1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận phân tích nguyên tắc tự định đoạt trong tố tụng dân sự việt nam

14 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầuQuyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc của tố tụng dân sự, như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là những

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NÔI

MÔN HỌC: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

ĐỀ TÀI:Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong

tố tụng dân sự và kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định

đoạt của đương sự

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên:

Lớp:

Hà Nội, Tháng 2/2022

Trang 3

Mục lục

I Một số vấn đề chung về nguyên tắc tự định đoạt của đương sự 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Đặc điểm 4

1.3 Ý nghĩa 4

1.4 Cơ sở hình thành 5

II Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 5 2.1 Quyền của đương sự về việc quyết định về việc đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập 6

2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, yêu cầu 6

2.3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc hòa giải và tự hòa giải 7

2.4 Đương sự có quyền kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo hay không kháng cáo phúc thẩm 7

2.5 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình 8

2.6 Đương sự có quyền kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo hay không kháng cáo phúc thẩm 8

III Thực tiễn việc áp dụng, thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự 8 IV Kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự 9

4.1 Kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động lập pháp 9

4.2 Kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động tố tụng trên thực tế 10

Trang 4

Mở đầu

Quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc của tố tụng dân sự, như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự cũng như trong việc thực hiện và áp dụng các quy định đó trên thực tế, đồng thời, đó cũng là nguyên tắc chi phối toàn bộ hoạt động của đương sự khi tham gia tố

tụng Để tìm hiểu kỹ hơn về nguyên tắc này, em xin lựa chọn đề bài: “Nguyên tắc quyền

tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự”.

Trang 5

Nội dung

I Một số vấn đề chung về nguyên tắc tự định đoạt của đương sự

1.1 Khái niệm

Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một nhóm các quyền tố tụng được pháp luật tố tụng dân sự quy định, mang tính đặc trưng nhất trong Tố tụng dân

sự và được thể hiện xuyên suốt trong quá trình tòa án giải quyets vụ việc dân sự, theo đó đương sự được tự quyết định về việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình thông qua thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án và quyền tự quyết định về quyền, lợi ích đó thông qua việc thỏa thuận với đương sư khác

1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, quyền tự định đoạt của đương sự là quyền về hình thức, được quyết định bởi các quyền nội dung trong pháp luật dân sự cụ thể

Thứ hai, quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện thông qua một loạt các quyền tố tụng cụ thể, xuyên suốt từ khi chủ thể tham gia quá trình tố tụng cho đến khi kết thúc

Thứ ba, quyền tự định đoạt của đương sự phải là sự thể hiện ý chí chủ quan, tự nguyện của đương sự

1.3 Ý nghĩa

Thứ nhất, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Khi tham gia vào các quan hệ dân

sự và xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, các chủ thể có thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết hay quyết định việc có khởi kiện hay không khởi kiện ra trước Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Thứ hai, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự giúp xác

Trang 6

định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự.

Thứ ba, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự giúp ổn định trật tự xã hội, giữ vững kỉ cương xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân Pháp luật

tố tụng dân sự ghi nhận và bảo đảm cho các chủ thể trong quan hệ dân sự thực hiện quyền

tự định đoạt của mình đã góp phần làm giảm bớt áp lực giải quyết các tranh chấp của Tòa án

1.4 Cơ sở hình thành

Thứ nhất, nguyên tắc quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự là các quyền được quy định trong các quy phạm pháp luật hình thức, được phái sinh dựa trên nguyên tắc giao lưu dân sự trong pháp luật nội dung Mặt khác, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự được đặt ra do yêu cầu đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự, từ đó cần có những quy định giúp đương sự thực hiện tốt điều này: quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự,…

Thứ hai, dựa vào bản chất của quan hệ pháp luật dân sự là sự tự do, tự nguyện, bình đẳng Vì vậy, sự xâm phạm trong quan hệ pháp luật dân sự thường là sự xâm phạm đến lợi ích tư, xâm phạm đến cam kết, thỏa thuận chung Đó là sự xâm phạm không có tính chất nguy hiểm như trong hình sự Nên ngay cả trong quá trình giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự luôn tôn trọng và đề cao quyền quyết định của đương sự

Thứ ba, đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (là người trong cuộc) Nên

có lợi ích trực tiếp từ việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu dân sự Do đó phải được định đoạt về những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình

II Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ Luật tố tụng dân

sự 2015:

Trang 7

“1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có nội dung như sau:

2.1 Quyền của đương sự về việc quyết định về việc đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập

Nhà nước chính thức ghi nhận quyền khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của các chủ thể khác khi họ cảm thấy quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi họ cho rằng quyền lợi của mình

bị xâm phạm trong lúc tham gia các quan hệ pháp luật dân sự Quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những quyền quan trọng của các chủ thể khi tham gia tố tụng dân

sự Tòa án dân sự chỉ thực hiện hoạt động xét xử khi có yêu cầu khởi kiện của các đương

sự, quyền tự định đoạt của đương sự có thể được xem là cơ sở đầu tiên để tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Tuy nhiên, quyền tự định đoạt của đương sự không phải tuyệt đối,mà đương sự sẽ tự định đoạt quyền của mình trong khung mà pháp luật cho phép, cụ thể, khi muốn khởi kiện, thì cá nhân, cơ quan tổ chức phải đáp ứng đủ điều kiện mà pháp luật cho phép, khởi kiện, yêu cầu, thay đổi yêu cầu khởi kiện trong phạm vi, thời hạn và hình thức mà pháp luật quy định

2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, yêu cầu

Theo quy định tại Điều 244 BLtố tụng dân sự 2015, không chỉ có nguyên đơn có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện mà bị đơn cũng có quyền thay đổi, bổ sung,

Trang 8

rút yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có quyền thay đổi, bổ sung

và rút yêu cầu độc lập Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng giai đoạn của tố tụng dân sự mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể được Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận

2.3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc hòa giải và tự hòa giải

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự các bên vẫn có quyền thương lượng, hòa giải với nhau Điều này xuất phát từ bản chất quan hệ dân sự, các bên bình đẳng với nhau, tự do cam kết, xác lập thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội Trong

tố tụng dân sự thỏa thuận mang ý nghĩa quan trọng, bởi vụ việc dân sự được tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vì vậy, đương sự với

tư cách 2 bên tham gia tố tụng dân sự nếu cảm thấy sau khi hòa giải quyền lợi của mình đã được bảo đảm thì phiên tòa hay phiên họp giải quyết sẽ không còn ý nghĩa, nếu tiếp tục xét

xử thì vừa tốn kém lại có thể không đem lại kết quả như mong muốn của các chủ thể Mọi tác động bên ngoài ý chí của chủ thể đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận

Việc hòa giải của các đương sự cần kể tới vai trò quan trọng của tòa án trong việc tạo điều kiện và giải quyết những vướng mắc trong tâm tư, tình cảm của đương sự và tòa

án phải tuân theo các quy định của pháp luật nhưng người quyết định vẫn là các đương sự

Sự thỏa thuận giữa các bên đương sự sẽ dẫn đến nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện,

bị đơn rút yêu cầu phản tố, người liên quan rút yêu cầu độc lập (nếu có), Thẩm phán hoặc hội đồng xét xử sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án tùy vào từng giai đoạn tố tụng

2.4 Đương sự có quyền kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo hay không kháng cáo phúc thẩm

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là hoạt động tố tụng của đương sự và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật trong việc chống lại bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án dân sự – thời hạn kháng cáo, nội dung phạm vi kháng cáo, thời hạn thay đổi bổ sung, rút yêu cầu kháng

Trang 9

9 cáo – phạm vi thay đổi kháng cáo do đương sự quyết định những phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

2.5 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình các đương sự thường tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ Tuy nhiên trong một số trường hợp để bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của mình có thể ủy quyền cho người khác thay mình tham gia tố tụng Việc đại diện theo ủy quyền này, hoàn toàn dựa trên sự tự định đoạt của đương sự Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện thực hiện toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy vậy, sau khi ủy quyền cho người đại diện, đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để bổ sung cho hoạt động của người đại diện

2.6 Đương sự có quyền kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo hay không kháng cáo phúc thẩm

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là hoạt động tố tụng của đương sự và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật trong việc chống lại bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án dân sự – thời hạn kháng cáo, nội dung phạm vi kháng cáo, thời hạn thay đổi bổ sung, rút yêu cầu kháng cáo – phạm vi thay đổi kháng cáo do đương sự quyết định những phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

III Thực tiễn việc áp dụng, thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự

Trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự, các Tòa án đã bảo đảm cho các đương sự thực hiện khá tốt quyền tự định đoạt của mình từ quyền khởi kiện vụ án, yêu cầu giải quyết việc dân sự, quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; quyền hòa giải, thương lượng; quyền kháng cáo, khiếu nại các bản án, quyết định của Tòa án…

Trang 10

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì việc thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền tự định đoạt của đương sự trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định Những hạn chế này thể hiện cả trong các hoạt động tố tụng dân sự của đương sự và Tòa án:

Thứ nhất, về phía đương sự, do không hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật nên nhiều trường hợp đã không thực hiện đúng được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của mình Trên thực tế, đã không ít trường hợp đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự khi đã hết thời hiệu khởi kiện nên đã bị trả lại đơn khởi kiện

Thứ hai, về phía Tòa án, còn có trường hợp không bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự do sai sót trong việc trả lại đơn khởi kiện, không xem xét hết các yêu cầu của đương sự, xét xử vượt quá yêu cầu của đương sự, gò bó, cưỡng ép đương sự thỏa thuận khi hòa giải

- Sai sót của Tòa án do trả lại đơn khởi kiện không đúng pháp luật

- Tòa án không xem xét hết (bỏ sót) yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của đương sự

- Tòa án xét xử vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Tòa án gò bó, cưỡng é đương sự thỏa thuận khi hòa giải

IV Kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự

4.1 Kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động lập pháp

Thứ nhất, về việc đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khoản 2 Điều 201 quy định: “2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.” Điều này cho thấy đối với yêu cầu phản tố

Trang 11

và yêu cầu độc lập thì tòa án chỉ chấp nhận xem xét khi yêu cầu của bị đơn hoặc người ó quyền, nghiaxvuj liên quan đưa ra trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, như vậy là có phần hạn chế quyền tự dịnhđoạt của đương sự Quy định này nên thay đổi theo hướng Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét và chấp nhận yêu cầu độc lập muộn hơn thời hạn luật định và nếu yêu cầu này liên quan mật thiết đến yêu cầu khởi kiện hoặc xét thấy có lý do chính đáng

Thứ hai, nên quy định lại việc rút đơn của nguyên đơn trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm không cần có sự đồng ý của nguyên đơn Và nếu bị đơn thấy việc nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện rồi rút lại đơn khởi kiện mà gây thiệt hại cho họ về danh

dự, nhân phẩm hoặc với tài sản thì họ có quyền khởi kiện nguyên đơn bồi thường thiệt hại

4.2 Kiến nghị đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động

tố tụng trên thực tế

Thứ nhất, nâng cao năng lực xét xử của Thẩm phán Tòa án là cơ quan xét xử có trách nhiệm bảo đảm cho việc thực hiện được quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Đương sự có thực hiện được quyền tự định đoạt trên thực tế hay không phục thuộc rất lớn và Tòa án Vì vậy việc đổi mới công tác tổ chức cán bộ của Tòa án, nâng cao trình độ xét xử của Thẩm phán là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay

Thứ hai, thúc đẩy, nâng cao, phát triển trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp đối với đội ngũ luật sư, trợ giúp viên pháp lý Việc quản lý chặt chẽ và thường xuyên bồi dưỡng luật sư và trợ giúp viên pháp lý sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp

lý, từ đó giúp đương sự hiểu được rõ về các quyền, các nghĩa vụ của mình trong quá trình

tố tụng dân sự nói chung và quyền tự định đoạt nói riêng

Thứ ba, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật bởi vì nguyên tắc tự định đoạt của đương sự có được phát huy hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào sự hiểu biết về pháp luật của đương sự

Trang 12

Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm trong việc giải quyết vụ việc dân sự để kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm, ngăn chặn hoặc xử lý các hành vi đó Lãnh đạo các Tòa án phải tăng công tác kiểm tra đối với hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của cán bộ Tòa án, đặc biệt là đối với hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của thẩm phán, tòa án cấp trên phải tăng cường kiểm tra đối với hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án cấp dưới Qua kiểm tra, giám sát mà phát hiện được những sai lầm, vi phạm pháp luật thì phải yêu cầu, kháng nghị, kiến nghị khắc phục kịp thời

Ngày đăng: 20/02/2022, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w