Đánh giá kiến thức, thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn với mục tiêu:1.Đánh giá kiến thức, thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn.2.Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn.
Trang 1Chủ nhiệm đề tài: Thái Thị Hà
Cộng sự: Lê Minh Hoàng
Hoàng Dương
NĂM 2020
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 2TTYT Trung tâm Y tế
HSCC Hồi sức cấp cứu- Nhi
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
II Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3III Dự kiến kết quả nghiên cứu
3.1 Kiến thức, thực hành phân loại chất thải y tế của điều dưỡng tại
Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn
3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phân loại chất
thải rắn y tế của điều dưỡng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn
IV Dự kiến bàn luận
V Dự kiến kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Phụ lục 1: Phiếu điều tra kiến thức phân loại chất thải rắn y tế
Phụ lục 2: Thực hành pân loại chất thải rắn y tế
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống, được thải ra từ các hoạt độngsản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hay các hoạt động khám chữa bệnh, vuichơi giải trí của con người Tác động tiêu cực của chất thải nói chung và chấtthải có chứa các thành phần nguy hại nói riêng là rất rõ ràng nếu những loạichất thải này không được quản lý theo đúng những quy định môi trường Theo
tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% làchất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải gây độc như chất thải phóng xạ, chấtgây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điềutrị Đó chính là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầmbệnh, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật của nhữngngười tiếp xúc, cộng đồng dân cư những vùng tiếp giáp Quản lý chất thải đã và
Trang 4đang trở thành vấn đề bức thiết ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có ViệtNam
Ở nước ta hiện nay, Ngành Y tế đang hoàn thiện chính sách và văn bảnquy phạm pháp luật về quản lý chất thải, tập trung nguồn lực, xử lý triệt để các
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, bên cạnh đó Bộ Y tế ban hànhthông tư liên tịch số 58/2015 TTLT- QĐ- BYT về việc quy định về quản lý chấtthải y tế nhằm tăng cường thực hiện tốt quản lý chất thải y tế và kiểm soátnhiễm khuẩn tại bệnh viện
Quản lý chất thải rắn y tế gồm một chuỗi công việc khác nhau, trong đókhâu quan trọng đầu tiên đó là phân loại chất thải rắn y tế Tại các cơ sở y tếđiều dưỡng là người thường xuyên thực hiện các thủ thuật trên người bệnh, làđối tượng thường xuyên trực tiếp tiến hành phân loại chất thải rắn y tế, vì vậyvấn đề phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu đánh giá kiến thức, thực hành phânloại chất thải rắn y tế của nhân viên y tế Theo nghiên cứu của Nguyễn VănQuảng Châu (2014) tại bệnh viện đa khoa huyện Lấp Vò- Đồng Tháp cho thấykiến thức cơ bản về quản lý chất thải rắn y tế là 76.6%, kiến thức về phân loại71,7 %, và thực hành về phân loại là 72.5%[2] Theo nghiên cứu Nguyễn ThịHương (2015) tại Bệnh viện Xanh Pôn có 100% điều dưỡng đã được tập huấnquy chế về phân loại, 71.43 % điều dưỡng hiểu biết đầy đủ 4 mã màu dụng cụđựng, 63.27 % điều dưỡng biết đúng 5 nhóm CTRYT, 48.98% điều dưỡngkhông biết hoặc biết không đúng biểu tượng chất gây độc tế bào, 71,43% điềudưỡng có hiểu biết tốt về phân loại chất thải rắn y tế[3]
Tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn chưa có nghiên cứu nào đánh giá về vấn đề
này Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kiến thức, thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn năm 2020” với mục tiêu:
1. Đánh giá kiến thức, thực hành phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tạiTrung tâm Y tế Nghĩa Đàn
2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phân loại chất thải rắn y tế củađiều dưỡng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Chất thải y tế
1.1.1 Khái niệm chất thải y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các
cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y
tế
1.1.2 Phân loại và xác định chất thải y tế
Theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang pháttriển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chấtthải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắcnhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với
Trang 6các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hóa học và dược phẩm (không kể cácloại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, cácthuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [3].
Ở Mỹ phân loại CTYT thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khảnăng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm
và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được sử dụng trong điềutrị, nghiên cứu…; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác độngvật, các phần cơ thể…); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất gây độc tếbào; Chất thải phóng xạ
Tại Việt Nam, theo thông tư liên tịch 58/2015/TTLT- BYT-BTNMT quyđịnh chất thải y tế bao gốm: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lâynhiễm, chất thải thông thường
a Chất thải lây nhiễm bao gồm:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vếtcắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn củadây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫuthuật và các vật sắc nhọn khác;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứamáu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụđựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ cácphòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thihành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tạiphòng xét nghiệm;
- Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xácđộng vật thí nghiệm
b Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
- Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
- Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguyhại từ nhà sản xuất;
- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thuỷ ngân vàcác kim loại nặng;
- Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
Trang 7- Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMTngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lýchất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT).
c Chất thải y tế thông thường bao gồm:
- Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của conngười và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
- Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danhmục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng
có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại;
- Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
1.1.3 Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế
a Bao bì (túi), dụng cụ (thùng, hộp, can), thiết bị lưu chứa chất thải y tế thựchiện theo quy định sau:
- Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kíchthước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa
- Màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế quy địnhnhư sau:
+ Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm;+ Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hạikhông lây nhiễm;
+ Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thôngthường;
+ Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế
- Bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt không làmbằng nhựa PVC
- Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sửdụng
- Ngoài các quy định trên, thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành,đáy cứng không bị xuyên thủng
- Thùng, hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưuchứa sau khi đã được làm sạch và để khô
1.1.4 Phân loại chất thải y tế
a Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
Trang 8- Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại đểquản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ,thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định tại Điều 5 Thông tư này Trường hợpcác chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và
áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng mộtbao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa;
- Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗnhợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
b Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:
- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụphân loại chất thải y tế;
- Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫncách phân loại và thu gom chất thải
c Phân loại chất thải y tế:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng cólót túi và có màu vàng;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng cólót túi và có màu vàng;
- Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi
1.2 Đặc trưng của CTYT.
Hê ̣thống các bêṇh viêṇ, cơ sở khám chữa bêṇh trên điạ bàn toàn quốcđươc ̣ phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 11 6bêṇh viêṇ đa khoa tuyến trung ương, 25 bêṇh viêṇ chuyên khoa tuyến trungương; điạ phương quản lý 743 bêṇh viêṇ đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 239
Trang 9bệnh viêṇ chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố, 595 bêṇh viêṇ đa khoa quận/huyêṇ/thi ̣xã và 11.810 trung tâm y tế các cấp; các đơn vi ̣khác quản lý 88 Trungtâm/Nhà điều dưỡng/ bêṇ h viêṇ tư nhân (Cuc ̣ Khám chữa bêṇh - Bô ̣Y tế,2009) [2] Mức độ đáp ứng nhu cầu chữa tri ̣tính chung trong cả nước tăng lên rõrêṭ trong những năm gần đây, năm 2005 là 17,7 giường bêṇh/1 vạn dân, đến năm
2009 là 22 giường bêṇh/1 vạn dân (TCTK, 2011) Viêc ̣ tăng số lươṇg giườngbêṇh thưc ̣ tế do tăng nhu cầu về khám chữa bêṇh đồng nghiã với viêc ̣ tăng khốilươṇg CTYT cần phải xử lý [1]
1.2.1 CTYT thông thường.
1.2.1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế (CTRYT).
Nguồn phát sinh CTRYT chủ yếu tại: bệnh viện; các cơ sở y tế (CSYT)khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộsinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm vànghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTRYT đều có tính chấtđộc hại và tính đặc thù khác với các loại CH khác Các nguồn xả chất lây lanđộc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược
Chất thải được phát sinh từ các hoạt động bao gồm: Các hoạt động khámchữa bệnh như: chẩn đoán, chăm sóc, xét nghiệm, điều trị, phẫu thuật; Các hoạtđộng nghiên cứu, thí nghiệm trong các cơ sở y tế; Các hoạt động hằng ngày củanhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà người bệnh [6]
1.2.1.2 Lượng phát sinh CTRYT
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế vàViện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-
2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày
CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng hầu hết các điạ phương, xuất phát từmột số nguyên nhân như: gia tăng số lươṇg CSYT và tăng số giường bêṇh; tăngcường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dânngày càng đươc ̣ tiếp cận nhiều hơn với dic ̣h vụ y tế
Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm
2009, tổng lượng CTRYT phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53kg/giường/ ngày Lươṇg chất thải phát sinh tính theo giường bêṇh cao nhất là
Trang 10bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bêṇh viêṇ Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương và bêṇh viêṇ Tâm thần Trung ương 2 với 0,01kg/giường/ngày
-Lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùythuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyênmôn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng [1]
1.2.1.3 Thành phần CTYT
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặcthù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loạicẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra nhữngnguy hại đáng kể Xét về đặc tính lý hóa thì tỷ lê ̣các thành phần có thể tái chế làkhá cao, chiếm trên 25% tổng lươṇg CTRYT, chưa kể 52% CTRYT là các chấthữu cơ Trong thành phần CTRYT có lươṇg lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩmtương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhưạ chiếm khoảng 10%, vì vậykhi lưạ chọn công nghê ṭhiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khíđộc hại [1]
a, Thành phần vật lý:
Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau:
Bông vải sợi: Gồm bông băng, gặc, quần áo, khăn lau, vải trải…
Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền, túi đựng hàng Thủy tinh: Ốngnghiệm, bơm tiêm thủy tinh, chai lọ, ống tiêm
Kim loại: Dao kéo mổ, bơm tiêm kim loại…
b, Thành phần hóa học:
Thành phần hóa học của CTRYT gồm 2 loại sau:
Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử
Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc
c, Thành Phần sinh học:
Máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ
1.2.2 CTYT nguy hại
1.2.2.1 Phát sinh CTYT nguy hại
Trang 11Trong CTRYT, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng CTNH, do nguy
cơ lây nhiễm mầm bêṇ h và hóa chất độc cho con người Lươṇg CTNH y tế phátsinh không đồng đều tại các điạ phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phốlớn Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và vùngTây Bắc Bắc Bộ đươc ̣ gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinhlươṇg thải nguy hại lớn nhất trong cả nước (32%), với tổng lươṇg thải là10.502,8 tấn/năm, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%) Cáctỉnh có mức thải CTNH lớn (> 500 tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự nhưsau: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Viñh Phúc, Đà Nẵng,Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghê ̣An, Phú Thọ, HảiPhòng, Long An [1]
Lươṇg CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa các loại CSYT khác nhau.Các nghiên cứu cho thấy các bêṇh viêṇ tuyến trung ương và tại các thành phốlớn có tỷ lê ̣phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bêṇh viêṇ thuộc Bộ 11
Y tế, tổng lươṇg CTNH y tế cần đươc ̣ xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm16,2% tổng lươṇg CTR y tế Trong đó, lươṇg CTNH y tế tính trung bình theogiường bêṇh là 0,25 kg/ giường/ngày Chỉ có 4 bêṇh viêṇ có chất thải phóng xạ
là bêṇh viêṇ Bạch Mai, bêṇh viêṇ Đa khoa Trung ương Huế, bêṇh viêṇ Đa khoaTrung ương Thái Nguyên và Bêṇh viêṇ K Các phương pháp xử lý đặc biêṭ đốivới CTNH y tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi viêc ̣phân loại chất thải phải đạt hiêụ quả và chính xác [1]
Theo số liêụ điều tra của Cục Khám chữa bêṇh - Bộ Y tế và Viêṇ Kiếntrúc, Quy hoạch Đô thi ̣và Nông thôn - Bộ Xây dưṇ g thưc ̣ hiêṇ năm 2009 -
2010, cũng như số liêụ tổng kết của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thành phầnCTRYT tại các nước đang phát triển có thể thấy lươṇg CTRYT nguy hại chiếm22,5%, trong đó phần lớn là CTR lây nhiễm Do đó, cần xác điṇh hướng xử lýchính là loại bỏ đươc ̣ tính lây nhiễm của chất thải
1.2.2.2 Thành phần CTRYT nguy hại
Theo cục khám chữa bệnh; Bộ Y tế; Viện kiến trúc quy hoạch đô thị vànông thôn, Bộ xây dựng 2010 thành phần CTRYT nguy hại : chất thải phóng xạ0,31%; chất thải lây nhiễm 18%,chất thải hóa học 1%; bình áp suất 3%; chất thảithông thường 78% [1]
1.3 Tác hại và nguy cơ của CTRYT
Trang 121.3.1 Đối với môi trường
1.3.1.1 Đối với môi trường đất
Khi CTRYT được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường khôngđúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thểngấm vào môi trường đất, gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâutrong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lạigặp khó khăn [1]
1.3.1.2 Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ranhững tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom
và vận chuyển chúng phát tán bụi, rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dungmôi, hóa chất vào không khí Ở khâu đốt, chôn lấp phát sinh các loại khí độchại: HX, NO, đioxin, furan… từ lò đốt, và CH4, NH3,H2S…từ các bãi chôn lấp.Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏecủa cộng đồng dân cư xung quanh
1.3.1.3 Đối với môi trường nước
Khi chôn lấp CTRYT không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặcbiệt là CTRYT được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễmnguồn nước ngầm [1]
1.3.2 Đối với sức khỏe
Phơi nhiễm với CTRYT nguy hại có thể gây ra bệnh tật và thương tích.Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với CTNH bao gồm những người làm việc trongcác CSYT, những người ở ngoài các CSYT làm nhiệm vụ vận chuyển CTRYT
và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với CTRYT là những người cónguy cơ tiềm tàng Họ là những cá nhân thường xuyên tiếp xúc trực tiếp hoặcgián tiếp với CTRYT Dưới đây là các nhóm chính có nguy cơ cao:
Bác sĩ, y tá, nhân viên chăm sóc sức khỏe, và các nhân viên trong bệnhviện
Bệnh nhân của các bệnh viện hay các trung tâm chăm sóc sức khỏe
Khách hay người nhà tới bệnh viện hay trung tâm chăm sóc sức khỏeNhân viên trong các dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân hay trung tâm chăm sóc sứckhỏe như giặt là, vận chuyển và xử lý chất thải
Trang 13Nhân viên làm việc ở những thiết bị xử lý chất thải như hố tiêu hay lò đốtchất thải [1]
1.3.3 Tác hại và nguy cơ của CTRYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới
Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162-321trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếpxúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệpcao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong 1 năm, cao hơn hailần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [2]
Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về CTRYT đã đưa ra các số liệu như sau:Tháng 7 năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở khoa nhi không may bịnhiễm virus từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính Tại Nhật Bản
đã ghi nhận 570 trường hợp tương tự như vậy
Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3%những người thu gom rác trong bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn,44,4% những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thugom các chất thải bệnh viện
Shiro Shirato đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản, tổng số hơn
500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan đến chất thải bệnh viện, hơn 400trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào [3]
Đối với nước thải, ở Chi Lê và Pê Ru đã có những nghi ngờ về việc thảinước thải bệnh viện ra cống một cách tùy tiện làm lan truyền dịch tả Những tainạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnh viện bị nhiễm phóng xạ đã được ghinhận bởi các cơ quan truyền thông quốc tế ở thành phố Brasilia năm 1989 [3]
1.3.4 Tác hại và nguy cơ của CTRYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam
Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường, chủ yếu là môitrường nước và không khí [1] Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm(2006): kết quả điều tra quản lý CTRYT tại một số bệnh viện huyện ngoại thành
Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (1998) cho thấy: các chỉ tiêu trongchất thải như COD, NH4, Coliform và Fecal coliform… ở mức độ ô nhiễm nặng
so với tiêu chuẩn cho phép Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh HàNam (2004) lượng vi khuẩn/m3 không khí cao hơn giới hạn cho phép [3]
Trang 14Một số nghiên cứu ở nước ta đã có những đánh giá về tình hình thươngtích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn qua phỏng vấn trựctiếp.
Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường vàkhả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội, cho thấy cóhiện tượng tăng trội nhiều bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnhviện, nhất là các bệnh đường tiêu hóa
Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của CTYT đếnsức khỏe tại 8 bệnh viện huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ônhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh việncao hơn nhóm không bị ảnh hưởng [3]
1.4 Thu gom và phân loại CTRYT tại các CSYT
1.4.1 Nguyên tắc thu gom CTRYT
Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phátsinh chất thải
Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã màu kèm biểutượng theo đúng quy định [6]
1.4.2 Tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển CTR trong các CSYT
1.4.2.1 Mã màu sắc:
Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ
Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ
Màu trắng đựng chất thải tái chế [6]
1.4.2.5 Biểu tượng chỉ loại chất thải
Trang 151.5 Quản lý CTRYT.
1.5.1 Cơ sở pháp lý
Ở nước ta, CTRYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật
do quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng dẫnthực hiện của ngành y tế Bao gồm một số văn bản sau:
-Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật.Điều 39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo
vệ môi trường trong bệnh viện và các CSYT
-Thông tư số 12/2006/QĐ-TTg ngày 26/12/2006, hướng dẫn điều kiệnhành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề mã sốquản lý CTRYT nguy hại
-Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về việc ban hànhdanh mục CTNH, quy định CTRYT nằm trong danh mục CTNH có
mã số 1301, phải đăng ký và quản lý theo quy định đối với CTNH
Trang 16-Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của thủ tướng chínhphủ về việc phê duyệt kế hoạch xử ký triệt để cơ sở gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng, tại quyết định này có 84 bệnh viện trên cả nướcphải thực hiện biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường
-Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTRYT vàthường xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển
Từ năm 1996 đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chấtthải rắn trong bệnh viện, từ năm 1999, đã ban hành riêng quy chế quản
lý CTRYT Đến năm 2007, quy chế này đã được điều chỉnh: Quyếtđịnh số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế Đến năm
2015, quyết định này được thay bởi: Thông tư liên tịch BYT-BTNMT quy định về quản lý chất thải do bộ trưởng bộ y tế- Bộtài nguyên và môi trường ban hành.[2]
58/2015/TTLT Ngoài ra còn nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn khác đối với côngtác quản lý CTRYT như: tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTYT, phí bảo vệmôi trường đối với nước thải…
1.5.2 Thực trạng quản lý CTRYT
1.5.2.1 Phân loại, Thu gom, Vận chuyển CTRYT thông thường
Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT nói chung đã đươc ̣ quan tâm bởi cáccấp từ Trung ương đến điạ phương, thể hiêṇ ở mức độ thưc ̣ hiêṇ quy điṇh ở cácbêṇh viêṇ khá cao
CTRYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bêṇ h trưc ̣ thuộc sự quản lýcủa Bộ Y tế, phần lớn đươc ̣ thu gom và vận chuyển đến các khu vưc ̣ lưu giữ sau
đó đươc ̣ xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hơp ̣ đồng vậnchuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã đươc ̣ cấp phép tại điạ bàn
cơ sở khám chữa bêṇh đó
Đối với các cơ sở khám chữa bêṇh ở điạ phương do các Sở Y tế quản lý,công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa đươc ̣ chú trọng, đặc biêṭ làcông tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (CTRYT thông thường,CTRYT nguy hại )
Trong vận chuyển CTYT, chỉ có 53% số bêṇh viêṇ sử dụng xe có nắpđậy để vận chuyển CTRYT nguy hại; 53,4% bêṇh viêṇ có mái che để lưu giữCTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bêṇh và môi trường
Trang 17Có 95,6% bêṇh viêṇ đã thưc ̣ hiêṇ phân loại chất thải trong đó 91,1% đã
sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh vànhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiêṇ tươṇg phân loại nhầm chất thải,một số loại chất thải thông thường đươc ̣ đưa vào CTRYT nguy hại gây tốn kémtrong viêc ̣ xử lý
Có 63,6% sử dụng túi nhưạ làm bằng nhưạ PE, PP Chỉ có 29,3% sửdụng túi có thành dày theo đúng quy chế
CTRYT đã đươc ̣ chứa trong các thùng đưṇg chất thải Tuy nhiên, cácbêṇh viêṇ có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bêṇh viêṇ
có thùng đưṇg chất thải theo đúng quy chế (bêṇh viêṇ trung ương và bêṇh viêṇtỉnh) Hầu hết ở các bêṇh viêṇ (90,9%) CTR đươc ̣ thu gom hàng ngày, một số 23bêṇh viêṇ có diêṇ tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong viêc ̣ thiết kế lối đi riêng
để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bêṇh viêṇ chất thải đươc ̣ vận chuyểntrong xe có nắp đậy Có 53,4% bêṇh viêṇ có nơi lưu giữ chất thải có mái che,trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý CTRYT [1]
Phương tiêṇ thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưađạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàngnày, do vậy mua sắm phương tiêṇ thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bêṇhviêṇ gặp khó khăn Theo báo cáo của JICA (2011), các CSYT của 5 thành phốđiển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầuhết các bêṇh viêṇ sử dụng thùng nhưạ có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vậnchuyển bằng tay khác Một số khu vưc ̣ lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặctại các khu vưc ̣ xử lý bên ngoài đươc ̣ trang bi ̣điều hoà và hê ̣thống thông giótheo Quy điṇh
Nhìn chung các phương tiêṇ vận chuyển CTRYT còn thiếu, đặc biêṭ làcác xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại từ bêṇ h viêṇ ,CSYT đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thi ̣đảm nhiêṃ,không có các trang thiết bi ̣đảm bảo cho quá trình vận chuyển đươc ̣ an toàn [3]
1.5.2.2 Xử lý và tái chế CTRYT thông thường
CTRYT không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công tymôi trường đô thi ̣thu gom, vận chuyển và đươc ̣ xử lý tại các khu xử lý CTR tậptrung của điạ phương
Trang 18Hoạt động thu hồi và tái chế CTRYT tại Viêṭ Nam hiêṇ đang thưc ̣ hiêṇkhông theo đúng quy chế quản lý CTRYT đã ban hành Chưa có các cơ sở chínhthống thưc ̣ hiêṇ các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động
y tế ở Viêṭ Nam Quy chế Quản lý CTRYT (2007) đã bổ sung nội dung tái chếCTRYT không nguy hại làm căn cứ để các CSYT thưc ̣ hiêṇ Tuy nhiên, nhiềuđiạ phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy viêc ̣ quản lý tái chế các CTRYT khôngnguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liêụ từ chất thải bêṇh viêṇ như:chai dic ̣h truyền chứa dung dic ̣h huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%),huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dic ̣h acide amine, các loại muối khác;các loại bao gói nilon và một số chất nhưạ khác; một số vật liêụ giấy, thuỷ tinhhoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế viêc ̣ thiêu đốt chấtthải gây ô nhiễm Năm 2010, đã phát hiêṇ nhiều hiêṇ tươṇg đưa CTRYT rangoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Viêc ̣ tái sử dụngcác găng tay cao su, các vật liêụ nhưạ đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho nhữngngười trưc ̣ tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua vànhững người tái chế phế liệu [1]
1.5.3.3 Xử lý và tiêu hủy CTRYT nguy hại
Khối lươṇg CTRYT nguy hại đươc ̣ xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổnglươṇg phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn(32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộngđồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiêp ̣ xử lýCTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTRYT nguyhại cho toàn bộ CSYT trên điạ bàn CTRYT nguy hại của các tỉnh, thành phốkhác hiêṇ đươc ̣ xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một số điạ phươngnhư Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bi ̣cho cụmbêṇh viêṇ , chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thi ̣tổ chứcvận hành và thu gom xử lý CTRYT nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghê ̣An
có lò đốt đặt tại bêṇh viêṇ tỉnh xử lý CTRYT nguy hại cho các bêṇh viêṇ khácthuộc điạ bàn thành phố, thi x ̣ã [3]
Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTRYT nguy hại tập trung tại khu
xử lý chung của thành phố Tỷ lê ̣lò đốt CTRYT phân tán đươc ̣ vận hành tốt chỉchiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò đươc ̣ trang bi, ̣ có vùng chỉ đạt 20% Nếu xétmức độ xử lý của các CSRYT theo tuyến trung ương và điạ phương, các sở sởtrưc ̣ thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử lý CTRYT nguy hại cao 25 hơn hẳn các
Trang 19cơ sở tuyến điạ phương Bên cạnh lí do về công nghê ̣và trình độ quản lý, thìthiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phântán không đạt hiêụ quả.
Nhìn chung các lò đốt CTRYT nguy hại còn nhiều hạn chế, tập trung vàocác vấn đề sau: Chi phí đầu tư, hiêụ suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn.Giá nhiên liêụ quá cao dẫn đến nhiều cơ sở không đốt hoặc đốt không đảm bảo.Thiếu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiêụ suất đốt và chất thải (khí, tro,nước thải từ bồn ngưng tụ xử lý khí) Hơn nữa, do chất đốt thường đươc ̣ sử dụng
là dầu Diezel nên rất khó đảm bảo đủ và đúng yêu cầu nhiêṭ độ khi vận hành(nhiêṭ tri ̣của dầu thấp, và bắt buộc phải lưu thông khí khi đốt) Nếu phân loạirác không đúng sẽ gây tốn kém khi đốt cả rác thường, không kiểm soát đươc ̣ khíthải lò đốt, dẫn đến phí xử lý khí thải lớn
Hiêṇ nay có hai loại công nghê ̣thân thiêṇ với môi trường chủ yếu đươc ̣lưạ chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghê ̣khử khuẩn bằng nhiêṭ ẩm(autoclave) và công nghê ̣có sử dụng vi sóng Trong đó, công nghê ̣sử dụng visóng kết hơp ̣ hơi nước bão hòa là loại công nghê ̣tiên tiến nhất hiêṇ nay bởi cóhiêụ quả khử tiêṭ khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, hiêṇ đang đươc ̣ áp dụngtại Trung tâm y tế Viesovpetro Vũng Tàu Điṇh hướng trong tương lai sẽ hạn chếviêc ̣ sử dụng các lò đốt để xử lý CTRYT nguy hại, từng bước thay thế chúngbằng các thiết bi ̣sử dụng công nghê ̣khử khuẩn bằng nhiêṭ ướt, vi sóng hoặc cácphương pháp tiên tiến khác [1]
1.6 Một số nghiên cứu liên quan
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Liên (2009) về thực trạng và một số yếu
tố liên quan đến quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên:Nghiên cứu tiến hành trên 2 nhóm đối tượng nghiên cứu nhóm 1 bao gồm: bác
sỹ, kỹ thuật viên, điều dưỡng, y tá); nhóm 2 bao gồm hộ lý và vệ sinh viên[4]
-77,1% đối tượng tham gia nghiên cứu đã được tâp huấn về quản lý 26CTYT
-Tỷ lệ người có hiểu biết đầy đủ 5 nhóm CTRYT ở nhóm 1 đạt 13,9%, ởnhóm 2 đạt 12,1%; tỷ lệ người có hiểu biết đúng từ 1 -4 nhóm CTRYT
ở nhóm 1 là 2,5%, nhóm 2 là 1,15% và 83,6% ở nhóm 1, 86,8% ởnhóm 2 không biết hoặc biết không đúng cả 5 nhóm CTRYT
Trang 20-15,4% người ở nhóm 1 và 16,5% người ở nhóm 2 có hiểu biết đầy đủ cả
4 mã màu dụng cụ đựng CTRYT Tỷ lệ người biết đúng từ 1-3 mã màu
ở nhóm 1 là 3%, nhóm 2 chỉ đạt 1,1%; và có 15,45 người ở nhóm 1 và16,5% người ở nhóm 2 không biết hoặc biết không đúng mã màu nào
-Theo nghiên cứu của Đặng Thị Kim Loan (2010) Đánh giá tình hìnhquản lý CTRYT trên địa bàn huyện Long Thành[5].:
-Tỷ lệ nhân viên y tế có hiểu biết đúng về phân loại CTRYT thành 5nhóm (chất thải lây nhiễm, chất thải hoá học nguy hại, chất thải phóng
xạ, chất thải thông thường và bình chứa áp suất) chiếm 55,6%, biếtdưới 5 nhóm chiếm 44,4%
-Tỷ lệ nhân viên y tế có hiểu biết đúng về mã màu thùng đựng chấtCTRYT có 4 màu chiếm 56,4%, hiểu biết sai 3 màu (21,1%) và 2 màu(22,4%) Nhân viên y tế có hiểu biết đúng về mã màu túi đựng CTYT
có 4 màu chiếm 60,0%, hiểu biết sai 3 màu (21,6%) và 2 màu (18,4%)
-Theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm (2006) tại 11 bệnh viện tuyếnhuyện tỉnh Hải Dương: có 56,1% nhân viên y tế biết phân loại CTYTthành 5 nhóm ở bệnh viện đã được xử lý chất thải, 37,3% ở bệnh việnchưa xử lý
Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 212.1. Đối tượng nghiên cứu
Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên (gọi chung là: điều dưỡng) đang côngtác tại TTYT Nghĩa Đàn thực hiện phân loại CTYT trong thời gian nghiên cứu
* Tiêu chuẩn chọn vào nhóm nghiên cứu:
- Là nhân viên chính thức của TTYT Nghĩa Đàn
- Có tham gia phân loại CTYT
*Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không phải là nhân viên chính thức của TTYT Nghĩa Đàn
- Không thực hiện tham gia phân loại CTYT
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: tại các khoa: Khám bệnh, Nôi- Lây- Đông y, HSCC Nhi,Ngoại- 3CK, Sản TTYT Nghĩa Đàn
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 9 năm 2020
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu theo phương pháp: mô tả cắt ngang
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Trang 22- Phương pháp thu thập:
+ Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua phiếu điều tra
+ Quan sát trực tiếp quá trình thực hành phân loại CTRYT
+ Quan sát mỗi điều dưỡng viên thực hiện phân loại CTRYT:
Quan sát mỗi điều dưỡng viên thực hiện phân loại CTRYT một lần, ngườiquan sát không tác động đến người thực hiện, người thực hiện không biết lầnphân loại nào được quan sát
Chọn ngẫu nhiên lần phân loại CTRYT của điều dưỡng viên (khi ngườiđiều dưỡng tiến hành các thủ thuật như: tiêm, truyền, thay băng, cho người bệnh
ăn qua sonde, hút đờm dãi…)
* Tiêu chí đánh giá: Căn cứ theo thông tư liên tịch số 58//2015/TTLT-
BYT-BTNMT ngày 31/12/2015
- Đánh giá kiến thức phân loại CTYT của điều dưỡng:
Căn cứ theo quy định về phân loại CTRYT, mã màu quy định, biểu tượngchỉ loại CTRYT:
Quy định thang điểm: 1 điểm cho 1 tiêu chí được xác định đúng Tất cả có
14 tiêu chí tương ứng với tổng số điểm tối đa là 14, (tương ứng từ câu hỏi 09đến câu 23 trong Phụ lục 1) bao gồm:
+ Mỗi 1 nhóm CTRYT là một tiêu chí: theo quy định có 3 nhóm CTRYT,
sẽ có 3 tiêu chí (tương ứng từ câu hỏi 10 đến 12 trong phụ lục 1)