L ỜI GIỚI THIỆU Người xưa với câu danh ngôn nổi tiếng "Hãy tự biết lấy mình", "Biết mình, biết người, trăm trận, trăm thắng" đều nói lên vai trò của các tri thức tâm lý, nhấn mạnh vai tr
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Trang 2L ỜI GIỚI THIỆU
Người xưa với câu danh ngôn nổi tiếng "Hãy tự biết lấy mình", "Biết mình, biết người, trăm trận, trăm thắng" đều nói lên vai trò của các tri thức tâm lý, nhấn mạnh vai trò của tự nhận thức, tự ý thức
Tâm lý con người có chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh nên tâm lý học có vai trò to lớn với tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người như: lao động sản xuất, y tế, giáo dục, thể thao, an ninh quốc phòng
Mục đích cao nhất của hoạt động lao động là tạo ra năng suất lao động cao Muốn vậy phải chú ý nhiều mặt từ việc chế tạo công cụ lao động, đảm bảo an toàn lao động, tổ chức lao động hợp lí khoa học, xây dựng bầu không khí lao động tập thể, động viên khen thưởng trong lao động tất cả các mặt đó của lao động đều cần đến các tri thức tâm lý học lao động, tâm lý học kĩ sư, tâm lý học xã hội
Lĩnh vực quản lí xã hội và đặc biệt công tác tổ chức cán bộ vận dụng nhiều tri thức tâm lý học Vấn đề hiểu người, dùng người, bồi dưỡng và đánh giá con người trong công việc, bầu không khí tâm lý trong tập thể quản lí, dư luận xã hội, các quan
hệ cá nhân khác nhau trong tập thể đều sử dụng các tri thức tâm lý và đồng thời là các vấn đề của tâm lý học
Ngoài ra, hầu khắp các lĩnh vực khác nhau của xã hội như: tư pháp, thanh tra, y tế, thương mại, du lịch đều cần sự có mặt của khoa học tâm lý, sự ra đời các khoa học liên ngành như tâm lý học y học, tâm lý học tư pháp, tâm lý học du lịch là minh chứng cụ thể khẳng định vai trò to lớn của tâm lý học với các khoa học khác và cuộc sống xã hội con người Đặc biệt với công tác giáo dục, lĩnh vực trồng người" tâm lý học có vị trí đặc biệt quan trọng, những tri thức tâm lý học là cơ sở khoa học cho việc định hướng đúng trong dạy học và giáo dục học sinh: Hiểu tâm lý lứa tuổi là
cơ sở cho dạy học, giáo dục phù hợp, sử dụng các biện pháp các phương tiện giáo dục
có hiệu quả đem lại chất lượng cao cho công tác giáo dục học sinh Có thể nêu ra vài
ví dụ về vấn đề này: Vận dụng các quy luật cảm giác, tri giác để điều chỉnh ngôn ngữ,
sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả nâng cao mức độ nhận thức bài giảng cho học sinh Hiểu biết các quy luật tình cảm là cơ sở khoa học cho việc tổ chức các biện pháp giáo dục "ôn nghèo gợi khổ" để "giáo dục trong tập thể và bằng tập thể" Nhận thức đúng lôgic phát triển nhận thức của học sinh đi từ "Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng" định hướng cho cách dạy học của giáo viên Các quy luật hình thành
kĩ xảo: Quy luật "đỉnh", quy luật tiến bộ không đồng đều gợi mở cách thức rèn luyện kĩ xảo cho học sinh đặc biệt là các em học sinh nhỏ bậc Tiểu học khi bắt đầu học viết, học đọc, học tính toán những tri thức khởi đầu trong kho tàng tri thức phong phú của nhân loại
Tóm lại, tâm lý học từ chỗ mô tả, giảng giải, tư biện dần dần chuyển sang tâm
lý học hoạt động, trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp, thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ thực tiễn xã hội
Trang 3MỤC LỤC
2 Chương 1 Khái niệm tâm lý học đại cương 04
3 Chương 2 Nhân cách con người và những yếu tố ảnh
hưởng tới tâm lý và nhân cách con người 10 4.Chương 3: Các phẩm chất tâm lý của nhân cách 16
Trang 4Chương 1 Khái niệm tâm lý học đại cương
1 Mục tiêu:
- Biết được khái niệm về tâm lý
- Hiểu được bản chất, chức năng, phân loại của các hiện tượng tâm lý
- Vận dụng kiến thức tâm lý đại cương trong cuộc sông cũng như trong công việc
2 Nội dung của chương
I Khái niệm chung và ý nghĩa về tâm lý học
1 Khái niệm
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi[1][2], tìm hiểu
về các hiện tượng ý thức và vô thức, cũng như cảm xúc và tư duy Đây là một bộ môn học thuậtvới quy mô nghiên cứu rất rộng
Các nhà tâm lý học tìm hiểu về những tính chất rõ nét của não bộ và những hiện tượng đa dạng liên kết với những tính chất trên Ở phương diện y sinh này, tâm lý học gắn bó chặt chẽ và là một phần của khoa học thần kinh Từ phương diện khoa học xã hội, tâm lý học tìm hiểu về các cá nhân và cộng đồng bằng cách thiết lập những nguyên tắc chung và nghiên cứu những trường hợp đặc trưng.[3][4]
Trong lĩnh vực này, người có chuyên môn ứng dụng hoặc nghiên cứu lý thuyết được gọi là nhà tâm lý học, hoặc có thể được phân loại thành nhà nghiên cứu xã hội, nhà nghiên cứu hành vi hay nhà nghiên cứu nhận thức Nhiệm vụ của nhà tâm lý học là tìm hiểu vai trò của chức năng tâm thần (mental functions) trong hành vi cá nhân
hay hành vi xã hội, cùng với việc khám phá những quy trình sinh học thần kinh và sinh lý, là cơ sở của chức năng nhận thức và hành vi
Nhà tâm lý học khám phá các quy trình tâm thần và hành vi, bao gồm những khái niệm như tri giác, nhận thức, chú ý, cảm xúc, trí tuệ, trải nghiệm chủ quan, động
cơ, chức năng não, và nhân cách; mở rộng ra những lĩnh vực về giao tiếp con người như mối quan hệ cá nhân, bao gồm bình tâm năng, gia tâm năngvà những khái niệm
có liên quan khác Các trạng thái và hoạt động của tâm trí vô thứccũng được nghiên cứu và xem xét trong tâm lý học.[5] Nhà tâm lý học sử dụng các phương thức nghiên cứu kinh nghiệm để diễn giải mối quan hệ nhân quả và tương quan giữa những yếu tố tâm lý - xã hội Ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh nghiệm và suy diễn, một số nhà tâm lý học - nhất là các nhà tâm lý học lâm sàng và tham vấn - đôi khi cũng dựa vào thông diễn học và các phương pháp quy nạp khác Tâm lý học được miêu tả như một ngành"khoa học trung tâm",[6] với những khám phá trong ngành có ảnh hưởng đến những nghiên cứu và quan điểm của những bộ môn như khoa học xã hội, khoa học thần kinh, và y học
Bên cạnh việc những kiến thức tâm lý học thường được ứng dụng vào việc đánh giá tâm lý và trị liệu cho các vấn đề về sức khỏe tâm thần, nó còn trực tiếp hỗ trợ cho việc nắm bắt và xử lý những vấn đề thuộc về hành vi và hoạt động của con người Dưới nhiều góc nhìn khác nhau, tâm lý học có mục đích cuối cùng là mang lại ích lợi cho
xã hội.[7][8]Phần đông những nhà tâm lý học có liên quan đến vai trò trị liệu, điều trị lâm sàng, tham vấn hoặc làm việc trong trường học Nhiều người khác thực hiện
Trang 5nghiên cứu khoa học về nhiều chủ đề có liên quan đến quy trình tâm thần và hành vi, thường làm việc trong những khoa tâm lý học trực thuộc các trường đại học, hoặc làm công tác giảng dạy và đào tạo tại các môi trường học thuật khác (như trường y hay bệnh viện) Một số làm về tâm lý học nghề nghiệp trong các tổ chức, công ty; hoặc trong những lĩnh vực khác[9]như tâm lý học phát triển và lão hóa, tâm lý trong thể thao, tâm lý trong y học cộng đồng, tâm lý trong truyền thông đại chúng, tâm lý trong lĩnh vực pháp y
Tư vấn tâm lý thường được nhầm lẫn với tâm lý học lâm sàng vì chúng khá giống nhau Mặc dù hai lĩnh vực này có một số điểm tương đồng, nhưng chúng là hai chuyên ngành hoàn toàn khác biệt Tư vấn tâm lý chủ yếu tập trung giúp đỡ những người khoẻ mạnh về mặt tâm lý và cảm xúc Trong khi đó, tâm lý học lâm sàng quan tâm nhiều hơn đến việc điều trị và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng hơn (đa nhân cách, tâm thần phân liệt, rối loạn sau sang chấn)
2 Ý nghĩa của tâm lý học đại cương
Ra đời và tách ra khỏi triết học trở thành một khoa học độc lập từ năm 1879 nhưng trước đó và cho đến nay tâm lý học vẫn có một vị trí to lớn trong cuộc sống và hoạt động con người Có thể nói rằng mọi thời kì lịch sử, mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều có sự đóng góp của tâm lý học
Người xưa với câu danh ngôn nổi tiếng "Hãy tự biết lấy mình", "Biết mình, biết người, trăm trận, trăm thắng" đều nói lên vai trò của các tri thức tâm lý, nhấn mạnh vai trò của tự nhận thức, tự ý thức
Tâm lý con người có chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh nên tâm lý học có vai trò to lớn với tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người như: lao động sản xuất, y tế, giáo dục, thể thao, an ninh quốc phòng
Mục đích cao nhất của hoạt động lao động là tạo ra năng suất lao động cao Muốn vậy phải chú ý nhiều mặt từ việc chế tạo công cụ lao động, đảm bảo an toàn lao động, tổ chức lao động hợp lí khoa học, xây dựng bầu không khí lao động tập thể, động viên khen thưởng trong lao động tất cả các mặt đó của lao động đều cần đến các tri thức tâm lý học lao động, tâm lý học kĩ sư, tâm lý học xã hội
Lĩnh vực quản lí xã hội và đặc biệt công tác tổ chức cán bộ vận dụng nhiều tri thức tâm lý học Vấn đề hiểu người, dùng người, bồi dưỡng và đánh giá con người trong công việc, bầu không khí tâm lý trong tập thể quản lí, dư luận xã hội, các quan
hệ cá nhân khác nhau trong tập thể đều sử dụng các tri thức tâm lý và đồng thời là các vấn đề của tâm lý học
Ngoài ra, hầu khắp các lĩnh vực khác nhau của xã hội như: tư pháp, thanh tra, y tế, thương mại, du lịch đều cần sự có mặt của khoa học tâm lý, sự ra đời các khoa học liên ngành như tâm lý học y học, tâm lý học tư pháp, tâm lý học du lịch là minh chứng cụ thể khẳng định vai trò to lớn của tâm lý học với các khoa học khác và cuộc sống xã hội con người Đặc biệt với công tác giáo dục, lĩnh vực trồng người" tâm lý học có vị trí đặc biệt quan trọng, những tri thức tâm lý học là cơ sở khoa học cho việc định hướng đúng trong dạy học và giáo dục học sinh: Hiểu tâm lý lứa tuổi là
Trang 6cơ sở cho dạy học, giáo dục phù hợp, sử dụng các biện pháp các phương tiện giáo dục
có hiệu quả đem lại chất lượng cao cho công tác giáo dục học sinh Có thể nêu ra vài
ví dụ về vấn đề này: Vận dụng các quy luật cảm giác, tri giác để điều chỉnh ngôn ngữ,
sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả nâng cao mức độ nhận thức bài giảng cho học sinh Hiểu biết các quy luật tình cảm là cơ sở khoa học cho việc tổ chức các biện pháp giáo dục "ôn nghèo gợi khổ" để "giáo dục trong tập thể và bằng tập thể" Nhận thức đúng lôgic phát triển nhận thức của học sinh đi từ "Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng" định hướng cho cách dạy học của giáo viên Các quy luật hình thành
kĩ xảo: Quy luật "đỉnh", quy luật tiến bộ không đồng đều gợi mở cách thức rèn luyện kĩ xảo cho học sinh đặc biệt là các em học sinh nhỏ bậc Tiểu học khi bắt đầu học viết, học đọc, học tính toán những tri thức khởi đầu trong kho tàng tri thức phong phú của nhân loại
Tóm lại, tâm lý học từ chỗ mô tả, giảng giải, tư biện dần dần chuyển sang tâm
lý học hoạt động, trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp, thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ thực tiễn xã hội
II Bản chất, chức năng, phân loại các hiện tượng tâm lý
1 Bản chất của tâm lý người
Tâm lý người không phải do thượng đế, do trời sinh ra, cũng không phải là do não tiết ra như gan tiết ra mật tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não con người thông qua,"lăng kính chủ quan"
Thế giới khách quan tồn tại bằngcác thuốộ tính không gian, thời gian và luông vận động Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật, hiện tượng đang vận động Nói một cách chung nhất, phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ thống này và hệ thống khác, kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động, chẳng hạn:
Viên phấn được dùng để viết lên bảng đen để lại vết phấn trên bảng và ngược lại bảng đen làm mòn (để lại vết) trên viên phấn (phản ánh cơ học)
2 Chức năng của tâm lý
Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động, ở đây muốn nói tới vai trò động cơ, mục đích của hoạt động Động cơ có thể là một nhu cầu được nhận thức, hứng thú, lí tưởng, niềm tin, lương tâm, danh vọng
Tâm lý có thể thúc đẩy lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục moi khó khăn vươn tới mục đích đã đề ra hoặc kiềm hãm, hạn chế hoạt động của con người
Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt đông bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động, làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định
Cuối cùng, tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với m ục tiêu đã xác định, đồng thời phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép
Nhờ có các chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh nói trên mà tâm lý giúp con người không chỉ thích ứng với hoàn cảnh khách quan, mà còn nhận thức, cải tạo
Trang 7và sáng tạo ra thế giới, và chính trong quá trình đó con người nhận thức, cải tạo chính bản thân mình
Nhờ chức năng điều hành nói trên mà nhân tố tâm lý giữ vai trò cơ bản, có tính quyết định trong hoạt động của con người
3 Phân loại hiện tượng tâm lý
Khi ta nhìn, quan sát thấy một sự vật hiện tượng, biểu tượng đó xuất hiện trong đầu của chúng ta Đó chính là biểu tượng tâm lí
Khi chúng ta vui hoặc buồn, trạng thái vui hay buồn đó cũng là tâm lí
đánh giá của chúng ta cũng là các hiện tượng tâm lí
Có những sự việc không diễn ra tức thời như quá trình suy nghĩ hay như trạng thái vui, buồn mà nó chỉ là những khái quát từ các hiện tượng tâm lí khác
Ví dụ: khi ta nói yêu lao động thì chúng ta đã đề cập đến một nét tính cách của con người Đối với một con người như vậy họ rất trân trọng, quý trọng sản phẩm của lao động
Trong ngôn ngữ Việt, bên cạnh thuật ngữ tâm lí còn có thuật ngữ tâm hồn Đôi khi người ta tách chữ tâm riêng, chữ hồn riêng Trong Từ điển tiếng Việt (1988), tâm hồn được định nghĩa là ý nghĩ và tình cảm, làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của mỗi con người
Các hiện tượng tâm lí, tâm hồn của con người đều có nguồn gốc từ bên ngoài, là sự phản ánh thế giới khách quan Thế giới vật chất được chuyển vào não, dưới các dạng biểu tượng, hình ảnh đó không dừng lại ở mức độ xơ cứng, bất biến Nhờ có
thế giới khách quan Từ vô số các hình ảnh, biểu tượng về những ngôi nhà có thực, trong óc con người dần khái quát hoá, thu gọn tất cả những biểu tượng đó vào một khái niệm: nhà Chính ngôn ngữ đã giúp cho khả năng nhận biết của con người về thế giới bên ngoài tăng lên một cách đột phá
Cũng nhờ có ngôn ngữ, tư duy của con người đã chuyển sang một bước ngoặt vĩ đại: từ tư duy bằng tay con người chuyển sang tư duy bằng khái niệm Nhờ có tư duy bằng khái niệm, con người đã có khả năng “nhìn” sâu vào những cái mà bằng mắt thường không thể nhìn thấy Bằng mắt, con người không thể nào nhìn thấy đường đi của hạt ánh sáng song bằng tư duy thì có thể
Như vậy có thể nhận thấy các hiện tượng tâm lí - thế giới nội tâm của con người, mặc dù là sự phản ánh thế giới bên ngoài song nó là các hiện tượng tinh thần Thế giới tinh thần này cũng có những cơ chế, quy luật hoạt động cho riêng mình Bản
người ta phân chia chúng thành các lớp hiện tượng khác nhau
PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ
Có rất nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lí khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số cách phân loại thường thấy
Ý thức và vô thức:
Trang 8Tâm lí học được hiểu rộng hơn so với Tâm thần học Như trên đã đề cập, những hình ảnh mà chúng ta quan sát được, những ý nghĩ và nhận định mà chúng ta có được trong quá trình tư duy… đều là những hiện tượng tâm lí Khi những hiện tượng tâm lí đó lại là đối tượng để chúng ta suy nghĩ: tại làm sao chúng ta quan sát được? Liệu những suy nghĩ và quyết định của chúng ta có đúng hay không?…Khi
đó các hiện tượng tâm lí đã được nâng cấp lên bình diện mới: bình diện ý thức Nói một cách khác, ý thức chính là năng lực hiểu được các hiểu biết Nói một cách khác, nếu các hiện tượng tâm lí là sự phản ánh thế giới khách quan thì sự phản ánh đó lại một lần nữa được phản ánh lại trong ta - đó chính là ý thức
Ở động vật cũng có sự phản ánh tâm lí Tuy nhiên sự phản ánh này chỉ dừng lại ở
đó mà không có sự phản ánh lại một lần nữa Con vật cũng có những khả năng nhận biết song chúng không nhận
biết được rằng chúng đang nhận biết Chúng không có ý thức
Trong ý thức của con người có một bộ phận đóng vai trò quan trọng: tự ý thức Tự ý thức là năng lực hiểu
được chính mình, hiểu được những mong muốn, những xu hướng của mình Tự ý thức được xem là “bộ máy chỉ huy” cao nhất trong toàn bộ ý thức của con người
Cấu trúc: theo quan niệm chung, ý thức bao gồm 3 tầng bậc chính: nhận thức cảm
tính, nhận thức lí tính và hoạt động
Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính gắn bó mật thiết với nhau là cảm
được sự tồn tại của thế giới bên ngoài, làm ranh giới giữa thức và ngủ, giữa tỉnh và say
Nhận thức lí tính cung cấp cho chúng ta những hiểu biết một cách khái quát, những mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng
Trong tầng bậc hoạt động, các hành động có ý thức đóng vai trò là những đơn vị
cơ bản Hành động có ý thức là quá trình con người sử dụng những hiểu biết, kinh nghiệm của mình tác động vào thế giới hiện thực nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân và xã hội
4 Vô thức:
Vô thức là những hiện tượng tâm lí không được ý thức Nó bao gồm:
Những hành động hoặc những cảm giác diễn ra nhưng người ta không nhận biết được nguyên nhân
Thành phần tự động hóa trong các kĩ năng, kĩ xảo
Trang 9Trạng thái mất ý thức do nguyên nhân sinh lí tự nhiên (mơ ngủ) hoặc do bệnh lí (chấn thương sọ não, sốt cao) hay nhân tạo (gây mê)
5 Trực giác
Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu tập trung vào vô thức song vẫn còn nhiều điều chưa được sáng tỏ trong lĩnh vực này
Tâm lí bao gồm các quá trình, trạng thái và thuộc tính:
Đây là cách chia dựa vào thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách
Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng Các quá trình đều có sản phẩm của mình Đó có thể là các biểu tượng của nhận thức cảm tính, là khái niệm, nhận định của tư duy, là rung cảm của cảm xúc…
Các trạng thái tâm lí: là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong khoảng thời gian
dài, mở đầu và kết thúc không rõ ràng và luôn luôn đi kèm theo, làm nền cho các quá trình tâm lí Ví dụ như chú ý, tâm trạng…
Các thuộc tính tâm lí: là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định, hình thành
chậm song cũng khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách Thuộc tính tâm lí chính là sự khái quát phối hợp giữa một số quá trình tâm lí với trạng thái tâm
lí Nét nhân cách có thể được xem xét một cách riêng biệt, ví dụ, tính cẩn thận, song chúng cũng có thể kết hợp tạo thành nhóm Ví dụ như xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất
6 Tâm lí bao gồm ba mặt:
Nhận thức: là các quá trình tâm lí giúp cho con người nhận biết được sự vật,
hiện tượng, các mối quan hệ của những sự vật hiện tượng đó Nhận thức gồm
2 nhóm chính là nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) và nhận thức lí tính (chủ yếu là tư duy)
Đời sống tình cảm: nếu như các quá trình nhận thức đem lại cho con người hiểu
biết về thế giới khách quan thì đời sống tình cảm lại thể hiện mối quan hệ của chủ thể đối với các sự vật hiện tượng Tuy nhiên không phải đối với mọi sự vật hiện tượng mà chỉ là đối với những sự vật hiện tượng có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu của chủ thể mà thôi Gọi nó là đời sống hay lĩnh vực bởi nó mang tính tổng thể (một cách tương đối) và bởi vì trong thành phần của nó có nhiều các thành tố
Ngay trong lĩnh vực này, sự tách biệt đâu là quá trình, đâu là trạng thái, thuộc tính cũng chỉ mang tính tương đối
Ý chí: là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn Ý chí là hình thức tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người Nhờ có ý chí, con người chuyển được từ nhận thức và rung động sang hoạt động thực tiễn Ý chí luôn đi kèm với hành động do vậy lĩnh vực này còn được gọi là hành động ý chí
Trang 10Thế giới các hiện tượng tâm lí của con người là một chỉnh thể trọn vẹn, thống nhất, không thể chia cắt được Sự phân chia thành các lớp, loại, lĩnh vực trước hết
phân loại đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Ngay trong từng cách phân loại cũng đã mang tính tương đối bởi lẽ không thể xác định được một cách chính xác ranh giới của các hiện tượng, ví dụ giữa ý thức và vô thức hoặc không thể tách biệt một cách máy móc đâu là trạng thái cảm xúc và đâu là quá trình cảm xúc
Chương 2 Nhân cách con người và những yếu tố ảnh hưởng tới tâm lý và nhân
2 Nội dung của chương
I Nhân cách con người
1 Nhân cách là gì
Nhân cách được định nghĩa là một tập hợp các đặc tính của những kiểu mẫu hành
vi, nhận thức, và cảm xúcđược hình thành từ các yếu tốt sinh học và môi trường.[1] Tuy hiện chưa có một định nghĩa nào của nhân cách được chấp nhận rộng rãi, đa số các thuyết tập trung về sự tương tác của động lực và tâm lý tới môi trường của ai đó.[2]Những thuyết nhân cách dựa trên tính trạng, như thuyết của Raymond Cattell, định nghĩa nhân cách là những tính trạng dùng để dự đoán hành vi của chủ thể Ở một khía cạnh khác, những lý thuyết nhân cách dựa trên hành vi định nghĩa nhân cách qua sự học hỏi và thói quen Nhìn chung, đa số các lý thuyết đều cho rằng nhân cách là một đặc tính có độ ổn định.[1]
Lĩnh vực về tâm lý của nhân cách, được gọi là tâm lý nhân cách, đang nghiên cứu để giải thích về những thiên hướng làm cơ sở cho sự khác biệt trong hành vi Có nhiều cách thức khác nhau đã được áp dụng để nghiên cứu về nhân cách bao gồm những lý thuyết dựa trên sinh học, nhân thức, học hỏi, và tính trạng – và bao gồm tâm lý động lực (psychodynamic) và tâm lý nhân văn (humanistic psychology) Những nhà tâm lý nhân cách học thời kỳ đầu đã có những bất đồng quan điểm, một số thuyết nổi bật được tạo ra bởi những nhà tâm lý học như Sigmund Freud, Alfred Adler, Gordon Allport, Hans Eysenck, Abraham Maslow, và Carl Rogers
2 Đặc điểm cơ bản của nhân cách
Hiện nay trong các tài liệu, giáo trình tâm lý học thường nêu lên bốn đặc điểm cơ bản của nhân cách: tính ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao lưu của nhân cách