1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU NHÀ NƯỚC VĂN LANG QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU

32 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 512,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt khoa học: Trên cơ sở những tư liệu lịch sử phục dựng bức tranh toàn cảnh về công cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và triều vua Minh Mạng, qua đó làm rõ nguyên nhân dẫn đến cải cách, nội dung, kết quả và hạn chế của nó có tác động đối với xã hội nước ta nửa sau thế kỉ Về mặt thực tiễn: Hiện nay, vấn đề cải cách nền hành chính quốc gia đang được đặt ra rất cấp thiết. Khảo sát và đánh giá một cách hệ thống công cuộc cải cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tông và triều vua Minh Mạng không chỉ là đáp ứng nhu cầu hiểu biết mà còn giúp chúng ta tìm hiểu để kế thừa, phát huy, phát triển những kinh nghiệm và tránh những sai lầm của quá khứ để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, cộng thêm quá trình tổng kết một cách sơ bộ những tài liệu khoa học liên hệ đến vấn đề cải cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tông và triều vua Minh Mạng, tôi xin chọn đề tài “Nhà nước Văn Lang qua các nguồn tư liệu” để tiến hành nghiên cứu. Do đây chỉ là bài tiểu luận nhỏ nên bị giới hạn về nội dung cũng như thời gian thực hiện và cách tiếp cận tư liệu, chắc chắn kết quá thực hiện có thiếu xót, cần phải đóng góp thêm, kính mong quý Cô giúp đỡ để hoàn thiện hơn.

Trang 1

NHÀ NƯỚC VĂN LANG QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục địch và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng: 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu: 3

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Bố cục 4

Chương 1 CUỘC ĐỜI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG 5

1.1 Lê Thánh Tông (1442 - 1497) 5

1.2 Minh mạng 7

Chương 2 SO SÁNH CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG 10 2.1 Giống nhau 10

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử 10

2.1.2 Nội dung cải cách 10

2.1.3 Kết quả 11

2.2 Khác nhau 11

2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử 11

2.2.2 Nội dung cải cách 13

2.2.3 Kết quả, hạn chế 19

Chương 3 ĐÁNH GIÁ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 22

3.1 Đánh giá chung về hai cuộc cải cách hành chính 22

3.2 Bài học kinh nghiệm từ hai cuộc cải cách hành chính 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề tổ chức hành chính quốc gia là một trong những vấn đề then chốt của mọi chế độ chính trị trong lịch sử Xã hội luôn luôn vận động, vì vậy, nền hành chính cũng phải luôn luôn có sự điều chỉnh, cách tân để đáp ứng sự biến đổi của xã hội Do đó, trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, cùng với sự biến đổi của thể chế chính trị - xã hội, thường dẫn đến những cải cách từng phần hoặc toàn diện nền hành chính trên phạm vi toàn quốc

Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu sau:

Về mặt khoa học: Trên cơ sở những tư liệu lịch sử phục dựng bức tranh toàn

cảnh về công cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và triều vua Minh Mạng, qua đó làm rõ nguyên nhân dẫn đến cải cách, nội dung, kết quả và hạn chế của nó có tác động đối với xã hội nước ta nửa sau thế kỉ

Về mặt thực tiễn: Hiện nay, vấn đề cải cách nền hành chính quốc gia đang được

đặt ra rất cấp thiết Khảo sát và đánh giá một cách hệ thống công cuộc cải cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tông và triều vua Minh Mạng không chỉ là đáp ứng nhu cầu hiểu biết mà còn giúp chúng ta tìm hiểu để kế thừa, phát huy, phát triển những kinh nghiệm và tránh những sai lầm của quá khứ để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay

Chính vì vậy, cộng thêm quá trình tổng kết một cách sơ bộ những tài liệu khoa học liên hệ đến vấn đề cải cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tông và triều vua

Minh Mạng, tôi xin chọn đề tài “Nhà nước Văn Lang qua các nguồn tư liệu” để tiến

hành nghiên cứu Do đây chỉ là bài tiểu luận nhỏ nên bị giới hạn về nội dung cũng như thời gian thực hiện và cách tiếp cận tư liệu, chắc chắn kết quá thực hiện có thiếu xót, cần phải đóng góp thêm, kính mong quý Cô giúp đỡ để hoàn thiện hơn

Trang 4

hay sự liên lạc giữa các cơ quan đó với nhau Trong “Đại Việt sử kí toàn thư” do Ngô

Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn viết về lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến triều Nguyễn, tuy nhiên chủ yếu là nêu sự kiện, không trình bày riêng lẻ về cải cách hành chính của Lê Thánh Tông

Tác phẩm Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam của tác giả Văn Tạo Tác phẩm đề cập đến mười cuộc cải cách trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam bắt đầu từ họ Khúc, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Trịnh Cương, Minh Mạng, Nguyễn Trường Tộ đến Phong trào đổi mới đầu thế kỷ XX

Sách Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn (nhiều tác giả) Nội dung chính mà các tác giả đề cập đến là quá trình chuyển biến trong nhận thức của các nhân vật như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ… trước bối cảnh của đất nước nửa cuối thế kỷ XIX

Hai tác giả Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Hồng xuất bản tác phẩm Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin) Trong công trình này, hai tác giả đã nghiên cứu một số nhà canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ… Đáng chú ý là tác giả Đinh Xuân Lâm dành 10 trang để trả lời câu hỏi: Có một xu hướng đổi mới ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX không?

Trong số những nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX, còn công trình Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới (từ giữa thế

kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) của Hải Ngọc Thái Nhân Hòa (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005) Sách dày 411 trang, ngoài phần Mở đầu, nội dung được chia làm 3 phần cũng là

3 đối tượng khảo cứu của tác giả gồm: Xu hướng canh tân (cuối thế kỷ XIX), phong trào duy tân (đầu thế kỷ XX) và Sự nghiệp đổi mới (thời hiện đại) Trong phần viết về

“xu hướng canh tân” (từ trang 29 đến trang 69), Hải Ngọc Thái Nhân Hòa đã điểm những nét chính trong cuộc đời và tư tưởng của các nhân vật: Phạm Phú Thứ, Nguyễn

Tư Giản, Trần Đình Túc, Nguyễn Thông, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điền, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Công Trứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch và Nguyễn Trường Tộ Tác giả khẳng định: các kiến nghị, điều trần canh tân, đổi mới “đã nói lên tâm huyết của các quan viên trong triều và ngoài nội, hợp thành dòng yêu nuớc theo xu hướng canh tân ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XIX” (trang 64); “dù nhỏ hay lớn đều chứa đựng những tiến

Trang 5

bộ nhất định, đem lại lợi ích thiết thân đối với xã hội đương thời, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đang ở trong tình thế khó khăn, đầy thử thách” (trang 65) Có thể khẳng định: Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới” (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) đã có cái nhìn tổng quát về xu hướng canh tân, “đánh dấu một thời kỳ phát triển tư duy đất nước, phản ánh tinh thần yêu nước, thương dân của một

số quan viên trong triều và giáo dân ngoài xã hội”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông Và Minh Mạng rút ra được đặc điểm riêng trong cải cách của từ ông, các cuộc cải cách dựa trên cơ sở,

kế thừa của các cuộc cải cách trước làm nền tảng cho cho cải cách của mình Từ chỗ

so sách điểm giông và khác nhau khôngg những thấy rõ được đặc điểm mà còn hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về thờ kỳ lịch sử lúc bấy giờ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua đề tài, nhằm giúp phục dựng lại một cách hệ thống, toàn diện công

cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng

Từ bối cảnh lịch sử, nội dung, kết quả và hạn chế công cuộc cải cách hành chính

từ trung ương đến địa phương Qua đó bước đầu hệ thống, đánh giá, nhận xét và bài học kinh nghiệm của công cuộc cải cách hành chính để người đọc hiểu tại sao đây là những cuộc cải cách hành chính toàn diện, là “khuôn vàng thước ngọc” cho thời kì sau noi theo,nhưng cũng có chỗ sai lầm cần phải lưu ý

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng:

Đề tài tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và triều vua Mạng Mạng từ dó rút ra điểm giống và khác nhau

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời vua Lê

Thánh Tông trị vì (1442 – 1522) và thời vua Minh Mạng trị vì (1820-1840)

Về mặt không gian: Đề tài đi sâu tìm hiểu cải cách hành chính Lê Thánh Tông và Minh Mạng trong phạm vi nước ta thời bấy giờ

Trang 6

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Trước hết, để nghiên cứu các sự kiện một cách khách quan và chân thực, tiểu luận dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử tư tưởng dân tộc

Mặt khác, do đây là một đề tài lịch sử nên tiểu luận đã sử dụng phương pháp lịch

sử và phương pháp logic trong khi tiếp cận, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề đặt

ra, kết hợp phương pháp so sánh, phương pháp vừa phân tích vừa tổng hợp Kết hợp bình luận, miêu tả Ngoài ra còn sử dụng phương pháp sơ đồ hoá để trình bày một cách

cụ thể, dễ hiểu vấn đề nêu ra

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài bước đầu hệ thông và đánh giá, đư ả bài học kinh nghiệm về công cuộc cải cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tông và Minh Mạng

Trên cơ sở những tư liệu sử học và các nguồn tư liệu khác, đề tài cố gắng làm rõ

và phục dựng công cuộc cải cách hành chính nói riêng và bộ máy hành chính từ trung ương đến dịa phương cũng như các cải cách khác

Đề tài cung cấp những cơ sơ khoa học góp phần giới thiệu và đánh giá lại vị trí của vương triều Nguyễn mà Minh Mạng là chủ thể được đề cập nhiều nhất so sách với cải cách của Lê Thánh Tông

7 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của tiểu luận được trình bày trong ba chương sau:

Chương 1: Cuộc đời của Lê Thánh Tông và Minh Mạng

Trình bày cuộc đờ và sự nghiệp của Lê Thánh Tông và Minh Mạng để thấy rõ thân thế và hệ tư tưởng của từng ông để thấy được lối của họ áp dụng vào cải cách

Chương 2: So sánh cải cách của Lê Thánh Tông và Minh Mạng

So sánh điểm giống và khác nhau của bối cảnh lịch sử, nội dung, kết quả và hạn chế công cuộc cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương Qua đó bước đầu hệ thống, đánh giá, nhận xét và bài học kinh nghiệm của công cuộc cải cách

Chương 3: Đánh giá chung, bài học kinh nghiệm

Đánh giá chung về kết quả cũng như hạn chế của hai cuộc cải cách từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng cho sau này

Trang 7

Chương 1 CUỘC ĐỜI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG

1.1 Lê Thánh Tông (1442 - 1497)

Tên tuổi và sự nghiệp Lê Thánh Tông gắn chặt với một giai đoạn cường thịnh

của Việt Nam ở nửa sau thế kỷ 15

Lê Thánh Tông tên là Tư Thành, hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại nhà ông ngoại ở khu đất chùa Huy Văn Hà Nội ngày nay, mất ngày 30 tháng giêng

năm Đinh Tỵ (1497)

Thánh Tông lên làm vua năm 1460, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận 1469) và Hồng Đức (1470-1497) Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược"

(1460-Về phương diện văn học, Lê Thánh Tông là một nhà thơ lớn, tác phẩm ông để lại rất phong phú, vừa thơ, vừa văn xuôi, vừa Hán, vừa Nôm, hiện còn được sao chép trong các tập: Thiên Nam dư hạ (trong đó có bài phú nổi tiếng Lam Sơn Lương Thủy phú), Châu Cơ thắng thưởng Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn

Nhà cải tổ và xây dựng đầy nhiệt huyết Nhờ sự ủng hộ sáng suốt, quyết liệt của nhóm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt , Lê Thánh Tông đã bước lên ngai vàng giữa lúc triều chính nhà Lê đang lục đục mâu thuẫn Lên nắm chính quyền, Lê Thánh Tông nhanh chóng chấm dứt tình trạng phe phái trong cung đình, khẩn trương tổ chức xây dựng đất nước với một tinh thần cải cách mạnh mẽ, táo bạo Về cơ cấu chính quyền các cấp, ông đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo đổi thành 12 đạo (tức 12 thừa tuyên) Bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất hoang Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông đã được phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế Dưới thời Lê Thánh Tông, lực lượng quốc phòng bảo vệ đất nước được tăng cường hùng hậu Trước kia, quân đội chia làm 5 đạo

Trang 8

vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc Mỗi phủ có vệ, sở Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương 43 điều quân chính Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao

Người khởi xướng bộ luật Hồng Đức Bộ luật Hồng Đức là một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của sự nghiệp Lê Thánh Tông và của cả thời đại ông Sự ra đời của bộ luật Hồng Đức được xem là sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của xã hội Việt Nam hồi thế kỷ 15 Lê Thánh Tông, người khởi xướng luật Hồng Đức, là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành Ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con Lê Thiệt giữa ban ngày phóng ngựa trên đường phố

và dung túng gia nô đánh người Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng: "Pháp luật là phép tắc chung của Nhà nước, ta và các người phải cùng tuân theo"

Người phát triển những giá trị văn hóa dân tộc Về phương diện văn hóa Lê Thánh Tông đã có công tạo lập cho thời đại một nền văn hóa với một diện mạo riêng, khẳng định một giai đoạn phát triển mới của lịch sử văn hóa dân tộc Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài ở Việt Nam thời phong kiến, chưa bao giờ nền giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng như vai trò của trí thức lại được đề cao như đời Lê Thánh Tông Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn

Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tông là Tao Đàn chủ soái

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam dư hạ là những giá trị văn hóa tiêu biểu của triều đại Lê Thánh Tông

Nói tới công lao của ông đối với nền văn hóa dân tộc, không thể không kể đến một việc có ý nghĩa lịch sử mà ông đã làm Đó là việc ông hủy án minh oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi đã bị tiêu hủy sau vụ án "Lệ Chi viên" Chính Lê Thánh Tông đã cho tạc bia về Nguyễn Trãi: "ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" (Tấm lòng ức Trai sáng tựa sao Khuê)

Một nhà thơ hào tráng Đứng đầu hội văn học Tao Đàn, Lê Thánh Tông cũng dẫn đầu phong trào sáng tác Thơ Lê Thánh Tông để lại khá nhiều và có giá trị cao về nội

Trang 9

dung tư tưởng Qua thơ ông, chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn nhân cách, tâm hồn ông, một tâm hồn gắn bó mật thiết với non sông, đất nước, với nhân dân, với những truyền thống anh hùng của dân tộc, của Tổ tông, mà còn thấy được khí phách cả một thời đang vươn lên, đầy hào tráng:

“Nắng ấm nghìn trượng tỏa trên ngọn cờ,

Khí thế ba quân át cày cáo

Phương Đông Mặt trời mọc, áng mây nhẹ trôi, Phóng mắt ngắm núi sông muôn dặm

(Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần biển Đông)”

Lê Thánh Tông làm vua lúc 19 tuổi Một năm sau, khi trách lỗi cựu thần Ngô Sĩ

Liên, Nghiêm Nhân Thọ, vị hoàng đế 20 tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang của Trung Quốc thời xưa, thế là ngươi theo đường chết, mang lòng không vua" Đó là tiếng nói của một ý chí tự cường

dân tộc, động lực mãnh liệt đưa Lê Thánh Tông đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây

dựng, phát triển đất nước hồi thế kỷ 15

1.2 Minh Mạng (1820 – 1840)

Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mạng (25 tháng 5, 1791 – 20 tháng 1, 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ Nhân Hoàng đế là vị Hoàng đế thứ hai (ở ngôi từ 1820 đến 1841) của nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Ông tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu, là vị vua anh minh nhất của nhà Nguyễn

Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập

và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành,

Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam Triều đình đã phải đối phó vất vả với những cuộc nổi dậy ấy

Trang 10

Ngoài việc trừ nội loạn, Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài Ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra Do không có thiện cảm với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây, nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo Thụy hiệu do vua con Thiệu Trị đặt cho ông là Thể thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đoán Sáng thuật Đại thành Hậu trạch Phong công Nhân Hoàng đế

Nguyễn Phúc Đảm là con trai thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu Trần Thị Đang Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5,

1791 tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1787-1802)

Con thứ hai của Gia Long là hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh mất sớm năm

1801 Do thái tử Cảnh và người con chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Cơ Đốc từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình (con Cảnh) làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình

Mặc dù có nhiều đình thần phản đối nhưng vua Gia Long vẫn quyết chọn Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Cơ Đốc và không có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long Năm

1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà

để quen với việc trị nước

Tháng 12 năm Kỷ Mão (đầu năm 1820), vua Gia Long qua đời Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng Bấy giờ ông đã 30 tuổi nên rất am hiểu việc triều chính Nhiều lần sau buổi chầu, ông cùng một vài quan đại thần ở lại để bàn việc, hoặc hỏi về các sự tích xưa, hoặc hỏi về những nhân vật cùng phong tục các nước khác

Trang 11

Nguyễn Thánh Tổ được xem là một vị vua siêng năng, luôn thức khuya dậy sớm

để xem xét công việc, có khi thắp đèn đọc sớ chương ở các nơi gởi về đến trống canh

ba mới nghỉ Ông thường bảo với các quan:

“Lòng người, ai chả muốn yên hay vì chuyện sinh sự để thay đổi luôn, lúc trẻ tuổi còn khoẻ mạnh mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu thì còn mong làm gi được nữa Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.”

Thật vậy, trong suốt thời gian trị vì của mình, vua Minh Mạng đã thay đổi rất nhiều việc, từ nội trị, ngoại giao cho đến những cải cách xã hội cùng những việc trong dòng họ

Minh Mạng đã xin triều đình Mãn Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam ngụ ý một nước Nam rộng lớn Tuy nhiên triều đình Mãn Thanh không chính thức chấp thuận Đến ngày 15 tháng 2 năm 1839, nhận thấy Mãn Thanh suy yếu, Minh Mạng đã chính thức công bố quốc hiệu Đại Nam Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945

Trang 12

Các cuộc cải cách dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng là tương đối toàn diện và kết quả là rất đáng kể Các cuộc cải cách đã mang lại sự hưng thịnh cho đất nước, tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế đất nước phát triển, dân trí được nâng cao, năng lực quốc phòng được tăng cường, chế độ quân chủ trung ương tập quyền được củng cố, bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn trước

2.1.2 Nội dung cải cách

Các cuộc cải cách này đã xây dựng được chế độ quân chủ trung ương tập quyền mạnh, quyền lực trong nước thuộc về nhà vua Vua có quyền tối cao trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Vua nắm trong tay quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và cả quyền thống lĩnh quân đội Vua là biểu tượng của uy quyền tối thượng và toàn năng đối với các thần dân Nhà nước được tổ chức thành một hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương Trong bộ máy ấy vai trò của nhà nước trung ương rất lớn, có sức chi phối mạnh mẽ tới bộ máy chính quyền ở các địa phương Vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng đã chú trọng xây dựng bộ máy hành chính nhà nước gọn nhẹ, được tổ chức chặt chẽ thành một guồng máy vận hành thống nhất từ trung ương đến địa phương Trong hệ thống bộ máy hành chính nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan được phân định cụ thể, không có hiện tượng dẫm đạp lên chức năng, nhiệm vụ của nhau, không có hiện tượng có tổ chức mà không

có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng

Trang 13

Để bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả, các ông rất quan tâm xây dựng đội ngũ quan lại hiền tài, trung thành với triều chính, coi đó là yếu tố quan trọng nhất để cải cách hành chính thành công Để có được đội ngũ quan lại như vậy, các ông

đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, như chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài; tuyển chọn, tiến cử quan lại; xây dựng bộ máy kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật khách quan, công bằng; đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn bè phái, hối lộ, tham nhũng

2.1.3 Kết quả

Các cuộc cải cách đã mang lại cho đất nước ta một trang sử mới Đất nước ta phát triển 1 cách vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống – kinh tế - chính trị - quân sự - quốc phòng – văn hóa – xã hội Bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương được kiện toàn mộtc cách hoàn chỉnh, có nhiều thay đổi tốt hơn so với các triều đại trước, thể hiện sự chặt chẽ trong bộ máy hành chính của nước ta

Quyền lực được tập trung vào trong tay nhà Vua, quản lý mọi mặt của đất nước Đời sống của nhân dân đươc quan tâm, chăm sóc hơn trước, quan tâm đến vấn đề ruộng đất cho nhân dân, đời sống được nâng cao, cuộc sống đầy đủ không còn chịu cảnh đói rét, bần hàn như trước nữa Nền kinh tế công- thương nghiệp của nước ta thời

Lê Sơ phát triển rất mạnh mẽ

Quan hệ hàng hóa – tiền tệ cũng như đồng tiền đã tác động vào xã hội vào hệ thông quan lại, từng bước gây nên sự đổi thay trong chế độ chính trị và sự ổn định của đất nước.Vấn đề quân đội – quốc phòng ngày càng được xây dựng và củng cố vững mạnh, hình thành 1 lực lượng phòng bị bảo vệ tổ quốc đông đảo tránh nguy cơ xâm lược của kẻ thù Quan lại đươc lựa chọn cẩn thận, có năng lực thông qua thi cử, có khả năng giúp việc cho vua và phục vụ nhân dân

2.2 Khác nhau

2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử

Lê Thánh Tông

Sau khi triều đại nhà Hồ bị sụp đổ bởi quân xâm lược Minh, và cuộc cải cách của

Hồ Quý Ly cũng đi vào thất bại bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng cơ bản nhất vẫn là do giặc Minh xâm lược nước ta vào cuối 1406 đầu 1407

Trải qua gần 22 năm đặt ách xâm lược giặc Minh đã bị đánh đuổi về nước, tháng

4 năm 1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, mở đầu cho triều đại nhà Lê Trải qua các đời

Trang 14

vua Thái Tổ (1428-1433), Thái Tông (1434-1442), đất nước đang dần được khôi phục Năm 1460, Lê Thánh Tông lên ngôi kế thừa những thành quả của triều đại trước, có những điều kiện mới để xây dựng đất nước, song cũng đứng trước những khó khăn thử thách và có nguy cơ đưa xã hội đi vào khủng hoảng như thời cuối nhà Trần

Như vậy xét về điểm xuất phát thì Lê Thánh Tông đã có phần danh nghĩa hơn Hồ Quý Ly, bởi lẽ ông đã danh chính ngôn thuận là con cháu nối nghiệp của nhà họ Lê, còn Hồ Quý Ly đã từng bước dùng những thủ đoạn để chiếm đoạt ngôi báu của nhà Trần trong thời suy vong Nhà Trần đã quá nhu nhược và suy yếu để nhà Hồ từng bước nắm giữ quyền hành trong triều, âu cũng là một tất yếu của lịch sử Song ở đây ta không bàn đến thế nước rơi vào tay ai, mà ở đây ta nói đến hoàn cảnh để dẫn đến sự ra đời cuộc cải cách cảu vua Lê Thánh Tông

Nếu như nói Hồ Quý Ly tiến hành cuộc cải cách ngay trong lúc là quan trọng triều nhà Trần, và ông tiến hành cải cách trong khi xã hội nhà Trần đã quá mục nát, suy vong sau đó ông lên làm vua thì tiếp tục đẩy mạnh cải cách Thì ở đây Lê Thánh Tông tiến hành cải cách khi ông chính thức lên làm vua, và xã tắc, triều đình nhà Lê đang có dấu hiệu suy thoái, trung thần của đất nước bị giết hại, gian thần thì mặc sức kết bè phái cùng nhau bóc lột nhân dân Qua đó cho ta thấy rằng về động cơ để tiến hành cuộc cải cách của cả nhà Hồ và nhà Lê đều xuất phát từ lòng yêu nước, muốn đưa đất nước ra khỏi sự khủng hoảng, để đem lại “Quốc thái dân an”

Trở lại với tình hình xã hội thời Lê thì trong “Trung hưng ký” đã phản ánh như sau: “Nhân Tông mới hai tuổi, sớm lên ngôi vua… kẻ thân yêu giữ việc, tệ hối lộ công hành, phường dốt đặc nổi lên như ong Người trẻ không biêt nghĩ, tự ý làm càn Bán quan mua ngục, ưa giàu, ghét nghèo, bọn dạo sát thì được bổ dụng…”

Nhận thức được thực trạng trên của vương triều và đất nước, với tư chất thông minh, quyết đoán Lê Thánh Tông đã tiến hành chính sách và biện pháp cải cách ý nghĩa trên các mặt như: chính trị, kinh tế xã hội, quân sự, văn hóa, giáo dục Công cuộc cải cách này và kết quả của nó là sự tiếp tục thực hiện định hướng và mục tiêu cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Minh Mạng (1820 – 1840)

Đầu thế kỷ XIX, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là Gia Long, lập ra nhà Nguyễn Nhà Nguyễn đã tiếp tục duy trì chế độ phong kiến đã tồn tại ở nước ta hàng thế kỷ Dưới thời vua Gia Long, bộ máy nhà nước phong kiến đã

Trang 15

vốn đã tồn tại nhiều hạn chế lỗi thời nay lại càng trầm trọng hơn Nền kinh tế hầu như không phát triển lên được theo hướng tiến bộ, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt làm bùng nổ hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, của các dân tộc ít người Tong khi đó, cơ chế hành chính bộc lộ nhiều thiếu sót như cơ chế hành chính còn nhiều tầng, phân cấp hành chính, vẫn giữ cơ chế: dưới trung ương là các cấp thành, trấn, doanh Bắc thành và Gia Định thành cho hai vị Tổng trấn đứng đầu, quyền hạn rất lớn Dẫn tới tình trạng lạm quyền, lộng quyền và có nguy cơ tiêm vị

Trước những khó khăn đó, vua Minh Mạng (1820 – 1840) vị vua thứ hai của triều Nguyễn đã tiến hành cuộc cải cách bộ máy nhà nước trên quy mô lớn nhằm củng

cố quyền lực cũng như khắc phục những khó khăn chồng chất của đất nước Cải cách khối cơ quan văn phòng là một trong số những cải cách lớn của ông

2.2.2 Nội dung cải cách

 Hành chính

Lê Thánh Tông

Nhà nước từ nhà Trần có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ Đời Lê Lợi có 3 bộ: Lại,

Lễ, Dân (Hộ) Lê Thánh Tông tổ chức thành 6 bộ:

Lại: tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan

Lễ: đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo

Hộ: ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng, thóc tiền và lương, bổng của quan, binh

Binh: binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp

Hình: thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc tù, đày, kiện cáo

Công: xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền Xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo đổi thành 13 đạo (thừa tuyên)

Các quan chỉ được làm tối đa đến tuổi 65; bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình công thần Tôn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức

Các bộ luật hành chính được soạn nhiều và đủ Ông làm gương cho nhân dân về tính nghiêm minh của pháp luật không kể ai: "Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi đều phải theo"

Trang 16

Minh Mạng

Ngay từ khi mới lên ngôi, Hoàng đế Minh Mạng đã cho cải định và thiết đặt thêm một số cơ quan trong hệ thống bộ máy hành chính so với các triều đại trước như đổi đặt Văn thư phòng sau đổi làm Nội các để giúp việc; đổi Nội đồ gia thành Nội vụ phủ, Ngoại đồ gia thành Vũ khố; thành lập Cơ mật viện, Đô sát viện, Tôn nhân phủ; chỉnh đốn Lục Bộ, đặt thêm các Khoa; định lại toàn bộ hệ thống quan chế, viên ngạch, phẩm trật, lương bổng; cơ cấu lại tổ chức của hầu hết các cơ quan; đặt thêm nhiều chức danh mới; quy định lại số lượng, viên ngạch cho mỗi đơn vị… Đặc biệt năm Minh Mạng 12-13 (1831-1832), nhà vua thực thi một công cuộc cải cách hành chính lớn, trong đó chia định lại địa hạt trong cả nước; đổi các trấn, đạo thành tỉnh Sau khi phân định lại các địa hạt, vua cho thiết đặt các chức quan coi giữ và định quy tắc làm việc

Nhà vua cũng cho đặt lại các nghi thức thiết triều ở điện Thái Hoà, định lệ thiết triều tham dự tấu việc, quy định chế cấp “Lục đầu bài” cho các nha dâng lên khi cần tâu việc, định lệ các nha phụng giữ bản phê chữ đỏ (châu bản), định lại quy thức văn bản và đệ trình văn bản… Vua là người chăm chỉ mẫn cán, việc chính sự trong ngoài lớn nhỏ đều muốn xét qua, các văn bản quan trọng hầu như đều tự mình nghĩ soạn

Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: Vua sáng suốt cẩn thận về chính thể Những chương sớ trong ngoài tâu lên nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra hoặc châu phê Có bản phê bắt đầu từ đấy Vua thấy từ trước tới nay chương sớ 4 phương tâu lên, các bộ

thần đều mở phong bì phụ xem trước, thấy việc gì không quan trọng thì bỏ không tâu, bèn sắc cho Lục Bộ từ nay chương sớ có cái nào không hợp cũng đem việc trình rõ, không được tự ý bác đi để đề phòng sự che lấp Vua chuẩn định các chiếu văn khi ban

bố đều phải niêm yết ở Phu văn lâu, các Tri huyện 3 huyện trong Kinh kỳ phải dẫn kỳ lão, hương lý, thân hào đến trước lầu để lạy xem Vua lại cho đặt thêm các trạm dịch ở Kinh và các tỉnh để việc chuyển phát công văn giấy tờ giữa các cơ quan được nhanh chóng kịp thời

Có thể nói, Minh Mạng là vị Hoàng đế rất chuyên cần, tâm huyết; đặc biệt ông là người rất năng động và sáng tạo Những cải cách trong thời đại ông trị vì được các nhà nghiên cứu lịch sử so sánh với cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và đánh giá

là một trong hai cuộc cải cách có quy mô lớn nhất và đạt hiệu quả cao nhất trong lịch

Ngày đăng: 19/02/2022, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Minh Cảnh (1997), “ Những cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ X đến nữa đầu thế kỷ XIX)”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “ Những cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ X đến nữa đầu thế kỷ XIX)”
Tác giả: Nguyễn Minh Cảnh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
2. Đại Việt sử ký toàn thư (2009), Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
3. Đại Việt sử ký toàn thư (2009), Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
4. Trần Văn Giàu (1996), “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám”, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám”
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Trương Vĩnh Khang (2007), “Tìm hiểu tư tưởng Lê Thánh Tông về phápluật”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3, tr.50-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng Lê Thánh Tông về phápluật”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Trương Vĩnh Khang
Năm: 2007
6. Bùi Huy Khiên (2010), “Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Huy Khiên (2010)," “Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng”
Tác giả: Bùi Huy Khiên
Năm: 2010
7. Ngô Sỹ Liên và các Sử thần triều Lê (tập I, 1983), (tập II, 1985) “Đại Việt sử kí toàn thư”, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại Việt sử kí toàn thư”
Nhà XB: Nxb. Khoa Học Xã Hội
8. Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Hồng (1998), “Xu hướng đổi mới trong Lịch sử Việt Nam”, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Xu hướng đổi mới trong Lịch sử Việt Nam”
Tác giả: Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
9. Đinh Xuân Lâm (1998), “Lịch sử cận - hiện địa Việt Nam - một số vấn đề nghiên cứu”, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cận - hiện địa Việt Nam - một số vấn đề nghiên cứu”
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 1998
10. Đinh Xuân Lâm (1999), “Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1999
11. Quốc Sử quán triều Nguyễn (1993), “Đại Nam chính biên liệt truyện”, toàn tập, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam chính biên liệt truyện”
Tác giả: Quốc Sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1993
12. Nguyễn Quang Ngọc (2006) “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam”
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
13. Văn Tạo (2006), “Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam”, Nxb. Đại Học Sư Phạm, TP. Hồ Chính Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam”
Tác giả: Văn Tạo
Nhà XB: Nxb. Đại Học Sư Phạm
Năm: 2006
14. Nguyễn Văn Thanh (2018), “Vua Lê Thánh Tông vớ việc cải cách, nhân tài và kiến Quốc”, Tạp chí thông tin và công nghệ, số, Nxb. Nghiên cứu – Trao đổ, Quảng Bình, tr. 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Lê Thánh Tông vớ việc cải cách, nhân tài và kiến Quốc”, "Tạp chí thông tin và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb. Nghiên cứu – Trao đổ
Năm: 2018
15. Nguyễn Tài Thư (1997), “Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại thịnh trị của ông”, Tạp chí Triết học, số 6, tr.25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại thịnh trị của ông”," Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Tài Thư
Năm: 1997
16. Nguyễn Tài Thư (1997), “Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại thịnh trị của ông”, Tạp chí Triết học, số 6, tr.25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại thịnh trị của ông”," Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Tài Thư
Năm: 1997
17. Nguyễn Trọng Văn (2005), “Về nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX”, Nxb. Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX”
Tác giả: Nguyễn Trọng Văn
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư Phạm
Năm: 2005
18. Trương Thị Yến (1998), “Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam - những gương mặt tiêu biểu”, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam - những gương mặt tiêu biểu”
Tác giả: Trương Thị Yến
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w