1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGOẠI GIAO VIỆT NAM – TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

45 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 515,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một trong những mối quan hệ địa chính trị lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay và là chủ đề nóng bỏng trong lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào đều mang tính thời sự. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng hữu nghị, núi sông liền một dải, gắn bó như môi với răng. Trung Quốc vừa mới thành lập không lâu đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập quốc gia và giải phóng dân tộc, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các bậc lãnh đạo tiền bối đã kề vai chiến đấu, nhân dân hai nước hiểu biết và ủng hộ lẫn nhau, cùng kết nên tình hữu nghị cách mạng “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho Quan hệ Việt Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm. Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử thế giới hiện đại, kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng chưa từng thấy trên mọi lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Trung Quốc là nước láng giếng lâu đời của Việt Nam, có vai trò là một nước lớn trong khu vực Châu ÁThái Bình Dương và có tầm ảnh hưởng về kinh tế chính trị, văn hoá xã hội rất lớn. Hơn nữa, nền kinh tế Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, phát triển với tốc độ nhanh chóng đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm trên toàn thế giới. Do đó, việc bình thường hoá và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị của nước ta với Trung Quốc từ năm 1991 đến nay mang nhiều ý nghĩa to lớn mà từ đó ta có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu để có thể tích cực phát triển hơn nữa. Để có thể phát triển được quan hệ tốt đẹp, giải quyết được những mâu thuẫn và vấn đề còn tồn tại thì biện pháp hiệu quả nhất là nghiên cứu kỹ lưỡng quá trình hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của nước ta với Trung Quốc để từ đó có thể thực hiện, triển khai một cách hiệu quả theo định hướng.

Trang 1

NGOẠI GIAO VIỆT NAM – TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp đề tài 3

7 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TỪ SAU KHI BÌNH THƯỜNG HÓA (1991 – 2005) 4

Tiểu kết Chương 1 15

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VIỆT NAM – TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 16

2.1 Chính sách ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam 16

2.2 Triển khai chính sách ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc 24

Tiểu kết chương 2 30

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH NGOẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 VÀ TRIỂN VỌNG TRONG TƯƠNG LAI VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 32

3.1 Đánh giá chính sách ngoại Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2010 32

3.2 Triển vọng trong tương lai về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 32

Tiểu kết chương 3 37

KẾT LUẬN 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một trong những mối quan hệ địa chính trị lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay và là chủ đề nóng bỏng trong lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào đều mang tính thời sự Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng hữu nghị, núi sông liền một dải, gắn bó như môi với răng Trung Quốc vừa mới thành lập không lâu đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Trong cuộc đấu tranh giành độc lập quốc gia và giải phóng dân tộc, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các bậc lãnh đạo tiền bối đã kề vai chiến đấu, nhân dân hai nước hiểu biết và ủng hộ lẫn nhau, cùng kết nên tình hữu nghị cách mạng “vừa là đồng chí vừa là anh em” Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho Quan hệ Việt Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử thế giới hiện đại, kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng chưa từng thấy trên mọi lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước Trung Quốc là nước láng giếng lâu đời của Việt Nam, có vai trò là một nước lớn trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và có tầm ảnh hưởng về kinh tế chính trị, văn hoá

xã hội rất lớn Hơn nữa, nền kinh tế Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, phát triển với tốc độ nhanh chóng đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm trên toàn thế giới Do đó, việc bình thường hoá và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị của nước ta với Trung Quốc từ năm 1991 đến nay mang nhiều ý nghĩa to lớn mà từ đó ta có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu để có thể tích cực phát triển hơn nữa Để có thể phát triển được quan hệ tốt đẹp, giải quyết được những mâu thuẫn và vấn đề còn tồn tại thì biện pháp hiệu quả nhất là nghiên cứu kỹ lưỡng quá trình hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của nước ta với Trung Quốc để từ đó có thể thực hiện, triển khai một cách hiệu quả theo định hướng

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thì việc tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi nhằm giữ vững ổn định và phát triển đất nước trở nên vô cùng cần thiết, trong những năm qua quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã có sự phát triển, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Nam mở

Trang 5

rộng quan hệ đối ngoại, duy trì môi trường hoà bình, ổn định cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mặt khác, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc cũng đang đứng trước những vấn đề cần giải quyết do lịch sử để lại hoặc mới nảy sinh như về kinh tế - thương mại, biên giới lãnh thổ, an ninh quốc phòng Đánh giá quan

hệ Việt Nam - Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI và triển vọng trong những năm tới là vấn đề cần nghiên cứu để góp phần tạo luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ với Trung Quốc

Chính vì những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “NGOẠI GIAO VIỆT

NAM – TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010” làm đề tài

Tiểu luận của tôi

2 Lịch sử nghiên cứu

Về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã có rất nhiều tài liệu, bài viết, công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến, nhất là nguồn tư liệu trong nước Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu (bài báo, khóa luận tốt nghiệp Đại học, luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ, hội thảo khoa học); nhưng những công trình đó hoặc là viết về thời gian sau bình thường hóa (1991), hoặc nghiên cứu một số lĩnh vực riêng biệt Những công trình này chúng tôi sẽ liệt kê trong phần “Danh mục tài liệu tham khảo”

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu trước đây, đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu Chính sách ngoại giao và hoạt động đối ngoại Việt Nam - Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI, cụ thể là giai đoạn từ năm

2005 – 2010 và dự báo triển vọng về quan hệ hai nước những năm tiếp theo

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu, chính sách ngoại giao Việt Nam –Trung Quốc giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 các hoạt động ngoại giao của hai nước; dự báo triển vọng về quan hệ hai nước những năm tiếp theo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của dề tài này là: Chính sách ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2010; Đánh giá chính sách ngoại Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2010 và Triển vọng trong tương lai về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

Trang 6

Về không gian: đề tài nghiên cứu về chính sách ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc; đánh giá chính sách ngoại giao; triển vọng trong tương lai về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

Về thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu, Chính sách ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2010; Đánh giá chính sách ngoại Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2010 và Triển vọng trong tương lai về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lịch sử và phương pháp logic Phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu

6 Đóng góp đề tài

Hiện tại có nhiều sách, bài báo viết và nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam – Trung Quốc về ngoại giao Tuy nhiên, đề tài tiểu luận chúng tôi đang nghiên cứu có thể đóng góp thêm về nội dung và cũng như kiến thức về ngoại giao giữa Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn 2005 -2010, đồng thời cũng giúp mọi người có cái nhìn khách quan và nhìn nhận về vấn đề một cách khoa học về ngoại giao của Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn 2005 – 2010 này

Trang 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – TRUNG

QUỐC TỪ SAU KHI BÌNH THƯỜNG HÓA (1991 – 2005)

Từ khi lập nước thì nước ta đã có sự giao hỏa với các nước láng giềng, trong sử sách gọi là bang giao (ngoại giao) và việc bang giao này rất quan trọng trong việc giữ gìn độc lập, bảo vệ chủ quên, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

Ngoại giao là một nghệ thuật tiến hành trong việc đàm phán, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia Thuật ngữ này thông thường

đề cập đến ngoại giao quốc tế, việc chỉ đạo, thực hiện các mối quan hệ quốc tế thông qua sự can thiệp hay hoà giải của các nhà ngoại giao liên quan đến các vấn đề như kinh tế, thương mại, văn hoá, du lịch, chiến tranh và tạo nền hòa bình và thường gọi là bang giao hay đối ngoại Các hiệp ước quốc tế thường được đàm phán bởi các nhà ngoại giao trước tiên để đi đến việc xác nhận chính thức bởi các chính trị gia của các nước Về mặt xã hội, ngoại giao là việc sử dụng các tài xử trí, ứng biến để giành được

sự thuận lợi, nó là một công cụ tạo ra cách diễn đạt các tuyên bố một cách không đối đầu, hay là một cách cử xử lịch thiệp, theo nghĩa này thì nó có nghĩa là xã giao

Việt Nam nằm trên các trục đường giao thương thủy bộ quan trọng ở khu vực Đông Á và là nơi giao thoa của các nền văn mình lớn, lâu đời của thế giới Với vị trí chiến lược quan trọng, tài nguyên sản vật phong phú, Việt Nam luôn là đối tượng xâm lược của các thế lực bên ngoài Hoàn cảnh này khiến dân tộc ta phải thực hiện các hoạt động ngoại từ rất sớm, đưa ngoại giao thành một công cụ quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã lưu lại cho hậu thế những tư tưởng lớn, nhiều bài học sâu sắc về chiến lược và sách lược đối ngoại Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử với nền ngoại giao tinh tế và hiển hách Trừ 1000 năm Bắc thuộc, trải qua các triều đại từ Vua Hùng, An Dương Vương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn, Việt Nam chủ yếu có quan hệ ngoại giao với các triều đình phong kiến Trung Quốc Nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam

ra đời khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đứng đầu ngành ngoại giao của Việt Nam

Có thể nói Khúc Thừa Dụ chính là người đâu tiên đã đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc và sử dụng đấu tranh ngoại giao để khôi phục nền tự chủ Năm 905, Khúc Thừa Dụ xưng Tiết độ sứ, tuy trên danh nghĩa vẫn thuần phục nhà Đường, nhưng trên thực tế là đã giành lại quyền tự quyết cho dân tộc Từ đó, ngoại giao đã từng bước

Trang 8

khẳng định được vai trò là một hình thức đấu tranh quan trọng để bảo vệ nền độc lập dân tộc Trải qua các triều đại, đấu tranh ngoại giao dần dần gắn liền với đấu tranh quân sự để chống lại kẻ thù xâm lược Trước tiên, ngoại giao góp phần ngăn chặn và giảm thiểu nguy cơ chiến tranh bằng những biện pháp hòa bình Trong trường hợp bất khả kháng, ngoại giao lại nổ lực trì hoãn chiến tranh để kéo dài thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến vệ quốc trong chiến tranh, ngoại giao kết hợp hiệu quả cùng quân

sự để góp phần đưa dân tộc ta đi đến thắng lợi Ở giai đoạn cuối của chiến tranh, ngoại giao lại góp phần giảm thiểu tổn thất cho dân tộc trên con đường giành lại độc lập Lý Thượng Kiệt chủ trương “dùng biện sĩ bà hòa, không tốn xương máu mà bảo toàn được tông miếu” Lê lợi và Nguyễn Trãi cho rằng “dùng bình cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên hết” Vua Quang Trung đã dùng “ngọn bút thay giáp binh” Trong thời bình, ngoại giao là công cụ xây dựng tình hòa hiếu với láng giềng, khuếch trương văn hiến

và nâng cao uy thế dân tộc Do vị trí đặc thù của đất nước, sau mỗi lần chiến thắng xâm lược, ông cha ta đều sử dụng nhiều biện pháp ngoại giao linh hoạt, uyển chuyển

để giữ hòa hiếu với bên ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, cố gắng duy trì hòa bình lâu dài

Nội dung cốt lõi của ngoại giao Việt Nam, xuyên suốt từ truyền thống đến thời hiện đại, là hòa bình, hòa hiếu và chính nghĩa Hưng Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã viết trong “Binh thư yếu lược”: “Hòa mục là đạo rất hay trong việc trị nước hành binh Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động” Phan Huy Chí đã đúc kết từ lịch sử: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng là việc lớn” Nguyễn Trãi đã nêu bật tính chính nghĩa trong “Bình Ngô đại cáo” với những dòng bất hủ: “Đem đạii nghĩa thắng hùng tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” Suốt chiều dài lịch sử, ông cha ta đã rút ra nhiều bài học về đấu tranh ngoai giao Đó là những bài học về kiên trì đấu tranh giành độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; giương cao ngọn cờ chính nghĩa, hòa hiếu và hòa bình; kết hợp giữa tiến công quân sự và khai thác những mâu thuẫn, bất đồng và khó khăn trong nội bộ kẻ thù…Đó

là những bài học đầu tiên của lịch sử dành cho những người làm ngoại giao Việt Nam Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến động Chiến tranh Lạnh kết thúc, hai lực lượng mà quan hệ Việt Nam - Trung Quốc chịu ảnh hưởng là Mỹ và Liên Xô đã dần rút và giảm sự hiện diện của mình tại khu vực Quan điểm của Trung Quốc trong tình hình quốc tế mới này là chuyển hướng

Trang 9

sang tích cực phát triển quan hệ ngoại giao hữu nghị với những nước láng giềng trong

đó có Việt Nam để tranh thủ được sự ủng hộ của những nước này Năm 1991, Trung Quốc đã tham gia vào “Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN, sau đó Trung Quốc cũng được mời tham gia “Diễn đàn khu vực Đông Nam Á - ARF Năm 1992, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham tại Malila đã bày tỏ mong muốn thúc đẩy đối thoại nhiều cấp về an ninh của các nước ASEAN Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn này dần dần có những thay đổi, muốn mở rộng, tăng cường quan hệ với các nước trên thế giới

Trong bối cảnh như vậy, hai nước đã dần tiến tới bình thường hoá bằng chuyến thăm chính thức của các nhà lãnh đạo Việt Nam sang Trung Quốc tháng 11 năm 1991 Chuyến thăm với sự tham gia của Tổng bí thư và Thủ tướng Việt Nam đại diện cho Đảng và Chính phủ Việt Nam Đây là một sự kiện hiếm có trong quan hệ ngoại giao, chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam rất coi trọng và mong muốn tích cực giải quyết vấn đề bình thường hoá với Trung Quốc Trong chuyến thăm này, hai nước đã đạt được bước tiến quan trọng, cùng nhau ra bản Thông cáo chung, các nhà lãnh đạo hai nước cũng đã xác định 5 nguyên tắc chỉ đạo quan hệ Nhà nước, quan hệ giữa hai Đảng dựa trên nguyên tắc độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Hai bên đồng ý kết thúc mối quan hệ căng thẳng trong quá khứ, thực hiện bình thường hoá quan hệ hai đảng, hai nhà nước Qua chuyến thăm Trung Quốc và việc ra thông cáo chung cho thấy, quan điểm của hai bên đối với tình hình thế giới có những thay đổi Có thể thấy, hai bên đã nhận thức được rằng sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, việc bình thường hoá quan

hệ hai bên là phù hợp với lợi ích lâu dài và căn bản của hai nước, nó cũng đánh dấu một sự thay đổi to lớn không chỉ đối với quan hệ hai nước, mà cả khu vực Kể từ đó trở đi, các nhà lãnh đạo hai nước duy trì các cuộc thăm viếng và tiếp xúc lẫn nhau, không ngừng hợp tác trên nhiều lĩnh vực

Thời kỳ đầu sau khi bình thường hoá, tuy có nhiều vấn đề tồn tại, như tranh chấp lãnh thổ, các quần đảo trên biển, phân chia đường ranh giới trên biển và đánh bắt cá, nhưng qua nhiều cuộc gặp các cấp, tăng cường đối thoại, đàm phán hai bên đã đạt được những bước tiến về vấn đề biên giới lãnh thổ Ngày 19/10/1993, đại diện chính phủ hai nước đã ký Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, mở đường cho việc tiến tới ký kết các hiệp định biên giới, lãnh thổ trong các

Trang 10

giai đoạn sau này Việc ký kết những hiệp định thông qua đàm phán là bước tiến trong việc tăng cường tin tưởng lẫn nhau giữa hai nước, bảo đảm cho quan hệ hai nước đi vào quỹ đạo hợp tác Thời kỳ này, quan hệ chính trị hai nước có mấy điểm đáng chú ý: trong quan hệ giữa hai nước đều nhắc đến đối thoại, đàm phán, hợp tác tăng cường gặp

gỡ, trao đổi lẫn nhau giữa các cấp, các ngành để giải quyết các tranh chấp về biên giới

và chủ quyền trên biển, đồng thời cũng coi trọng phát triển quan hệ kinh tế, thương mại Các chuyến thăm liên tiếp của các nhà lãnh đạo mang ý nghĩa chính trị Điểm lại một số chuyến thăm mang ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng nhiều tới quan hệ hai nước ngoài chuyến thăm Trung Quốc của các nhà lãnh đạo Việt Nam tháng 11 năm 1991 ra, vào tháng 12 năm 1992, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng có chuyến thăm chính thức hữu nghị Việt Nam Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của nhà lãnh đạo Trung Quốc kể từ khi bình thường hoá giữa hai nước và cũng là chuyến thăm sau 21 năm một Thủ tướng Trung Quốc sang thăm Việt Nam Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Thủ tướng Lý Bằng đã hội đàm với các nhà lãnh đạo của Việt Nam Hai bên cho rằng củng cố hơn nữa mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước phù hợp với lợi ích cơ bản và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển của khu vực Sau cuộc gặp trên, hai bên đã có bước tiến đẩy nhanh công việc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, thành lập những nhóm công tác cấp chuyên viên

để tổ chức các cuộc đàm phán song phương về biên giới lãnh thổ

Một mốc quan trọng khác trong quan hệ ngoại giao hai nước là chuyến thăm của Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 19 đến 22/11/1994 Chuyến thăm lần này của Chủ tịch Giang Trạch Dân là chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo cao nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc kể từ sau chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ sang thăm Việt Nam vào năm 1963 Trong chuyến thăm này, các nhà lãnh đạo của Việt Nam như Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch nước Lê Đức Anh hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân, hai bên đều cho rằng nên thúc đẩy quan hệ hữu nghị, tăng cường hợp tác, đặc biệt là hợp tác kinh tế thương mại Hai bên cũng cho rằng đối với những vấn đề tồn tại giữa hai bên nên thông qua đàm phán để giải quyết Chủ tịch Giang Trạch Dân đã đề ra 16 chữ trong giải quyết quan hệ hai nước “Phương hướng rõ ràng, từng bước tiến lên, đại cục làm trọng, hữu hảo hiệp thương” Hai bên đã ký kết các hiệp định, thành lập Uỷ ban

Trang 11

Hợp tác thương mại Việt Nam – Trung Quốc; về vận tải ô tô; bảo đảm hàng hoá xuất nhập khẩu và công nhận lẫn nhau Hai nước đã ra Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc gia tăng sự hợp tác về kinh tế thương mại giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi

Trong quan hệ ngoại giao hai nước giai đoạn này không thể không kể đến quan

hệ giữa quốc hội hai nước được thúc đẩy sau chuyến đi thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc lần đầu tiên từ sau khi bình thường hoá quan hệ hai nước của Chủ tịch quốc hội Nông Đức Mạnh từ ngày 21/2 đến ngày 1/3/1994 Mục đích của cuộc đi thăm

là nhằm củng cố và tăng cường hơn nữa sự tin cậy lẫn nhau, tạo quan hệ hữu nghị láng giềng thân tình, thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hoá, khoa học kỹ thuật… đồng thời đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp hai nước Trong chuyến thăm, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh cũng bày tỏ không những có thể tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt – Trung, mở ra giai đoạn hợp tác hữu nghị mới giữa Quốc hội Việt Nam và Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc, mà còn có thể tìm hiểu thêm kinh nghiệm cải cách mở cửa của Trung Quốc, và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa hai nước

Nhìn chung, giai đoạn này quan hệ ngoại hai nước được khôi phục sau một thời gian căng thẳng Do vậy, thông qua các cuộc viếng thăm cấp cao, các cuộc gặp gỡ, đàm phán hai nước để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau Đánh giá mối quan hệ hai nước giai đoạn này có thể thấy rằng, một mặt nó phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khu vực, mặt khác, nó cũng phù hợp với nhu cầu của hai nước Các cuộc viếng thăm cấp cao mang ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng mạnh tới sự hợp tác, phát triển của hai bên Nó giống như một thông điệp gửi tới các bên rằng mối quan hệ hai nước giai đoạn này đã bắt đầu được hàn gắn sau một quá trình căng thẳng Vì vậy mà giai đoạn này là giai đoạn khởi động của các cuộc gặp cấp cao và các thông cáo chung

để hai bên tăng cường hiểu biết nhau hơn Các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam như Tổng bí thư, Thủ tướng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội đều đã có các chuyến thăm chính thức sang Trung Quốc Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc giai đoạn này sang thăm Việt Nam gồm có Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ Trong các cuộc gặp gỡ, hai bên đều đã đạt được những bước tiến quan trọng về hợp tác kinh tế, tăng cường giao lưu quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và ký kết hiệp định liên

Trang 12

quan đến giải quyết biên giới lãnh thổ Ngay sau khi bình thường hoá quan hệ, những cuộc gặp cấp cao này cho thấy hai nước đã rất coi trọng hợp tác chính trị song phương Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 1999: Giai đoạn này có hai sự kiện quan trọng đối với Việt Nam, cho thấy vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đã có thay đổi so với trước Và mối quan hệ giữa hai nước Việt – Trung cũng chịu ảnh hưởng nhất định bởi những thay đổi này Thứ nhất là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), dần xoá bỏ ngăn cách giữa Việt Nam với các nước trong khối, nâng cao vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế Thứ hai là Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ Đây là những nhân tố quan trọng, bởi sau khi thực hiện đổi mới, chính sách ngoại giao của Việt Nam đã có những bước tiến hoà nhập vào thế giới mạnh mẽ hơn Việt Nam chủ động tham gia, đóng góp tích cực vào sự phát triển, hoà bình của nhiều tổ chức khu vực và thế giới Quan hệ song phương với các nước cũng được thúc đẩy, đặc biệt là với các nước lớn trên cơ sở cân bằng mối quan hệ giữa các nước lớn, tránh việc quá nghiêng về một bên sẽ làm cho Việt Nam phải đối mặt với những thách thức về an ninh, chính trị hoặc kinh tế Vì vậy, chính sách của Việt Nam muốn thiết lập quan hệ tốt đẹp với tất cả các nước trên thế giới, trong đó với các nước lớn là một sự lựa chọn hợp lý, phù hợp với xu thế chung trong giai đoạn hiện nay, để bảo đảm một môi trường an ninh cho sự phát triển của Việt Nam, hạn chế bị lôi kéo vào vòng xoáy tranh chấp quốc tế, phụ thuộc an ninh, kinh tế, chính trị giữa các nước lớn Chính sách cân bằng quyền lực giữa các bên có thể đôi lúc khó thực hiện được do bị ảnh hưởng của bên này mạnh hơn bên kia, nhưng nhìn tổng thể việc duy trì sự cân bằng này là cần thiết trong giai đoạn trên, giúp Việt Nam đã chấm dứt cô lập về mặt ngoại giao năm 1995, sau khi tham gia vào tổ chức ASEAN và bình thường hoá quan hệ với Mỹ Trong việc tham gia vào khối ASEAN: Việt Nam tham gia tổ chức khu vực ASEAN đã góp phần làm cho bầu không khí khu vực trở lên hoà bình, ổn định, không chỉ nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà bản thân tổ chức ASEAN cũng được quốc tế đánh giá cao hơn Tháng7/1995 với việc trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN, vai trò thương lượng của Việt Nam đã được tăng cường uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, có được những ưu thế trong tiến trình hợp tác, tham gia vào các tổ chức liên khu vực và quốc tế như Hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), ASEM, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho xây dựng và phát triển kinh tế

Trang 13

trong nước Ngoài ra, tham gia vào ASEAN cũng làm cho nền kinh tế của Việt Nam thu được nhiều lợi ích hơn thông qua tham gia vào AFTA của khu vực, hoặc gần đây

là ACFTA làm tăng cường cơ hội đầu tư và trao đổi thương mại giữa Việt Nam với của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

Đối với vấn đề bình thường hoá quan hệ với Mỹ: Vào ngày 11 tháng 7 năm 1995, Việt Nam và Mỹ đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và nhanh chóng trao đổi đại sứ Sau đó, ngày 5 đến 7 tháng 8 năm 1995, Ngoại trưởng Mỹ đến thăm Việt Nam, hai cơ quan đại diện tại hai thủ đô Hà Nội và Oasinhtơn đã được nâng cấp thành đại sứ quán, đồng thời hai bên cử đại biện lâm thời đại diện cho hai nước Ngày 5/9/1997, hai nước trao đổi đại sứ Thông qua cải thiện quan hệ song phương, Việt Nam đã có điều kiện tiếp cận thị trường, thu hút đầu tư, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của các doanh nghiệp Mỹ, thuận lợi cho việc tham gia các tổ chức quốc tế như APEC, WTO cũng như nhận được những khoản vay từ những hệ thống tài chính thế giới như IMF, WB, ADB để có thể phát triển đất nước nhanh hơn Ngoài ra các nhà đầu tư của Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á có cơ sở để đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào Việt Nam Điều này có những tác động tới chính sách cải cách kinh tế và mở cửa của Việt Nam Trên thực tế, bình thường hoá về quan hệ với Mỹ sẽ là một trong những nhân tố để thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và địa

vị của Việt Nam tại khu vực

Trong quan hệ ngoại giao giai đoạn này có một số điểm Thứ nhất, có thể thấy rằng trong giai đoạn này các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước vẫn có các cuộc gặp gỡ, thăm viếng nhau, nhưng không ra tuyên bố chung, thông cáo chung mà chỉ là những hiệp định kinh tế, thương mại Thứ hai, những tranh chấp giữa hai bên về lãnh thổ dần dần giảm đi Giai đoạn này thực chất là khôi phục lại lòng tin lẫn nhau, trên cơ sở và hình thức mới xây dựng lại mối quan hệ hữu hảo láng giềng Một số chuyến thăm đáng chú ý trong giai đoạn này là chuyến thăm của Tổng bí thư Đỗ Mười sang thăm Trung Quốc năm 1995 Trong giai đoạn này, Tổng bí thư Đỗ Mười đã hai lần sang thăm Trung Quốc Trong chuyến thăm Trung Quốc lần thứ hai từ ngày 14 đến 18/7/1997 của Tổng bí thư Đỗ Mười, hai bên đã đạt được một thoả thuận giải quyết vấn đề biên giới trên bộ trước năm 2000 và giải quyết vấn đề phân định Vịnh Bắc bộ chậm nhất vào năm 2000 Những nhận thức chung của các nhà lãnh đạo cấp cao về việc tiến tới giải quyết vấn đề tồn tại đã tạo ra những nỗ lực để các bộ ngành hai bên tiến tới đạt

Trang 14

được những thoả thuận quan trọng liên quan đến vấn đề biên giới lãnh thổ vào năm

1999 và 2000

Một sự kiện khác cũng cần được nhắc đến trong mối quan hệ chính trị hai nước

là ngày 28/6/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc tại Hà Nội, Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, Lý Bằng đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc sang dự và đọc lời chúc mừng Đại hội Đây là chuyến tham dự lần đầu tiên của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc tại một đại hội Đảng của Việt Nam từ sau bình thường hoá quan hệ, và cũng là chuyến tham dự sau 35 năm kể từ khi Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Phú Xuân dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng sang dự đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam năm

1961 Điều này cho thấy sự quan tâm của Trung Quốc đến tình hình Việt Nam, và quan hệ giữa hai Đảng đã trở nên gần gũi nhau hơn

Thời kỳ này, nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã hai lần sang thăm chính thức Trung Quốc Ngoài ra, trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 10-1998 của Thủ tướng Việt Nam, Phan Văn Khải, hai bên đã ký kết hiệp định mậu dịch biên giới giữa hai bên, đưa thương mại song phương vào quy củ Trong thời kỳ này, phía Trung Quốc cũng có đầy đủ các nhà lãnh đạo cấp cao sang thăm Việt Nam như Thủ tướng Quốc vụ viện, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Chính hiệp (Mặt trận tổ quốc), Phó Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào…

Giai đoạn từ năm 1999 đến 2005: Bắt đầu từ ngày 25/2 đến 2/3/1999, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã có chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc Đây là chuyến thăm Trung Quốc lần đầu tiên kể từ khi ông nhậm chức vào tháng 12 năm 1997 Trong buổi hội đàm với Tổng bí thư Giang Trạch Dân, hai bên đã xác định khung và khuôn khổ mối quan hệ giữa hai nước hướng tới thế kỷ XXI, nhất trí cùng nhau cố gắng xây dựng và phát triển quan hệ Việt – Trung Ngày 27/2/1999, hai bên đã ra bản Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc Tuyên bố với phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, thúc đẩy quan hệ của hai nước Trung-Việt bước vào một giai đoạn phát triển mới Trong chuyến thăm này, hai bên cùng bày tỏ đàm phán giải quyết thật sớm vấn đề lãnh thổ biên giới hai nước, cùng nhất trí ký kết Hiệp ước về biên giới trên bộ hai nước trong năm 1999 và giải quyết xong vấn đề phân định Vịnh Bắc bộ trong năm 2000 Sự nỗ lực này đã cho thấy hiệu

Trang 15

quả, sau đó vào cuối năm 1999 và 2000, Chính phủ hai nước lần lượt ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền, Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ, Hiệp định hợp tác nghề cá và Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới Chuyến thăm của Tổng bí thư

Lê Khả Phiêu đã mở ra một trang mới trong hợp tác hai nước, mang đến nhiều cơ hội hợp tác hơn cho cả hai phía Chúng tôi cho rằng, giai đoạn này có một số điểm đáng chú ý

Thứ nhất là hợp tác giữa hai bên trong thời kỳ này đã được nâng lên một tầm cao mới, quan hệ giữa hai nước đã trở nên phát triển nhất trong cả quá trình từ sau bình thường hoá quan hệ Những cuộc thăm viếng, gặp gỡ cấp cao hàng năm tuy là một quy định bất thành văn, nhưng nó là cơ sở quan trọng để hai nước, hai Đảng tìm hiểu, thúc đẩy những hiểu biết lẫn nhau, từ đó xoá dần những khoảng cách trong quan hệ hai nước Trong những cuộc tiếp xúc, hai bên đã thống nhất phương thức hợp tác nguyên tắc chung trong quan hệ giữa hai nước là hữu nghị và láng giềng thân thiện dựa trên năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua thương lượng và bằng biện pháp hoà bình, quan hệ giữa hai nước không nhằm vào nước thứ ba và cũng không làm ảnh hưởng đến quan hệ của mỗi nước với các nước khác Những điều này đã cho thấy rằng, quan hệ hai nước khôi phục và phát triển trên nhu cầu và lợi ích của từng nước, phù hợp với những chính sách, đường lối ngoại giao của từng nước, đó là phát triển quan hệ chính trị chủ yếu là giữa các cấp bộ ngành, các địa phương của hai Đảng, hai nước với nhau Quan hệ song phương được tăng cường trên tất cả các mặt

Thứ hai, những vấn đề nổi cộm trong quan hệ giữa hai nước về cơ bản đã có tiến triển bằng những hiệp định ký kết giữa hai nước Hai bên cũng đã giải quyết những vấn đề trên qua các cuộc thương lượng, đàm phán, tiến tới ký kết được những hiệp định, giải quyết 2 trên 3 vấn đề tồn tại liên quan đến biên giới lãnh thổ, đạt được tiến triển rõ rệt về công tác cắm mốc trên đất liền, đồng thời nhất trí đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này để chậm nhất vào năm 2008 hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới trên đất liền và ký văn kiện mới về quy chế quản lý biên giới, đặt

cơ sở cho ổn định an ninh khu vực và giữa hai nước Đây là sự nỗ lực chung của hai phía trong việc giải quyết vấn đề còn vướng mắc bằng phương thức hoà bình, đàm phán Nó cũng có thể sẽ là tiền lệ để hai bên tiến hành giải quyết các vấn đề khác phức tạp trong tương lai Ngoài ra trong hợp tác chung tại Vịnh Bắc bộ, hải quân hai nước

Trang 16

đã tiến hành các chuyến tuần tra chung trên biển Hai bên cũng đang tiến hành đàm phán về phân định cửa Vịnh Bắc bộ…

Thứ ba, các nhà lãnh đạo hai nước có nhiều nhận thức chung trong nhiều vấn đề song phương và quốc tế Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2001, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Trung Quốc, hai bên ra Tuyên bố chung nhắc lại phương châm 16 chữ, quán triệt mục tiêu và nhiệm vụ mà Tuyên bố chung Trung-Việt tháng

12 năm 2000 đề ra Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục duy trì gặp gỡ cấp cao thường xuyên, tạo thêm động lực mới thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển; tăng cường hơn nữa tiếp xúc hữu nghị và giao lưu hợp tác dưới nhiều hình thức giữa các ban ngành, các tổ chức quần chúng và các địa phương hai nước Trong chuyến thăm của Tổng bí thư Giang Trạch Dân năm 2002, các nhà lãnh đạo của hai bên đã đạt được nhận thức chung trong trao đổi các vấn đề liên quan, tức là duy trì trao đổi các cuộc gặp cấp cao, mở rộng và đi sâu vào hợp tác kinh tế, lấy tinh thần hợp tác lâu dài giữa hai nước để giáo dục nhân dân hai bên, tiếp tục đàm phán đẩy nhanh công tác phân chia, cắm mốc đường biên giới trên bộ và hiệp định nghề cá, trao đổi những kinh nghiệm lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội và trị đảng trị nước; tăng cường hợp tác, giao lưu trên các mặt ngoại giao, quốc phòng, an ninh và công an Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân đã phát biểu rằng “Điều đặc biệt quan trọng là, hai bên nhất định phải tăng cường tin cậy lẫn nhau Đó chính là cơ

sở phát triển ổn định lâu dài của quan hệ hai Đảng, hai nước” Đồng thời đưa ra năm kiến nghị liên quan đến hợp tác hai bên: Một là, cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp qua lại thăm viếng lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước; Hai là, cần không ngừng mở rộng và đi sâu hơn nữa hợp tác kinh tế - thương mại; Ba là, cần lấy tinh thần hữu nghị lâu dài để giáo dục nhân dân hai nước, đặc biệt là thanh thiếu niên; Bốn là, cần tăng cường hợp tác giữa hai nước trên vấn đề biên giới, đẩy nhanh tiến trình công tác tiếp theo về biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc bộ; Năm là, cần tăng cường giao lưu kinh nghiệm về xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước giữa hai Đảng, hai nước, tăng cường sự bàn bạc, hợp tác và phối hợp về các vấn đề quốc tế giữa hai nước, để tạo thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển của mỗi nước”

Thứ tư là bổ sung thêm khung hợp tác trong quan hệ hai nước bằng 4 tốt trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân nhấn mạnh đến mối quan hệ về láng giềng, bạn bè, đồng chí: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng

Trang 17

chí tốt, đối tác tốt, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ nhau, thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, cùng nhau phát triển

Thứ năm là bài phát biểu trước Quốc hội Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trong chuyến thăm Việt Nam từ ngày 31 tháng 10 đến 2 tháng 11 năm 2005 trong thời điểm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Trung Quốc Đây cũng là lần đầu tiên Tổng bí thư, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam với tư cách là Tổng bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Và điều hiếm

có là một vị nguyên thủ quốc gia một nước khác phát biểu trước quốc hội Việt Nam Ngoài ra, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc Điều này cho thấy hợp tác chặt chẽ giữa hai Đảng, hai nước

Thứ sáu, hợp tác an ninh khu vực cũng đã có những thay đổi Tháng 7/2001, Diễn đàn an ninh khu vực của khối các nước Đông Nam Á đã được tổ chức ở Hà Nội Trong các vấn đề khu vực, Diễn đàn đã đạt được thoả thuận về những thủ tục nhằm giúp ngăn chặn các cuộc tranh chấp bùng nổ thành cuộc chiến tranh rộng lớn, theo đó

tổ chức Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN không chỉ giữ vai trò xây dựng lòng tin giữa các nước thành viên, mà còn chính thức có quyền tham dự vào việc giải quyết các tranh chấp song phương hoặc đa phương trong vùng Trung Quốc và ASEAN đã cùng nhau ra “Tuyên bố về liên hợp hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống”, tạo ra cục diện mới cho hai bên bắt tay tấn công các loại tội phạm xuyên biên giới, như buôn bán ma tuý, di dân bất hợp pháp, cướp biển, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm trên mạng Bên cạnh đó, vấn đề Biển Đông liên quan đến nhiều nước trong khu vực cũng đã được các bên, trong đó có Việt Nam

và Trung Quốc ký kết Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông Những hợp tác mang tính đa phương là cơ sở cho việc hai nước tăng cường niềm tin, thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ sẵn có và làm giảm những nguy cơ liên quan đến an ninh trên biển

Nhìn chung, trong giai đoạn từ khi bình thường hoá quan hệ hai nước đến nay, quan hệ chính trị giữa hai nước trải qua những giai đoạn từ chỗ bắt đầu khôi phục lại quan hệ, niềm tin đến tăng cường hợp tác chặt chẽ với nhau trên nhiều lĩnh vực, đạt được những bước phát triển ổn định, tạo dựng được cơ sở vững chắc để hai nước cùng tiến tới giải quyết những bất đồng còn tồn tại

Mối quan hệ chính trị hai nước phát triển trong giai đoạn qua cũng phù hợp với tình hình chung của hai nước, đáp ứng những thay đổi của tình hình quốc tế và khu

Trang 18

vực, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho cả hai nước Chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, hợp tác giữa hai nước sẽ tiếp tục duy trì mối quan hệ chính trị tốt đẹp Đây là

cơ sở để hai nước tăng cường mở rộng quan hệ, hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác, cũng như duy trì ổn định và phát triển của khu vực và thế giới

Tiểu kết Chương 1

Tóm lại, trong quá trình hoàn thiện nền ngoại giao của nước Việt Nam, chúng ta đang và cần tiếp tục kế thừa và phát huy ngoại giao truyền thống của ông cha ta; vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và tiếp thu có chọn lọc những lý luận tiên tiến về quan hệ quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn ngoại giao thế giới Ngành ngoại giao có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trong chiến tranh, Ngoại giao phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất Tổ quốc Ngoại giao góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa xây dựng đất nước

Từ khi nước ta được ghi vào bản đồ thế giới; sau Cách mạng tháng Tám, suốt 5 năm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được nước nào công nhận, phải đến năm 1950 nước ta mới bắt đầu có quan hệ quốc tế nhà nước với chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp Nghị Giơnevơ thì Việt Nam bắt đầu có vị trí và uy tín quốc tế Tuy nhiên, vị thế nước ta trên trường quốc tế chủ yếu là về chính trị và tình cảm, từ ngày đổi mới do chính sách mở rộng quan hệ “đa phương hóa, đa dạng hóa,”, “sẵn sàng là bạn của các nước…” thì chúng ta đã có quan hệ rộng rãi hơn với các nước lớn Ngoại giao cũng góp phần tạo dựng được một môi trường quốc tế vô cùng thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước lâu dài Chúng ta có thể thấy được, ngoại giao Việt Nam ra đời với hai bàn tay trắng, không có kế thừa, không có cán bộ có hiểu bước về ngoại giao, nhưng Việt Nam đã từng bước trưởng thành, vững chắc, tiếp cận được với nhiều nền ngoại giao quốc tế hiện Đại

Nhưng trong ngoại giao từ truyền thống cho đến hiện đại phải luôn đặt lợi ích ích dân tộc lên trên hết, xử lý mọi vấn đề trong quan hệ quốc tế và đối ngoại trên cơ sở đứng vững trên lợi ích của dân tộc; Gắn Việt Nam với thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; hiểu thế giới, nắm bắt trào lưu thế giới, tiến kịp thời; kết hợp chặt chẽ ngoại giao, đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa

từ Trungg ương đến địa phương; luôn nêu cao, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tự quyết định đường lối, chính sách phù hợp lợi ích dân tộc và trào lưu quốc tế

Trang 19

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VIỆT NAM – TRUNG QUỐC GIAI

ĐOẠN 2005 – 2010 2.1 Chính sách ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội lần thứ X của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước đánh dấu mốc son mới trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta, đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới Đại hội diễn

ra tại Hà Nội từ ngày 18 tháng 04 đến ngày 25 tháng 04 năm 2006 trong bối cảnh thế giới có những chuyển biến lớn và Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội dự báo về xu thế chủ yếu của thời đại gồm một số đặc điểm như sau:

Tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn kinh tế thế giới đan xen những biểu hiện suy thoái, phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng chứa nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Khoa học và không nghệ sẽ có bước đột phá mới Mặt khác, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, chủ nghĩa khủng bố, tranh chấp về lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Đồng thời, nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phải phối hợp giải quyết như: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng môi trường tự nhiên bị hủy hoại, khí hậu diễn biến ngày càng xấu… khu vự châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định

Đại hội đánh giá tổng quát về thành tựu sau 20 năm đổi mới và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX: nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân trong 5 năm 2001 – 2005 là 7,51%) và phát triển tương đối toàn diện; văn hóa và xã hội phát triển tương đối về mọi mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời sông các tầng lớp nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường, quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xa hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, sức mạnh

Trang 20

khối đại đoàn kết dân tộc được phát huy Đại hội cũng vạch rõ những khuyết điểm và yếu kém: tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; cơ chế, chính sách về văn hóa xã hội chậm đổi mới, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa giải quyết tốt; quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế; tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới; công tác xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực nhưng còn chưa đáp ứng được yêu cầu Đại hội cũng chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực đến nước ta cũng là đáng

kể

Đại hội xác định rõ thời gian tới tuy còn khó khăn nhưng đất nước ta cố nhiều cơ hội đẻ tiến lên; toàn dân tộc ta phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền hơn với mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hương hiện đại Đại hội đề

ra Nghị quyết là: “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” với chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5 – 8%/năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm

Để hoàn thành mục tiêu đó, công tác ngoại giao đóng vai trò rất quan trọng: “giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”

Trong môi trường đối ngoại hiện nay và trước những yêu cầu ngày càng khẩn trương của sự nghiệp đổi mới toàn diện, việc tạo dựng, giữ gìn một môi trường quốc tế hòa bình đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công hiệp hóa, hiện đại hoa đất nước đòi hỏi hoạt động ngoại giao phải luôn được thực hiện trên tinh thần đổi mới, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và mang lại hiệu quả lớn hơn

Sau 20 năm đổi mới và 5 năm thực hiện Nghi quyết Đại hội IX, thế và lực của đất nước ta ngày càng được tăng cường Đây là thuận lợi trước hết và cơ bản nhất trong bối cảnh tình hình nước ta hiện nay Với nền kinh tế tăng trưởng nhanh và môi trường chính trị - xã hội luôn ổn định, Việt Nam ngày càng tỏ rõ sức hút mạnh mẽ đối

Trang 21

với các đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư nước ngoài và sự nghiệp của chúng luôn được thế giới đánh giá rất cao, coi là một trong những công cuộc đổi mới thành công nhất Trong bối cảnh đó, với Đại hội X khẳng định Việt Nam sẽ tiếp bước mạnh mẽ trên con đường đổi mới đã được cộng đồng quốc tế nhiệt liệt hoan nghênh Không khí dân chủ, nghiêm túc, nhìn thẳng vào sự thật của Đại hội và quyết tâm nâng cao năng lực của Đảng, lãnh đạo đất nước vươn tới phồn vinh đã tạo nên hình ảnh đầy sức thuyết phục về một Việt Nam đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế Thuận lợi cơ bản thứ hai là, cùng với sự lớn mạnh của đất nước, vị thế của Việt Nam trong những năm qua ngày càng nâng cao trên trường quốc tế Đánh giá về thành tựu của công tác đối ngoại trong những năm qua, Nghị quyết Đại hội X nêu rõ: “Hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân phát triển mạnh, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”

Chúng ta đã tạo dựng được khuôn khổ hợp tác hữu nghị ổn định lâu dài và ngày càng đi vào chiều sâu với các nước láng giềng, khu vực Đồng thời, từ việc bình thường hóa quan hệ, chúng ta từng bước nâng cấp, xác lập khuôn khổ quan hệ hợp tascc bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, các trung tâm kinh tế - tài chính lớn, các nước công nghiệp phát triển, tạo bước đột phá trong quan hệ quốc tế của Việt Nam Bên cạnh các mối quan hệ đó, chúng ta củ động củng cố, phát triển quan hệ hợp tác với các bạn bè truyền thống, các nước phát triển trên thế giới Có thể nói, hiện nay chúng ta đã tạo được một môi trường quan hệ và hợp tác quốc tế thuận lợi hơn bao giờ hết, những thành tựu đạt được đó có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở thuận lợi cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới Thuận lợi thứ ba là mặc dù tình hình thế giới và khu vực vẫn có thể diễn biến phức tạp nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn và chủ đạo, Khu vực châu Á – Thái Bình Dương ngày càng gia tăng vài trò của mình trong các mối quan hệ quốc tế nói chung và kinh tế quốc nói riêng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam thúc đẩy quan hệ với tất cả các đối tác Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, chúng ta cũng đứng những thách thức không thể coi nhẹ Về chủ quan, đó là nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và thế giới Quá trình hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi chúng ta gia tăng sức cạnh tranhh trong toàn nền kinh tế, ngành, nghề, lĩnh vực Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

Trang 22

của một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viện; nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí nếu không được giải quyết tích cực sẽ làm suy giảm nội lực và tác động nghịch đến hình ảnh và vị thế Việt Nam trước quốc tế Về khách quan, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới tiếp tục tác động nhiều chiều tới an ninh và sự phát triển của Việt Nam; kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường; toàn cầu hóa tạo cơ hội nhưng cũng chứa nhiều yếu tố rủi ro, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Bên cạnh những vấn đề an ninh truyền thống như chiến tranh cụ bộ, xung đột dân tộc và tôn giáo, chủ nghĩa khủng bố…tiếp tục diễn biến phức tạp, các vấn đề an ninh phi truyền thống như thiên tài, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, bùng nổ dân số…liên tục nổi lên Ngoài ra, chúng ta phải cảnh giác trước những âm mưu diễn biến gòa bình, gây bạo loạn, những hành động ẩn núp dưới các chiêu bài khác nhau hòng gây mất ổn định chính trị trong nước

Những thuận lợi và khó khăn đó đặt ra trên con đường phát triển đất nước, đòi hỏi chúng ta kiên trì nguyên tắc, song linh hoạt về sách lược, có những lựa chọn đúng đắn, phù hợp về đường lối, chính sách và tranh thủ mọi cơ hội, đẩy lùi và giảm thiểu các nguy cơ thách thức, nhằm bứt phá tạo thành thế và lực mới cho đất nước

Trong Ngị quyết Đại hội X khẳng định rõ đường lối, chính sách đối ngoại: “Thực hiện nhất quan đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế”, với phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc

tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” Đây là đường lối được

đề ra và ngày càng hoàn thiện trong 20 năm đổi mới, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của nước ta trên trường quốc tế

Trên cơ sở thế và lực của đất nước được tạo lập qua 20 năm đổi mới, Đại hội khẳng định nhiệm vụ đối ngoại “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Như vậy, tư tưởng chỉ đạo đối ngoại của Đại hội X không chỉ nhấn mạnh tính chủ động mà cả tính tích cực của nước

ta trong hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng cũng như trong việc tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực nói chung, đóng vai trò là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển Trong tình hình mới, Đrang

ta đặc biệt quan tâm việc bổ sung làm rõ thêm quan điểm, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X nêu ra 5 bài học lớn: Một là, trong quá

Ngày đăng: 19/02/2022, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w