Từ lá của cây Cóc đỏ thu hái ở rừng ngập mặn Cần Giờ, 5 hợp chất flavonoid đã được cô lập, bao gồm naringenin (1), quercetin (2), quercitrin (3), myricetin (4), myricitrin (5). Cấu trúc của các hợp chất này được xác định thông qua các phương pháp phổ nghiệm. Hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của các hợp chất cô lập được khảo sát, trong đó naringenin có hoạt tính cao nhất với giá trị IC50 là 1.87 µg/ml và cao hơn chất đối chứng dương acarbose (IC50 = 138.20 µg/ml).
Trang 1Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018 Kỷ yếu khoa học
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TINH SẠCH VÀ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ ENZYME α - GLUCOSIDASE CỦA FLAVONOID TỪ LÁ CÓC ĐỎ
(LUMNITZERA LITTOREA)
Trương Thị Thùy Đang*, Huỳnh Tấn Lộc, Bùi Thanh Tùng,
Lê Linh Ngọc, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Thị Lệ Thủy
Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh *Tác giả liên hệ: 1553010031dang@ou.edu.vn
TÓM TẮT
Từ lá của cây Cóc đỏ thu hái ở rừng ngập mặn Cần Giờ, 5 hợp chất flavonoid đã được cô lập, bao gồm naringenin (1), quercetin (2), quercitrin (3), myricetin (4), myricitrin (5) Cấu trúc của các hợp chất này được xác định thông qua các phương pháp phổ nghiệm Hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của các hợp chất cô lập được khảo sát, trong đó naringenin có hoạt tính cao nhất với giá trị IC50 là 1.87 µg/ml và cao hơn chất đối chứng dương acarbose (IC50 = 138.20 µg/ml)
Từ khóa: Cóc đỏ, cây rừng ngập mặn, flavonoid, enzyme α-glucosidase
FLAVONOIDS FROM LEAVES OF LUMNITZERA LITTOREA AND IN
VITRO α - GLUCOSIDASE INHIBITORY ACTIVITIES
Truong Thi Thuy Đang*, Huynh Tan Loc, Bui Thanh Tung,
Le Linh Ngoc, Nguyen Thi Thu Hong, Nguyen Thi Le Thuy
Ho Chi Minh City Open University
*Corresponding Author: 1553010031dang@ou.edu.vn
ABSTRACT
From the Lumnitzera littorea leaves, collected at Can Gio mangrove forest, five compounds, including naringenin (1), quercetin (2), quercitrin (3), myricetin (4), myricitrin (5) were isolated Their structures were elucidated by extensive analysis of the spectroscopic data The α-glucosidase inhibitory activity of isolated compounds was evaluated All of them exhibited strong inhibitory activity There are two compounds, naringenin, quercetin were the most potent with IC50 values of 1.87 µg/ml và 3.42 µg/ml, higher than the positive control acarbose( IC50 = 138.20 µg/ml)
Keywords: Lumnitzera Littorea, mangrove plant, flavonoid, α-glucosidase
inhibitory activity
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Cóc đỏ (Luminitzera littorea) là
(Combretaceae) phân bố ở rừng ngập
mặn Ở Việt Nam, chi Lumnitzera gồm
hai loài là Cóc đỏ (Lumnitzera littorea)
và Cóc trắng (Lumnitzera racemosa)
Hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao
chiết như n-haxane, ethylacetate và
methanol từ lá của loài cây này có khả
năng kháng lại sáu loài vi khuẩn gây bệnh ở người Bên cạnh đó trong dân gian chiết xuất từ lá được dùng để chữa nấm vòm họng ở trẻ con Ngoài ra, lá còn được sử dụng như một phương thuốc để chữa bệnh tiêu chảy ở xứ nóng, bệnh viêm ruột, loét miệng Đái tháo đường (hay còn gọi là tiểu đường) là bệnh trạng khi lượng đường trong máu tăng quá cao Bệnh đái tháo
Trang 2Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018 Kỷ yếu khoa học đường chia làm hai loại: loại 1 và loại
2 Trong đó bệnh tiểu đường loại 2
chiếm đến 90% nguyên nhân chủ yếu
là do rối loạn insulin trong cơ thể Mặt
khác, enzyme α-glucosidase cũng là
một yếu tố gây nên bệnh tiểu đường
Enzyme α-glucosidase là một enzyme
đường ruột phá vỡ liên kết α -1,4
polysaccharides thành α-glucose dẫn
đến mức đường trong máu cao Mục
tiêu nghiên cứu cô lập một số hợp chất
flavonoid có khả năng ức chế enzyme
α-glucosidase từ lá cây Cóc đỏ
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên liệu
Lá cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea)
trưởng thành, có màu xanh đậm, không
bị sâu, được thu hái tại rừng ngập mặn
Cần Giờ từ tháng 8/2017 đến tháng
8/2018 Cây được định danh khoa học
bởi tiến sĩ Phạm Văn Ngọt, Khoa Sinh
trường Đại học Sư Phạm
Phương pháp nghiên cứu
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
1H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR
(125 MHz) được đo trên máy Bruker
AM500 FT-NMR Spectrometer và phổ
ESI-MS được thực hiện trên +IDA
TOF MS Sắc ký cột được thực hiện
với cột silica gel 60 F254 (Merck,
Darmstadt, Đức) có kích thước hạt là
0,040-0,063 mm (240-430 mesh),
silica gel pha đảo, sephadex LH-20 để
cô lập chất
Enzyme α-glucosidase (EC 3.2.1.20)
thu nhận từ Saccharomyces cerevisiae
(750 UN) và
p-nitrophenyl-α-D-glucopyranoside được mua từ công ty
hóa chất Sigma (Mỹ) Acarbose và
dimethyl sulfoxide được mua từ công
ty hóa chất Merck (Đức) Các loại hóa
chất khác đều đạt mức độ tinh khiết
phân tích
Quy trình chiết và cô lập chất
Mẫu lá cây tươi Cóc đỏ (Lumnitzare
littorea) được thu hái lá trưởng thành
tại rừng ngập mặn Cần Giờ, sau đó loại
bỏ những lá hư hỏng sâu bệnh, rửa sạch loại đất cát, phơi khô và xay nhuyễn Bột (7.8000 g) được chiết xuất hoàn toàn bằng ethanol ở nhiệt độ phòng bằng phương pháp ngâm Từ 7.8 kg nguyên liệu khô sử dụng phương pháp ngâm dầm ở nhiệt độ phòng, thu được
880 g cao tổng Với 400 g cao tổng ethanol này được áp dụng cho quá trình chiết pha rắn silic, được tách chiết liên
tục với n-hexan, etyl axetat, etyl
axetat:methanol (1:1) và cuối cùng là metanol Sau khi cô quay, bốn chất chiết xuất thu được, n-hexan (100.87 g), etyl axetat (36.45 g), etyl axetatetanol (1:1) (85.12 g) và methanol (150.43 g)
Từ cao ethanol chiết pha rắn lần lượt
với các loại dung môi n-hexane, EA,
EA:Me (1:1) thu được 4 phân đoạn cao
n-hexane (cao A), cao ethyl acetace
(cao B), cao EA:Me (1:1) (Cao C), cao methanol (cao D) Chiết xuất cao C được cô lập bằng phương pháp sắc ký cột silicagel với hệ dung môi EA:Me lần lượt là 9:1, 4:1, 1:1, 0:1 Sau đó thu được 7 phân đoạn nhỏ được ký hiệu từ C1-C8 Phân đoạn C2 được tái sắc ký trên silicagel với hệ CHCl3- MeOH lần lượt với tỷ lệ là 1:1, 9:1, sau đó với Sephadex LH - 20 với methanol để thu
được hợp chất (4) 10 mg Phân đoạn
C3 được tái sắc ký trên silicagel- hệ dung môi CHCl3- MeOH lần lượt với
tỷ lệ là 1:0, 9:1 và sau đó với Sephadex
LH - 20 với methanol để thu được hai
hợp chất (1) 30 mg và (2) 15 mg Phân
đoạn C4 được tái sắc ký trên silicagel với hệ CHCl3-MeOH lần lượt với tỷ lệ
là 1:0,0;1 cho ra 9 phân đoạn (C4.1- C4.9) sử dụng phương pháp sắc ký và sắc ký lớp mỏng được áp dụng cho
phân đoạn này để thu được hợp chất (5) (C4.4) 3 mg, (3) (C4.9) 1 g
Khảo sát hoạt tính ức chế enzyme
Trang 3α-Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018 Kỷ yếu khoa học
glucosidase
Hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase
được khảo sát trên tất cả các loại cao
chiết và hợp chất cô lập theo phương
pháp của Apostolidis và cộng sự [4
p-nitrophenyl-α-D-glucopyranosid]
(pNPG) được sử dụng làm cơ chất Cơ
p-nitrophenyl-D-glucopyranosid sẽ bị enzyme
α-glucosidase thủy phân chuyển hóa
thành α-D-glucose và p-nitrophenol
(pNP) Hoạt tính ức chế α-glucosidase
được tính bằng phương trình sau:
A
A A
control
sample control
Giá trị IC50 được tính từ phương trình tuyến tính thể hiện sự phụ thuộc giữa phần trăm ức chế hoạt tính của enzyme với nồng độ cao chiết
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Biện luận cấu trúc hợp chất cô lập
Quá trình nghiên cứu thành phần hóa thực vật của cây Cóc đỏ đã cô lập và xác định cấu trúc của 5 hợp chất flavonoid Cấu trúc của những hợp chất này được trình bày trong Hình 1
Hình 1 Cấu trúc các hợp chất flavonoid cô lập từ lá cây Cóc đỏ
Hợp chất (4): Dữ liệu phổ 1H-NMR chỉ
ra rằng có một tín hiệu mũi đơn tại độ
dịch chuyển δ 12.49 (1H, s) của nhóm
OH kiềm nối tại vị trí C-5 Hai tín hiệu
proton mũi đôi ghép meta tại vị trí δ H
6.18 (1H, d, 2.0 Hz) và 6.37 (1H, d, 2.0
Hz) của H-6 và H-8, tương ứng với
vòng A của 5,7-dihydroxyflavonoid
Ngoài ra, tín hiệu tại vị trí δ H 7.24 (2H,
s) đặc trưng cho nhóm 3,4,5–
trisubstituted phenyl đối xứng Dữ liệu
phổ 13C-NMR của (4) cho thấy 13 tín
hiệu bao gồm một tín hiệu của nhóm
carbonyl tại vị trí δC 175.8 (C-4), sáu
tín hiệu carbon sp2 gắn dị nguyên tố tại
δC 163.97), 160.8 5), 156.1
(C-9), 146.9 (C-2), 135.9 (C-3, 4), và
145.8 (C-3, 5), và 3 tín hiệu methine
carbon tại δC 107.2 (C-2, 6), 98.2 (C-6) và 93.2 (C-8), và 2 tín hiệu carbon
bậc IV tại δC 103.0 10) và 120.8
(C-1) Vì vậy, hợp chất (4) chính là myricetin
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR
của hợp chất (4) và (2) là tương tự, tuy
nhiên thay vì có 2 proton đối xứng trên
vòng B của hợp chất (4) thì hợp chất
(2) cho 3 tín hiệu ở δ H 7.67 (1H, d, 2.0 Hz), 7.54 (1H, dd, 2.0 Hz, 8.5 Hz) và 6.88 (1H, d, 8.5 Hz) Dữ liệu phổ 13C
NMR của (2) cho thấy 15 tín hiệu bao
gồm một tín hiệu của nhóm carbonyl tại vị trí 175.9 (C-4), bảy tín hiệu carbon sp2 gắn dị nguyên tố tại 164.0(C-7), 161.0 (C-5), C-9), 146.8 (C-2), 135.8 (C-3), 147.7 (C-4), và
Trang 4Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018 Kỷ yếu khoa học 145.1 (C-3) và 5 tín hiệu methine
carbon tại 8), 98.2 6), 120.0
(C-6), và 115.6 (C-5), 115.1 (C-2), và 2
tín hiệu carbon bậc IV tại C-10 và
122.0 (C-1) Từ các dữ liệu phổ 1H và
13C NMR của hợp chất (2) cho thấy
rằng đây là cấu trúc của quercetin
Dựa vào phổ cộng hưởng từ hạt nhân
1H-NMR của hợp chất (1) và (4) là
tương tự, tuy nhiên thay vì có 1 cặp 2
proton đối xứng trên vòng B của (4),
(1) cho 2 cặp 2 proton đối xứng trên
vòng B tín hiệu ở δ H 7.31 (2H, d, 8.5
Hz) và 6.78 (2H, d, 8.5 Hz), và tín hiệu
của một hệ AMX tại H 5.43 (dd, J =
13.0, 3.0 Hz, H-2), 2.68 (dd, J = 17.0,
3.0 Hz, Hax-3) và 3.25 (dd, J = 17.0 Hz,
13.0 Hz, Heq-3) Dữ liệu phổ 13C NMR
của (1) cho thấy 15 tín hiệu bao gồm:
một tín hiệu của nhóm carbonyl tại vị
trí C 196.5 (C-4), bốn tín hiệu trong
vùng 157-167 của carbon sp2 gắn với
dị nguyên tố (C-5, C-7, C-9 và C-4’), 8
tín hiệu từ C 95.0 đến 129.0 của
carbon vòng thơm và 2 tín hiệu tại C
78.5 và 42.0 đặc trưng của C-2 và C-3
của khung flavanone Do đó, hợp chất
(1) được kết luận là naringenin
Dữ liệu phổ 1H và 13C-NMR của hợp
chất (3) có khung flavonoid tương tự như hợp chất (2) Trên phổ 1H-NMR,
tín hiệu proton anomer tại vị trí δ H 5.25
(1H, d, 1.5 Hz, H–1), bốn tín hiệu proton của nhóm CH-OH trong vùng 3.1 – 4.0 ppm và một tín hiệu methyl
tại vị trí δ H 0.82 (3H, d, 6.0 Hz, H-6) cho thấy sự hiện diện của một đường rhamnose Dữ liệu phổ 13C-NMR cho
thấy có 21 tín hiệu carbon, bao gồm δ C
177.7 (C-4), 164.4 (C-7), 161.2 (C-5),
157.3 (C-9), 156.5 (C-2), 148.5 (C-4), 145.2 (C-3), 134.2 (C-3), 121.1 (C-6), 120.7 (C-1), 115.6 5’), 115.4 2’), 104.0 10), 98.7 6), 93.6 (C-8) và tín hiệu của đường rhamnose tại
δC 101.8 (C-1), 71.2 (C-4), 70.6
(C-5), 70.4 (C-2), 70.0 (C-5), 17.5
(C-6) Tín hiệu carbon anomeric xuất
hiện tại vùng từ trường cao hơn với δ C
101.9 cho thấy rằng hợp chất (5) là hợp
chất flavonoid có gắn nhóm một nhóm
O–glycosyl Từ các dữ liệu phổ 1H và
13C NMR của hợp chất (3), cho thấy
rằng đây là cấu trúc của quercitrin
Kết quả sát hoạt tính ức chế enzyme
α-glucosidase
Bảng 1 Hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của cao chiết từ lá Cóc đỏ Cao
chiết
Nồng độ
IC 50
(µg/mL)
Cao
ethanol
%ức chế
99.12
0.14 > 100 > 100 > 100 < 0.10
n-Hexane
37.37
0.32
57.30
0.84
71.17
0.34 > 100 0.21 Ethyl
acetate
5.34
0.58
25.62
0.43
50.53
0.32
91.46
1.00
85.53
0.80
95.00
0.20 > 100 < 0.10
KẾT LUẬN
Năm hợp chất flavonoid đã được cô
lập, bao gồm Myricetin (4),
Naringenin (1), Quercetin (2),
Myricitrin (5), Quercetrin (3) và đánh giá hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase của các hợp chất cô lập được khảo sát, trong đó hai hợp chất
Trang 5Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018 Kỷ yếu khoa học naringenin, quercetin có hoạt tính cao
nhất với giá trị IC50 lần lượt là 1.87
µg/ml và 3.42 µg/ml Kết quả này là
tiền đề quan trọng cho các nghiên cứu
tiếp theo mang tính ứng dụng như sản xuất các sản phẩm thực phẩm chức năng hỗ trợ trong phòng và điều trị bệnh tiểu đường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ANDREA D.S, 2012 Diabetes: what you need to know Copyright Australian
Diabetes Council, 6-90
LÊ CÔNG KHANH, 1986 Rừng ngập mặn và rừng nhiệt đới trên đất chua phèn
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, trang 40-80
NGUYỄN KIM PHI PHỤNG, 2007 Phương pháp cô lập các hợp chất hữu cơ
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM, trang 20-53
PHẠM HOÀNG HỘ, 1999 Cây cỏ Việt Nam, quyển 2 Nhà xuất bản Trẻ, trang
110