Phương thức sản xuất là một khái niệm trong học thuyết duy vật lịch sử của chủ nghĩa Maxr. Nó có nghĩa nôm na là cách thức của sản xuất. Theo Marx, nó là tổ hợp hữu cơ cụ thể của: Lực lượng sản xuất: bao gồm lực lượng lao động, công cụ và thiết bị lao động, nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu và đất đai được sử dụng. Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sở hữu, các quan hệ kiểm soát và phân chia các tài sản đã được sản xuất trong xã hội, thông thường được đưa ra trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp xã hội. Các nhà sáng lập chủ nghĩa MarxLenin rất quan tâm đến các vấn đề phương thức sản xuất trong lịch sử tiến hoá của nhân loại. Marx và Engles trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” viết năm 1845 – 1846, nói rằng trướng chủ nghĩa tư bản xã hội loài người đã trải qua 3 phương thức sở hữu cơ bản. “Hình thức sở hữu đầu tiên là hình thức sở hữu Bộ lạc. Nó phù hợp với giai đoạn chưa phát triển sản xuất, khi người ta sống bằng săn bắn và đánh cá, bằng chăn nuôi hay nhiều lắm bằng trồng trọt”. “Hình thức sở hữu thứ hai là hình thức sở hữu công xã và sở hữu nhà nước tồn tại trong thời cổ và ra đời chủ yếu từ sự tập hợpbằng hiệp ước hay bằng chinh phục – nhiều Bộ lạc thành một Thị tộc và chế độ nô lệ vẫn tồn tại ở đó”. “Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp. Nếu điểm xuất phát của thời cổ đại là thành thị và lãnh thổ nhỏ của nó thì điểm xuất phát của thời trung cổ lại là nông thôn trái với Hy lạp và Rôma, sự phát triển phong kiến bắt đầu trên một địa vực rộng hơn nhiều Những thế kỷ cuối cùng của Đế quốc Rôma suy tàn và cuộc chinh phục đế quốc đó bỡi những người dã man đã phá huỷ một khối lớn những lực lượng sản xuất Đướ ảnh hưởng của chế độ quân sự của người Giéc manh thì hoàn cảnh vốn có đó và cách thức tổ chức trinh phục do hoàn cảnh đó đẻ ra, đã phát triển chế độ sở hữu phong kiến”.
Trang 1Môn học: NHỮNG PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TRƯỚC CHỦ NGĨA
TƯ BẢN
Đề tài:
Ý KIẾN CÁ NHÂN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM TRƯỚC THỜI PHÁP THUỘC
Trang 21
Phương thức sản xuất là một khái niệm trong học thuyết duy vật lịch sử của chủ nghĩa Maxr Nó có nghĩa nôm na là "cách thức của sản xuất" Theo Marx, nó là tổ hợp hữu cơ cụ thể của: Lực lượng sản xuất: bao gồm lực lượng lao động, công cụ và thiết bị lao động, nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu
và đất đai được sử dụng Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sở hữu, các quan hệ kiểm soát và phân chia các tài sản đã được sản xuất trong xã hội, thông thường được đưa ra trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp xã hội Các nhà sáng lập chủ nghĩa Marx-Lenin rất quan tâm đến các vấn đề phương thức sản xuất trong lịch sử tiến hoá của nhân loại Marx và Engles trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” viết năm 1845 – 1846, nói rằng trướng chủ nghĩa tư bản xã hội loài người đã trải qua 3 phương thức sở hữu
cơ bản “Hình thức sở hữu đầu tiên là hình thức sở hữu Bộ lạc Nó phù hợp
với giai đoạn chưa phát triển sản xuất, khi người ta sống bằng săn bắn và đánh cá, bằng chăn nuôi hay nhiều lắm bằng trồng trọt” “Hình thức sở hữu thứ hai là hình thức sở hữu công xã và sở hữu nhà nước tồn tại trong thời cổ
và ra đời chủ yếu từ sự tập hợp-bằng hiệp ước hay bằng chinh phục – nhiều
Bộ lạc thành một Thị tộc và chế độ nô lệ vẫn tồn tại ở đó” “Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp Nếu điểm xuất phát của thời cổ đại là thành thị và lãnh thổ nhỏ của nó thì điểm xuất phát của thời trung cổ lại là nông thôn trái với Hy lạp và Rôma, sự phát triển phong kiến bắt đầu trên một địa vực rộng hơn nhiều Những thế kỷ cuối cùng của Đế quốc Rôma suy tàn và cuộc chinh phục đế quốc đó bỡi những người dã man đã phá huỷ một khối lớn những lực lượng sản xuất Đướ ảnh hưởng của chế độ quân
sự của người Giéc manh thì hoàn cảnh vốn có đó và cách thức tổ chức trinh phục do hoàn cảnh đó đẻ ra, đã phát triển chế độ sở hữu phong kiến”
Phương thức sản xuất là một khái niệm trong học thuyết duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Bao gồm lực lượng sản xuất: công cụ lao động và thiết bị lao động, nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu và đất đai sử dụng
Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sỡ hữu, các quan hệ quan sát và phân chia các tài sản được sản xuất trong xã hội, thông thường đưa ra trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội
Trang 32
Ý kiến của Leenin trong tác phẩm “Bàn về nhà nước” viết năm 1919
nói rõ ràng và thoát hơn:
“Sự tiến hóa của tất cả các xã hội loài người qua hàng nghìn năm, ở tất cả nước, không trừ nước nào cả, đã chỉ cho chúng ta thấy tính quy luật chung Xác định,tính quán triệt của sự tiến hóa đó: Bắt đầu từ một xã hội không có giai cấp, một xã hội gia trưởng sơ khai, nguyên thủy không có quý tộc, sau đến là chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ… tiếp sau hình thái đó, có một hình thái khác lịch sử, chế độ nông nô…”
Các quan điểm về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
Từ lâu vấn đề phương thức sản xuất châu Á đã trở thành đề tài nghiên cứu và tranh luận của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước trên thế giới Nhằm mục đích làm sáng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự phát triển của xã hội, lý giải hàng loạt các vấn đề đang được đặt ra trong lịch sử nhân loại, đó là con đường phát triển và xây dựng xã hội của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh đã
và đang thoát ra khỏi ách thống trị của đế quốc chủ nghĩa, vấn đề phương thức sản xuất châu Á ngày càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước phát triển phi tư bản và
cả các nước tư bản chủ nghĩa
Ở Việt Nam, sau khi miền Bắc được giải phóng hòan tòan (năm 1954), đất nước ta đối mặt với không ít những khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội…trong khi đó vấn đề nông dân và nông thôn trở thành vấn đề nổi trội Cho nên, tìm hiểu làng xã – nông thôn Việt Nam hiện nay cái gì là do lịch sử
xa xưa để lại kể cả mặt tích cực và tiêu cực, đều là bổ ích cho việc cải tạo và xây dựng chủ nghãi xã hội
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với đặc điểm của nước ta thì việc nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á nói chung và phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam nói riêng là rất quan trọng Để từ đó chúng ta có thể tìm ra được những di sản tích cực và tiêu cực của phương thức sản xuất châu Á và đề ra những biện pháp khắc phục hiệu quả
Trang 43
Nghiên cứu về phương thức sản châu Á, đó là nhiệm vụ đặt ra để nhận thức lịch sử, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn mang nhiều tàn dư của xã hội phương đông cổ đại Để từ đó có được đánh giá một cách khoa học và có thái độ, biện pháp xử lý đúng mức Không nhưng thế, nhiệm vụ đó còn góp phần làm phong phú học thuyết Mác – Lênin về con đường phát triển xã hội từ vị trí một nước phương Đông của mình
Từ sau năm 1959, hàng loạt các vấn đề về lịch sử Việt Nam đã được nghiên cứu, trong đó vấn đề lịch sử cổ đại và truyền thống dân tộc được đề cập đến một cách khá tích cực Trong giới nghiên cứu bấy giờ, một trong những người đầu tiên bàn về vấn đề này là Nguyễn Hồng Phong Dưới góc độ
dân tộc học, Nguyễn Hồng Phong đã viết tác phẩm “xã thôn Việt Nam”
(1959) Với tác phẩm này, mặc dù không nhắc đến phương thức sản xuất châu
Á nhưng tác giả đã đề cập đến nội dung cơ bản của phương thức sản xuất
châu Á là “chú trọng nghiên cứu về những dấu vết của tổ chức xã hội nguyên
thuỷ - công xã thị tộc và công xã nông thôn còn tồn tại trong xã thôn Việt Nam trong cơ sở kinh tế cũng như trong tổ chức xã hội và ý thức tư tưởng”
Và khẳng định rằng: “đặc điểm của xã hội phương Đông cổ đại là sự tồn tại
rất lâu của công xã nông thôn…” Còn ở Việt Nam, Ông cũng khẳng định rõ :
“tới thời Pháp thuộc, trước cách mạng Tháng 8 Trong xã thôn ở Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều di tích của xã hội nguyên thủy, cụ thể là những di tích của công xã thị tộc và công xã nông thôn, nhất là công xã nông thôn”
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, vào những năm 1959 – 1960 nhiều cuộc hội thảo khoa học được mở ra và gây nhiều tranh cải sôi nổi Bên cạnh cuộc thảo luận về vấn đề có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam, còn xuất hiện công trình nghiên cứu về xã thôn Việt Nam và tiếp theo là hàng loạt luận văn, công trình mang tính chất thông tin, hoặc trực tiếp đề cập đến vấn đề phương thức sản xuất châu Á, về công xã nông thôn, đặc biệt từ năm 1968 trở đi, vấn đề này được đề cập rộng rãi và có hệ thống
Hàng loạt các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Liên
xô (1929 - 1921), (1964-1965), ở Pháp (1962-1963) và nhiều công trình nghiên cứu khác của các học giả trên thế giới đã chứng minh điều đó
Trang 54
Tuy nhiên, cho tới nay, các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á vẫn chưa kết thúc, các ý kiến về phương thức sản xuất châu Á vẫn còn phân tán
Qua tác phẩm Xã thôn Việt Nam, ta thấy từ năm 1959 đặc điểm của xã hội phương Đông cổ đại nói chung, của Việt Nam nói riêng, được nhìn nhận dưới ánh sáng của lý thuyết phương thức sản xuất châu Á và được đề cập một cách cơ bản
Với sự khẳng định phương thức sản xuất châu Á đã từng tồn tại trong lịch sử xã hội Việt Nam, Nguyễn Hồng Phong đã nêu lên được những vấn đề
cơ bản mang tính chất khởi đầu cho việc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
Sau khi tác phẩm Xã thôn Việt Nam ra đời một năm, ở Việt Nam một cuộc thảo luận về chế độ chiếm hữu nô lệ được mở ra Trong cuộc thảo luận này, vấn đề có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam tiếp tục được thảo luận Những nhà nghiên cứu đã cố gắn vận dụng học thuyết Mácxít
về 5 hình thái kinh tế xã hội để lý giải vấn đề này, để làm sáng tỏ đặc điểm của xã hội Việt Nam Cổ đại Mặc dù phương thức sản xuất châu Á không được trực tiếp đề cập đến, nhưng qua kết quả thảo luận ngiều người đã sớm phát hiện ra rằng ở phương Đông Cổ đại, cụ thể là trong lịch sử Việt Nam Cổ đại quá trình phát triển xã hội có nhiều nét đặc thù mà sơ đồ 5 hình thái kinh
tế không bao quát nổi
Đến đây, sự lúng túng, bế tắc của việc áp dụng lý thuyết sơ đồ 5 hình thái kinh tế vào lý giải lịch sử xã hội Việt Nam Cổ đại đã thôi thúc giới nghiên cứu đi sâu hơn nữa để tìm ra một chìa khoá để giải đáp về xã hội Việt Nam Cổ đại
Cũng là một trong những người quan tâm nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam, và cũng là người có cùng quan điểm với Lê Hồng Phong về vấn đề phương thức sản xuất châu Á Lê Kim Ngân, vào các năm 1974 – 1975, là một trong những người tham gia nghiên cứu đề tài
“Nông thôn Việt Nam” và qua nhiều công trình nghiên cứu khác Cho đến
năm 1976, trong hội nghị khoa học về xã hội Việt Nam thời Lý Trần, Lê Kim Ngân mới trình bày cụ thể quan điểm của mình về phương thức sản xuất châu
Trang 65
Á Lê Kim Ngân cho rằng nền kinh tế công xã ở thê kỷ X – XI nằm trong phạm trù phương thức sản xuất châu Á Xã hội đó gồm hai giai cấp cơ bản: giai cấp nông dân công xã là giai cấp bị bốc lột và giai cấp quý tộc là giaic ấp
hưởng sản phẩm thặng dư của công xã Tác giả đi đến kết luận: “kết cấu kinh
tế của xã hội Việt Nam ở thế kỹ X-XII là kết cấu kinh tế Á Châu tiền phong kiến” Mặc khác, tác giả còn cho rằng xã hội Việt Nam chuyển sang giai đọan
Á Châu phong kiến hóa mạnh mẽ vào thế kỷ XIV
Mặc dù quan điểm này của Lê Kim Ngân mang tính chất tiến bộ Nhưng vẫn gây ra nhiều tranh cải của nhiều khuynh hướng khác nhau
Bước đầu năm 1951 về sau các nhà sử học Việt Nam đã quan tâm đến việc giải thich về hình thái kin tế xã hội Việt Nam trước thời pháp thuộc Từ
đó, các nhà sử học Việt Nam đã nêu ra các ý kiến của mình Vấn đề các ý kiến có thể chia thành 3 giai đoạn
+ Giai đoạn từ 1951- 1960:
Thời kỳ này, chỉ có một số bài viết lẻ tẻ, hoặc đăng trên các tạp chí Văn
Sử Địa, hoặc đăng trên các sách lịch sử Người đầu tiên viết về vấn đề hình thái kinh tế xã hội Việt Nam trước thời Pháp thuộc là ông Đào Duy Anh
+ Giai đoạn 2 (là năm 1960):
Năm 1960, đã diễn ra một cuộc tranh luận giữa Viện Sử học và Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội về vấn đề “Có hay không có chế độ chiếm hữu nô
lệ ở Việt Nam
Cuộc tranh luận dưới hình thức là các bài cáo tại Hội nghị đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu Trong các hội nghị đó, tập trung các ý kiến, ta thấy có hai phái, đó là: phái của Viện Sử học và phái của Trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội
Phái Viện Sử học, tiêu biểu là nhà Sử họcVăn Tân, phái này chủ trương rằng: Việt Nam đã tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ
Phái Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, người phát biểu chính là ông Trần Quốc Vượng, phái này chủ trương là: Việt Nam không tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ
Trang 76
+ Giai đoạn 3 (1982):
Năm 1982, trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã đăng nhiều bài viết của các nhà Sử học, tiêu biểu là giáo sư Nguyễn Hồng Phong Nội dung của các bài phát biều là Việt Nam đã từng tồn tại phương thức sản xuất châu Á
Trong các bài viết của các tác giả ba giai đoạn nói trên, về xã hội Việt Nam trươc thời Pháp thuộc đã từng tồn tại phương thức sản xuất nào? Nhìn chung, ý kiến của các nhà sử học có thể chia thành 4 loại như sau:
Trước thời Pháp thuộc, Việt Nam đã trải qua thời nguyên thủy rồi tiến lên chế độ chiếm hữu nô lệ, rồi lên chế độ phong kiến
Ý kiến của các nhà Sử học tiêu biểu như: Văn Tân, Minh Tranh, Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh, Nguyễn Lương Bích, Mạc Đường
Trong các số ý kiến của các nhà sử học nói trên, tiêu biều là ông Văn Tân Ông Văn Tân chủ trương rằng, Việt Nam đã từng trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ
Ông Văn Tân đã căn cứ trong truyện “Họ Hồng Bàng” có nhăc đến nô
lệ Căn cứ thứ hai, là ông cho rằng thời kỳ này đồ đồng đã phát triển Có đồ đồng có nghĩa là có người khai thác đồng và người luyện đồng mà họ là những người nô lệ Căn cứ thứ ba, là ông cho rằng là Loa Thành được xây dựng từ thời Âu Lạc phải là do sức lao động của nô lệ xây Căn cứ thứ 4, là đến thời Lý – Trần quan hệ nô lệ rất phát triển Căn cứ thứ 5, là các nươc xung quanh Việt Nam lúc bấy giờ như: Trung Quốc, nước (tỉnh Vân Nam Trung Quốc ngày nay) đã từng có chế độ nô lệ và ở phía Nam là các nước Chiêm Thành, Chân Lạp cũng có nô lệ, vì vậy, không có một lý do gì mà Việt Nam ở giữa không có nô lệ Căn cứ thứ 6 mà ông Văn Tân đưa ra là thời Bắc thuộc, tuy chịu sự thống trị của Trung Quốc, nhưng những kẻ thống trị không đổi phương thức sản xuất thời Âu Lạc
Trên cơ sở căn cứ trên, ông Văn Tân đã đưa ra kết luận rằng Việt Nam
đã từng tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ
Về thời gian, ông Văn Tân cho rằng, từ thời Văn Lang – Âu Lạc đến chiến thắng Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 là xã hội Việt Nam đã tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ
Trang 87
Ý kiến của ông Nguyễn Đổng Chi cho rằng, trước thời Bắc thuộc xã hội Việt Nam từ xã hội nguyên thủy và đến giai đoạn cuối chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ
Thời Bắc thuộc là thời kỳ chiếm hữu nô lệ Giai đoạn cuối của thời kỳ Băc thuộc là vào thời Khúc Thừa Dụ (thế kỷ X) xã hội Việt Nam chuyển sang chế độ phong kiến
Ý kiến của ông Minh Tranh cho rằng, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam kết thúc vào những năm 40 – lúc Mã Viện đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng lúc đó xã hội Việt Nam bước sang chế độ phong kiến
Ông Đào Duy Anh cho rằng, vào cuối thời Hùng Vương, ở Việt Nam xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ Nước Âu Lạc mặc dù tồn tại 30 năm cũng
là nhà nước chiếm hữu nô lệ Đến đầu thời Bắc thuộc cũng là chế độ chiếm hữu nô lệ và đến khi Đông Hán chinh phục xã hội Việt Nam từ xã hội nô lệ sang chế độ phong kiến
Ông Nguyễn Lương Bích cho rằng, ranh giới giữa nô lệ và phong kiến
ở Việt Nam là năm 544, năm nước Vạn Xuân thành lập
Ông Mạc Đường cho rằng, các dân tộc thiểu số Việt Nam như người Thái, người Mường, người Êđê…đều có chế độ chiếm hữu nô lệ Vì vậy không có lý do gì mà dân tộc Việt Nam không tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ Nhìn chung, các ý kiến trên của các nhà sử học đều cho rằng Việt Nam đã từng tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ, hợp với quy luật quốc tế, nhưng về móc thời gian nào thì không thống nhất
Việt Nam trước thời Pháp thuộc không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ
Ý kiến này là của các ông Trần Quốc Vượng, Chu Thiên, Hà Văn Tấn, Vương Hoàng Tuyên ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và ông Trương Hữu Quýnh ở Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Ý kiến là của ông Trần Quốc Vượng, Chu Thiên cho rằng, thời Hùng Vương và thời An Dương Vương, trong xã hội lúc bấy giờ còn tồn tại nô lệ, nhưng xã hội đương thời vẫn là xã hội nguyên thủy
Trang 98
Thứ 2, là thời Bắc thuộc không phải là chế độ chiếm hữu nô lệ Không thể lấy chế độ nô tỳ thời Lý – Trần để chứng minh xã hội Việt Nam là chế độ chiếm hữu nô lệ
Thứ 3, nhà nước Âu Lạc là nhà nước mới phôi thai chứ chưa phải là nhà nước thực sự
Vì vậy, theo ý kiến của các ông Trần Quốc Vượng và Chu Thiên thì xã hội Việt Nam từ quá độ xã hội nguyên thủy sang xã hội phong kiến và quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Việt Nam bao gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn một, là từ năm 180 TCN đến năm 40 sau công nguyên
Giai đoạn hai, là từ năm 40 – 541, đây là giai đoạn giai cấp giai cấp phong kiến Việt Nam hình thành và quan hệ phong kiến Việt Nam phát triển
Giai đoạn ba, là từ thế kỷ VI – thế kỷ X, đây là giai đoạn chín muồi giai cấp phong kiến ở Việt Nam
Ý kiến của Hà Văn Tấn cho rằng là không có chế độ nô lệ ở Việt Nam Ông phản bác lại ý kiến của ông Văn Tân, Minh Tranh, Nguyễn Đổng Chi… cho đồ đồng ở Việt Nam có từ thời nguyên thủy, không phải có đồ đồng là có
nô lệ Ông chứng minh rằng, thời Hùng Vương các thành viên trong công xã
bị bốc lột như nô lệ
Ý kiến của ông Vương Hoàng Tuyên đã phản bác lại ý kiến của ông Mạc Đường Ông Vương Hoàng tuyên cho rằng: người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) di cư vào Tây Băc Việt Nam sớm nhất là cuối thế kỷ VII Vì vậy, không thể lấy chế độ xã hội người Thái có chế độ chiếm hữu nô lệ làm căn cứ chứng minh Hơn nữa, thực sự người Thái, Mường, Êđê không có chế
độ chiếm hữu nô lệ
Tóm lại, các ý kiến trên cho rằng, xã hội Việt Nam chuyển thẳng từ xã hội nguyên thủy lên chế độ phong kiến, không trả qua chế độ chiếm hữu nô
lệ
Ý kiến mới của ông Nguyễn Lương Bích và ông Trần Quốc Vượng
Trang 109
Ông Nguyễn Lương Bích cho rằng, ở Việt Nam tồn tại phương thức sản xuất châu Á Phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam tồn tại cho đến khi thực dân Pháp xâm lược
Ông Trần Quốc Vượng cũng có ý kiến tương tự, là xã hội Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước là xã hội tiểu nông truyền thống nằm trong khung cảnh của một phương thức sản xuất châu Á Ý kiến này của ông Trần Quốc Vượng phát biểu năm 1989
Xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội nguyên thủy, lên phương thức sản xuất châu Á rồi lên xã hội nguyên thủy
Đây là ý kiến của một loại bài viết từ năm 1982, thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam
Giai đoạn này, phần lớn các học giả đều nghiêng hướng xã hội Việt Nam đã tồn tại phương thức sản xuất châu Á
Ý kiến tiêu biểu là Giao sư Nguyễn Hồng Phong, trong bài viết về phương thức sản xuất châu Á – lý thuyết và thực tiễn, gồm các ý như sau:
- Phương thức sản xuất châu Á là phương thức sản xuất riêng biệt, ngang bằng với xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản Do vậy, lịch sử từ xưa tới nay đã trải qua sáu phương thức sản xuất chứ không phải năm phương thức sản xuất
- Giao sư Nguyễn Hồng Phong đã nêu ra định nghĩa phương thức sản xuất châu Á như sau: “Phương thức sản xuất châu Á là trên cơ sở của chế độ
sỡ hữu nhà nước về ruộng đất, giai cấp quý tộc quan liêu bốc lột và trấn áp các công xã nguyên thủy dưới hình thức tô thuế do nông dân công xã nộp”
- Xã hội phương thức sản xuất châu Á chuyển sang xã hội phong kiến chừng nào đại bộ phận ruộng đất thuộc về sỡ hữu tư nhân
Áp dụng vào Việt Nam, ông cho rằng đến thế kỷ XV, xã hội Việt Nam vẫn là xã hội phương thức sản xuất châu Á
Ông Phan Huy Lê cho rằng, xã hội Việt Nam thời nguyên thủy đã bước vào thời kỳ mang hình thức Á châu, không qua chế độ chiếm hữu nô lệ , tiến thẳng lên xã hội phong kiến Tiếp đó, ông nói rằng, xã hôi thời Hùng Vương
là xã hội có giai cấp sơ kỳ mang hình thức Á châu