quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL

- Các cuộc thảo luận nhóm do nghiên cứu viên trực tiếp điều hành có sự hỗ trợ của 1 thư ký, các nội dung của cuộc họp được thư ký ghi lại

2.2.6 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

2.2.6.1 Bộ câu hỏi về nhân khẩu học

Trang 26

Được phát triển bởi nhà nghiên cứu bao gồm: Tuổi, giới tính, mối quan hệ với người bệnh, tình trạng học vấn, nghề nghiệp, số năm mắc bệnh của người bệnh TTPL sau khi tham khảo ý kiến của chuyên gia lĩnh vực tâm thần

2.2.6.2 Thước đo :

Dựa vào hướng dẫn chăm sóc NB TTPL tại gia đình, chúng tôi lập nên bộ câu hỏi khảo sát thực trạng chăm sóc NB TTPL tại gia đình Theo phiếu khảo sát dành cho người chăm sóc, cứ mỗi tiêu chí đạt chúng tôi cho điểm, không đạt chúng tôi cho 0 điểm Mỗi tiêu chí có tổng điểm là 10 chia đều cho số lượng câu hỏi của từng tiêu chí Sau đó tính điểm dựa trên thang điểm 10 cho mỗi tiêu chí

2.2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá

Đánh giá mức độ quản lý và chăm sóc NBTTPL của người chăm sóc về các mặt: Chăm sóc dùng thuốc và quản lý dùng thuốc; chăm sóc và quản lý về vệ sinh; chăm sóc và quản lý về dinh dưỡng; chăm sóc về lao động và tái hòa nhập xã hội; quản lý về khám bệnh định kỳ

- Chăm sóc dùng thuốc và quản lý dùng thuốc: Từ câu C1-C8 với tổng số điểm

là 18 Đạt 12-18đ: Người chăm sóc dùng thuốc và quản lý thuốc tốt Đạt 9-11đ: Người chăm sóc dùng thuốc và quản lý thuốc trung bình Đạt dưới 9đ là: Người chăm sóc dùng thuốc và quản lý thuốc kém

- Chăm sóc và quản lý về vệ sinh: Từ câu C9-C13 với tổng số điểm là 10 Đạt 8-10đ: Người chăm sóc và quản lý vệ sinh tốt Đạt 5-7đ: Người chăm sóc và quản lý vệ sinh trung bình Đạt dưới 5đ: Người chăm sóc và quản lý vệ sinh kém

- Chăm sóc và quản lý về dinh dưỡng: Từ câu C14-C18 với tổng số điểm là 20 Đạt 16-20đ: Người chăm sóc và quản lý về dinh dưỡng tốt Đạt 10-15đ: Người chăm sóc và quản lý về dinh dưỡng trung bình Đạt dưới 10đ: Người chăm sóc và quản lý về dinh dưỡng kém

- Chăm sóc về lao động và tái hòa nhập xã hội: Từ câu C19-C23 với tổng số điểm là 10 Đạt 8-10đ: Người chăm sóc về lao động và tái hòa nhập xã hội tốt Đạt 5-7đ: Người chăm sóc về lao động và tái hòa nhập xã hội trung bình Đạt dưới 5đ: Người chăm sóc về lao động và tái hòa nhập xã hội kém

Trang 27

- Quản lý về khám bệnh định kỳ: Từ câu C24-C28 với tổng số điểm là 15 Đạt 10-15đ: Người chăm sóc quản lý về khám bệnh định kỳ tốt Đạt 5-9đ: Người chăm sóc quản lý về khám bệnh định kỳ trung bình Đạt dưới 5đ: Người chăm sóc quản lý về khám bệnh định kỳ kém

- Tổng điểm chung: Từ 49-73đ: Người quản lý và chăm sóc NBTTPL điều trị mức tốt Từ 36-48đ: Người quản lý và chăm sóc NBTTPL điều trị mức trung bình Dưới 35đ: Người quản lý và chăm sóc NBTTPL điều trị mức kém

2.2.7 Phương pháp phân tích số liệu

- Bằng toán thống kê y học

2.2.8 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

Đối tượng nghiên cứu không hiểu rõ câu hỏi hoặc trả lời không đúng Để hạn chế sai số chúng tôi tập huấn cho điều tra viên thật kỹ trước khi tiến hành thu thập

số liệu Hướng dẫn cách trả lời và kết hợp cả sổ khám bệnh của người bệnh và sổ theo dõi quản lý, cấp thuốc

Trước khi phỏng vấn, điều tra viên phải giải thích rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra với đối tượng để họ hiểu và sẵn sàng hợp tác Có như vậy mới đảm bảo tính trung thực của số liệu

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 2/2021 đến tháng 6/2021

- Địa điểm: Khoa bán cấp tính Nam – Bệnh viện Tâm thần TW1

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu

Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu chứ không nhằm mục đích nào khác

Các đối tượng được mời tham gia phỏng vấn có quyền từ chối nếu không đồng ý

Quá trình nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường

Trang 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1.1: Phân bố theo nhóm tuổi và giới NCS chính

Trang 29

Bảng 3.1.2 Quan hệ của người chăm sóc chính với NB

Tại các cuộc thảo luận nhóm với đối tượng nghiên cứu cũng thống nhất thực trạng NB TTPL được chăm sóc bởi chủ yếu là người thân trong gia đình Lãnh đạo bệnh viện: “Trên thực tế có rất nhiều người bệnh TTPL sống người thân, nhưng lại

bị tách biệt ra một khu riêng bởi nhiều lý do khác nhau Có những người bệnh ở trạng thái kích thích phải nhốt lại, do thói quen sinh hoạt của người bệnh, người bệnh bị hoảng tưởng sợ bị đầu độc, bị giết ”

Trang 30

Bảng 3.1.3 Nghề nghiệp người chăm sóc chính

Nhóm nghiên cứu là công nhân nhất chiếm tỷ lệ cao nhất (28,1%)

Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn có các đối tượng: Lao động tự do (20,5%), hưu trí (18,8%), nông dân (15,6%), nội trợ (9,7%), cán bộ viên chức (7,4%) Không có đối tượng sinh viên/học sinh tham gia vào nghiên cứu

Theo kết quả thảo luận nhóm, các đối tượng nghiên cứu đồng ý thống nhất với

tỷ lệ nghề nghiệp của người chăm sóc NB TTPL cao nhất là công nhân và lao động

Trang 31

Kết quả thảo luận nhóm nghiên cứu: Mọi người thống nhất trình độ văn hóa của người chăm sóc là không đồng đều Phòng điều dưỡng: “Trình độ văn hóa cao, giúp cho việc nhân thức của người chăm sóc về bệnh TTPL và cách quản lý, chăm sóc người bệnh tốt hơn Khi nhận thức tốt, thì người chăm sóc sẽ thực hành quản lý

và chăm sóc người bệnh TTPL tốt hơn.”

Bảng 3.1.5 Thu nhập bình quân trên tháng của người chăm sóc chính

Kết quả thảo luận nhóm: Phòng chỉ đạo tuyến “ Người bệnh TTPL trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ lớn, họ bị bệnh nên giảm khả năng lao động, có những người thì không có khả năng lao động Trong khi đó nhiều người bệnh phải cần có người chăm sóc hoàn, hoặc là một phần, nên gia đình người bệnh sẽ tiêu tốn nhân lực làm kinh tế gia đình giảm sút” Ý kiến lãnh đạo bệnh viện: “ Do nhận thức

Trang 32

không đầy đủ về bệnh TTPL, nhiều gia đình khi phát hiện người bị bệnh thường cho

là bị ma quỷ nên tổ chức cúng bái, điều trị không đúng phác đồ làm tình trạng bệnh nặng hơn, tốn kém hơn”

Bảng 3.1.6 NCS được tiếp cận các thông tin hướng dẫn về cách chăm sóc NB

Trang 33

ngành liên quan Đối tượng người bệnh TTPL chịu sự quản lý trực tiếp của bệnh viện, nhưng những chế độ về tiền trợ cấp xã hội, tổ chức hoạt động phục hồi chức năng và tái hòa nhập cộng đồng… lại thường được tổ chức bởi Bộ lao động-Thương binh-Xã hội Khi Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội tổ chức các hoạt động lại không có sự tham gia của Bệnh viện Tâm thần làm hiệu quả giảm đi” Phòng chỉ đạo tuyến: “ Người chăm sóc được tiếp nhận thông tin về quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL qua nhân viên y tế là chủ yếu Trong cả nước hiện nay đã hình thành mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần, hàng tháng phòng có kế hoạch khám phúc tra từng xã, tại trạm y tế có đội ngũ cán bộ chuyện trách về chăm sóc sức khỏe tâm thần Đặc biệt là hệ thống y tế thôn đội hoạt động rất hiệu quả Họ là những người gần và nắm rõ tình hình diễn biến của NB TTPL nhất.”

3.2 Thông tin về người được chăm sóc

* Nhận xét: Tỷ lệ TTPL nam giới (53,4%) nhiều hơn nữ giới (46,6%)

Bảng 3.2.2 Tỷ lệ NB TTPL theo tuổi và giới

Trang 34

* Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh TTPL ở độ tuổi lao động là rất lớn Độ tuổi 19-40 tuổi (42,6%); độ tuổi 41-60 tuổi (42,3%) Tỷ lệ người bệnh TTPL ở ngoài độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ nhỏ Độ tuổi dưới 18 tuổi (0,3%); độ tuổi trên 60 tuổi (14,8%)

Tỷ lệ người bệnh chưa tái phát là rất nhỏ (7,4%) Những người bệnh tái phát

từ 2-5 lần có tỷ lệ cao nhất (43,2%) Còn lại là tái phát 1 lần (6,8%); tái phát 6-10 lần (31,5); tái phát trên 10 lần ( 11,1%)

Thảo luận nhóm: Lãnh đạo bệnh viện: “Tâm thần phân liệt là một bệnh đặc biệt, người không thừa nhận mình bị bệnh nên khi điều trị gặp rất nhiều khó khăn Việc tuân thủ điều trị gặp nhiều khó khăn do người bệnh phải dùng thuốc kéo dài, liên tục, người chăm sóc thì cảm thấy mệt mỏi khi chăm sóc người bệnh trong khoảng thời gian dài, đôi khi người bệnh không được gia đình quan tâm Chính vì những điều đó làm cho tỷ lệ tái phát bệnh tăng cao”

Bảng 3.2.4 Tỷ lệ NB TTPL theo thời gian mắc bệnh

Trang 35

3.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tại gia đình

* Thực trạng chăm sóc dùng thuốc và quản lý dùng thuốc

Bảng 3.3.1 Người chăm sóc nhận thuốc cấp điều trị cho NB hàng tháng?

* Nhận xét: Tất cả NB TTPL được được cấp thuốc điều trị hàng tháng đều đặn

Bảng 3.3.2 NCS cho NB uống thuốc hàng ngày

Trang 36

Bảng 3.3.3 NCS cho NB uống thuốc đúng liều theo chỉ định BS

TT Uống thuốc theo chỉ định Tổng số Tỷ lệ ( %)

Trang 37

2 Đưa thuốc cho NB, bảo uống trước mặt 160 45,5

* Nhận xét:

- Người chăm sóc cho người bệnh uống thuốc và có kiểm tra (45,5%) Người chăm có đưa thuốc cho người bệnh uống và không kiểm tra (27,6%) Còn lại người bệnh tự lấy thuốc và uống (27%)

- Thảo luận nhóm: “Thuốc phải được quản lý bởi người chăm sóc, và khi cho người bệnh uống thuốc phải có sự kiểm tra Tránh tình trạng người bệnh dấu thuốc

đi không uống, hoặc uống thuốc quá liều” Phòng chỉ đạo tuyến: “Thuốc điều trị TTPL là dạng thuốc hướng thần, không nên để người bệnh TTPL quản lý”

Bảng 3.3.5 Người bệnh có gặp phản ứng phụ khi dùng thuốc không STT Có gặp phản ứng phụ hay không Tổng số Tỷ lệ ( %)

là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, sợ ảnh hưởng đến việc sinh con, chu kỳ kinh nguyệt ”

Bảng 3.3.6 Tác dụng phụ khi NB dùng thuốc đã gặp

Ngày đăng: 20/02/2022, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Phạm Thanh Hải (2010). Nghiên cứu khảo sát kiến thức thái độ và hành vi của người thân đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt tại huyện Long Thành , tỉnh Đồng Nai năm 2010,< http://ttytlongthanh.dongnai.gov.vn/tin-tuc/nid/87 >, xem 4/11/2017 Link
9. Bộ Y tế Bộ (2015), Thông tư ban hành quy trình giam định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, chủ biên Khác
11. Cục Y tế Dự phòng Cục (2016). Hướng dẫn chẩn đoán và Quản lý các rối loạn tâm thần thường gặp trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Hà Nội, tháng 9 năm 2016 Khác
13. Tôn Thất Hưng (2010). Nghiên cứu dịch tễ và yếu tố tâm lý xã hội liên quan đến các rối loạn tâm thần thường gặp tại phường Xuân Phú – TP Huế. Tạp chí Y học thực hành, 699+700, tr. 304-312 Khác
14. Đinh Quốc Khánh, Trần Hữu Bình và Nguyễn Thanh Hương ( 2011). Kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt tại nhà và một số yếu tố liên quan ở huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc năm 2010. Tạp chí y tế công cộng, số 21, tr. 15-19 Khác
16. Lê Hoàng Nhân (2015). Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà, Luận văn thạc sĩ tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Khác
17. Nguyễn Phương (2017). Hội nghị tổng kết dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng và trẻ em năm 2016,&lt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w