1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam

52 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận Thức Về Bất Bình Đẳng Giới Tại Thị Trường Lao Động Việt Nam
Trường học Ngân Hàng Thế Giới
Chuyên ngành Giới
Thể loại Chuyên Đề
Năm xuất bản 2020
Thành phố Washington
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 812,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Để giúp bổ sung những khoảng trống kiến thức nói trên, nghiên cứu này sử dụng ba phương pháp định đính để tìm hiểu về quan điểm của các bên liên quan về cơ chế gây ra

Trang 1

QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC ÔXTRÂYLIA-NHÓM NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM

Chuyên đề giới

NHẬN THỨC VỀ

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

VIỆT NAM

Trang 3

NHẬN THỨC VỀ

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

VIỆT NAM

Trang 4

Bản quyền © 2020

Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế / Nhóm Ngân hàng Thế giới

1818 H Street, NW, Washington, DC 20433 USA

Tài liệu này đã được bảo hộ bản quyền

Các kết quả tìm hiểu, các giải thích và kết luận trong tài liệu này thuộc về các tác giả và không phản ánh quan điểm của Ngân hàng Thế giới, các tổ chức thành viên, các thành viên Ban Giám đốc Điều hành Ngân hàng Thế giới và các chính phủ mà họ đại diện Ngân hàng Thế giới không đảm bảo tính chính xác của các

dữ liệu trong tài liệu này và được miễn trừ trách nhiệm đối với việc sử dụng các dữ liệu đó

Ảnh bìa: © Ngân hàng Thế giới

Trang 5

2.3 Bất bình đẳng giới tại các địa phương trên thị trường lao động 8

4.4 Nhận thức của người dân tộc thiểu số về tiếp cận giáo dục và thị trường lao động 22

6.1 Phát triển hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên và cha mẹ 35

6.3 Thay đổi nơi làm việc để giảm rào cản liên quan đến gia đình 36

Phụ lục 1 Thông tin người tham gia thảo luận nhóm và phỏng vấn người am hiểu 42 DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

DANH SÁCH BẢNG

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Báo cáo này là sản phẩm của Dự án Trao quyền Kinh tế cho Phụ nữ Việt Nam của Chương trình Quan hệ Đối tác Ngân hàng Thế gới – Ôxtrâylia Giai đoạn II (ABP2) tại Việt Nam Nhóm biên soạn báo cáo gồm bà Nina Weimann-Sandig (chuyên gia tư vấn thuộc Trường Evangelische Hochschule, Dresden), bà Wendy Cunningham, chuyên gia kinh tế trưởng, bà Helle Buchhave, chuyên gia cao cấp về phát triển xã hội, và ông Nguyễn Tam Giang, chuyên gia phát triển xã hội của Ngân hàng Thế giới Nhóm tác giả xin cảm ơn nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã đảm trách công tác nghiên cứu thực địa, cung cấp thông tin bối cảnh và thực hiện các cuộc thảo luận nhóm tập trung Nhóm tác giả cũng xin cảm ơn những đầu mối tại địa phương giúp xác định đối tượng tham gia thảo luận nhóm Đặc biệt, nhóm tác giả chân thành cảm ơn những người tham gia thảo luận nhóm, trả lời phỏng vấn đã nhiệt tình chia sẻ vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mình Chúng tôi rất biết ơn hỗ trợ tài chính của Ôxtrâylia

Hoạt động biên soạn báo cáo chính sách này nằm trong Dự án Trao quyền Kinh tế cho Phụ nữ Việt Nam thuộc Chương trình Quan hệ Đối tác Chiến lược Ôxtrâylia – Nhóm Ngân hàng Thế giới Giai đoạn 2 (ABP2) Dự án tiến hành các phân tích toàn diện dựa trên số liệu và bằng chứng về những thách thức mới đối với bình đẳng giới và hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà hoạch định chính sách và các chương trình đầu tư xử lý những thách thức này nhằm tăng

cơ hội kinh tế cho phụ nữ Các ấn phẩm khác của dự án liên quan trực tiếp đến báo cáo này gồm “Triển vọng Việc làm ở Việt Nam dưới Góc nhìn Giới” (báo cáo khuyến nghị chính sách); “Đề xuất Sửa đổi Bộ Luật Lao động Việt Nam nhằm Thúc đẩy Bình đẳng Giới” (báo cáo khuyến nghị chính sách); “Bình đẳng Giới và Lập Pháp ở Việt Nam” (khóa học điện tử toàn diện bằng tiếng Việt), và “Số liệu Giới ở Việt Nam Năm 2016 của Tổng Cục Thống kê” Để

có thêm thông tin về các ấn phẩm này cũng như Chuyên đề Giới của ABP2, xin mời quý vị liên hệ Trưởng Nhóm Chuyên đề, bà Helle Buchhave, tại địa chỉ (hbuchhave@worldbank.org), hoặc cô Vũ Thùy Dung, Trợ lý Chương trình, tại Ngân hàng Thế giới ở Hà Nội (dvu1@worldbank.org)

Trang 7

NHẬN THỨC VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

TẠI TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TÓM TẮT BÁO CÁO

Việt Nam chỉ có thể đạt được mục tiêu trở thành

nước có thu nhập trung bình, phát triển bao trùm, và

dân chủ nếu xoá được các khoảng cách giới về kinh

tế và xã hội Bình đẳng giới về việc làm được coi là

một yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu phát triển

này Nhưng điều gì đang cản trở bình đẳng giới tại thị

trường lao động Việt Nam? Báo cáo này sẽ trả lời câu

hỏi trên để cung cấp thông tin cho những nhà hoạch

định chính sách

Qua hai thập niên tăng trưởng kinh tế ấn tượng, một số

nghiên cứu đã tìm hiểu về một số dạng bất bình đẳng

giới ở Việt Nam, nhưng rất ít nghiên cứu tìm hiểu về

những yếu tố gây ra những bất bình đẳng này Một số

nghiên cứu gần đây đã chỉ ra những khoảng cách giới

trong tiếp cận giáo dục đại học, học nghề, cơ hội việc

làm, và thu nhập ở Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo

2015; Viện Khoa học Lao động và Xã hội (KHLĐXH)

và Viện Phát triển Phụ nữ Hàn Quốc 2014; Ngân hàng

Thế giới 2011; Cunningham, Buchhave và Alidadi

2018; Tổ chức Lao động Quốc tế 2015) Những nghiên

cứu này cho thấy phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận giáo dục

và việc làm hơn nam giới, đồng thời chỉ ra những nhóm

phụ nữ gặp nhiều bất lợi hơn, như nhóm phụ nữ dân

tộc thiểu số và phụ nữ khuyết tật Tuy nhiên, những rào

cản gây nên bất bình đẳng giới tại thị trường lao động

chưa được nghiên cứu nhiều, vì thế có rất ít bằng chứng

để hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách tìm giải pháp

giải quyết tình trạng này

Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực tăng cường hỗ trợ

người dân tìm việc làm Nguồn hỗ trợ chính của Chính

phủ cho quá trình tìm việc chính là các trung tâm dịch

vụ việc làm (TTDVVL), một tổ chức nhà nước chịu

trách nhiệm giới thiệu thông tin việc làm và hướng

dẫn tìm việc, cũng như quản lý trợ cấp bảo hiểm thất

nghiệp Hệ thống TTDVVL được phân cấp mạnh,

nghĩa là mỗi tỉnh sẽ tự xác định vai trò, trách nhiệm,

và chức năng của TTDVVL của mình Các trung tâm

không thu thập hay chia sẻ thông tin nhất quán toàn

quốc về người thụ hưởng, dịch vụ, và kết quả với địa

phương khác, vì thế không có cơ sở dữ liệu ai đang sử

dụng dịch vụ và nữ giới chiếm tỷ lệ bao nhiêu Nguồn

hỗ trợ thứ hai là các cơ sở dạy nghề Các cơ sở dạy nghề

cũng được phân cấp Các bộ và sở, khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ này nhưng không thu thập và chia sẻ thông tin về người sử dụng và dịch vụ của họ Cơ chế này khiến rất khó nắm bắt được mức độ hỗ trợ của các

cơ sở dạy nghề đối với phụ nữ và cần cải thiện như thế nào để đáp ứng nhu cầu của phụ nữ tốt hơn Việt Nam cần tập trung vào các chính sách giảm các rào cản tham gia thị trường lao động trên cơ sở giới để đảm bảo vừa phát triển kinh tế, nâng tăng mức sống cho người dân, vừa đạt các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới Bất bình đẳng giới trên thị trường lao động ở một quốc gia

là vấn đề cần được xử lý vì ít nhất ba lý do sau đây Thứ nhất, nếu tận dụng được toàn bộ tiềm năng của phụ

nữ trên thị trường lao động, hiệu quả kinh tế vĩ mô có thể tăng Thứ hai, việc làm có thể trực tiếp giúp phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và các lợi ích liên quan Thứ ba, nâng cao cơ hội việc làm cho phụ nữ có tác động thúc đẩy tích cực tới quyền tự quyết, khả năng kiểm soát, và quyền lực của phụ nữ, là những yếu tố quan trọng với hạnh phúc và thành công của họ (xem thêm ví dụ trong báo cáo của Cunningham, Buchhave

và Alidadi 2018)

Câu hỏi nghiên cứu

Để giúp bổ sung những khoảng trống kiến thức nói trên, nghiên cứu này sử dụng ba phương pháp định đính để tìm hiểu về quan điểm của các bên liên quan về

cơ chế gây ra bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam và các chính sách liên quan: (1) phỏng vấn theo đoạn đời từng cá nhân; (2) thảo luận nhóm tập trung; và (3) phỏng vấn chuyên gia Nghiên cứu trả lời

ba câu hỏi chung sau đây:

1 Những hạn chế nào gây ra bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam?

2 Thông tin nào được sinh viên và người tìm việc phân theo nam/nữ sử dụng để hỗ trợ họ quyết định

về ngành học, kỹ năng cần học, và để tìm việc?

3 Mức độ hiệu quả của các cơ sở dạy nghề và hệ thống TTDVVL hiện nay trong việc giải quyết các hạn chế trên cơ sở giới?

Trang 8

Nghiên cứu này bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên

cứu hiện có (chủ yếu là định lượng) về bất bình đẳng

giới tại thị trường lao động Việt Nam (gồm các nghiên

cứu của Ngân hàng Thế giới) bằng cách sử dụng các

phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội định tính

để tìm hiểu nguyên nhân những hướng đi khác nhau

giữa nam và nữ Nghiên cứu này sử dụng ba phương

pháp thu thập dữ liệu: (1) thực hiện một số nhỏ các

phỏng vấn theo đoạn đời với những đối tượng nữ giới

khác nhau; (2) thảo luận nhóm tập trung với nam và nữ

ở các vùng miền khác nhau; và (3) phỏng vấn những

người ra quyết định trong lĩnh vực giáo dục và việc làm

Trong khi các nghiên cứu định lượng kiểm chứng các

giả định thông qua sử dụng các tham số thống kê và

mẫu đại diện hay ngẫu nhiên, mục tiêu của nghiên cứu

định tính lại là tìm ra các vấn đề đối lập và vấn đề phổ

biến từ kinh nghiệm và quan điểm cá nhân

Nghiên cứu này đặc biệt nhấn mạnh tới bối cảnh của

những khác biệt trên cơ sở giới trên thị trường lao

động Nghiên cứu tiếp cận khái niệm giới không phải

được xác định tự nhiên mà được kiến tạo bởi xã hội1,

chịu sự chi phối của các yếu tố văn hoá, chính trị, tôn

giáo, và dân tộc Với phương pháp tiếp cận này, chính

sách thị trường lao động không thể phân tích riêng lẻ

mà không xem xét tới các chính sách xã hội và gia đình

Các phát hiện nghiên cứu được hiểu là quan điểm phổ

biến của nam và nữ Việt Nam

Các phát hiện này không mang tính đại diện thống kê,

nhưng phải cho thấy sự đa dạng về quan điểm giới trên

thị trường lao động Sự so sánh (và những nhận thức

chung) được rút ra giữa nam và nữ, giữa những người

phụ nữ thuộc các nhóm khác nhau theo độ tuổi, học

vấn, dân tộc, vị trí địa lý, tình trạng việc làm, và tình

trạng làm cha mẹ

Các phát hiện

Các phát hiện từ cuộc nghiên cứu định tính này khẳng

định sự tồn tại của các dạng bất bình đẳng giới trên thị

trường lao động Việt Nam, được tóm tắt thành sáu phát

hiện chính sau:

Thứ nhất, nhiều phụ nữ Việt Nam có công việc không

ổn định Cụ thể, các thảo luận nhóm tập trung xác định

ba nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương nhất và khó tìm được việc làm: nhóm mẹ đơn thân, nhóm phụ nữ khuyết tật,

và nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số

Thứ hai, các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn cá nhân

và chuyên gia khẳng định quan niệm của xã hội và Chính phủ cho rằng vai trò quan trọng nhất của người phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, sau đó mới tới vai trò người lao động, trong khi vai trò chính của nam giới là người lao động, nhưng vai trò thứ hai của họ hầu như không được nhắc đến Những người tham gia nghiên cứu cho rằng sự nghiệp là ưu tiên thứ hai của người phụ nữ, sau việc chăm sóc gia đình, nên những phụ nữ trẻ lựa chọn các con đường học hành và nghề nghiệp cho phép họ

ưu tiên nghĩa vụ gia đình Các bạn gái và cha mẹ họ suy nghĩ giống nhau, và rất ít bạn gái tham gia nghiên cứu đặt nghi ngờ về quan điểm này Các nhóm thảo luận cho thấy phụ nữ trẻ cần hướng tới lựa chọn các công việc có chế độ nghỉ thai sản, ít làm thêm giờ, và ít áp lực – chủ yếu là công việc nhà nước – vì luật lao động

và các chính sách gia đình chưa tạo ra độ linh hoạt cần thiết trong thị trường lao động nói chung Ngược lại, đàn ông chịu nhiều áp lực từ gia đình, bạn gái, vợ, và

từ chính bản thân phải có được công việc thu nhập cao; vấn đề cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình của người đàn ông không được người tham gia đề cập tới trong cuộc nghiên cứu

Thứ ba, các cuộc thảo luận nhóm tập trung đều thống nhất quan điểm cha mẹ có vai trò quan trọng trong việc định hướng cuộc đời của con gái, mặc dù họ hiểu biết hạn chế về thị trường lao động và cơ hội học tập Cha

mẹ và con cái đều đề cao vai trò của cha mẹ trong việc xác định cơ hội nghề nghiệp Cả hai cho biết cha mẹ tìm hiểu trên Internet và các cơ hội học tập và nghề nghiệp của con cái Cha mẹ đặc biệt không hài lòng về tình trạng thiếu thông tin tổng hợp và cho rằng chính phủ cần cải thiện vấn đề này Các bạn nữ cho rằng họ khá thụ động trong việc theo đuổi đam mê, mà nhanh chóng nghe theo lời khuyên của người thân Định kiến giới nặng

nề của cha mẹ ảnh hưởng tới cơ hội của con gái, chẳng

1 Nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết và mô hình xử lý vấn đề “định hình giới” theo quan điểm kiến tạo xã hội – xác định giới không phải là một khái niệm tự nhiên mà là một khái niệm được xã hội kiến tạo Các yếu tố văn hoá, chính trị, tôn giáo và dân tộc đều ảnh hưởng tới ý nghĩa giới (Hagemann-White 1988:230) Theo đó, cấu trúc xã hội ảnh hưởng và thậm chí xác định ý nghĩa giới và bất bình đẳng giới ở Việt Nam Những tác động này có thể được nhìn thấy trong cấu trúc gần đây của thị trường lao động “Định hình giới” là một quá trình tạo và tái tạo khái niệm giới phụ thuộc vào các phát triển của xã hội (Gildemeister 2010:137) Vì thế, khái niệm này cho rằng các biện pháp chính trị-xã hội trung

và dài hạn, chính sách thị trường lao động, và chính sách gia đình sẽ ảnh hưởng tới khái niệm giới trong một xã hội Hơn nữa, khái niệm này còn cho thấy việc phân tích thị trường lao động của một quốc gia cần phải có sự hiểu biết về chính sách xã hội và gia đình.

Trang 9

hạn cha mẹ cho rằng con gái yếu đuối hơn con trai nên

cần đi học hoặc đi làm gần nhà để cha mẹ có thể bảo vệ

tới khi lập gia đình Quan điểm này được nhấn mạnh

trong các cuộc thảo luận nhóm, ngay cả với nhóm nữ

dân tộc thiểu số và nữ khuyết tật Phụ nữ dân tộc thiểu

số cho rằng họ chịu ảnh hưởng bởi các chuẩn mực và

truyền thống văn hoá coi con gái là vật sở hữu của cha

mẹ Một số người giải thích hôn nhân của họ giúp cha

mẹ có thêm đất canh tác và vì thế tăng thu nhập cho gia

đình Những phụ nữ này thường kết hôn sớm, và ít có cơ

hội học tới phổ thông trung học hay cao đẳng, đại học

Trong những cộng đồng này, vai trò của phụ nữ đối với

việc sinh và chăm con còn quan trọng hơn so với nhiều

hộ người Kinh Một lần nữa, rất ít bạn gái tham gia thảo

luận nhóm phản bác quan điểm này

Thứ tư, thảo luận nhóm cho thấy các chính sách lao

động hiện thời của chính phủ chưa tính tới các nhu cầu

của gia đình hiện đại một cách đầy đủ Ví dụ, luật chưa

khuyến khích giờ làm việc linh hoạt, làm việc bán thời

gian, hay cơ hội làm việc tại nhà, dẫn tới tình trạng bất

bình đẳng giới trên nhiều phương diện Phụ nữ có trình

độ và con nhỏ nói rằng phải nghỉ việc vì không có dịch

vụ giữ trẻ, nhất là ở thành thị vì nhiều người không

thể nhờ người thân trông giúp Mọi người cho rằng mẹ

đơn thân phải làm việc nuôi gia đình thường chấp nhận

công việc lương thấp, trình độ thấp, và không ổn định,

dù họ có học vấn cao

Thứ năm, phụ nữ nghĩ rằng giáo viên và người sử dụng

lao động có các thiên kiến giới dẫn đến những đối xử

khác biệt giữa nam và nữ trong các chương trình dạy

nghề và tại nơi làm việc Các bạn gái đánh giá cao trình

độ của giáo viên dạy nghề, nhưng giáo viên không

khuyến khích sinh viên nữ theo học các ngành nghề

thường dành cho nam, song lại khuyến khích sinh viên

nam theo học các ngành nghề thường dành cho nữ

Một số người phản ánh tại nơi họ làm việc, người sử

dụng lao động không tuân thủ luật lao động quy định

về vấn đề cân bằng giữa công việc và gia đình Tuy

nhiên, chính nhiều phụ nữ cũng phản đối những người

phụ nữ theo sự nghiệp chuyên môn, vì cho rằng những

người đó ích kỉ, ưu tiên sự nghiệp hơn gia đình Phụ

nữ khuyết tật cảm thấy chịu nhiều thiệt thòi đặc thù vì người sử dụng lao động chỉ nhìn vào các hạn chế về thể chất và tâm lý của họ, hơn là chú ý tới kỹ năng và kiến thức của người khuyết tật

Thứ sáu, các chương trình thị trường lao động hiện thời có thể phục vụ tốt hơn cả nam và nữ đang tìm việc

Hệ thống TTDVVL ở Việt Nam giúp những người lao động tiềm năng có thể tiếp cận với việc làm và đào tạo Nghiên cứu định tính cho thấy cha mẹ và phụ nữ tìm việc đánh giá nhân viên ở các trung tâm địa phương

hỗ trợ thông tin tìm việc không hiệu quả Thực tế, cả nam và nữ tham gia thảo luận nhóm đều thiếu niềm tin

về sự trung thực và tin cậy của các TTDVVL và nghĩ rằng các trung tâm này chỉ phù hợp với người tìm việc không có tay nghề

Phụ nữ khuyết tật chịu gánh nặng kép khi tiếp cận thị trường lao động Các chương trình thị trường lao động nên quan tâm nhiều hơn tới giúp phụ nữ khuyết tật có tay nghề tham gia thị trường lao động và giúp ảnh hưởng nhận thức của người dân về các cách phụ nữ khuyết tật

có thể tham gia có ý nghĩa vào thị trường lao động

Khuyến nghị chính sách

Các phát hiện từ nghiên cứu giúp tăng hiểu biết về những rào cản tạo ra bất bình đẳng giới trên thị trường lao động Việt Nam và các cách cải thiện chính sách và hoạt động can thiệp như dịch vụ kết nối thị trường lao động để xử

lý những rào cản này Các phát hiện từ thảo luận nhóm nhìn chung đều có độ tin cậy cao và phù hợp với các kết quả nghiên cứu định lượng Kết quả cho phép đưa ra một

số khuyến nghị chính sách (bảng 1) dành cho những người làm chính sách, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm cải thiện các trải nghiệm thị trường lao động của phụ nữ Báo cáo này cũng phù hợp với khu vực tư nhân

vì khu vực này cũng có trách nhiệm giải quyết những rào cản việc tham gia bình đẳng vào thị trường lao động, như

hỗ trợ cung cấp dịch vụ giữ trẻ, đã được quy định trong

Bộ Luật Lao động năm 2019

Trang 10

BẢNG 1 Khuyến nghị chính sách rút ra từ nghiên cứu định tính

Định hướng chính

Tăng cường tư vấn

hướng nghiệp cho

cha mẹ và học sinh

Cung cấp trực tuyến thông tin tổng hợp về nghề nghiệp, cơ hội học tập, tuyển dụng, theo hình thức

dễ sử dụng, gồm những thông tin cần thiết giúp xác định con đường học hành và nghề nghiệp Cải thiện hoạt động hướng nghiệp bằng cách tổ chức các buổi tư vấn ở trường phổ thông trung học cho cha mẹ và học sinh

Mở rộng và điều chỉnh dịch vụ của TTDVVL để giải quyết hiệu quả hơn các rào cản trên cơ sở giới của người tìm việc

Đào tạo cán bộ giới thiệu việc làm và các nhân viên khác của TTDVVL để cung cấp các dịch vụ tư vấn

và hướng dẫn đáp ứng nhu cầu cụ thể theo giới, đặt mục tiêu tiếp cận người khuyết tật

Tổ chức các buổi cung cấp thông tin cho cha mẹ, giúp họ hiểu rõ hơn về cơ hội học tập và nghề nghiệp cho con gái của họ

Thay đổi định kiến

Tổ chức các chương trình giúp các em nữ phát triển quyền tự quyết

Thay đổi điều kiện

Thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức, thảo luận, và tập huấn cho người sử dụng lao động

và các nhà quản lý nhân sự về chiến lược phát triển nguồn nhân lực hiện đại và hoạch định kế hoạch công việc có tính nhạy cảm giới

Tiếp tục mở rộng việc cung cấp (đặc biệt ở vùng nông thôn) và nâng cao chất lượng dịch vụ giữ trẻ từ

0 tới 3 tuổi và giáo dục mầm non từ 4 tới 6 tuổi

Tăng cung cấp các dịch vụ giữ trẻ dưới 3 tuổi và tổ chức dịch vụ đáp ứng nhu cầu gửi trẻ ngoài giờ hành chính

Trang 11

NHẬN THỨC VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

TẠI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1 GIỚI THIỆU

Trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam đã có những phát

triển mạnh mẽ để trở thành quốc gia có thu nhập trung

bình thấp và giảm nghèo Phần lớn người dân có việc

làm, khiến tỉ lệ thất nghiệp toàn quốc thấp hơn các

nước khác trong cùng nhóm thu nhập trung bình Tuy

nhiên, chất lượng việc làm ở Việt Nam không đồng đều

Chỉ khoảng 2,1 triệu người làm việc cho doanh nghiệp

nước ngoài và 9,8 triệu người có hợp đồng lao động

trong khu vực nhà nước hoặc doanh nghiệp nội địa,

còn phần lớn người dân không có công việc ổn định,

điều kiện làm việc không đạt chuẩn, và không có hợp

đồng lao động Hơn 30 triệu người làm nông nghiệp gia

đình hoặc hộ kinh doanh Khoảng 8 triệu người không

có hợp đồng lao đồng Nói cách khác, phần lớn việc làm

ở Việt Nam không ổn định, lương thấp, và năng suất

thấp (Cunningham và Pimhidzai 2018)

Phụ nữ nhìn chung thiệt thòi hơn nam giới trên thị

trường lao động, dù nguyên nhân của các dạng bất

bình đẳng này chưa được xác định rõ Phụ nữ chiếm

đa số trong số lao động nông nghiệp hộ gia đình và hộ

kinh doanh Nếu xét về các lợi ích xã hội, đây là những

công việc được trả lương thấp nhất và ít được bảo vệ

nhất ở Việt Nam Ngược lại, lao động nữ (làm thuê) có

nhiều khả năng được kí hợp đồng lao động cao hơn so

với nam giới Nhưng họ được trả lương ít hơn 10 phần

trăm so với nam, thậm chí tới 12 phần trăm khi so giữa

nam và nữ có cùng trình độ học vấn và cùng công việc

Số liệu cho thấy sự khác biệt về loại công việc, ngành

học, và hoàn cảnh gia đình (tình trạng hôn nhân và vị

thế cha mẹ) gây nên những khoảng cách giới này Cơ

chế tạo ra những yếu tố này, bộc lộ trong những trải

nghiệm thị trường lao động của phụ nữ, cũng như các

yếu tố khác có thể đang gây ra các khoảng cách giới

không được thể hiện trên số liệu của cuộc khảo sát định

lượng (Cunningham, Buchhave và Alidadi 2018)

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH)

đang cải cách một số dịch vụ liên quan đến thị trường

lao động nhằm giải quyết những hạn chế trên thị trường

lao động và những vấn đề ảnh hưởng tới các nhóm lao

động cụ thể Cụ thể hơn, Bộ LĐ-TB-XH gần đây đã tiếp

nhận hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp (CSGDNN)

và cam kết cải thiện chất lượng dịch vụ của hệ thống

Bộ LĐ-TB-XH cũng đang nâng cấp các TTDVVL để hỗ trợ người tìm việc tốt hơn Bộ cũng đang nghiên cứu

sử dụng nguồn dữ liệu phong phú của mình để cung cấp cho sinh viên, người tìm việc, và phụ huynh thông tin về đặc điểm và xu hướng của thị trường lao động giúp họ lên kế hoạch về con đường sự nghiệp, cũng như cung cấp thông tin cho các các CSGDNN và cơ sở giáo dục, người làm chính sách để họ có thể tối ưu hóa thiết

nữ giới đối với các chính sách can thiệp thị trường lao động để giảm thất nghiệp và đặc biệt từ CSGDNN và TTDVVL Bằng chứng không chính thức cho thấy các yếu tố tác động các quyết định trước khi tuyển dụng – rốt cuộc sẽ ảnh hưởng tới quyết định chọn việc làm, nhưng hiện không có số liệu đáng tin cậy về cách thức cha mẹ ảnh hưởng tới lựa chọn nghề nghiệp của con cái

từ quan điểm giới Ngoài ra, nhận thức của nhóm phụ

nữ dễ bị tổn thương hơn (như mẹ đơn thân, phụ nữ dân tộc thiểu số, và phụ nữ khuyết tật) cũng chưa được phân tích thực nghiệm Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu về những vấn đề nói trên để đưa ra các khuyến nghị giúp cho người làm chính sách thực hiện các chương trình cải thiện thị trường lao động manh tính bao trùm và

có nhạy cảm giới cho mọi người lao động ở Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong khoa học xã hội để phân tích cơ chế tạo ra bất bình đẳng giới trong thị trường lao động Việt Nam Nghiên cứu tìm hiểu nhận thức của nam và nữ, so sánh

họ theo giới và các đặc điểm mỗi giới để hiểu rõ hơn các trải nghiệm cá nhân, nhận thức, và quan điểm về nhu cầu của nữ và nam có được việc làm phù hợp hoàn cảnh sống

Phần 2 cung cấp thông tin về môi trường thể chế và pháp lý ở Việt Nam, cũng như tóm tắt các phát hiện về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam

Trang 12

Phần 3 miêu tả các phương pháp định tính sử dụng

trong nghiên cứu, cụ thể là phương pháp phỏng vấn

cá nhân theo đoạn đời, thảo luận nhóm tập trung, và

phỏng vấn những người am hiểu tình hình Phần 4 thảo luận về các phát hiện thực nghiệm, phần 5 dành cho khuyến nghị chính sách

Xu hướng thị trường lao động và bình đẳng giới

Việt Nam chỉ có thể đạt được mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình, phát triển bao trùm, và dân chủ nếu xoá được các khoảng cách giới về kinh tế và xã hội Bình đẳng giới về việc làm được coi là một yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu phát triển này Phụ nữ được tiếp cận và thành công trong các công việc hiện đại sẽ tạo ra tăng trưởng kinh tế, có thu nhập cao hơn, và phát triển quyền tự quyết và tiếng nói của mình để đóng vai trò tích cực hơn trong cuộc sống chung và riêng

Những xu hướng chuyển biến lớn đang xuất hiện có thể đe doạ hoặc chuyển đổi tích cực bối cảnh việc làm ở Việt Nam Ví dụ,

sự gia tăng các ngành công nghiệp thâm dụng tri thức sẽ đòi hỏi các kỹ năng, quy trình sản xuất, và mô hình xuất khẩu mới; tình trạng già hoá dân số làm tăng nhu cầu dịch vụ chăm sóc từ nhóm dân số trong độ tuổi lao động nhưng đang giảm đi về số lượng; và tự động hoá có thể thay thế vị trí một số công nhân và chuyển đổi hình thái công việc của số công nhân khác Cơ cấu việc làm ở Việt Nam chưa đủ khả năng thích ứng với những xu hướng lớn này Phần lớn việc làm ở Việt Nam đến từ nông nghiệp

hộ gia đình, hộ kinh doanh, hoặc lao động kỹ năng thấp nên không thể giúp người lao động chuyển sang công việc tốt hơn Rất

ít việc làm có khả năng nắm bắt những xu hướng lớn: chỉ 2,2 triệu việc làm từ doanh nghiệp nước ngoài trả cao hơn mức lương tối thiểu, trong khi các doanh nghiệp nội địa tạo ra không quá sáu triệu việc làm Tuy nhiên, các hành động chính sách có thể hỗ trợ các phân khúc của nền kinh tế có khả năng tận dụng các xu hướng lớn để tạo ra nhiều việc làm hơn, tốt hơn, và mang tính bao trùm hơn Có ba lĩnh vực cần cải cách: (1) tạo ra nhiều việc làm hơn trong phân khúc cần nhiều việc làm của khu vực hiện đại, cụ thể thông qua doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, công-nông nghiệp và chuỗi giá trị; (2) nâng cao chất lượng việc làm trong khu vực truyền thống như nông nghiệp hộ gia đình và hộ kinh doanh; và (3) kết nối lao động có trình độ với công việc phù hợp, điều này đòi hỏi kết hợp nâng cao kỹ năng, kết nối công việc với người lao động, và giảm rào cản đối với công việc Các xu hướng lớn mới được tin là sẽ tạo ra những rủi ro và cơ hội mới xoay quanh việc làm cho phụ nữ Việt Nam Xu hướng nhân khẩu học sẽ tạo ra nhiều việc làm ‘cổ hồng’ dưới hình thức dịch vụ chăm sóc người cao tuổi theo nhu cầu thị trường Sự trỗi dậy của nền kinh tế tri thức có thể mang lại lợi ích cho nữ giới hiện đang có tỷ lệ học vấn cao hơn nam giới Tuy nhiên, nếu không được quản lý tốt, chính những xu hướng này có thể đe dọa những tiến bộ mà phụ nữ đã đạt được Già hoá dân số có thể buộc phụ nữ dành nhiều thời gian chăm sóc gia đình hơn, do đó giảm thời gian cho công việc Sự trỗi dậy của nền kinh tế tri thức có thể bỏ qua phụ nữ, vì họ ít tham gia hơn nam giới vào các ngành học và công việc liên quan tới khoa học, công nghệ, kỹ thuật

sự nhấn mạnh vào vai trò giới và định kiến giới, làm tăng vai trò và trách nhiệm của phụ nữ trong hộ gia đình và do đó tăng tình trạng mất cân bằng của phụ nữ giữa vai trò trong gia đình và vai trò trên thị trường, vốn có từ trước đại dịch COVID19

(Trích từ Cunningham, Buchhave, Alidadi 2018, “Tương lai Việc làm ở Việt Nam dưới Góc nhìn Giới”, Ngân hàng Thế giới Ngoài ra, các trích dẫn từ các nguồn khác đều được ghi rõ).

Trang 13

2 BỐI CẢNH VIỆT NAM

Việt Nam đã được nhiều thành tựu kinh tế và xã hội kể từ

công cuộc cải cách kinh tế năm 1986 (Vu 2016) Từ một

nước nghèo, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu

nhập trung bình vào năm 2015 Tỉ lệ nghèo giảm nhanh

Tỷ lệ dân số sống dưới mức 1,90$/ngày giảm từ 50 phần

trăm đầu thập niên 1990 xuống còn 3 phần trăm năm

2016 (IBRD và MPI, 2016) Mọi lĩnh vực đời sống xã hội,

gồm giáo dục và y tế, đều phát triển Khả năng tiếp cận cơ

sở hạ tầng cơ bản, điện, nước, và điều kiện vệ sinh hiện

đại được cải thiện đáng kể Công nghệ thông tin và truyền

thông cũng tăng trưởng nhanh, là động lực quan trọng để

duy trì và thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách

thức Thành tựu giảm nghèo chưa bền vững, đặc biệt

ở khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số Tăng trưởng

năng suất lao động vẫn duy trì ở mức cao trong toàn bộ

nền kinh tế và trong các ngành nhưng trong nông nghiệp

thấp hơn so với hầu hết các nước trong cùng nhóm thu

nhập trung bình (Ngân hàng Thế giới, 2017) Bức tranh

tổng thể về việc làm tích cực vẫn tiềm ẩn những vấn đề

nghiêm trọng Nhiều người Việt Nam đang làm công việc

gia đình không được trả lương, công nhân được trả lương

không có hợp đồng lao động, lao động thời vụ, hoặc lao

động tạm thời trong các công việc có thời gian làm việc

dài và không thường xuyên, không có bảo hiểm xã hội, và

thu nhập bấp bênh Việc tự làm phi chính thức vẫn phổ

biến, với gần 60 phần trăm lao động làm chủ các hộ kinh

doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp

Việc làm của nam và nữ có sự khác biệt: trong khi lao

động nữ tuổi từ 15 tới 24 làm việc trong khu vực chính

thức nhiều hơn nam, họ cảm thấy rất khó tìm được việc

làm trong khu vực chính thức khi tái gia nhập thị trường

lao động sau thời gian nghỉ việc để chăm lo cho gia đình

2.1 Thách thức liên quan bất bình đẳng giới

Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam được

thế giới công nhận đã có nhiều thành tựu đáng kể

trong thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ

Những thành tựu này gồm xây dựng và ban hành các

luật thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới, và Việt Nam

cũng giảm bất bình đẳng giới nhanh hơn hầu hết các

nước đang phát triển trong 20 năm qua (Chương trình

Phát triển Liên hiệp quốc, 2018) Việt Nam cũng đạt

được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ về trao quyền

cho phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới

Việt Nam có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tương

đối cao ở cả nam và nữ: trung bình 76,2 phần trăm so

với 63 phần trăm của Hàn Quốc và 66,7 phần trăm của

Indonesia Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt Nam ở mức cao, đạt 73,2 phần trăm (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2018), khẳng định tầm quan trọng của việc tham gia lực lượng lao động của phụ nữ (hình 2.1)

Do đó, thách thức liên quan tới bất bình đẳng giới trên thị trường lao động không phải là vấn đề tham gia làm việc

mà là vấn đề chất lượng việc làm Một công việc có chất lượng cao được xác định bởi điều kiện làm việc tốt và ổn định, thời gian làm việc ổn định, lương đều đặn, không

có công việc không được trả lương; nhưng bằng chứng cho thấy nhiều phụ nữ không nhận được các công việc như vậy (Cunningham và Pimhidzai 2018) Còn tồn tại khoảng cách giới đáng kể trong việc phân bổ việc làm theo ngành và lĩnh vực, theo khu vực địa lý, giữa các nhóm dân tộc và giữa các tầng lớp xã hội Mặc dù Bộ Luật Lao động quy định doanh nghiệp phải thực hiện các chính sách bình đẳng giới với người lao động, nhưng bằng chứng cho thấy thực tế không diễn ra như Luật định

Trong khi đó, tình trạng chênh lệch tiền lương theo giới còn phổ biến, lao động nữ có thu nhập thấp hơn nam ở hầu hết các lĩnh vực ngành nghề Năm 2015, thu nhập của lao động nữ thấp hơn 10 phần trăm so với nam; mức chênh lệch lương tang lên 12 phần trăm khi so sánh nam và nữ cùng trình độ học vấn trong cùng ngành Chowdhury và cộng sự (2018) lượng hóa tình trạng này, cho thấy lao động nữ kiếm được ít hơn nam ba triệu đồng (129 đô-la)/năm – tức là gần một tháng thu nhập Dù nữ giới có trình độ học vấn cao và tốt nghiệp các đại học trên toàn quốc, nhưng lao động nữ vẫn có xu hướng tập trung vào các ngành sản xuất trả lương thấp hơn, trong ngành may mặc và giày dép; trong ngành dịch vụ, như thương mại, nhà hàng, khách sạn; trong lĩnh vực giáo dục, và giúp việc gia đình được trả lương (Cunningham và cộng

sự 2018b)

HÌNH 2.1 Tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam

77,3 73,38

Tháng 4/2015 Tháng 7/2015Tháng 10/2015Tháng 1/2016 Tháng 4/2016 Tháng 7/2016Tháng 10/2016Tháng 7/2017Tháng 10/2017

73,2 73,2 73,24

77,5 78,8 76,2 76,4 76,7 76,8 76,4 76,9

Tổng số % Phụ nữ %

Nguồn: Tác giả dựa theo Tổ chức Lao động Thế giới 2018.

Trang 14

vấn thấp hơn và do đó làm việc trong những điều kiện kém hơn Trong số thanh niên từ 20 đến 35 tuổi có trình

độ học vấn cao, nam có việc làm có tay nghề chuyên môn nhiều hơn nữ mặc dù nữ có nguyện vọng nghề nghiệp giống hoặc thậm chí cao hơn nam Trong ngắn hạn, Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách giới và xóa bỏ các chuẩn mực giới trong thị trường lao động khi chính thị trường lao động đang thay đổi, và các em gái có thể sẽ mất thêm các cơ hội có được các kỹ năng cần thiết

2.3 Bất bình đẳng giới tại các địa phương trên thị trường lao động

Nghiên cứu này phân tích nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam và về vai trò của các chương trình can thiệp thị trường lao động trong việc duy trì hoặc làm giảm các dạng bất bình đẳng giới này Phân tích tập trung vào hai thành phố lớn nhất ở Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), và hai tỉnh Quảng Nam và Điện Biên Hà Nội

và TP HCM là động lực phát triển của cả nước, tập trung những cơ hội có thu nhập cao nhất và những công việc năng suất cao nhất Ngược lại, Điện Biên và Quảng Nam là địa bàn nông thôn chủ yếu Vì bối cảnh của bốn địa phương này rất khác nhau, nên cần xem xét sâu hơn đặc điểm của từng địa phương

Hà Nội Không chỉ là trung tâm chính trị, văn hoá,

và khoa học, thủ đô Hà Nội đóng vai trò quan trọng trong kinh tế và thương mại quốc tế Năm 2017, dân

số Hà Nội khoảng 7,6 triệu người Thành phố có tốc

độ đô thị hoá nhanh, với mật độ dân cư trung bình

ở trung tâm đô thị là 11.220 người/km2 Năm 2017,

Hà Nội có 3,8 triệu người lao động, với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 67,8 phần trăm (Cục Thống kê

Hà Nội 2017)2 Tỷ lệ tham gia thị trường lao động của

nữ gần bằng với nam Trong cùng năm, 48.812 người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, tăng 23,01 phần trăm so với năm 2016 Trong khi đó, 1.900 người đủ điều kiện được hỗ trợ học nghề, giảm 11,5 phần trăm so với năm 20163

Hà Nội là trung tâm giáo dục của Việt Nam Đến cuối năm

2017, Hà Nội có khoảng 2.600 trường, phần lớn là công lập nhưng số lượng trường dân lập ngày càng tăng Trong những năm gần đây, trung bình mỗi hộ gia đình ở thành phố có từ một đến hai con Khi kinh tế gia đình cải thiện, nhiều trẻ em, gồm cả nam và nữ, đã có thể học lên trung cấp, cao đẳng, và đại học Tuy nhiên, con em hộ nghèo, cận nghèo và thu nhập trung bình vẫn khó chi trả học phí ở bậc cao đẳng, đại học, và dạy nghề, kể cả được giảm

2.2 Môi trường kinh tế, thể chế, và pháp lý

Tính đến năm 2015, 50,4 triệu người tham gia thị

trường lao động Việt Nam, đồng đều nam và nữ

Khoảng 30 triệu người làm nông nghiệp và làm cho gia

đình (Cunningham và Pimhidzai 2018); trong số những

người làm công ăn lương, gần một nửa không có hợp

đồng lao động Mức lương trung vị theo giờ của người

lao động không có hợp đồng trong các doanh nghiệp

tư nhân thấp hơn khoảng 30 phần trăm so với mức của

những người có hợp đồng Người lao động trong các

doanh nghiệp nhà nước hoặc các cơ quan chính phủ có

mức lương trung vị cao nhất, nhưng chỉ khu vực công

chỉ chiếm 10 phần trăm lực lượng lao động

Mặc dù nhiều việc làm mới đã được tạo ra, nhưng có

tới 76 phần trăm người lao động vẫn đang làm công

việc chất lượng thấp, đặc trưng bởi những lương không

đều, thời gian làm việc dài và không có phúc lợi xã hội

(Cunningham và Pimhidzai 2018) Người lao động tự

làm và lao động không có hợp đồng đều không được

hưởng các phúc lợi xã hội hoặc bảo hiểm y tế Dù 85

phần trăm người lao động có hợp đồng có cả bảo hiểm y

tế và bảo hiểm xã hội, số người này chỉ chiếm một phần

nhỏ trong số người lao động trên toàn quốc Tỷ lệ phụ nữ

có bảo hiểm cao hơn một chút so với nam giới

Trình độ học vấn của người lao động có liên hệ với việc có

việc làm có hợp đồng, quyền lợi và / hoặc bảo hiểm Theo

Khảo sát Lực lượng Lao động Việt Nam năm 2014, trong

khi dưới 25 phần trăm người lao động có trình độ trung

học cơ sở có hợp đồng lao động thì hơn 80 phần trăm

người lao động có trình độ đại học hoặc cao đẳng có hợp

đồng Lao động dân tộc thiểu số thường có trình độ học

HÌNH 2.2 Chênh lệch tiền lương theo giới

-12,6

Nguồn: Demombynes và Testaverde, 2018.

Ghi chú: Ước tính có tính tới các phân bổ khác nhau giữa nam và nữ về

nhân khẩu, giới, và nghề nghiệp.

2 Tính tới tháng 4/2019 (Tổng điều tra dân số), Hà Nội có 8,05 triệu dân.

3 http://vlhanoi.vieclamvietnam.gov.vn/gioithieu.aspx.

Trang 15

Theo số liệu năm 2017, ngành dịch vụ có nhu cầu lao động cao nhất, đặc biệt là về lao động phổ thông hoặc

kỹ năng thấp, tương đương 32,1 phần trăm so với 27,2 phần trăm đối với lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học hoặc sau đại học Cùng năm, tỷ lệ thất nghiệp của TP HCM xuống dưới 4 phần trăm (Uỷ ban Nhân dân TP HCM 2016) Mặc dù số người đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng nhưng số người tìm việc đến TTDVVL lại giảm.4 Cuộc cạnh tranh tìm việc ở thành phố rất khốc liệt, mỗi ứng viên phải cạnh tranh với 48 người khác cho một vị trí tuyển dụng.5 Nhu cầu lao động năm 2017 tập trung trong lĩnh vực kinh doanh

và bán hàng (19,48 phần trăm); dịch vụ và ăn uống (15,54 phần trăm); vận tải, kho bãi, xuất nhập khẩu (7,1 phần trăm); dệt may và giày dép (6,63 phần trăm)

So với Hà Nội, TP HCM đã tiên phong phát triển

và hiện thực hoá các sáng kiến thúc đẩy bình đẳng giới bằng nhiều cách Đặc biệt, thành phố đã mở rộng cung cấp dịch vụ giữ trẻ thông qua 91 cơ sở giáo dục mầm non công lập và đã phát triển các dự

án xây trường mầm non tại 12 khu công nghiệp và khu chế xuất Thành phố hỗ trợ tài chính giúp thành lập các trường tư và các nhóm trẻ độc lập tư thục Thành phố cũng có những chính sách trợ cấp cho cán bộ, nhân viên nhà trẻ, mẫu giáo, thậm chí cho vay không lãi suất đối với sinh viên cam kết làm cho các trường công lập của thành phố sau khi tốt nghiệp.6Một số trường đại học, như Đại học Sư phạm TP HCM giảm học phí cho sinh viên nữ học ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán) hoặc kỹ thuật điện tử, cơ khí tự động, kỹ sư xây dựng hoặc xây dựng trong giao thông, vận tải, những môn học không phổ biến với nữ Năm 2015, có 253 phụ nữ trong tổng số

624 nhà khoa học làm việc ở lĩnh vực nghiên cứu, phòng thí nghiệm, và những ngành dịch vụ liên quan tại 11 cơ sở khoa học và công nghệ Hơn nữa, trong số 4.896 thạc sỹ có 2.454 phụ nữ và trong 233 tiến sỹ có

69 phụ nữ (Uỷ ban Nhân dân TP HCM 2016)

Quảng Nam Là tỉnh miền Trung, Quảng Nam là khu kinh tế quan trọng vì toạ lạc ở khu vực địa lý thuận lợi cho việc kết nối các vùng của Việt Nam với thế giới Quảng Nam có Chu Lai là khu kinh tế duyên hải đầu tiên ở Việt Nam Quảng Nam còn được biết đến bởi những cánh rừng bạt ngàn và sản phẩm truyền thống như quế và gừng Năm 2017, nông lâm ngư nghiệp chiếm 10,2 phần trăm GDP so với 89,8 phần trăm từ khu vực phi nông nghiệp, gồm công nghiệp, xây dựng

Thành phố Hồ Chí Minh TP HCM là trung tâm kinh

tế lớn nhất cả nước, ở khu vực Đông Nam bộ Năm

2017, các ngành dịch vụ như thương mại, tài chính,

ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, thông tin và truyền

thông, và vận tải đóng góp 58,3 phần trăm GDP, tiếp

theo là công nghiệp và xây dựng chiếm 24,8 phần trăm

và nông nghiệp chỉ chiếm 0,8 phần trăm tổng GDP của

Thành phố (Ủy ban Nhân dân TP HCM, 2017)

TP HCM hiện có hơn 4 triệu lao động Từ 2011 đến

2015, lực lượng lao động tăng 3,5 phần trăm mỗi năm,

với 619.169 công việc mới được tạo ra, trong đó có

310.703 việc làm do phụ nữ đảm nhiệm Nhờ vậy, tỷ lệ

thất nghiệp giảm từ 4,73 phần trăm năm 2011 xuống 4,5

phần trăm năm 2015 (Uỷ ban Nhân dân TP HCM 2016)

BẢNG 2.1 Chỉ tiêu lao động của Hà Nội năm 2017

Tỷ lệ nữ ở khu vực nông thôn 46,9

Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 60,7

Nguồn: Niên giám Thống kê Hà Nội năm 2016, 2017.

BẢNG 2.2 Chỉ tiêu lao động chính của TP HCM,

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao

động (%)

72,7 72,7 Tổng số lao động 4.223.996 4.295.163

Nguồn: Niên giám thống kê TP HCM 2016 và 2017 Cục Thống kê TP HCM

Nhà xuất bản Thanh Niên.

4 Thông tin từ buổi phỏng vấn ông Trần Xuân Hải, Giám đốc TTDVVL TP HCM.

5 Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP HCM (2017) Báo cáo phân tích thị trường lao động 2017 và dự báo nhu cầu nhân lực cho năm 2018 tại TP HCM (Số 424/BC – TTDBNL).

6 Nghị quyết Hội đồng Nhân dân TP HCM 13/2016/NQ-HĐND về việc hỗ trợ giáo dục mầm non.

Trang 16

và dịch vụ (Cục Thống kê Quảng Nam 2017) Du lịch

phát triển mạnh và từng bước trở thành ngành kinh tế

mũi nhọn của tỉnh Năm 2017, có 6.000 doanh nghiệp

du lịch hoạt động

Năm 2017, dân số Quảng Nam ước tính đạt 1,4 triệu

người, trong đó nữ chiếm 51 phần trăm Quãng Nam

có ít nhất 19 dân tộc thiểu số chung sống hòa bình,

gồm Kinh, Hoa, Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, và Co.7

Năm 2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là

912.700 người, trong đó 887.200 lao động có việc làm

và 25.500 người thất nghiệp Nữ giới chiếm tỷ lệ cao

hơn (51 phần trăm) so với nam giới (49 phần trăm)

trong lực lượng lao động Chỉ có 23 phần trăm việc

làm ở thành thị và số lao động ở thành thị được đào

tạo chính thức nhiều gấp đôi so với nông thôn Trong

quý IV năm 2017, tỷ lệ thất nghiệp trong dân số độ

tuổi lao động trong tỉnh chiếm 3,3 phần trăm – trên

3,6 phần trăm ở thành thị và khoảng 2,7 phần trăm ở

nông thôn (Cục Thống kê Quảng Nam 2017)

Quảng Nam có nhiều khu công nghiệp, lao động địa

phương không đủ cung cấp cho các vị trí tuyển dụng

Giai đoạn 2013 – 2018, số lượng khu công nghiệp ở

tỉnh tăng nhanh, kéo theo nhu cầu lớn về lao động

trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Các doanh

nghiệp rất thiếu lao động phổ thông và kỹ năng cao

Doanh nghiệp cần hàng ngàn lao động phổ thông

nhưng nguồn cung lao động hiện tại chỉ đáp ứng được

một phần ba nhu cầu Trường đại học địa phương

cũng không đáp ứng đủ nhu cầu lao động trình độ cao

đang ngày một tăng Theo các nhà quản lý nhân sự

và bên sử dụng lao động, thanh niên địa phương tốt

nghiệp không đủ kỹ năng và trình độ công nghệ theo

yêu cầu của doanh nghiệp lớn Họ cho rằng những

thanh niên mới tốt nghiệp thiếu kỹ năng chuyên môn

và ngôn ngữ, có thái độ làm việc kém Để thu hẹp

khoảng cách giữa cung và cầu, các công ty tuyển dụng

phải đào tạo nhân viên mới, nhưng hoạt động này lại

tốn thời gian, công sức và chi phí

Vài năm trước, Quảng Nam có hàng chục ngàn lao

động rời đi làm việc ở các tỉnh và thành phố khác

trong và ngoài nước Những năm gần đây, Quảng

Nam đón nhận dòng di dân về quê nhà và làm việc

trong những khu công nghiệp mới Các doanh nghiệp

Quảng Nam trả lương ngang các doanh nghiệp ngoài

tỉnh dù chi phí sinh hoạt ở địa phương thấp hơn

Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Nam 2016, 2017.

Lãnh đạo tỉnh Quảng Nam cho biết tỉnh đang triển khai những giải pháp phát triển nguồn nhân lực bao trùm tập trung tạo nhiều việc làm mới và cấu trúc lại lực lượng lao động Tỉnh chú trọng cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong ba lĩnh vực chính: (1) lãnh đạo và quản lý; (2) nhân sự khoa học và công nghệ; và (3) đội ngũ trí thức

và lao động nhân tay nghề cao nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển Tỉnh đang tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện thể chế và chính sách thu hút, tuyển dụng nhân tài, đặc biệt trong những lĩnh vực còn thiếu hụt Tỉnh cũng đang triển khai các dự án dạy nghề cho lao động nông thôn (Cục Thống kê Quảng Nam, 2017).8

Chỉ có một TTDVVL công lập ở Quảng Nam, hoạt động dưới sự quản lý của Sở LĐ-TB-XH với hai chi nhánh và không có cơ sở tư nhân Những hoạt động chính của TTDVVL gồm thu thập thông tin vị trí

Trang 17

cần tuyển dụng trong và ngoài tỉnh; khảo sát nhu cầu

lao động trong tỉnh; vận hành và duy trì trang mạng

tuyển dụng và tìm việc; cập nhật cơ sở dữ liệu cung và

cầu lao động cho tỉnh Trung tâm cũng cung cấp dịch

vụ tư vấn nghề và dạy nghề

Điện Biên Là tỉnh miền núi Tây Bắc, Điện Biên giáp

Vân Nam (Trung Quốc) ở phía Tây Bắc, giáp Lào phía

Tây và Tây Nam Tây Trang từ lâu đã là cửa khẩu quan

trọng giữa Trung Quốc và vùng Tây Bắc Việt Nam

Một khu kinh tế đang xây dựng có thể biến khu vực

này thành điểm trung chuyển chính trên tuyến đường

xuyên Á phía Bắc nối Tây Bắc Việt Nam với Bắc Lào,

Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Myanmar

Năm 2017, dân số tỉnh Điện Biên là 566.953, nữ chiếm

một nửa Điện Biên có dân số tương đối trẻ, một phần

ba dân số dưới 15 tuổi và chỉ có 10 phần trăm trên tuổi

nghỉ hưu, tuổi nghỉ hưu của nam là 60 và của nữ là 55

(Cục Thống kê Điện Biên, 2017) Tỉnh có 19 nhóm dân

tộc, gồm Thái, H’Mong, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì,

Hoa, Kháng, Mường, Cống, Xinh Mun, Si La, Nùng,

Phù Lá, Thổ, Tày và Sán Chay

Điện Biên có hơn 312.000 lao động, 49 phần trăm là nữ

và 17,6 phần trăm làm việc ở thành thị Tỷ lệ thất nghiệp

là 0,5 phần trăm, nam gần như không thất nghiệp (0,1

phần trăm) và chỉ 1,1 phần trăm nữ đang tìm việc Thất

nghiệp ở thành thị cao hơn 20 lần (2,9 phần trăm) so với

nông thôn Năm 2017, 64 phần trăm lao động làm trong

lĩnh vực nông nghiệp (Cục Thống kê Điện Biên 2017)

Điện Biên chỉ có một TTDVVL (đơn vị nhà nước)

thuộc Sở LĐ-TB-XH, với ba chi nhánh tại huyện

Mường Chà, Điện Biên Đông và Tủa Chùa Hoạt động

chính của Trung tâm là phổ biến thông tin thị trường

lao động: các vị trí tuyển dụng của các doanh nghiệp

trong và ngoài tỉnh, thu thập khảo sát số liệu về nhu cầu

lao động trong tỉnh, phổ biến thông tin tuyển dụng cho

người tìm việc qua trang mạng Năm 2017, trung tâm

tìm được việc làm cho 461 lao động, trong đó 81 công

việc ngoài tỉnh và 34 trong tỉnh

Cơ hội việc làm của Điện Biên còn hạn chế nên chính

quyền địa phương khuyến khích xuất cư9 Hầu hết đối

tượng xuất cư là nam thanh niên Người dân tộc thiểu

số, lao động trung niên và phụ nữ đã kết hôn không

muốn làm việc ngoài tỉnh Hầu hết di cư trong nước

Mặc dù gần Trung Quốc, nhưng ít người sang nước ngoài làm việc theo đường chính thức Năm 2017, chỉ

có 30 lao động di cư hợp pháp sang làm việc ở Nhật và Malaysia, không có số liệu về di cư không chính thức

Có rất ít cơ hội làm việc có hợp đồng ở nước ngoài cho người dân Điện Biên do hạn chế về trình độ chuyên môn, nhận thức thấp, rào cản ngôn ngữ và khác biệt về văn hoá TTDVVL Điện Biên cho biết hầu hết lao động, đặc biệt là dân tộc thiểu số và người dân nông thôn, không đủ tự tin để làm việc ở nước ngoài theo các quy định trong hợp đồng lao động

Lực lượng lao động Điện Biên có kỹ năng thấp Công nhân có trình độ giáo dục và chuyên môn thấp Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn hơn về ngôn ngữ, văn hoá, phong tục và tập quán

BẢNG 2.4 Chỉ tiêu lao động của tỉnh Điện Biên năm 2017

Thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 0,0 Tổng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo

Nguồn: Niên giám Thống kê Điện Biên, năm 2016 và 2017.

9 Các doanh nghiệp ngoại tỉnh đến Điện Biên tuyển lao động nhưng thấy trình độ học vấn và kỹ năng của lao động địa phương không đáp ứng nhu cầu của họ Tuy nhiên, chính quyền tỉnh Điện Biên đã thực hiện các chính sách khuyến khích người dân di cư tìm việc làm, như hỗ trợ người tìm việc nộp hồ sơ vào các khu công nghiệp và doanh nghiệp ngoài tỉnh hoặc tặng vé tàu, xe đi các tỉnh

Trang 18

10 Nghiên cứu định lượng tìm ra các tham số thống kê và cố gắng đảm bảo tính đại diện và chọn mẫu ngẫu nhiên, còn nghiên cứu định tính đưa

ra các giả định khác nhau từ phân tích định tính Cụ thể, nghiên cứu định tính không kiểm định các giả thiết đã chuẩn hóa, mà hướng tới xây dựng lại các trường hợp điển hình bằng cách xác định các vấn đề tương phản và phổ biến từ các trải nghiệm và nhận thức cá nhân Việc này chỉ có thể thực hiện được nếu các trường hợp tương phản thực sự có trong mẫu, vì thế cơ cấu mẫu chọn đúng theo các thuộc tính quan sát được có vai trò vô cùng quan trọng Tính đại diện thống kê không có vai trò trong thiết kế nghiên cứu định tính, mà điều quan trọng là phải cho thấy bộ mẫu có những trường hợp tương phản cần thiết Ngoài ra, cũng cần phải sử dụng các phương pháp thực nghiệm phù hợp (Glaser

và Strauss 1967).

11 Thu thập và phân tích dữ liệu trong năm 2018 và 2019

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu khó khăn và thách

thức của phụ nữ khi tham gia hoặc rời thị trường lao

động Thông quan thu thập dữ liệu định tính, nghiên

cứu tìm hiểu kinh nghiệm, động cơ, và ý kiến về các

xu hướng quan sát từ các nhóm nhỏ được lựa chọn

cẩn thận Vì số lượng mẫu nghiên cứu nhỏ nên nhóm

nghiên cứu đã lưu ý cân nhắc thực tế là phụ nữ Việt

Nam đa dạng và khác nhau theo các yếu tố tuổi tác,

tình trạng hôn nhân, giáo dục, dân tộc, và các đặc điểm

khác Sự cân nhắc này ảnh hưởng tới quyết định cách

thu thập dữ liệu cần thiết hiệu quả nhất10,11

Chất lượng dữ liệu được đảm bảo thông qua một quy

trình bốn bước Bước một, thực hiện phỏng vấn theo

đoạn đời với 24 cá nhân có trình độ học vấn và thu

nhập khác nhau, đây là hai yếu tố được các tài liệu ghi

nhận góp phần củng cố bất bình đẳng xã hội Tuổi tác

cũng được cân nhắc trong việc lựa chọn đối tượng

phỏng vấn Ví dụ, phỏng vấn đoạn đời thực hiện với

hai phụ nữ, một người không có tay nghề sống tại

vùng quê nghèo Hà Nội, và một người là giáo viên có

trình độ chuyên môn cao sống trong một ngôi nhà tiện

nghi Hai người phụ nữ cùng độ tuổi nhưng có hai câu

chuyện cuộc đời khác nhau Tiểu sử của bạn nam và nữ

mới tốt nghiệp đại học cũng được xem xét khi tìm hiểu

các rào cản cụ thể trên cơ sở giới

Bước hai, các hướng dẫn kết cấu theo chủ đề được biên

soạn cho thảo luận nhóm tập trung, và chiến lược chọn

mẫu cũng được lập để chọn đối tượng tham gia thảo luận

nhóm Dựa trên các cuộc phỏng vấn theo đoạn đời, đối

tượng tham gia thảo luận nhóm được phân tầng theo

giới, tuổi, dân tộc, học vsấn, tình trạng việc làm, tình

trạng hôn nhân, và địa phương Các yếu tố khác cũng

được cân nhắc trong việc lựa chọn mẫu, như chủ doanh

nghiệp vừa và nhỏ, hoặc lớn, người khuyết tật hoặc

người dân tộc thiểu số Việc thực hiện các cuộc thảo

luận với các nhóm tương phản với các nhóm đối tượng

nghiên cứu chính cũng hết sức cần thiết, như thảo luận

với nhóm nam có đặc điểm tương đồng với nhóm nữ

Bảng 3.1 trình bày thành phần chi tiết đặc điểm quan sát được của 32 nhóm thảo luận

Bước ba, một nhóm nghiên cứu của Viện KHLĐXH của

Bộ LĐ-TB-XH đã tổ chức, thực hiện, và ghi chép nội dung các cuộc thảo luận nhóm tập trung Mỗi nhóm thảo luận có một người điều hành với nhiệm vụ khuyến khích người tham gia thảo luận các chủ đề chung và hạn chế ảnh hưởng của bản thân đối với cuộc thảo luận (Weimann-Sandig, 2014) Một thư kí ghi chép nội dung thảo luận và hỗ trợ người điều hành các công tác hậu cần Người điều hành và thư kí là người Việt Nam để hạn chế rào cản ngôn ngữ và xã hội trong quá trình thu thập thông tin định tính Tất cả thảo luận nhóm đều được ghi âm và dịch sang tiếng Anh ngay sau thảo luận, rồi sử dụng phần mềm MAXQDA để mã hóa một cách

hệ thống

Bước bốn, nhóm nghiên cứu Viện KHLĐXH thực hiện

32 cuộc phỏng vấn với những người am hiểu tình hình

là những người ra quyết định trong lĩnh vực giáo dục

và việc làm, bao hiệu trưởng trường đại học và cơ sở dạy nghề, cán bộ TTDVVL, và quản lý nhân sự ở các doanh nghiệp địa phương Khi chọn đối tượng phỏng vấn, cán bộ Viện đã cân nhắc các vấn đề bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực này Khác với phỏng vấn theo đoạn đời, phỏng vấn chuyên gia nhằm khai thác hiểu biết của người được phỏng vấn về chuyên môn, cơ quan

và công việc của họ (Gläser & Laudel, 2015)

Trước thảo luận nhóm, nhóm nghiên cứu Viện KHLĐXH tổ chức một ngày tập huấn cho người điều hành và thư kí về ý nghĩa và khó khăn đặc thù của thảo luận nhóm tập trung Sổ tay hướng dẫn giúp nhóm nghiên cứu của Viện thực hiện khảo sát thực địa Thảo luận nhóm thường diễn ra từ một đến hai tiếng, tuỳ vào mức độ nhiệt tình đóng góp của người tham gia vào chủ đề thảo luận

Trang 19

Toàn bộ 32 thảo luận nhóm và 32 phỏng vấn những

người am hiểu tình hình được thực hiện ở bốn địa

phương: hai thành phố lớn nhất Việt Nam là Hà Nội,

TP HCM, và hai địa bàn nông thôn là tỉnh Điện Biên và Quảng Nam, được chọn theo các tiêu chí khác nhau về kinh tế-xã hội và cơ cấu vùng miền

Cân nhắc về mục tiêu, lựa chọn phương pháp, và các hạn chế

Nghiên cứu có mục đích thu thập thông tin vượt ra khỏi khuôn mẫu khảo sát, tìm cách phát hiện ra các trải nghiệm, động lực

và quan điểm về các xu hướng quan sát được Nói cách khác, chúng tôi quan tâm hiểu sâu hơn về một số trải nghiệm được lựa chọn kỹ, thay vì chỉ thu thập thông tin chung trên một mẫu lớn

Nhóm nghiên cứu quyết định thu thập và phân tích dữ liệu định tính để bổ sung nguồn dữ liệu định lượng hiện có về việc tham gia thị trường lao động của nam và nữ ở Việt Nam Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu – trong nghiên cứu này dữ liệu không phải là con số, mà là những ý kiến và khái niệm - từ các thảo luận nhóm nhỏ phi cấu trúc, sau đó chúng tôi chuyển thông tin từ phỏng vấn thành bộ dữ liệu và phân tích một cách hệ thống Mục tiêu là nắm bắt được nhiều dạng quan điểm, vì vậy dữ liệu không mang mục đích đại diện cho quần thể Chúng tôi đưa ra giả thuyết phụ nữ với những đặc điểm giống nhau sẽ có trải nghiệm và quan điểm giống nhau nhưng các nhóm phụ nữ khác nhau sẽ có những khác biệt rõ ràng Việc so sánh giữa các nhóm đặc biệt có giá trị vì mỗi nhóm sử dụng nhóm kia làm “chuẩn”

Vì dân số Việt Nam đa dạng nên không thể thu thập dữ liệu từ tất cả các phan nhóm có đặc điểm chung Thay vào đó, cần phải tạo ra các phan nhóm với đặc điểm tương đồng thu hút được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách chịu trách nhiệm cải thiện trải nghiệm thị trường lao động của phụ nữ Dựa trên tham khảo các nghiên cứu trước, các cuộc thảo luận nhóm với người làm chính sách, và các thảo luận giới đang diễn ra tại Việt Nam, chúng tôi “phân tầng” mẫu (chọn mẫu có các thành viên

có các đặc điểm nhất định) theo các đặc điểm giả định sẽ tạo ra các yếu tố so sánh chuẩn và do đó có được thông tin sâu về các câu hỏi chính sách lớn Các biến phân tầng gồm vai trò chính (lao động tiềm năng, người sử dụng/quản lý lao động, cha mẹ của người lao động tiềm năng) Trong số những người lao động tiềm năng, chúng tôi phân tầng theo: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tình trạng việc làm hoặc học vấn, tình trạng hôn nhân, địa phương / tỉnh, tình trạng làm cha mẹ (làm mẹ đơn thân), dân tộc, nơi cư trú thành thị / nông thôn và tình trạng khuyết tật Một nhóm thảo luận được chọn sao cho có được tập hợp các đặc điểm này; ví dụ, phụ nữ trên trên độ tuổi trung học phổ thông sống ở thành thị Dữ liệu của nhóm này có thể được so sánh với dữ liệu của những nhóm phụ nữ có cùng trình độ nhưng sống ở nông thôn hoặc với phụ nữ ở độ nhỏ tuổi hơn sống ở thành thị Do nguồn lực hạn chế, chúng tôi không thể đưa vào mẫu khảo sát một số phân nhóm cũng quan trọng, như nữ giới hay nam giới lớn tuổi là lao động tiềm năng (trên 60 tuổi), cha mẹ (của lao động tiềm năng) với các đặc điểm khác nhau và nhiều nhóm có thể

so sánh khác không được liệt kê trong bảng 3.1.

Trang 20

BẢNG 3.1 Đặc điểm nhóm thảo luận

đẳng, đại học Sinh viên Hỗn hợp Quảng nam

4 Nam 20–30 Trung cấp, cao

đẳng, đại học Sinh viên Hỗn hợp Hà Nội

5 Nam 20–30 Trung cấp, cao

đẳng, đại học Sinh viên Hỗn hợp TP HCM

6 Nam 20–30 Trung cấp, cao

đẳng, đại học Sinh viên Hỗn hợp Quảng Nam

đẳng, đại học Thất nghiệp Hỗn hợp Quảng Nam/nông thôn Nữ có học vấn cao nhưng không tìm được việc

11 Nam 30–50 Hỗn hợp Thất nghiệp Kết hôn Hà Nội/thành

thị Nam thất nghiệp, sống nhờ thu nhập của vợ

thành thị Nam thất nghiệp, sống nhờ thu nhập của vợ

thành thị Nam thất nghiệp, sống nhờ thu nhập của vợ

học cơ sở Làm nông và chăm gia đình Hỗn hợp TP HCM/nông thôn Phụ nữ trở về nông thôn

32 Nữ 30–50 Tiểu học/cấp 2 Làm nông và chăm

gia đình Hỗn hợp Quảng Nam/nông thôn Phụ nữ trở về nông thôn

Trang 21

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong phần này,12 các kết quả nghiên cứu định tính sẽ

trình bày các khía cạnh khoảng cách giới khác nhau

trên thị trường lao động liên quan tới:

1 Nhận thức về thị trường lao động của sinh viên;

2 Thái độ của cha mẹ về giới;

3 Định kiến giới trong các CSGDNN;

4 Nhận thức về khả năng tiếp cận giáo dục và thị

trường lao động của người dân tộc thiểu số;

5 Nhận thức của người sử dụng lao động;

6 Nhận thức của các nhóm dễ tổn thương;

7 Nhận thức của các TTDVVL

4.1 Nhận thức về thị trường lao động của

sinh viên

Để xác định các khác biệt giới trong nhận thức của nam

và nữ sinh viên về thị trường lao động, nhóm nghiên

cứu Viện KHLĐXH đã thực hiện các cuộc thảo luận

nhóm riêng với sinh viên nam và nữ ở bốn địa phương

Sinh viên được chọn vào bộ mẫu đang theo học ngành

nghề khác nhau, gồm tiếp thị, kế toán, Việt Nam học,

tiếng Anh, công tác xã hội, kinh tế, và kỹ thuật Lựa

chọn như vậy cho phép so sánh nhận thức giữa các

sinh viên đã chọn những ngành học tiêu biểu dành cho

“nữ” và những bạn chọn ngành học tiêu biểu dành cho

“nam” Phần trình bày dưới đây đưa ra những lí do lựa

chọn ngành học, nhận thức của họ về việc học, và suy

nghĩ của họ về sự nghiệp và thị trường lao động Sinh

viên cũng đưa ra ý kiến về việc lựa chọn giáo dục nghề

nghiệp và tầm quan trọng của đậu đại học với thay đổi

con đường sự nghiệp của cả nam và nữ

thành thị, tất cả các bạn nữ đều nhấn mạnh được học tiếp sau khi tốt nghiệp phổ thông là một cơ hội may mắn, dù là đại học hay trung cấp, cao đẳng

Mặc dù sinh viên nữ muốn có việc làm và mơ ước có sự nghiệp phù hợp chuyên ngành đào tạo, nhưng mức độ tham gia vào công việc được đào tạo sau khi ra trường của họ rất khác nhau Sinh viên nữ theo học đại học hoặc cao đẳng nghề đều muốn trở thành lao động có tay nghề

và nhận được mức lương phù hợp Do gắn chặt với gia đình và nông nghiệp truyền thống, sinh viên nữ ở nông thôn muốn làm việc cho doanh nghiệp gần nhà, dù công việc và mức lương có thể không được như ý muốn Thực

tế, các doanh nghiệp ở nông thôn đã nắm bắt tâm lý này

để đưa ra mức lương thấp và hợp đồng thời hạn cố định Với các bạn sinh viên nữ nông thôn, điều quan trọng nhất là phụ giúp cha mẹ bằng tiền tự kiếm

F7: Em muốn làm gần nhà, tốt nhất là ở Tam Kỳ hay Đà nẵng Em muốn làm đúng chuyên ngành

ở trường đại học Em hy vọng có một công việc kinh doanh của riêng mình trong lĩnh vực em đang học Dù em có tiềm lực kinh tế nhưng kết quả hoàn toàn phụ thuộc thị trường Đó là kết hoạch trong tương lai của em (Thảo luận nhóm sinh viên nữ Đại học Quảng Nam)

F2: Em muốn thành kỹ sư lâm nghiệp, có thể làm

ở Tam Kỳ hay tỉnh khác Em muốn áp dụng được hết chuyên ngành của mình Em muốn có gia đình đầm ấm và công việc ổn định để ba mẹ yên lòng (Thảo luận nhóm nữ, Quảng Nam)

Nam giới được kì vọng chung sẽ thành trụ cột gia đình Sinh viên nữ không quan trọng kiếm được thu nhập cao từ công việc, hoàn toàn trái ngược với cảm nhận của các nam sinh viên thấy rất áp lực phải có được công việc thu nhập cao, đáp ứng kì vọng của cha mẹ và xã hội Chỉ một số ít sinh viên nam sẵn sàng chấp nhận tương lai cả hai vợ chồng cùng phấn đấu cho sự nghiệp, với cả hai cùng học cao, thu nhập cao như nhau, và cùng có con đường sự nghiệp lâu dài

Các bạn nam và nữ tham gia thảo luận nhóm đều cho rằng đàn ông làm trụ cột gia đình là hình mẫu phù hợp nhất với gia đình Việt Nam Thái độ của các bạn gái về thị trường lao động chịu ảnh hưởng nhiều bởi

“Em muốn thay đổi cuộc sống của mình nhưng

cũng thấy phải theo ý muốn của bố mẹ.”

12 Các trích dẫn trực tiếp trong phần này ẩn danh người tham gia thảo luận nhóm Các con số được sử dụng thay tên hoặc các yếu tố định danh khác để bảo mật, và do đó đảm bảo độ chính xác cao hơn với thông tin được người trả lời chia sẻ.

Khao khát tri thức nhưng khả năng tiếp cận việc

làm ổn định và thu nhập cao hạn chế

Hầu hết sinh viên nữ trong các thảo luận nhóm đều thể

hiện khao khát tri thức mãnh liệt Dù ở nông thôn hay

Trang 22

quan điểm này, họ muốn có công việc ổn định với chế

độ thai sản và đảm bảo không phải làm ngoài giờ hơn là

công việc thu nhập cao Theo họ, vị trí địa lý cũng ảnh

hưởng quyết định lựa chọn công việc vì họ muốn sống

gần cha mẹ để được giúp chăm con khi chồng đi làm

Phụ nữ chỉ thi đại học một lần

Sinh viên nữ thường nhắc tới quá trình thi trượt đại

học nhiều hơn các bạn nam Họ cho rằng sự nghiệp của

họ ngắn hơn nam giới và học đại học không phải là quá

trình cả đời mà chỉ ở một độ tuổi nhất định, thường

từ 18 tới 25 tuổi Trong khi nam giới có thể thay đổi

công việc hoặc tập trung xây dựng sự nghiệp, các bạn

gái xem rớt đại học là mất đi một cơ hội

Q7: Em chưa từng nghĩ sẽ học ngành này Em

không đậu Đại học Kinh tế Đà Nẵng nên phải nộp

hồ sơ vào trường này Ban đầu em không thích

chuyên ngành này, nhưng dần cũng thích vì nhiều

lý do, trong đó có giáo viên và quá trình đào tạo

Nói chung, em muốn theo công việc này Em nghĩ

công việc này phù hợp cho nam giới hơn vì phụ nữ

sẽ gặp nhiều áp lực Nhưng ba em nói nên theo học

ngành này, và em làm theo ý ba (Thảo luận nhóm

sinh viên nữ, Đại học Quảng Nam)

Nhiều sinh viên nữ cho rằng nữ thi rớt các trường đại

học kỹ thuật nhiều hơn nam13 Nên nếu muốn học

ngành kỹ thuật, họ chỉ có cách học trung cấp, cao đẳng

Các cuộc thảo luận nhóm cũng cho thấy rõ thực tế là

phụ nữ trẻ dân tộc thiểu số trượt vào đại học, hay trung

cấp, cao đẳng nhiều hơn các nhóm phụ nữ khác

Các bạn gái dân tộc thiểu số hoặc xuất thân gia đình

nghèo ở nông thôn nói rằng họ không tự tin về kỹ năng

và trình độ của mình và tự đánh giá mình kém hơn các

nhóm sinh viên khác Lý do đưa ra gồm cha mẹ có học

vấn thấp hoặc không quan tâm việc học hành hay học

lực của con, xem đây là trách nhiệm của nhà trường

Vì thế, dù vượt qua kì thi đại học nhưng họ vẫn không

tin mình đủ khả năng tốt nghiệp Họ coi đây là lý do

khiến các bạn gái nông thôn ngại đi học đại học xa mà

muốn đăng kí các trường trung cấp, cao đẳng nghề để

tìm công việc phù hợp gần nhà

F1 Em sinh năm 1998, đã tốt nghiệp phổ thông,

chưa lập gia đình, hiện là sinh viên năm hai ngành

công nghệ may Ban ngày đi học, tối về em làm cho

một quán cafe để có tiền trang trải việc học Em thi đậu Cao đẳng Dược Quảng Nam nhưng sợ không tìm được việc sau khi ra trường Em là người Thăng Bình Em không ở ký túc xá mà ở trọ với vài người bạn ngoài trường (Thảo luận nhóm sinh viên nữ, Cao đẳng Nghề Quảng Nam)

F3 Em sinh năm 1997 ở huyện Núi Thành, chưa lập gia đình Tốt nghiệp cấp ba, em nghỉ ở nhà giúp dì trông coi cửa hàng cafe Dù đậu Đại học Sư phạm Đà Nẵng nhưng em không học vì sợ không kiếm được việc sau khi tốt nghiệp Em thích may

vá, nên đăng kí học trường này Em muốn kiếm được công việc phù hợp để tự nuôi sống bản thân (Thảo luận nhóm sinh viên nữ, Cao đẳng Nghề Quảng Nam)

Làm nội trợ và công nhân, không theo đuổi sự nghiệp

Các nhóm thảo luận với sinh viên có sự khác biệt rõ ràng giữa nam và nữ về cách định nghĩa thị trường lao động mà không thể hiện ở những nhóm khác Khác với sinh viên nam, sinh viên nữ thích công việc nhà nước hơn vì đấy là cách khả thi nhất giúp họ cân bằng giữa công việc và gia đình (phát hiện này phù hợp với các phát hiện từ một nghiên cứu khác trong Dự án nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ Việt Nam, xem thêm Chowdhurry và cộng sự 2018)

F3: [Em muốn], ví dụ, một công việc văn phòng cho phép em rời nhà vào buổi sáng và quay về vào buổi tối, có thời gian chăm con và gia đình (Thảo luận nhóm sinh viên nữ, Đại học Tôn Đức Thắng,

TP HCM)

Có sự khác biệt rõ ràng trong suy nghĩ giữa hai nhóm sinh viên nữ, nhóm thứ nhất theo đuổi lối sống truyền thống (lập gia đình ở độ tuổi 20, sinh con, và sống dựa vào chồng) và nhóm thứ hai tự mình lựa chọn con đường sự nghiệp hướng tới cuộc sống hiện đại, thoát khỏi vai trò của người mẹ và người vợ nội trợ Nhóm theo đuổi lối sống truyền thống chỉ muốn có công việc nhà nước, trong khi nhóm kia muốn làm cho doanh nghiệp tư nhân Tình trạng thiếu dịch vụ giữ trẻ tốt cũng như thiếu các công việc bán thời gian hay công việc làm tại nhà ở Việt Nam khiến cho nhóm thứ hai tin rằng không thể vừa chăm lo việc gia đình, vừa có sự nghiệp trong doanh nghiệp tư nhân

13 Nhìn chung, các nghiên cứu tác động tâm lý của kì thi đại học cho thấy cuộc cạnh tranh cao này có thể gây trạng thái lo lắng về thể chất và tinh thần, ảnh hưởng tiêu cực tới sự tự tin của người thi trượt (Gilbert và cộng sự 2009) Thi trượt cũng tác động tiêu cực đến nội lực vì lựa chọn đầu tiên không đạt được (Seddigh và cộng sự 2016) Như đã chỉ ra, quốc gia phải xử lý nhiều yếu tố bất bình đẳng xã hội và chênh lệch tại địa phương, cần cân nhắc có nên tổ chức thi vào đại học không Từ góc độ giới, học sinh nữ cảm thấy thua thiệt so với các bạn nam.

Trang 23

F1: Em nghĩ khác nhiều bạn nữ Em không muốn

lập gia đình hay sinh con Sự nghiệp với em quan

trọng hơn Một công việc tốt với người như em

phảicó tính phiêu lưu, thách thức bản thân và thu

nhập cao Phụ nữ cũng thích môi trường sáng tạo

và tự do Trước đây, họ thích các công việc giản đơn,

nhưng bây giờ em thấy phụ nữ hiện đại không còn

thích những công việc giản đơn, lặp đi lặp lại hàng

ngày Đàn ông thích công việc lương cao và nhiều cơ

hội thăng tiến… Họ muốn gia đình tự hào về họ và

khá giả hơn để khẳng định vị trí xã hội (Thảo luận

nhóm nữ, Đại học Tôn Đức Thắng, TP HCM)

F3: Em có chị gái làm cho một trường dạy nghề ở

TP HCM Thu nhập không quan trọng với chị ấy

Chị ấy muốn có thời gian làm việc linh hoạt để có

thể chăm con (Thảo luận nhóm sinh viên nữ, Đại

học Tôn Đức Thắng, TP HCM)

Các vấn đề như làm ngoài giờ, đi công tác, và thời gian

làm việc không linh hoạt không phải là vấn đề đối với

sinh viên nam Họ xem đây là những yêu cầu cần thiết

của công việc

Một phát hiện thú vị là phần lớn sinh viên nữ không

ngưỡng mộ phụ nữ ở vị trí lãnh đạo Ngược lại, họ cho

rằng những người này “sắt đá, nhỏ mọn, và ích kỉ” Họ

thường ngại sếp nữ nhiều hơn sếp nam Họ không coi

những người phụ nữ này đã có được bước tiến tích cực

trong sự nghiệp mà cho rằng quyết định không lập gia

đình và sinh con là đang đi ngược lại các chuẩn mực và

giá trị xã hội truyền thống Nhóm sinh viên nữ cũng

nhận định phụ nữ ở vị trí lãnh đạo sẽ không hạnh phúc

hay thỏa mãn với cuộc sống

Định kiến giới nặng nề

Thảo luận nhóm sinh viên cho thấy rõ sinh viên nữ

quan tâm tới vấn đề định kiến giới nhiều hơn sinh viên

nam Có thể lý do là sinh viên nữ chọn các ngành học

dành cho nam như khối kỹ thuật gặp nhiều khó khăn

khi phải cạnh tranh với sinh viên nam

F4 Lớp có 20 sinh viên nhưng chỉ có em là nữ, vì

thế được nhiều ưu ái hơn Nhưng cũng vì chỉ có

một minh nên cũng gặp một số bất tiện, không

có ai để tâm sự Nhiều khi các bạn nam cũng hay

châm trọc em (Thảo luật nhóm sinh viên nữ, Cao

đẳng Công nghiệp Hà Nội)

Các bạn nữ cho rằng giáo viên thiên vị sinh viên nam như

cho họ cơ hội thực tập hay giúp tìm việc làm nhiều hơn

Sinh viên nữ đánh giá sinh viên nam có lợi thế cạnh tranh hơn, có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, có khả năng tổ chức tốt hơn, cũng như biết thể hiện nhu cầu hiệu quả hơn Sinh viên nam cũng được cho là có sức khoẻ tốt hơn, giúp họ thích nghi với điều kiện làm việc hay thay đổi và khối lượng công việc nặng tốt hơn nữ Ngược lại, các bạn nữ cho rằng mình hòa đồng xã hội hơn, lý trí hơn, và tinh tế hơn nam nên phù hợp với các công việc trong lĩnh vực xã hội hơn

Kết luận

Thảo luận nhóm với sinh viên nữ cho thấy phần lớn các bạn gái thích những công việc cho phép họ hoàn thành vai trò của người vợ, người mẹ Sinh viên nam thường muốn có công việc tốt, thu nhập cao, làm giàu

từ năng lực cá nhân, nhưng chỉ một số ít sinh viên nữ, những người được cha mẹ hay gia đình ủng hộ quyết định theo đuổi này, có cùng quan điểm như vậy Nhìn chung, cả sinh viên nam và nữ đều cảm thấy áp lực xã hội nặng nề với kế hoạch cuộc sống tương lai Với nam,

áp lực tới từ kì vọng thành trụ cột gia đình, với nữ là áp lực sinh con

Bất bình đẳng giới thể hiện rõ trong suốt những năm học cao đẳng, đại học, bắt đầu từ kì thi tuyển sinh Cả sinh viên nam và nữ đều đồng ý sinh viên nam nhận được nhiều hỗ trợ từ giáo viên và phương pháp giảng dạy hơn sinh viên nữ Tuy nhiên, có sự khác biệt trong cách tiếp cận thị trường lao động giữa hai giới: sinh viên nữ nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực công trong việc cung cấp cơ hội việc làm ổn định và bình đẳng giới, trong khi sinh viên nam thích khu vực tư nhân với nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn

4.2 Thái độ của cha mẹ về các vấn đề giới

Trả lời câu hỏi về các tiêu chí chọn trường đại học hay trung cấp, cao đẳng và chọn ngành học, phần lớn sinh viên nữ cho biết đều theo ý kiến gia đình, bạn bè, đặc biệt là cha mẹ Đây là hiện tượng phổ biến Trong hầu hết gia đình người Việt, những người thành đạt trong gia đình thường được hỏi ý kiến Các bạn gái nói rằng

họ hàng của họ thường giới thiệu các trường mà những thành viên khác trong gia đình đã tốt nghiệp hoặc có mối quan hệ qua công việc

“Nữ có sức khoẻ yếu hơn nên bị hạn chế trong

sự nghiệp.”

Trang 24

Vị trí trường học trong việc chọn trường có ý nghĩa

quan trọng với sinh viên nữ nhiều hơn với sinh viên

nam Nhiều gia đình có ít nhất ba thế hệ cùng chung

sống, và các thành viên quan tâm, chăm sóc nhau14

Nhìn chung, cha mẹ thường khuyên con gái chọn

trường gần nhà, vì cho rằng con gái yếu hơn và dễ tổn

thương hơn con trai, nên không muốn con gái học xa,

cha mẹ không bao bọc được

PA5: Con gái yếu hơn con trai cả về ý chí và sự bền

bỉ, không phải về sức khoẻ Nếu chỉ làm công việc

với mức lương trung bình, thì [cả nam và nữ] đều

như nhau, nhưng nếu muốn thăng tiến, họ phải

làm nhiều hơn Phụ nữ không “rắn rỏi” và chịu

đựng tốt như đàn ông Tôi thấy làm giáo viên phù

hợp với con gái tôi Hạnh phúc gia đình sẽ bị ảnh

hưởng (xấu) nếu phụ nữ theo đuổi cơ hội thăng

tiến (Thảo luận nhóm cha mẹ có con từ 16 tới 22

tuổi ở Hà Nội)

Cha mẹ nghĩ con gái chưa đủ trưởng thành để quyết

định sự nghiệp tương lai

P5: Mấy đứa con tôi chưa biết sẽ làm gì Giờ tụi hắn

chỉ lo học Ai cũng có bằng đại học, nên tụi nó cũng

phải có cái bằng Rồi 18 tuổi tốt nghiệp lớp 12 Ở tuổi

đó, mấy đứa chưa biết sẽ làm gì (Thảo luận nhóm

cha mẹ có con từ 16 tới 22 tuổi ở Quảng Nam)

Nhiều em gái phụ tuộc hoàn toàn vào cha mẹ xác định

ngành học Cha mẹ coi trọng việc sinh con sau này của

con gái khi lựa chọn ngành học và công việc tương lai

DB2: Ba mẹ muốn tôi học ngành công tác xã hội để

sau này thành cán bộ nhà nước dễ hơn, giống như họ

Tôi quyết định nghe theo cha mẹ (Thảo luận nhóm

sinh viên nữ, Đại học Tôn Đức Thắng, TP HCM)

DB3: Ban đầu ba muốn tôi học ngành an ninh,

nhưng chúng tôi trễ hạn nộp hồ sơ Ông ấy nói tôi

nên học đại học một năm để quen môi trường Tôi

nhận được tờ rơi từ trường này và tới tìm hiểu về

ngành công tác xã hội Tôi thấy ngành này cũng hay

nên đăng kí học Giờ học năm hai tôi lại không muốn

bỏ vì tôi đã thích ngành này rồi (Thảo luận nhóm

sinh viên nữ, Đại học Tôn Đức Thắng, TP HCM)

Hầu hết các bạn gái cho rằng không thể chọn nghề mà

không có sự tư vấn của cha mẹ Nhưng nhiều bạn gái

cũng cho biết dù không thích ngành đang học nhưng vẫn

chọn để làm vừa lòng cha mẹ Trong các thảo luận nhóm,

hầu hết sinh viên nữ đều thừa nhận muốn tự mình lựa chọn hoặc ít nhất cũng có thể chọn một hoặc hai môn học chính phù hợp với sở thích và sở trường bản thân SF5: Từ nhỏ tôi đã ước mơ làm công an nhưng không đủ chiều cao Tôi biết trường Tôn Đức Thắng qua Internet và nộp đơn vào khoa luật và

xã hội học Ban đầu, tôi không biết nên học ngành nào Sau khi nghe cha tư vấn, tôi quyết định theo học ngành này Chị tôi là công chức nhà nước tại toà án huyện Tôi đăng kí thi vào khoa luật nhưng thiếu nửa điểm Sau đó, tôi chọn ngành xã hội học, giờ đã là sinh viên năm ba Tôi cũng học luật từ năm thứ hai (Thảo luận nhóm nữ, Đại học Tôn Đức Thắng, TP HCM)

Các bạn gái cho biết họ hoặc cha mẹ thường tìm thông tin trên Internet, xem đây là nguồn tìm kiếm thông tin quan trọng về danh tiếng và các ngành học của trường Cha mẹ trong các cuộc thảo luận nhóm phản ánh tình trạng thiếu thông tin trên Internet về nhu cầu thị trường lao động, cũng như về các vị trí công việc đang tuyển dụng trong từng ngành học cụ thể

P2: Tôi đồng ý với chị, thông tin không rõ ràng và minh bạch Những cơ quan lớn và tốt như ngân hàng, trường học, cơ quan nhà nước không bao giờ đăng thông tin tuyển dụng Chúng tôi không bao giờ biết họ tuyển ai và yêu cầu trình độ thế nào Họ muốn giấu thông tin để dành cho con cái họ nộp đơn vào Tất cả vị trí ở những nơi này đều được trả lương Nếu tìm thông tin trên các trang mạng tuyển dụng hay giới thiệu việc làm, chỉ thấy thông tin tuyển người của các doanh nghiệp nhỏ và cho công việc thời vụ hoặc ngắn hạn, toàn những việc trình độ thấp Chúng tôi không thể thấy thông tin tuyển dụng của những doanh nghiệp hay tổ chức

có tiếng như ngân hàng (Thảo luận nhóm cha mẹ

có con từ 16 tới 22 tuổi ở Quảng Nam)

Tuy nhiên, cha mẹ có quan điểm rõ về loại công việc phù hợp cho nam và nữ, vốn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các chuẩn mực xã hội phổ biến về vai trò giới và định kiến giới Cha mẹ muốn con gái làm những công việc có thể nghỉ và quay lại sau khi nghỉ thai sản Ở Việt Nam, điều kiện này chỉ có công việc nhà nước đáp ứng được, với hợp đồng lao động và chế độ bảo hiểm xã hội được cung cấp đầy đủ Cha mẹ xem những công việc này là định hướng ổn định và cho phụ nữ cơ hội thăng tiến lên những vị trí cao nhất dù có gia đình

14 Gia đình nhiều thế hệ có vai trò rất quan trọng ở Việt Nam (Georgas 2003).

Trang 25

Tất cả cha mẹ trong các thảo luận nhóm đồng thuận

về tầm quan trọng của việc có nền giáo dục tốt Nhìn

chung, họ luôn cố gắng hết mình tạo điều kiện thuận

lợi cho việc học của con cái

P6: Dù nhà nghèo nhưng chúng tôi luôn cố gắng

cho con học đại học Chúng tôi không thể để con

thất học khi bạn bè của con đều được đến trường

(Thảo luận nhóm phụ huynh có con từ 16 tới 22

tuổi ở Hà Nội)

Tuy nhiên, cách tiếp cận của cha mẹ đối với việc học

của con gái khác với việc học của con trai Ví dụ, cha

mẹ lo lắng hơn cho con gái đi học xa nhà vì cho rằng

con gái tự lập kém hơn con trai Con gái chỉ được phép

đi học xa nhà nếu ở chung với họ hàng hoặc với chị gái

Hầu hết cha mẹ đều thích con gái học gần nhà Ngược

lại, cha mẹ cho rằng con trai cần đi ra nước ngoài để

trưởng thành hơn và tốt cho con đường sự nghiệp Hầu

hết cha mẹ cho rằng con trai khoẻ mạnh và chịu đựng

tốt hơn con gái nên con trai có thể làm cho công ty tư

nhân, làm ca, hoặc làm ở nước ngoài Dù tin rằng con

gái có khao khát tri thức và con trai ít siêng năng hơn,

nhưng hầu hết cha mẹ đều cho rằng con trai nên học

những ngành đòi hỏi khả năng nhận thức cao hơn và

giúp có chỗ đứng trong vị trí cạnh tranh cao

Phần lớn cha mẹ ở thành thị muốn con gái có học vấn tốt

để dễ tìm được chồng có học thức tốt, thu nhập cao giúp

đảm bảo một cuộc sống an toàn và thoải mái Điều quan

trọng cần nhấn mạnh là theo quan điểm của cha mẹ, học

vấn cao không đồng nghĩa với việc theo đuổi sự nghiệp

Ngay từ đầu, khi con gái chọn trường, cha mẹ đã nghĩ về

thời điểm con gái lập gia đình và nghỉ việc

P1: Con gái tôi thích ngành du lịch Tôi khuyên con

gái không nên học ngành này, vì phải đi lại nhiều,

sau này có thể ảnh hưởng hạnh phúc gia đình Phụ

nữ có gia đình phải lo việc nhà, chăm sóc chồng

con Nhưng nó không nghe, nói để con được làm

những gì con thích Nhưng khi lập gia đình, nó sẽ

tìm cách giải quyết (Thảo luận nhóm cha mẹ có

con từ 16 tới 22 tuổi ở Hà Nội)

Một điều đáng chú ý khác trong thảo luận nhóm là cha

mẹ có học vấn thấp thường lo ngại việc cho con học đại

học hoặc học lên cao vì họ sợ không giúp được việc học

của con Các sinh viên dân tộc Thái nói rằng cha mẹ họ

trồng lúa, và chỉ vài người trong cộng đồng được học

cao đẳng, đại học Những cha mẹ này sợ họ không thể

khuyên con về việc chọn ngành học hay công việc Một

số cha mẹ thậm chí để con sống với những người thân

có học vấn cao hơn để thay cha mẹ kèm cặp

Về hoạt động hướng nghiệp, cha mẹ cho biết trường phổ thông không cung cấp đầy đủ thông tin về những

kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động Họ phải tư vấn cho con dựa trên kinh nghiệm cá nhân hoặc dựa trên thông tin từ họ hàng hoặc bạn bè Tư vấn nghề nghiệp kết hợp giữa doanh nghiệp và trường đại học cũng thiếu Họ thấy các trường cao đẳng làm tốt hoạt động tư vấn nghề nghiệp, nhưng các trường đại học lại tập trung đào tạo lý thuyết nhiều hơn Nhiều cha mẹ

tự tìm thông tin về nghề nghiệp, về các trường đại học, cao đẳng trên Internet để tư vấn hướng nghiệp cho con

Họ cho rằng không có kênh thông tin nào của ngành lao động hoặc ngành giáo dục để các cha mẹ có trình

độ học vấn thấp có thể truy cập Nhóm cha mẹ này cần thông tin minh hoạ hơn là thông tin bằng văn bản để biết được ngành nào cần bằng cấp gì và ngành nào có nhiều cơ hội việc làm trong tương lai ở Việt Nam P4: Tôi nghĩ cần đề cập vấn đề này, và chính phủ cần điều chỉnh Rất khó tìm được thông tin việc làm vì không có một kênh thông tin chính thức nào (Thảo luận nhóm cha mẹ có con từ 16 tới 22 tuổi ở Hà Nội) P6: Thông tin việc làm trên các trang mạng không đáng tin Bây giờ khá hơn rồi, nhưng vài năm trước, nhiều người bị lừa bởi các dịch vụ việc làm trên mạng Vấn đề quan trọng nhất là không có công

cụ hữu dụng nào cho chúng tôi tham khảo Có rất nhiều thông tin về nghề nghiệp nhưng không đáng tin Chúng tôi không biết tìm ở đâu những thông tin có khả năng dự báo dài hạn, như ngành nào cần nhiều lao động trong vài năm tới, ngành nào sẽ

dư thừa lao động, và những chuyên ngành nào cần học để có những kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động (Thảo luận nhóm cha mẹ có con từ 16 tới

Họ chỉ làm dịch vụ giới thiệu việc làm Nếu con tôi được đào tạo đầy đủ, nó sẽ tìm được một công việc như ý Nếu nó muốn làm công việc tự do hoặc buôn bán như cha mẹ hay làm thuê, con tôi cũng không cần tới các TTDVVL Thời nay có rất nhiều việc, nếu muốn, con tôi có thể đi làm ngay Tôi thấy hoạt động

Trang 26

của các trung tâm này không cần thiết, nhưng có thể

cần cho người lao động ở các tỉnh khác thôi (Thảo

luận nhóm cha mẹ có con từ 16 tới 22 tuổi ở Hà Nội)

Kết luận

Tư vấn của cha mẹ và gia đình có ảnh hưởng lớn tới lựa

chọn nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam Dù các cha

mẹ cho rằng khác biệt về việc học của con trai và con

gái trong các thế hệ trước lớn hơn, nhưng vẫn tồn tại rõ

ràng trong xã hội hiện nay, như các thảo luận nhóm đã

chỉ ra Cha mẹ cho rằng con gái nên làm gần nhà, còn

con trai nên đi xa và tự lập Họ đánh giá con gái yếu

và kém tự lập hơn Cách suy nghĩ này ảnh hưởng tới

lời khuyên về công việc và lựa chọn sự nghiệp lâu dài

Nền tảng học vấn cũng ảnh hưởng tới lời khuyên: cha

mẹ có học vấn thấp biết ít hơn về cơ hội cho con gái có

trình độ học vấn Nhóm cha mẹ này thường lo không

thể giúp con gái họ hoặc lo con gái sống tự lập tách khỏi

gia đình Trong khi hầu hết cha mẹ ở thành thị muốn

con cái học lên cao để kiếm được chồng có học thức,

cha mẹ ở nông thôn nhấn mạnh việc con gái nên lập gia

đình sớm nên không cần tốn thời gian cho học hành

Dù vậy, ngay cả cha mẹ ở thành thị và có trình độ học

vấn tốt cũng không xem học cao đẳng, đại học là nền

tảng cho sự nghiệp của con gái vì họ cho rằng theo đuổi

sự nghiệp cản trở việc lập gia đình

4.3 Định kiến giới trong CSGDNN

Thảo luận nhóm với nam, nữ sinh viên, cha mẹ, và

phỏng vấn sâu những người am hiểu tình hình là lãnh

đạo các trường dạy nghề cho thấy định kiến giới vẫn

phổ biến trong các ngành đào tạo tại các trường Thêm

vào đó, bất cân bằng giới đáng kể đang tồn tại trong các

chuyên ngành đào tạo khác nhau tại tất cả các CSGDNN

vào tham gia nghiên cứu này Khái niệm về ngành học

“phù hợp với nữ” hoặc “phù hợp với nam” vẫn phổ biến

và ảnh hưởng mạnh mẽ tới quyết định lựa chọn của nam

và nữ Sinh viên nam hoặc nữ là “thiểu số” trong các

khoa hoặc lớp có nhiều bạn khác giới thường cho biết họ

thường chịu thiệt thòi và áp lực trong quá trình học và

trong hoạt động hàng ngày Do đó, một số sinh viên thay

đổi ngành học vì không muốn tiếp tục bị lạc lõng

Tuy nhiên, thái độ của giáo viên đối với các môn học

thường dành cho nam và thường dành cho nữ rất khác

nhau Trong khi giáo viên các ngành học “dành cho

nữ” rất quan tâm tới sinh viên nam và hỗ trợ sinh viên

tìm việc, sinh viên nữ trong các ngành “dành cho nam” không nhận được sự quan tâm như vậy của giáo viên –

họ thấy cần tránh để sinh viên nữ theo đuổi các ngành nghề này vì công ty tuyển dụng ngại tuyển nữ cho các công việc dành cho nam, không tin họ làm nổi công việc Các sinh viên nữ dần vỡ mộng ngay cả khi năng lực và bằng cấp của họ tương đương các bạn nam Sinh viên và cha mẹ tham gia thảo luận nhóm cho rằng danh tiếng của các trường cao đẳng nghề không bằng các trường đại học Một trong những lý do chính khiến

họ chọn học nghề vì thi trượt đại học Lý do khác là nhiều cha mẹ (như nông dân ở nông thôn hay dân tộc thiểu số) không đủ điều kiện đóng học phí đại học Nhiều cha mẹ ở nông thôn coi học nghề là cách tốt nhất

để con họ có thể phụ giúp cơ sở kinh doanh nhỏ hoặc việc làm nông của gia đình Đặc biệt, các sinh viên nữ cho biết học nghề là một lựa chọn thực dụng cho họ

cơ hội được học nhiều vấn đề, ý tưởng, và kỹ năng mà trước đó họ từng được tiếp xúc

Bằng cách khuyến khích mở thêm ngày càng nhiều trường trung cấp, cao đẳng trên cả nước, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa thành thị và nông thôn Giai đoạn 2001-2011, mỗi năm Việt Nam thành lập tám trường đại học và 12 trường trung cấp, cao đẳng (DAAD, 2017), phần lớn là trường tư Việt Nam dự kiến có hơn bốn triệu sinh viên vào năm 202015 Tuy nhiên, số lượng và chất lượng giáo viên là một thách thức lớn vì việc thiếu giảng viên có hàm giáo sư và trình

độ Tiến sĩ Các cơ sở giáo dục ở nông thôn thường thuê giảng viên không có bằng thạc sĩ

Thảo luận nhóm với sinh viên đã làm rõ thêm tình trạng này, đặc biệt tại các trường dạy nghề ở nông thôn Dù sinh viên cho rằng các trường công lập đáng tin cậy hơn trường tư, họ than phiền về chất lượng giảng viên không đồng đều cũng như cơ sở vật chất vừa cũ vừa thiếu F5: Giáo viên ở trường rất dễ tính Chúng tôi chỉ học buổi sáng, trong khi tại nhiều trường tư, sinh viên phải học buổi tối, rất bất tiện (Thảo luận nhóm sinh viên ở Cao đẳng Nghề Quảng Nam) F6: Trường công vẫn tốt hơn trường ngoài công lập

Họ phải tuân thủ các quy định nhà nước, trong khi trường tư có quy định riêng Ở trường này, nếu có vấn đề gì, nhà nước có trách nhiệm giải quyết (Thảo luận nhóm sinh viên ở Cao đẳng Nghề Quảng Nam)

15 http://cheer.edu.vn/en/?p=3728.

Ngày đăng: 19/02/2022, 13:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1.  Khuyến nghị chính sách rút ra từ nghiên cứu định tính - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
BẢNG 1. Khuyến nghị chính sách rút ra từ nghiên cứu định tính (Trang 10)
HÌNH 2.1. Tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
HÌNH 2.1. Tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam (Trang 13)
HÌNH 2.2. Chênh lệch tiền lương theo giới - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
HÌNH 2.2. Chênh lệch tiền lương theo giới (Trang 14)
BẢNG 2.1. Chỉ tiêu lao động của Hà Nội năm 2017 - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
BẢNG 2.1. Chỉ tiêu lao động của Hà Nội năm 2017 (Trang 15)
BẢNG 2.2. Chỉ tiêu lao động chính của TP HCM, - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
BẢNG 2.2. Chỉ tiêu lao động chính của TP HCM, (Trang 15)
BẢNG 2.3. Chỉ tiêu lao động của tỉnh Quảng Nam - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
BẢNG 2.3. Chỉ tiêu lao động của tỉnh Quảng Nam (Trang 16)
BẢNG 2.4. Chỉ tiêu lao động của tỉnh Điện Biên năm - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
BẢNG 2.4. Chỉ tiêu lao động của tỉnh Điện Biên năm (Trang 17)
BẢNG 3.1. Đặc điểm nhóm thảo luận - Báo cáo Nhận thức về bất bình đẳng giới tại thị trường lao động Việt Nam
BẢNG 3.1. Đặc điểm nhóm thảo luận (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w