1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình Phong tục tập quán và lễ hội Việt Nam (Ngành Hướng dẫn du lịch)

56 449 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình gồm 4 chương nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về phong tục tập quán Việt Nam, tín ngưỡng dân gian Việt Nam trong đời sống tâm linh của người Việt.. Người Việt Nam coi việc t

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI

GIÁO TRÌNH

MÔN HỌC: PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ LỄ HỘI VIỆT NAM NGÀNH: HƯỚNG DẪN DU LỊCH

(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-CĐLC ngày…….tháng….năm

của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai

Lào Cai, năm 2020

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

phục vụ cho giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh, sinh viên ngành Hướng dẫn du lịch trường Cao đẳng Lào Cai về kiến thức cơ sở ngành về hai lĩnh vực: Phong tục tập quán, tín ngưỡng và Lễ hội Việt Nam

Giáo trình được biên soạn theo đề cương môn học ở bậc Cao đẳng đã được Hội đồng khoa học và Đào tạo thông qua Giáo trình gồm 4 chương nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về phong tục tập quán Việt Nam, tín ngưỡng dân gian Việt Nam trong đời sống tâm linh của người Việt Đồng thời tìm hiểu các lễ hội tiêu biểu nhằm tăng thêm sự hiểu biết về một nền văn hoá đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc, gắn với địa phương Lào Cai

Chương 1 Phong tục tập quán Việt Nam

Chương 2 Tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Chương 3 Lễ hội Việt Nam

Chương 4 Phong tục lạ và lễ hội đặc sắc Lào Cai

Giáo trình không những là tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập học phần “Phong tục tập quán và lễ hội Việt Nam” mà còn là tài liệu tham khảo, bổ trợ cho sinh viên ngành du lịch và những ai quan tâm đến văn hóa truyền thống Việt Nam

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn

Lào Cai, ngày 10 tháng 6 năm 2020

Người biên soạn

GVC, Th.s Nguyễn Thị Kim Hoa

Trang 5

M ỤC LỤC

Chương 1 PHONG TỤC TẬP QUÁN VIỆT NAM 8

1 KHÁI QUÁT V Ề PHONG TỤC TẬP QUÁN 8

1.1 Khái ni ệm 8

1.2 Đặc điểm 11

2 PHONG T ỤC TẬP QUÁN CỔ TRUYỀN 2.1 Tục ăn trầu 11

2.2 T ục cưới hỏi 13

2.3 T ục ma chay 14

2.4 T ục thờ cúng tổ tiên 19

Câu hỏi ôn tập 21

Chương 2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM 23

1 KHÁI QUÁT V Ề TÍN NGƯỠNG 23

1.1 Khái ni ệm 23

1.2 Đặc điểm 24

2 M ỘT SỐ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM 24

2.1 Tín ngưỡng phồn thực 25

2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 26

2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người 27

2.4 Tín ngưỡng sùng bái Thần linh 29

Câu h ỏi ôn tập 30

Chương 3 LỄ HỘI VIỆT NAM 31

1 KHÁI QUÁT V Ề LỄ HỘI 1.1 Khái niệm lễ hội 31

1.2 M ục đích, ý nghĩa của lễ hội 32

1.3 C ấu trúc của Lễ hội 32

2.CÁC LOẠI HÌNH LỄ HỘI 33

2.1 Lễ Tết cổ truyền 33

2.2 Lễ hội lịch sử cách mạng 35

2.3 Lễ hội tín ngưỡng dân gian 39

2.4 Lễ hội đương đại 41

Câu h ỏi ôn tập 43

Chương 4 PHONG TỤC LẠ & LỄ HỘI ĐẶC SẮC LÀO CAI 45

1.GI ỚI THIỆU MỘT SỐ PHONG TỤC LẠ TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU S Ố LÀO CAI 45

1.1 Khái ni ệm phong tục lạ 45

Trang 6

1.2 M ột số phong tục lạ tiêu biểu 45

2.GI ỚI THIỆU MỘT SỐ LỄ HỘI ĐẶC SẮC LÀO CAI 50

2.1 L ễ hội đặc sắc là gì 50

2.2 Gi ới thiệu một số lễ hội đặc sắc Lào Cai 50

Câu h ỏi ôn tập 55

Tài liệu tham khảo 55

Trang 7

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: Phong tục tập quán và lễ hội Việt Nam

Mã môn học: MH10

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Là môn học chuyên môn cơ sở của ngành hướng dẫn du lịch hệ cao đẳng được bố trí giảng dạy đồng thời với các môn cơ sở khác của ngành

- Tính chất: Là môn học lý thuyết bắt buộc cung cấp những kiến thức cơ sở cho ngành hướng dẫn du lịch

- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Là môn học giúp sinh viên làm giàu vốn tri thức

và hiểu biết của bản thân, phục vụ trong đời sống xã hội Đồng thời cũng giúp sinh viên có vốn kiến thức nền vận dụng vào chuyên ngành du lịch, biết cách khai thác tài nguyên về phong tục tập quán, lễ hội Việt Nam để xây dựng chương trình phục

vụ cho nghề nghiệp ngành lữ hành hướng dẫn

Mục tiêu của môn học:

- Về kiến thức:

dân gian trong đời sống tâm linh của người Việt Nam;

+ Hiểu về lễ Tết, lễ hội dân gian Việt Nam, văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam, có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và Lào Cai nói riêng

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, có trách nhiệm với công việc, có ý thức giữ gìn, bảo vệ các giá trị văn hóa và phong tục tập quán tốt đẹp

+ Có đạo đức, tác phong làm việc và thái độ phục vụ chuyên nghiệp

+ Có ý thức và khả năng cập nhật kiến thức mới, tự chủ, sáng tạo trong công việc

Trang 8

C hương 1 PHONG TỤC TẬP QUÁN VIỆT NAM

- Nghiêm túc, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tích cực nghe giảng trên lớp Có ý thức rèn luyện các kỹ năng thuyết trình, thảo luận nhóm Tự tin, phối hợp khi làm việc độc lập hoặc theo nhóm

N ội dung chính

1 KHÁI QUÁT V Ề PHONG TỤC TẬP QUÁN

1.1 Khái ni ệm

1.1.1 Phong tục

lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng

nhiều thế hệ và được công nhận như một phần trong nếp sống của cộng đồng Phong tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có tính bắt buộc và thay đổi theo từng quần thể, dân tộc cũng như tôn giáo khác nhau

dựng nhà cửa, xây mộ phần cho người thân,…

Trang 9

nhận và coi như một quy ước chung của tất cả mọi cá nhân sống trong tổ chức, quần thế đó

Ví dụ điển hình: tập quán di trú của các loài chim, tập quán ngủ đông của loài gấu khi mùa đông về Hoặc ở một số dân tộc có tập quán di canh di cư để tìm vùng đất mới thích hợp hơn cho việc chăn thả gia súc

Như vậy, phong tục tập quán là toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và coi đó như một nếp sống truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau, phong tục tập quán ở mỗi quần thể sẽ có những sự khác biệt với nhau

huy Đó không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là cách

để ghi nhớ cội nguồn của dân tộc Con người Việt Nam vô cùng hãnh diện và tự hào với bạn bè quốc tế bởi những phong tục đặc biệt chỉ người Việt mới có

a Thờ cúng tổ tiên

Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu Bàn thờ tổ tiên thường đặt trang trọng trên cao hoặc giữa nhà, bao gồm di ảnh người đã mất, bình hoa tươi, đĩa trái cây Hằng năm, vào ngày tổ tiên mất, người thân sẽ tiến hành cúng, tức chuẩn bị nhiều món ăn đặt lên bàn thờ, thắp nhang

Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một trong những nguyên tắc đạo đức làm người đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt, đặc biệt là cuộc sống ở các làng quê Đó là hình thức thể hiện tấm lòng thành kính thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên ông bà, cha mẹ đã sinh thành

và gây dựng nên cuộc sống cho cháu con

Ảnh: Thờ phụng tổ tiên

b Đón Tết âm lịch

Người Việt cũng chào mừng Tết dương lịch, song quan trọng nhất vẫn là Tết âm lịch Tết âm lịch hay Tết Nguyên Đán, còn gọi Tết ta, Tết Cổ truyền,… là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hoá của người Việt Nam

Trang 10

Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch hay Tết Tây, thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch và nói chung kéo dài khoảng 5- 6 ngày, tạo điều kiện cho những thành viên gia đình sinh sống làm ăn ở nơi xa có thể về quê vui cảnh đoàn viên ít ngày

Ý nghĩa thiêng liêng nhất của Tết ở chỗ nó không chỉ là dịp để người Việt nhớ về cội nguồn, ông bà tổ tiên mà là dịp đoàn tụ gia đình để nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống

năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm khích

cũ Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới

Người Việt có rất nhiều phong tục trong dịp Tết âm lịch như tặng quà tết cho người thân quen, quét dọn nhà cửa thật sạch, trang trí nhà cửa thật đẹp, mừng tuổi trẻ em - người già, chúc Tết, đi chùa để cầu nguyện những điều may mắn…

Việc kính trọng người cao tuổi không chỉ là một thuần phong mỹ tục của người Việt

mà đó còn là bản sắc văn hóa dân tộc lại vừa có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng, sâu sắc Người Việt Nam rất kính trọng người cao tuổi vì niềm tin rằng người cao tuổi

là người có nhiều kinh nghiệm sống và nhất là “kính lão đắc thọ” (tức khi kính trọng người cao tuổi thì chúng ta sẽ sống thọ hơn)

Việc kính trọng người già trước hết phải bắt đầu ngay trong gia đình: Phải kính trọng cha mẹ - người đã sinh thành dưỡng dục con cái nên người

Trang 11

Luôn mang tính ổn định, bền vững, nó có tính bảo thủ, nhưng có tác động tâm lý mạnh mẽ tới các thế hệ sau và tinh thần con người

2 PHONG T ỤC TẬP QUÁN CỔ TRUYỀN

2.1 T ục ăn trầu

Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện của phong cách, vừa là thể hiện tình cảm

thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám bổ tư, vỏ chay rể quạch luôn là sự bắt đầu, sự khơi mở tình cảm

Trong đời sống hàng ngày, “miếng trầu là đầu câu chuyện”, biểu hiện mối giao cảm tâm tình của con người Trầu được dùng mời khách đến chơi nhà, làm quen với nhau nơi hội hè, đình đám Trầu cau gắn bó với người Việt đến mức nó đã trở thành

lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức tâm linh như: lễ tế trời đất, lễ Phật, lễ thánh, thần, lễ gia tiên, lễ cưới…

Miếng trầu làm người với người gần gũi, cởi mở với nhau hơn Với các nam nữ thanh niên xưa thì nó là cội nguồn để bắt đầu tình yêu, bắt đầu câu hát, để vào với hội làng, hội nước Miếng trầu còn là tượng trưng cho tình yêu lứa đôi: miếng trầu

đi đầu, tác hợp cho lứa đôi và là sợi dây kết chặt mối lương duyên trai, gái thành vợ

của người Việt qua hàng ngàn năm qua

Trang 12

Ảnh: Trầu cau trong văn hoá người Việt Trầu cau còn là đồ cúng lễ, ngày giỗ Dân gian có câu "Sửa cơi trầu, đĩa hoa dâng cụ" để tưởng nhớ tổ tiên, để ghi nhớ công ơn nuôi nấng sinh thành của bậc tiền nhân, Tết về, trầu cau còn là quà tặng

Miếng trầu tuy đơn giản nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu đậm trong đời sống văn hóa người Việt Để làm ra một miếng trầu ngon không thể thiếu bộ dụng cụ ăn trầu, nên chúng cũng rất cầu kỳ và phức tạp

Dụng cụ để ăn trầu là: cơi trầu, là dao bổ cau, chiếc âu trầu, bình vôi, chìa vôi, ống vôi, khăn, túi đựng trầu Nhà giàu còn đựng được tráp trầu, khay trầu sơn màu khảm trai rất đẹp Những vật dụng dùng trong tục ăn trầu giờ đây đã trở thành di sản của một phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ mãi trong mỗi người Việt chúng ta Trầu cau gắn liền với sinh hoạt của nông thôn ta chặt chẽ và lâu đời Trầu dùng tiếp khách hàng ngày cũng như bát chè xanh, như điếu thuốc lào

Cho tới ngày nay, tuy tục ăn trầu và mời trầu ít phổ biến như xưa nhưng lá trầu vẫn

học, tâm lý xã hội, bản sắc truyền thống dân tộc Tục ăn trầu còn gắn với phong tục nhuộm răng đen để có những má hồng - răng đen tiêu biểu của cái đẹp con gái thuở nào

*T ục nhuộm răng đen

Trang 13

Bốn thương răng nhánh hột huyền kém thua…

Ảnh: Thiếu nữ răng đen trước năm 1930 và phụ nữ dân tộc Lự nhuôm răng đen Tục nhuộm răng là tục cổ xưa của dân tộc Việt, có từ thời các vua Hùng với tục ăn trầu Sứ thần của nước Văn Lang (Giao Chỉ) trả lời vua nhà Chu (Trung Quốc) về tục ăn trầu: “Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen” Nhuộm răng là một trong những phong tục xưa của nhiều dân tộc ở Đông Á, như Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia và miền Nam Trung Quốc

Tại Việt Nam, ngoài người Kinh, các dân tộc khác như Thái, Si La, Tày, Dao đều

có tục này; nhưng mỗi nơi, mỗi dân tộc đều có cách nhuộm răng khác nhau về ý nghĩa, thẩm mỹ, sức khỏe và chất liệu sử dụng trong lúc nhuộm

Cho đến giữa thế kỷ XX, nam nữ người Việt còn nhuộm răng đen bằng bột nhựa cánh kiến Người Thái, Kháng, Lào, Lự đốt cành cây may cu, may tửu hay may me cho nhựa chảy xuống một mảnh kim loại hoặc ống tre, thêm một ít nước rồi mài đều tạo độ dính để nhuộm răng Buổi tối trước khi đi ngủ, người ta làm sạch răng, rồi dùng tay quệt nhựa bôi vào răng 3-4 lần Cách 2 - 3 ngày họ nhuộm lại cho răng đen bóng Trước kia, răng đen là một tiêu chuẩn về vẻ đẹp của phụ nữ; các cô gái 12-13 tuổi đã bắt đầu nhuộm răng Ngày nay, chỉ những người cao tuổi mới còn có răng đen

2.2 T ục cưới hỏi

2.2.1.Nguồn gốc, ý nghĩa

Tục cưới hỏi được hình thành từ rất lâu đời Có rất nhiều cách để nói về việc cưới hỏi này như: đám cưới, giá thú, lễ thọ mai, vu quy, hôn lễ Tuy nhiên, đây là không những là hoạt động của hai bên gia đình kết thông gia, cô gái được gả cho chàng trai

mà còn là một việc vui của cả gia đình và họ hàng Tục cưới hỏi mang ý nghĩa duy trì nòi giống

- Lễ vật: đối với từng lễ của tục cưới hỏi thì số lượng và thành phần lễ vật khác nhau Tuy nhiên lễ vật chủ yếu là: trầu cau, xôi thịt, gà, rượu, chè thuốc và tiền

Trang 14

- Thời điểm: vào những ngày lành tháng tốt, hợp tuổi với đôi trẻ mà gia đình hai bên đã chọn, chủ yếu là mùa xuân

- Thành phần: Gia đình hai bên họ hàng, cô dâu - chú rể, quan khách, chủ hôn, có thể có người mai mối

- Các nghi lễ: Tục cưới hỏi truyền thống gồm có 8 lễ: lễ dạm ngõ, lễ vấn danh, lễ ăn hỏi, lễ rước dâu, lễ xin dâu, lễ đón dâu, lễ hợp cẩn, lễ lại mặt Tuy nhiên, ngày nay tục cưới hỏi được rút gọn thành 3 lễ chính: Lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới Một số nơi vẫn còn thực hiện lễ lại mặt

+ Lễ dạm ngõ (chạm ngõ): là việc nhà trai mang lễ vật sang nhà gái để hỏi ý, thỏa thuận với nhà gái về việc kết tóc, se duyên cho đôi trẻ

+ Lễ ăn hỏi: là lễ được thực hiện sau lễ dạm ngõ, nhằm mang tính chính thức thông báo với hàng xóm và mọi người biết cô gái đã có nơi có chốn và hai bên gia đình thống nhất xe ngày lành tháng tốt để tiến hành hôn lễ

+ Hôn lễ (lễ cưới, đám cưới): là công việc chính thức thừa nhận duyên vợ chồng của đôi trẻ Hiện nay, lễ cưới kết hợp cùng nhiều lễ khác như xin dâu, rước dâu,… + Lễ lại mặt

Sau khi đám cưới hai bên gia đình kết thúc thì hai bên gia đình sẽ gặp mặt nhau Thời điểm thường vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới Cuộc gặp mặt này giúp hai bên gia đình thêm gắn kết tình cảm và mở rộng mối quan hệ

2.3 T ục ma chay

Phong tục tang ma của người Việt bao gồm nhiều quy trình, nhiều nghi thức khác nhau Trải qua nhiều thời kì nghi thức này đã có nhiều thay đổi tuy nhiên vẫn phải

quan; Lễ viếng; Lễ đưa tang; Lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ

2.3.1 Lễ khâm liệm

Đây là một trong những bước chuẩn bị cho người đã khuất đi về thế giới bên kia Là bước cần thiết trước khi tiến hành nhập quan và phát tang, cáo phó cho người thân

và mọi người đến viếng

Theo phong tục tang ma của người Việt, người vừa mất được thân nhân tắm gội

quan tài Khi tắt thở, con cháu vuốt mắt thay quần áo mới, thường là bộ quần áo may trắng được chuẩn bị từ trước Sau đó, người mất được buộc hai ngón chân cái với nhau, để hai tay lên bụng, vai bó bằng dây vải và bỏ một ít gạo sống vào miệng Người dân quan niệm: tiền và gạo phàm hàm đó là lương thực và lộ phí cho người chết hành trình sang cõi âm Việc ngáng đũa trong miệng về mặt khoa học là để tử

Trang 15

khí trong cơ thể có lối thoát ra Nhưng theo quan niệm thì chết ngậm miệng là cái chết không thanh thản còn nhiều ngậm ngùi, giằng xé với trần gian

Người mất được đặt nằm trên giường, buông màn rồi thắp một ngọn đèn nơi đầu giường, thi hài của người đã mất có thể để như vậy đợi người thân về Tuy nhiên, không được quá ba ngày

Đặc biệt, để người mất ra đi thanh thản con cháu dù đau đớn cũng không được khóc thành tiếng sẽ khiến người chết không thể nhẹ nhàng ra đi

Nghi thức khâm liệm: được tiến hành sau hồi dài kèn trống, người thân dùng vải trắng hoặc đỏ để gói thân thể người mất và đặt vào áo quan, gáy được gối lên hai

trùng Với những người chết có bệnh, người ta dùng cám rang hoặc gạo rang giã nhỏ có khi là chè khô trải phía trong ván để hút nước và khử mùi

2.3.2 Lễ nhập quan

Trước khi nhập quan thời xưa thường phải làm lễ phạt mộc, bằng cách cầm nén nhang đang cháy, đọc chú, chém khẽ vào áo quan 3 nhát (đầu, cuối, cạnh bên cỗ áo quan) để trừ khử hết lũ ma quái đi, tránh ám hại người chết và gieo tai họa cho người sống (tang gia)

Khi nhập quan, thân nhân có mặt đứng theo thứ tự gần rồi đến xa, xưa có quy định: con trai đứng bên trái, con gái đứng bên phải người chết, cổ tục có nói những người

kị tuổi với người chết và giờ chết trong vòng con cháu ruột thịt phải lánh mặt ra chỗ khác để phòng ngừa tai họa về sau

Lưu ý: Không nâng thi hài trực tiếp bằng tay để nhập quan Khi đặt thi hài vào quan tài cần chuẩn bị gối bông nhỏ, vải mềm nhiều lớp để kê, đệm, lót làm cho thi thể cố định một khối với quan tài (kê phần đầu phải cao hơn phần thân)

Nhập quan xong đặt quan tài vào đúng vị trí thờ, lúc này con cháu kị tuổi được phép trở về để cùng với mọi người thực hiện nghi lễ của việc tang

Kể từ lúc nhập quan đến đưa tang, trên quan tài luôn được thắp nến: cha thì thắp 7

có một quả trứng gà luộc đã bóc vỏ và được kẹp bằng một đôi đũa bông, bát cơm sẽ được đặt trên mộ sau khi chôn cất

2.3.3 Lễ viếng

Lễ viếng được tiến hành trang nghiêm, mọi người xếp hàng để viếng, tang gia sẽ ngồi cạnh quan tài cúi đầu cảm ơn những người đến chia buồn cùng với gia đình

*Lưu ý: đi viếng đám tang cần kiêng kị

Không mặc lòe loẹt và cười nói ầm ĩ

Trang 16

Người cao tuổi, phụ nữ có thai và người bị chó dại cắn kiêng đi viếng đám tang Không nên bật nhạc điện thoại chuông to khi đi viếng đám tang

Nếu đi viếng đám tang lỡ người quá cố ấy có đẹp trai hay xinh gái không được khen

Ra đường gặp đám tang ngược chiều phải xuống xe ngả mũ nón dắt bộ qua đám tang rồi mới lên xe, ô tô thì chậm lại không bóp còi, đi cùng chiều không tiện xuống

xe thì đi chậm lại và ngả mũ

Khi đi viếng đám tang về đặt sẵn ở cửa ra vào một lò than đốt vỏ bưởi và quả bồ kết

để trừ uế khí

2.3.4 Lễ đưa tang

Thầy cúng hoặc tang chủ cùng con cháu nội ngoại thực hiện lễ tiễn biệt người quá

cố về nơi an nghỉ cuối cùng, mọi người theo thứ tự trong nội ngoại gia tộc xếp hàng trước bàn thờ vong

Thầy cúng hoặc tang chủ thực hiện các bước thắp hương, dâng rượu, nước trang nghiêm như lễ phát tang và đọc lời ai điếu tiễn biệt lần cuối, con cháu thành kính bái lễ

Khi di quan phải thật sự chậm rãi, từ từ từng nửa bước chân một, vừa thể hiện nỗi đau tiễn biệt muốn níu kéo lại cũng là vừa đảm bảo cho quan tài luôn được thăng bằng, để người ra đi tròn giấc ngủ yên lành;

Đi đầu là hai phương tướng mặc áo mũ đạo sĩ đeo mặt nạ, cầm dao hoặc binh khí để trừ tà ma, rồi đến đoàn người vác cờ tang, tiếp là minh binh, vòng hoa, trướng, câu đối, linh xa, phường bát âm có phèng phèng thanh la kèn, trống, đến đoàn khiêng nhà táng, sau cùng là đoàn đi đưa ma

2.3.6 Lễ ấp mộ, viếng mộ

Trang 17

Trong ba ngày sau khi hạ huyệt, vào mỗi buổi chiều, con cháu đem cơi trầu đến mộ

mà khóc lóc gọi là ấp mộ Việc này nghĩa là đem hơi nóng của tình thân gia đình làm cho mộ đỡ lạnh

Đến ngày thứ a con cháu đắp sửa lại mộ, lễ này được gọi là cúng mở cửa mả Cũng

từ ngày đó trở đi ngày nào cũng cúng cơm một hoặc hai buổi cho đủ 100 ngày Có nơi cúng hết tang là 3 năm

2.3.7 Các nghi thức sau tang lễ

* Tuần chung thất (49 ngày): Gia chủ làm lễ thất cho đến khi được tuần thứ 7 thì làm lễ chung thất, thôi cúng cơm cho người chết

Việc cúng cầu siêu như vậy có tác dụng nhắc nhở gợi cho người quá vãng hướng tâm về các thiện sự đã làm hoặc thiết tha thực hiện những tư tưởng tốt đẹp, nhờ đó thần thức được tái sinh về cảnh giới tốt đẹp hơn

+ Tuần tốt khốc (100 ngày): Khi người chết được 100 ngày gia chủ làm lễ tốt khốc (thôi khóc), gia chủ thường mời thầy cúng đốt tang phục, đốt nhà cho người chết và đưa di ảnh người chết lên bàn thờ tổ tiên

+ Giỗ đầu (Tiểu tường): Sau một năm âm lịch, gia đình người chết sẽ tổ chức giỗ đầu nhằm mục đích nhớ về người đã khuất

+ Mãn tang (Đạt tường): Sau khi người chết được 3 năm gia chủ làm lễ hết tang 2.3.8 Trang phục và hoa trong tang lễ

a Trang phục

Trang phục trong tang lễ biểu thị mối quan hệ họ hàng, anh em gần - xa với người

đã khuất, tùy theo địa vị của từng người trong gia đình mà trang phục sẽ khác nhau Con trai con rể trong đám tang mặc bộ trang phục thảm trôi nghĩa là may áo nhưng không cắt khâu cẩn thận mà để mép vải xơ ra, áo dài đến đùi gối, rộng, tay thụng bằng vải thô và buộc sợi dây ngang lưng đội mũ rơm;

Con gái, con dâu cũng mặc trang phục thảm trôi nhưng không cần đội mũ rơm và đeo dây, chỉ xõa tóc và không đeo dép;

Cháu nội, ngoại và anh em họ hàng ruột thịt buộc mọt tấm khăn màu trắng để tỏ lòng thương tiếc và mang ý nghĩa là cùng chịu tang với người thân của mình

b Hoa

Với mỗi bông hoa có mặt trong cuộc sống của chúng ta này đều sẽ mang trong mình một sứ mệnh một ý nghĩa khác nhau Vì thế mà đôi khi không phải ngẫu nhiên chúng lại có mặt trong các buổi tiệc vui mừng hay lại hiện diện trong những khoảnh

Trang 18

khắc đau buồn chia xa Trong tang lễ, thường có nhiều loại hoa nhưng phổ biến và thông dụng nhất đó là hoa cúc vàng

Câu chuyện em bé vào rừng sâu tìm hoa chữa bệnh cho mẹ vì lẽ đó bông hoa cúc và nghiễm nhiên trở thành hoa của sự hiếu thảo, trong tang lễ người ta thường dùng hoa cúc vàng để tỏ lòng hiếu thảo của mình tới người đã khuất Ngoài ra trong tang

lễ còn sử dụng hoa cúc trắng, hoa huệ tây, hoa ly…

Tìm hi ểu tang ma một số dân tộc thiểu số Việt Nam (Tang ma người Mông đen

Sa Pa)

Trong đám tang này, cô gái mới 25 tuổi, chết do bệnh nặng và không có điều kiện thuốc thang Sau khi phát hiện cô đã chết trên giường, người anh trai nhanh chóng thông báo cho bà con trong bản, bằng cách bắn hai phát súng kíp lên trời

Người trong bản đều biết tín hiệu này là báo có người mới chết Sau đó, thầy mo được mời về để làm lễ, người chết được thay váy áo và giày mới, chân được bó bằng một tấm vải Tuy nhiên, chân người chết được bó bằng vải màu trắng, chứ không phải vải đen như những người phụ nữ H'Mông vẫn bó chân thường ngày Nghi lễ thứ nhất gọi là lễ Ngựa tức là đưa xác người chết lên treo giữa nhà để cúng

Họ dùng ván gỗ Pơ Mu hoặc hai đoạn tre dài được ghép lại với nhau thành tấm bằng những sợi dây rừng cho người chết nằm Họ buộc chân và phần thân người chết trong tư thế nằm ngủ, trên người phủ rất nhiều quần áo chỉ để hở chân và mặt Ngoài ra, họ buộc một con gà trống vào thân một cây nỏ cùng một con dao rồi cúng cho người chết

Lễ thứ hai trong đám tang người Mông đen là lễ mổ trâu, mổ lợn, tùy theo gia đình giàu hay nghèo mà lễ vật lớn hay nhỏ Họ đem trâu, lợn tới với ngụ ý giao cho người chết, sau đó sẽ giết thịt làm đồ cúng và chia cho những người tới dự đám tang

Ngoài ra, những người thân thiết, bạn bè có nhã ý muốn cúng tiến trâu, lợn cho người chết có thể đem lễ vật tới Sau khi làm lễ giao cho người chết, phần thịt được chia cho nhà chủ phần chân sau và cái đuôi, phần còn lại được chia cho những người tới tham dự

Ngày giờ chôn cất được gia đình và thầy mo sắp đặt Họ thường chôn vào lúc sáng sớm khi chưa có ánh mặt trời hoặc chôn vào buổi chiều muộn Trước khi đưa xác ra khỏi nhà, họ làm lễ cúng giao các đồ vật để người chết mang theo Các xâu tiền vàng được đem đốt giữa nhà, sau đó họ gói tro vào một tờ giấy đặt vào thùng gỗ đựng đồ ăn của người chết

Những thanh niên bắt đầu chặt sợi dây buộc chiếc cáng tre nơi người chết nằm Họ

Trang 19

thân trong gia đình quỳ lạy ngoài cửa Họ khiêng xác chết đi rất nhanh qua rừng, dường như vừa đi vừa chạy, theo sau là rất đông người trong bản đi xem chôn cất Nơi chôn cất cách xa nhà khoảng 2 km, trên một khu đồi tre xanh tốt Những người phụ nữ chỉnh sửa trang phục cho người chết một lần nữa Trong khi đó những người đàn ông bắt đầu đào huyệt mộ

Thầy mo lẩm nhẩm một bài cúng bí truyền rồi tung 2 chiếc thẻ tre tới khi hai mặt đều nhau, sau đó lấy chiếc khăn đỏ bỏ vào ngực áo của người chết rồi mới đậy nắp quan tài

Trước đó, những người phụ nữ không ai bảo ai đã chạy về bản rất nhanh Sau khi đóng nắp quan tài, chỉ còn những thanh niên trẻ ở lại lấp mộ Họ vừa lấp vừa chia nhau những chén rượu cuối cùng Khi lấp xong những người thanh niên còn lại cũng chạy đi rất nhanh, như sợ bị ma đuổi

Sau khi chôn cất được 12 ngày, người nhà sẽ mời thầy mo về làm lễ cúng một lần nữa Đây là lễ mời người chết về thăm nhà, giúp linh hồn người chết ra đi thanh thản, không trở về làm hại những người thân trong gia đình

Kể từ đây người chết sẽ vĩnh viễn ra đi và những người còn sống rất ít khi nhắc tới

lớn hay có người trong nhà hay đau ốm thì họ mới làm lễ cúng cầu may mắn và gọi hồn người chết về lại thăm nhà

2.4 T ục thờ cúng tổ tiên

2.4.1 Nguồn gốc

Như các dân tộc khác trên thế giới, từ thuở xa xưa dân tộc Việt Nam đã thờ rất nhiều thần linh Họ thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các

hiện tượng thiên nhiên và xã hội mà họ chưa thể giải thích được vào thời đó Từ

đó, hình thành nên tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam Trong các loại tín ngưỡng thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt, bất kể họ ở đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay thành thị, người giàu hay người nghèo

2.4.2 Ý nghĩa của thờ cúng tổ tiên

Bày tỏ sự biết ơn luôn hướng về cội nguồn của mỗi người, với cội nguồn dân tộc Theo quan niệm truyền thống, tổ tiên trước hết là những người cùng chung huyết mạch như ông bà, cha mẹ… là những đã sinh thành ra ta Không chỉ vậy, tổ tiên còn

là những bậc anh hùng có công bảo vệ làng xóm, đất nước, đánh đuổi giặc ngoại xâm…

Có thể nói, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nhắc nhớ mỗi chúng ta, dù ở đâu, xa quê hương nhưng luôn tôn thờ và khắc ghi nguồn cội của mình Thông qua đó, giáo dục

Trang 20

mỗi người luôn phải có trách nhiệm với quê hương đất nước, bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp mà tổ tiên ta đã dày công vun đắp Phong tục này như sợi dây liên kết giữa những người sống và những người đã khuất, những người trên trần thế

và những người ở thế giới tâm linh

Theo quan niệm của người Việt, chết chưa phải là kết thúc, tổ tiên luôn bên cạnh dõi theo và phù hộ cho chúng ta trong cuộc sống Nhờ vào hình thức tín ngưỡng này, người Việt bày tỏ sự biết ơn và lòng thành kính, tấm lòng hiếu thảo với ông bà

tổ tiên với những người đã sinh thành dưỡng dục chúng ta Chúng ta luôn tin rằng, sau khi mất, tổ tiên không bao giờ biến mất mà vẫn luôn sát cánh cùng con cháu và chúng ta nên làm tròn bổ phận đạo hiếu của một người con

Trong mỗi gia đình Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền tải đạo lý sâu sắc

“Uống nước nhớ nguồn” đã trở thành nét đẹp trong văn hóa của người Việt Thông qua đó, mỗi con người hiểu được giá trị của “đạo hiếu” trong cuộc sống trong mối quan hệ với những người trong gia đình Giá trị quý báu nhất tiềm ẩn trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt đó là lời răn dạy về lòng hiếu thảo

Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ là nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc mà nó còn là bài học đạo đức vô giá trong tiềm thức của mỗi người Nó răn dạy con người về đức hiếu thảo, hiếu sinh và hướng về cội nguồn…

2.4.3.Những biến đổi về hình thức thờ cúng tổ tiên xưa và nay

Từ sau đổi mới, các loại hình tôn giáo tín ngưỡng đều được coi là “trỗi dậy” sau một giấc ngủ dài Đời sống tôn giáo trở nên sôi động Cơ sở thờ tự các tôn giáo ngày càng được xây dựng, tu bổ khang trang hơn Cùng với nó, số lượng tín đồ đến tham dự các hình thức nghi lễ tôn giáo cũng nhiều hơn.Thờ cúng tổ tiên cũng hòa mình vào xu thế chung đó Thờ cúng tổ tiên trong các gia đình cũng ngày càng được chú trọng hơn Nếu tôn giáo chỉ đáp ứng được nhu cầu tâm linh của một bộ phận người dân là tín đồ của tôn giáo đó thì thờ cúng tổ tiên đáp ứng nhu cầu tâm linh

Nếu trước đây, thờ cúng tổ tiên được tập trung tại nhà dòng trưởng (trưởng tộc, trưởng họ, trưởng chi, con trưởng) thì nay, mọi thành viên trong gia đình đều thờ cúng tổ tiên tại gia đình mình Nhiều gia đình vẫn còn giữ được tục lệ cứ giỗ, Tết

tập trung lại vào nhà con trưởng để làm giỗ

Tuy nhiên, tại nhiều gia đình, ngày giỗ không còn là ngày con cháu tập trung như trước nữa Hình thức cúng giỗ mang tính cộng đồng chung các thành viên trong gia đình được chuyển thành hình thức cúng giỗ cá thể Mỗi thành viên trong gia đình làm lễ cúng giỗ người đã mất tại nhà mình

Trang 21

Nếu trước kia, chúng ta còn bắt gặp những gia đình không có ban thờ tổ tiên trong nhà thì ngày nay nhà nào cũng có Cùng với sự phát triển kinh tế, những trang thờ nhỏ bé hay những bát hương đặt tạm bợ trên nóc tủ…

Ngày nay, ban thờ với nhiều kiểu dáng mẫu mã trang nghiêm và đẹp mắt Vị trí đặt ban thờ tổ tiên cũng được chú trọng Ngày nay, để đặt một ban thờ, người ta không còn tùy tiện chỗ nào cũng được như trước mà cần phải xem hướng ban thờ, xem kích thước ban thờ về chiều cao, chiều dài, chiều rộng Ngày đặt ban thờ hay bốc bát hương cũng là một sự kiện quan trọng của gia đình

Đã bao thế kỷ trôi qua, cung cách và quan niệm thờ phụng tổ tiên của người Việt Nam xét theo góc độ nào đó đã có nhiều thay đổi nhưng ý nghĩa lớn nhất, vẫn giữ nguyên Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một trong những nguyên tắc đạo đức làm người Đó là hình thức thể hiện sự hiếu thuận và lòng biết ơn của con cháu đối với các bậc sinh thành

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày tục ăn trầu, nhuôm răng đen của người Việt Theo anh/chị tục ăn trầu, nhuộm răng đen có còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay hay không? Vì sao?

2 Là một người làm trong ngành du lịch, anh/chị sẽ chia se những gì với người nước ngoài về tục ăn trầu ở Việt Nam?

3 Hãy trình bày những hiểu biết của mình về một tục lệ cưới hỏi của một dân tộc thiểu số ở Lào Cai So sánh sự biến đổi tục cưới xin xưa và nay

4 Trình bày những hiểu biết của mình về tang ma của người Việt Hãy giới thiệu tang ma một dân tộc thiểu số ở Lào Cai

Trang 22

- Đặc điểm

- Đặc trưng

- Mô phỏng lại tục lệ cưới hỏi của một dân tộc thiểu số ở Lào Cai

- Ý nghĩa của các tục lệ trong lễ cưới hỏi đó

Trang 23

Chương 2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM

Gi ới thiệu

Chương này nhằm cung cấp một số kiến thức nền tảng như khái niệm, đặc điểm và một số tín ngưỡng dân gian trong tâm thức người Việt Nam

M ục tiêu

- Trình bày được khái niệm, đặc điểm tín ngưỡng dân gian Việt Nam

- Giới thiệu và phân tích được một số loại tín ngưỡng dân gian Việt Nam thông qua các hình thức tự chọn Có.ý thức giữ gìn, bảo tồn nét văn hóa tín ngưỡng tốt đẹp của người Việt

thức rèn luyện các kỹ năng mô tả, thuyết trình, thảo luận nhóm Tự tin, phối hợp khi làm việc độc lập hoặc theo nhóm

một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [Đào Duy Anh 1957: 283] ;

Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái

nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [Ngô Đức Thịnh 2001: 16 ]

Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá

đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục)

Trang 24

Như vậy, khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo

Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế

giáo… đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” [Trần Ngọc Thêm 1997: 262] Tín ngưỡng: là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng

1.2 Đặc điểm

Do Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ

Địa hình Việt Nam là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh nên Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính

đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các

vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo

Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách

giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của con người trong cuộc sống

Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân

Chia thành 4 nhóm tín ngưỡng dân gian chính:

Tín ngưỡng phồn thực

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Tín ngưỡng thờ cúng con người

Tín ngưỡng thờ cúng thần linh

2 M ỘT SỐ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM

Trang 25

2.1 Tín ngưỡng phồn thực

2.1.1.Ý nghĩa, nguồn gốc, tên gọi

Tín ngưỡng phồn thực là để duy trì và phát triển sự sống Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga, yoni) và thờ hành vi giao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam giới

Nguồn gốc và tên gọi: Tín ngưỡng phồn thực dựa trên quy luật khoa học để lý giải hiện thực và xây dựng triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở)

2.1.2.Biểu tượng thờ cúng

a.Thờ cơ quan sinh thực khí

Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Hầu hết các nền văn hóa khác là chỉ thờ sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực Việt Nam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ

Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước công nguyên Ngoài ra, nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng

Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày mùng 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may

b Thờ hành vi giao phối

Là một đặc điểm thể hiện việc chú trọng đến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở vùng Đông Nam Á

Ví dụ như các hình nam nữ đang giao hòa được khắc trên mặt trống đồng tìm được

ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước công nguyên

Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc, cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình)

Trang 26

Vào dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí", thanh niên nam

nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ

Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ

Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên

* Trống đồng - biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực

Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực: Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo; cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo; tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh

ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ; xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực

2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Trang 27

Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhóm các nữ thần này được biến thành Tứ pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương Tứ pháp gồm:

- Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu

- Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu

- Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng

Theo truyền thuyết, thì tổ tiên người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống "Rồng Tiên" Con rồng lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Nam Á, sau đó mới được phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước phương Tây Có rất nhiều địa danh Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, Hàm Rồng,

Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có thần Lúa, hồn Lúa, mẹ Lúa, Đôi khi ta thấy còn thờ thần cây Đa, cây Cau,

2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người

Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía

Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống)

Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng

Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía nữa Hai vía này có nhiều cách giải thích Chúng có thể là núm vú có vai trò quan trọng trong nuôi con Tuy nhiên, có cách giải thích khác nhưng người Việt thường có câu nói

Trang 28

nam có "ba hồn bảy vía" còn nữ có "ba hồn chín vía", cũng là từ các quan niệm trên

Khi chết là hồn đi từ cõi dương gian đến cõi âm ty, cõi đó cũng được tưởng tượng

nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền

b Tổ tiên

Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất,

nó gần như trở thành một tôn giáo Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất Ngày xưa, khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ tế lễ khác như vàng mã, hoa quả Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng

thấm xuống đất - theo họ như thế tổ tiên mới nhận được Hành động đó được cho là

sự hòa quyện Nước - Lửa (âm dương) và Trời - Đất - Nước (tam tài) mang tính triết

lý sâu sắc

c Tổ nghề

Tổ nghề là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó Do đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập

vì đã có công tạo ra nghề, gọi là Tổ nghề (hoặc thánh sư)

Vậy, tổ nghề là những con người bình thường, nhưng lại được người đời sau tôn thờ

vì đã có công sáng tạo ra nghề, truyền lại cho các thế hệ sau

d Thành hoàng làng

Người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó

Tuy nhiên, một số làng còn thờ những người lý lịch không rõ ràng gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp nhưng họ chết vào "giờ thiêng" (Giờ xấu theo quan niệm xưa)

e Vua tổ

Ngày đăng: 20/02/2022, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Đức Luận (2007). Giáo trình phong tục lễ hội Việt Nam, NXB Đà Nẵng Khác
[2] Toan Ánh (2005). N ếp cũ Tín ngưỡ ng Vi ệ t Nam, quy ển Thượ ng và H ạ , Nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh Khác
[3] Thu Linh, Đặng Văn Lung (1984). Lễ hội truyền thống và hiện đại, Nhà xuất bản Văn hoá Khác
[4] Tân Việt (2001). 100 điều nên biết về phong tục tập quán Việt nam, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội Khác
[5] PGS.TS. Lê Trung Vũ; GS.TS. Lê Hồng Lý, PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm (2004). L ễ h ộ i dân gian Vi ệ t Nam, Nhà xu ấ t b ả n Khoa h ọ c xã h ộ i Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w