Khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại là trường hợp đặc biệt mà do tính chất của vụ án và vì lợi ích của người bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự ý quyết định việc khởi tố mà việc
Trang 1Tiểu luận môn:
Pháp luật Tố Tụng Hình sự
Đề tài: Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại theo quy định của bộ luật
TTHS 2015 và sửa đổi, bổ sung 2021
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 02/2022
Trang 2A MỞ ĐẦU
Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại là một chế định không mới, được áp dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước Ở Việt Nam chế định này lần đầu tiên được quy định trong Bộ luậy TTHS năm 1988 Mặc dù nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam là nguyên tắc công tố, tức là hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước, Nhà nước đã cam kết sẽ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân bằng một văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, đó là Hiến pháp, bằng cả hệ thống pháp luật
và cơ chế đảm bảo thực hiện Mọi hành vi phạm tội xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm khắc Tuy nhiên, khi xử lý hành vi phạm tội, Nhà nước còn phải quan tâm đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người bị hại Bài tiểu luận sau đây sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định trong Bộ Luật tố tụng hình sự 2015, Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Trong quá trình làm bài không thể tránh được những thiếu sót, nên em mong sẽ nhận được sự chỉnh sửa của thây cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3B NỘI DUNG
I QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI.
Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra Thiệt hại về thể chất là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; thiệt hại về tinh thần là thiệt hại về danh dự, nhân phẩm; thiệt hại về tài sản là tài sản bị mất, bị chiếm đoạt, bị huỷ hoại hoặc
bị làm hư hỏng Thiệt hại nói trên phải do chính hành vi phạm tội của người phạm tội trực tiếp gây ra cho người bị hại Người bị hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chỉ được coi là người bị hại trong tố tụng hình sự khi được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án công nhận Quyền và nghĩa vụ của người bị hại được quy định tại điều 62 Bộ luật TTHS 2015 Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền của bị hại
Khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại là trường hợp đặc biệt mà do tính chất của
vụ án và vì lợi ích của người bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự ý quyết định việc khởi tố mà việc khởi tố được thực hiện theo yêu cầu của người bị hại Thực tế cho thấy mặc dù bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhưng người bị hại lại không muốn đưa ra
xử lý vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, tương lai của họ, cũng có trường hợp giữa người bị hại và người gây thiệt hại có những mối quan hệ đặc biệt
Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại được quy định tại điều 155 bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:
Điều 155 Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1 Chỉ được khởi tố các vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134,
135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần
Trang 4hoặc thể chất hoặc đã chết.
2 Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ
do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án
3 Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức
Tuy nhiên, theo quy định mới tại Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ còn 09 tội được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết, bao gồm các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135,
136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự 2015:
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135);
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136);
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138);
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139);
- Tội hiếp dâm (Điều 141);
- Tội cưỡng dâm (Điều 143);
Trang 5- Tội làm nhục người khác (Điều 155);
- Tội vu khống (Điều 156)
II Phân tích quy định của pháp luật
Pháp luật của Nhà nước ta quy định việc khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do vậy, quyết định khởi tố vụ án hình sự nói chung là việc mà cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện khi xác định có sự việc phạm tội,
có hành vi cấu thành tội phạm, không một ai có thể can thiệp để không khởi tố và không phụ thuộc vào việc người có lợi ích bị xâm hại có đồng ý hay không
Tuy nhiên, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại lại là trường hợp đặc biệt bởi tính chất của vụ án và vì lợi ích của người bị hại Khi đó cơ quan có thẩm quyền không tự ý quyết định việc khởi tố mà việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo yêu cầu của bị hại Trong trường hợp người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm
về thể chất hoặc tâm thần hoặc đã chết thì người đại diện có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án Tuy nhiên, mức độ cho phép thể hiện ý chí cá nhân chỉ có thể trong một giới hạn mà Nhà nước và xã hội chấp nhận được Chính vì thế, theo khoản 1 điều 155 Bộ luật TTHS 2015 nhà làm luật đã quy định chỉ khởi tố với 1 số tội danh được quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 Bộ luật hình sự 2015 Có nghĩa là việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại chỉ xảy ra trong trường hợp hành vi phạm tội diễn ra ở mức nguy hiểm xã hội thấp nhất , tội phạm ít nghiêm trọng và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại vẫn phải tuân theo những quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự Đặc biệt, việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, được quyết định trên cơ sở kết hợp 2 yếu tố: Có dấu hiệu của tội phạm và có yêu cầu khởi tố về hình sự Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì dù người bị hại có yêu cầu khởi tố cũng không được khởi tố
Trang 6Ngược lại, nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố thì dẫu đã xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền cũng không được khởi tố
Đồng thời ngăn để ngăn ngừa khả năng người bị hại vì sợ bị can, bị cáo trả thù mà không dám yêu cầu khởi tố thì tại khoản 2 Điều 155 đã quy định :
“2 Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của
họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.”
Trường hợp vụ án đã được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của bị hại, nhưng bị hại hoặc đại diện của bị hại lại tự nguyện rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ Tức là chỉ khi người có yêu cầu khởi tố nút yêu cầu khởi tố thì vụ án mới được đình chỉ Nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra theo điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Nếu vụ án đã kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát thì viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Nếu hồ sơ vụ án đã chuyển sang tòa án thì tòa án đình chỉ vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Mặt khác, khoản 2 của Điều 155 cũng đã quy định: “trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.” Trong trường hợp đó các cơ quan tố tụng có trách nhiệm phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến việc bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố Việc rút đơn phải được thực hiện bằng văn bản
Nếu bằng lời thì người tiếp nhận phải lập biên bản xác nhận Khoản 3, điều 155 quy định:
Trang 7“3 Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Quy định này nhằm để hạn chế tình trạng bị hại hay người đại diện vì nghe lời dụ dỗ
mà rút đơn nhưng sau đó vì không đạt được lợi ích mà lại gửi lại đơn yêu cầu khởi tố làm cho cơ quan có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn trong việc điều tra, xác minh và làm rõ sự việc Hơn nữa việc quy định như vậy còn giúp hạn chế được tình trạng cơ quan có thẩm quyền cứ phải “chạy theo” bị hại xem khi nào bị hại yêu cầu, khi nào bị hại rút đơn bởi vì
cơ quan có thẩm quyền không được tự ý khởi tố vụ án mà phải dựa vào yêu cầu của bị hại
III Đánh giá quy định của pháp luật
Hiện nay quy định của pháp luật đã có những sự thay đổi và chặt chẽ hơn so với trước, nhưng trong thực tiễn thi hành vẫn còn 1số khó khăn, vướng mắc về nhận thức và áp dụng quy định của pháp luật mà chưa có văn bản luật giải thích, hướng dẫn, thống nhất kịp thời
Thứ nhất, pháp luật tố tụng hình sự có quy định người đã thành niên chỉ không được tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự khi người đó bị bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi Tuy nhiên trong thực tiễn, có những trường hợp một người tuy có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nhưng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ chỉ bị hạn chế một phần, nghĩa là họ vẫn có khả năng nhận thức nhất định
về hậu quả của việc khởi tố hay không khởi tố vụ án cũng như ảnh hưởng của việc khởi tố
vụ án đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình Trong khi đó, Bộ luật tố tụng hình sự lại “tước” quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự mang tính chất trực tiếp của họ mà buộc phải thực hiện thông qua người đại diện mặc dù họ hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức để
tự thực hiện quyền này, đó là điểm hạn chế Vấn đề sẽ càng trở nên khó khăn hơn nếu quan điểm giữa người bị hại và người đại diện của họ không đồng nhất với nhau trong việc có yêu cầu khởi tố vụ án hay không hoặc có rút yêu cầu khởi tố vụ án hay không Lúc này, cơ
Trang 8quan tiến hành tố tụng sẽ phải thực hiện theo yêu cầu của ai, của người bị hại hay yêu cầu của người đại diện của bị hại?
Thứ hai, Điều 155 Bộ luật TTHS 2015 nêu 1 số trường hợp nhất định, bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hay rút yêu cầu khởi tố mà không quy định chủ thế thời hạn thực quyền đó là bao lâu Như thế có thể hiểu bị hại có quyền khởi tố vụ án lúc không bị giới hạn mặt thời gian Vậy nếu 1 vụ án thuộc trường hợp quy định Điều 155 Bộ luật TTHS 2015 nhưng vì 1vài lý do nào đó, bị hại hay người đại diện bị hại chưa khởi tố hay thể hiện ý chí cho việc không khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền phải xử lý thế nào? Bởi cơ quan có thẩm quyền không thể khởi tố vụ án nếu bị hại không có yêu cầu khởi tố, đồng thời quan có thẩm quyền cũng không thể đình chỉ vụ án
Hiện có quan điểm cho đơn tố cáo đơn tố giác tội phạm xem là đơn yêu cầu khởi tố, tiêu đề và nội dung của đơn tố cáo và tố giác đã chứa đựng yêu cầu xử lý tội phạm Quan điểm khác lại cho đơn tố cáo, tố giác tội phạm là cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền xác minh, sau khi tiến hành xác minh có dấu hiệu tội phạm bị hại phải làm tiếp đơn yêu cầu khởi tố vụ án Trong trường hợp này, việc xác định đơn tố cáo có phải yêu cầu khởi tố hay không khiến việc giải quyết vụ án gặp khó khăn, phức tạp, hậu quả dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung và hủy vụ án
Thứ ba, bị hại không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án Thực tiễn giải quyết
vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, các vụ án về tội: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác” luôn chiếm tỷ lệ cao trong các tội chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại Đối với vụ án cố ý gây thương tích thì yêu cầu bắt buộc đối với cơ quan điều tra phải xác định được tỷ lệ thương tích của bị hại, bởi chỉ khi xác định được phần trăm tỉ lệ thương tích của bị hại thì cơ quan điều tra mới có căn cứ để khởi
tố hay không khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không thể xử lý được vì bị hại không hợp tác, từ chối giám định để xác định tỷ lệ thương tích gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án
Trang 9Điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật TTHS 2015 đã quy định về biện pháp dẫn giải có thể áp dụng đối với bị hại không hợp tác, từ chối giám định: “Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” Đây là biện pháp cưỡng chế nhằm khắc phục trường hợp bị hại từ chối việc giám định gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định này
có vướng mắc đó là: Thực hiện dẫn giải bị hại đi giám định nhưng bị hại vẫn cương quyết
từ chối việc giám định, tỏ thái độ bất hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng với lý do có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, vì vậy việc giám định không thể tiến hành được
Thứ tư, trường hợp vụ án có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số người phạm tội trường hợp này cơ quan điều tra sẽ chỉ khởi tố bị can mà bị hại yêu cầu hay khởi tố tất cả bị can trong vụ án
IV Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
Để hoàn thiện hơn pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, em xin
có 1 số kiến nghị như sau
Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần quy định rõ nghĩa vụ của bị hại trong việc giám định thương tích; trình tự, thủ tục, điều kiện dẫn giải bị hại đi giám định thương tích nếu bị hại từ chối giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan
Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền cần quy định rõ hơn về trường hợp một người tuy
có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nhưng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ chỉ bị hạn chế một phần, nghĩa là họ vẫn có khả năng nhận thức nhất định về hậu quả việc khởi tố hay không khởi tố Cơ quan có thẩm quyển có thể xem xét và nghiên cứu đưa họ đi giám định sức khỏe hoặc tâm thần để xác định xem liệu họ có đủ khả năng nhận
Trang 10thức hay không.
Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn để các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất thực hiện các trường hợp: Vụ án có nhiều bị hại nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu khởi tố vụ án, những người còn lại không yêu cầu khởi tố vụ án; vụ án có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số bị can, bị cáo
Thứ tư, cơ quan có thẩm quyền cần quy định rõ ràng thời gian để bị hại làm đơn khởi tố hoặc thời gian rút đơn khởi tố bao nhiêu lâu Một mặt nhằm nâng cao trách nhiệm,
ý thức của bị hại trong việc khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án Mặt khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Tóm lại, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt cơ quan
có thẩm quyền không tự quyết định việc khởi tố mà việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo yêu cầu của bị hại BLTTHS không giới hạn quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của
bị hại, việc rút yêu cầu khởi tố ở thời điểm nào cũng có lợi cho các bên, trong đó có cả lợi ích của Nhà nước, khi bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại rút yêu cầu khởi tố nghĩa là
họ thể hiện ý chí không mong muốn giải quyết bằng biện pháp hình sự nữa mà họ muốn tự thoả thuận dân sự với nhau thì vụ án phải được đình chỉ (ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét
xử sơ thẩm); người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt (ở giai đoạn xét xử phúc thẩm)
Quy định của pháp luật đã cụ thể, rõ ràng nhưng trong thực tiễn áp dụng còn có vướng mắc cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn để thống nhất trong quá trình áp dụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân