1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

36 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 828,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Khái quát về toàn cầu hóa: 1. Khái niệm: Xuất hiện từ những năm 1960, “toàn cầu hóa” đã trở thành một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành khoa học xã hội đương đại và đồng thời là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. Toàn cầu hóa có thể hiểu là quá trình phát triển mạnh mẽ sự liên kết, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa các quốc gia các dân tộc trên toàn thế giới. Theo đó, toàn cầu hóa làm lu mờ các đường biên giới quốc gia, thu hẹp các khoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của thế giới.

Trang 1

I Khái quát về toàn cầu hóa:

1 Khái niệm:

Xuất hiện từ những năm 1960, “toàn cầu hóa” đã trở thành một trong những khái niệmđược sử dụng rộng rãi nhất trong ngành khoa học xã hội đương đại và đồng thời làmột trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất Toàn cầu hóa có thể hiểu là quátrình phát triển mạnh mẽ sự liên kết, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa các quốc giacác dân tộc trên toàn thế giới Theo đó, toàn cầu hóa làm lu mờ các đường biên giớiquốc gia, thu hẹp các khoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị,

xã hội và văn hóa của thế giới

Hình 1: Toàn cầu hóa đang trở thành xu hướng toàn cầu

Quá trình toàn cầu hóa mang nhiều đặc điểm nổi bật chưa từng xuất hiện trong lịch sửnhân loại và gắn liền với các thành tựu về khoa học kỹ thuật Có thể kể tới 5 đặc điểmnổi bật sau đây của quá trình toàn cầu hóa Đầu tiên là sự ra đời và mở rộng của nhiều

tổ chức liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu Xu hướng tự do hóa các hoạt động kinh

tế trên phạm vi toàn cầu ngày càng được mở rộng, ta có thể dễ dàng nhận ra sự giảmthiểu/ xóa bỏ các rào cản kinh tế và một thị trường toàn cầu với những quy định thốngnhất đang được hình thành Tiếp đến là sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc.Không chỉ các nước đang phát triển phụ thuộc các nước phát triển mà các nước pháttriển cũng chịu tác động từ các nước đang phát triển, các chuỗi giá trị toàn cầu trongnền sản xuất thế giới được hình thành ngày càng nhiều, trong đó sản phẩm của mỗinước tạo ra mang tính quốc tế sâu sắc Bên cạnh đó, cạnh tranh kinh tế giữa các nướcdiễn ra ngày càng quyết liệt, tranh chấp kinh tế gia tăng mạnh qua các năm Sự cạnhtranh giữa các nước diễn ra trên cả 3 cấp độ và theo khuôn khổ pháp lí của các tổ chứcliên kết quốc tế Việc tranh chấp về lợi ích giữa các nước có xu hướng gia tăng nhất

Trang 2

là trong lĩnh vực thương mại Sau cùng, toàn cầu hóa kinh tế mang đến những cơ hộiphát triển, đồng thời đặt ra những thách thức đối với tất cả các nước

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy rằng toàn cầu hóa là một hiện tượng có ý nghĩacách mạng trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Quá trình này dẫn tớinhững biến đổi mạnh mẽ trong cấu trúc kinh tế – chính trị của quan hệ quốc tế, songsong với những thay đổi về đời sống văn hóa-xã hội của người dân trên khắp toàn cầu.Tuy nhiên, đây không phải là một hiện tượng đơn nhất, bất biến mà là một quá trìnhphức tạp, đa phương diện, đa chiều hướng và luôn vận động, biến đổi

2 Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu hóa kinh tế:

2.1 Khái niệm toàn cầu hóa kinh tế:

Toàn cầu hóa kinh tế nảy sinh rất sớm và dần dần phát triển, để rồi tạo ra những bướcphát triển nhảy vọt như hôm nay Theo quan niệm về toàn cầu hóa kinh tế của GS.TS

Dương Phú Hiệp và TS Vũ Văn Hà: “Toàn cầu hóa kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra

sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.”

Khởi nguồn từ trao đổi thương mại, toàn cầu hoá kinh tế dần dần phát triển sang nhiềulĩnh vực khác như sản xuất, dịch vụ, đầu tư, môi trường, xã hội Nó thu hút tất cả cácnền kinh tế của các quốc gia, không phân biệt giàu, nghèo, phát triển hay chưa pháttriển, quốc gia lớn và cả quốc gia bé, các nước có chế độ chính trị khác nhau Toàncầu hóa kinh tế làm cho các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia gắn bó với nhau,phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau Thông qua toàn cầu hóa mà nền kinh tế cácnước tạo ra những lợi thế mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất, kỹ thuật công nghệ pháttriển từ đó làm cho nền kinh tế của từng nước có thể vượt qua các thế yếu của mình

mà tạo ra lợi thế mới và thế mạnh mới

Nhưng ngược lại toàn cầu hóa cũng có thể làm cho nền kinh tế của từng nước, từ chỗ

có lợi thế so sánh, từ chỗ có thế mạnh lại trở thành nền kinh tế yếu kém, không có lợithế, nếu bỏ lỡ thời cơ

Toàn cầu hóa kinh tế cũng dẫn đến xu thế khu vực hóa kinh tế Khu vực hóa kinh tếthực chất là sự tập hợp lực lượng của các nền kinh tế khu vực để hỗ trợ nhau tạo rasức mạnh của từng khu vực kinh tế thích ứng với toàn cầu hóa kinh tế Hiện tượng nàychính là sự thể hiện sinh động, đa dạng mà thống nhất của toàn cầu hóa Chúng ta có

Trang 3

thể kể ra đây rất nhiều khu vực kinh tế như : ASEAN, Đại Tây Dương, EU, Bắc Phi,APEC, FTAA, Ấn Độ Dương Xu thế toàn cầu hóa kinh tế được thể chế hóa thànhnhiều văn bản mang tính quốc tế như các công ước, hiệp định quốc tế và được tổ chứcthành các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ Đây là một quá trình đấutranh gay gắt kéo dài của các nền kinh tế của các quốc gia, giữa nước nghèo và nướcgiàu nhằm vừa bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia mình vừa hòa thuận để cùng pháttriển, cạnh tranh và sinh tồn.

2.2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế

2.2.1 Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất

Nguồn lực con người luôn được coi là nguồn lực quan trọng nhất,

có tính chất quyết định sự tăng trưởng và phát triển xã hội Mộtquốc gia cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹthuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủkhả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó thìkhó đạt được sự phát triển như mong muốn Trong xu thế toàn cầuhoá, kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào tri thức, hàm lượng trí tuệtrong sản phẩm ngày càng tăng, sự phát triển của mỗi quốc gia phụthuộc chủ yếu vào nguồn nhân lực thay vì dựa vào nguồn tàinguyên vốn và vật chất như các giai đoạn trước

Khi khoa học và công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp, kinh tế tri thức ngày càng chiếm ưu thế trong phát triểnkinh tế - xã hội thì lợi thế cạnh tranh dựa trên công nghệ, tri thức,

tư duy đổi mới và năng lực sáng tạo của chính con người

Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hìnhthức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội vàthách thức đan xen phức tạp Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnhtranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến Kinh

tế tri thức phát triển mạnh, do đó nguồn nhân lực càng trở thànhnhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia

Chính vì thế, với chất lượng ngày càng được nâng cao và toàn diệncủa lực lượng sản xuất hiện nay bao gồm cả năng suất lao độngcũng như các tư liệu lao động ở trong thời đại cách mạng 4.0 mangđến những cú hích đến nền kinh tế toàn cầu Nhu cầu giao thương

và tạo ra các chuỗi giá trị đa quốc gia để kết hợp những điểm lợithế của từng nước về các mặt con người, công nghệ, tài nguyên

Trang 4

thiên nhiên ngày càng lớn Lực lượng sản xuất được nâng cao cũngđem đến những sự lưu chuyển dòng vốn và lao động đa quốc gia.Điều này đem đến sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau giữa các nướctrên thế giới.

2.2.2 Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, nhất là sự phát triển nhảy vọt về thông tin liên lạc, giao thông, đặc biệt là sự ra đời của công nghệ thông tin.

Thực tiễn của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bước quá độ từ nềnkinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, điều này được thể hiện

rõ ở các quốc gia phát triển Cùng với nó các quốc gia đang pháttriển cũng đã kết hợp bước chuyển nông nghiệp lên công nghiệp kếthợp những bước nháy tắt để rút ngắn quá trình xây dựng những cơ

sở của nền kinh tế tri thức

Sự phát triển của kinh tế tri thức dựa trên các công nghệ có hàmlượng khoa học kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở rađiều kiện thuận lợi cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ như:các công nghệ mới làm tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắnkhoảng cách về không gian và thời gian Công nghệ thông tin đồngthời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dânchủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao lưu hội nhập

Chính sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡhàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con người trên tất cảcác mặt giữa các quốc gia Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tếlên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Cácquốc gia dù muốn hay không đều chịu tác động của của quá trìnhtoàn cầu hoá và đương nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiệnhiện nay không thế không tham gia quá trình toàn cầu hoá, tức là hộinhập quốc tế

2.2.3 Nhu cầu mở mang thị trường, xuất khẩu tư bản, sự di cư ồ ạt về lao động.

Toàn cầu hóa là việc xem xét toàn bộ thế giới như một thị trườngriêng lẻ của doanh nghiệp, là quá trình doanh nghiệp mở rộng kinhdoanh từ thị trường vùng này sang thị trường vùng khác, từ thịtrường nước này sang thị trường nước khác Đứng trên góc độ ngành

Trang 5

công nghiệp, toàn cầu hóa đề cập đến sự thay đổi trong các nhân tốkinh tế như kinh tế quy mô, kinh nghiệm, nghiên cứu và phát triển;những nhân tố này là cơ sở thiết yếu để tạo nên cạnh tranh trên khắpthế giới.

Sự gia tăng về cầu trên thế giới mang lại kết quả trực tiếp và cụ thể

là cuộc chiến cạnh tranh của các ngành công nghiệp Nhu cầu củacon người khắp nơi là vô hạn nhưng chúng ta có thể thu hẹp các đặctính của cầu theo những đặc điểm tương đồng và quy tụ trong mộtthị trường chung- thị trường toàn cầu

Nhiều ngành công nghiệp hiện tại đi vào mở rộng kinh tế quy môtrong sản xuất Khái niệm quy mô hiệu suất tối thiểu là mức sản xuấttại đó nhà xưởng phải vận hành để đạt được đầy đủ hiệu suất.Trongcông nghệ, khi chi phí giảm ở cả 2 mức tích lũy và kinh nghiệm,công ty có thể sẵn sàng bán nhiều sản phẩm hơn ở các thị trườngkhác nhau Khi chi phí giảm, công ty có thể định giá bán tốt hơn đểxâm nhập thị trường mới, đồng thời có khả năng vẫn giữ vị thế chiphí thấp hơn đối thủ của nó trong một giai đoạn sau này

2.2.4 Sự hòa hợp và tham gia rộng rãi vào các hoạt động quốc tế của các

quốc gia, đặc biệt là các nước thứ ba.

Trước đây, thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bằng cáchiệp định thương mại song phương giữa hai nước Trước thế kỷXIX, khi chủ nghĩa trọng thương còn chiếm ưu thế, đa số các nước

áp đặt những mức thuế cao cùng nhiều hạn chế thương mại khác đốivới hàng nhập khẩu Kể từ thế kỷ XIX, tư tưởng về thương mại tự

do dần dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ở các nước phương Tây, đặcbiệt là ở Anh Trong những năm kể từ sau Chiến tranh Thế giới lầnthứ hai, các hiệp định thương mại đa phương như GATT và WTO đã

cố gắng xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có sự thống nhấtđiều chỉnh trên phạm vi toàn cầu

Hướng tới thương mại tự do, các hiệp định thương mại không chỉđàm phán việc giảm thuế mà còn đàm phán cả các biện pháp phithuế như hạn chế số lượng nhập khẩu, cấp phép nhập khẩu, vệ sinhkiểm dịch, đầu tư nước ngoài, mua sắm chính phủ và tạo thuận lợicho thương mại bằng cách đơn giản hóa các thủ tục hải quan

Trong quá khứ, thương mại tự do thường tập trung vào các mặt hàngnông sản, trong khi các mặt hàng chế tạo thường mong muốn đượcbảo hộ Tình hình trong hiện tại lại ngược lại, đặc biệt là ở các nước

Trang 6

phát triển Ở Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản, những cuộc vận độnghành lang đối với các lĩnh vực nông nghiệp là nguyên nhân chínhkhiến cho trong đa số các hiệp định thương mại quốc tế, lĩnh vựcnông nghiệp có nhiều quy định mang tính chất bảo hộ hơn là nhữnglĩnh vực hàng hóa và dịch vụ khác.

Thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bởi các quy tắc có tínhtoàn cầu thông qua các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới,mặc dù cũng có một số thoả thuận thương mại khu vực như AFTAgiữa các nước ASEAN; MERCOSUR giữa một số nước ở Nam Mỹ;NAFTA giữa Hoa Kỳ, Canada và México; Liên minh châu Âu giữa

25 quốc gia ở châu Âu Có thể kể thêm một số thỏa thuận thươngmại quốc tế thất bại như Khu vực Mậu dịch Tự do châu Mỹ (FTAA)hay Hiệp định Đa phương về Đầu tư (MAI)

1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014 2016 2018 0

Hình 2: Biểu đồ số hiệp định thương mại tự do có hiệu lực giai đoạn 1994-2018

(Nguồn: rtais.wto.org)

2.2.5 Sự phát triển và phổ cập của kinh tế thị trường và cơ chế thị trường.

Quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiếntrình phát triển của kinh tế thi trường Kinh tế thị trường phát triển

Trang 7

đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trênhai khía cạnh chính: Thứ nhất, kính tế thị trường mở ra cơ sở, điềukiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sảnxuất không bó hẹp trong phạm vi cua từng quốc gia mà mang tầmquốc tế, như vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân công laođộng quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc của sản xuất và tiêuthụ Thứ hai, nền kinh tế thi trường phát triển của các quốc gia đưalại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó là cơ chế thịtrường.

Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vậnhành : cơ chế thi trường

Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫnnhau giữa các nền kinh tế càng tăng Sự phát triển mạnh mẽ của kinh

tế thị trường không chỉ ở sự mở rộng qui mô về không gian, về sựxâm nhập ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia mà còn thể hiện ở sựphát triển theo chiều sâu Đó là sự bùng nổ phát triển của thị trườngtài chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt công cụ mới trongthanh toán giao dịch.Thị trường sản phẩm hàng hoá cũng gia tăngmạnh mẽ thể hiện ở qui mô chưa từng có của khối lượng giao dịchthương mại và ở sự phát triển của các dạng giao dịch mới nhưthương mại dịch vụ và điện tử

Như vậy có thể thấy sư phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trườngchính là cơ sở, điều kiện cho quá trình quốc tế hoá Nhìn chung cácquốc gia trên thế giới ngày nay đều dựa trên cơ chế thị trường, sửdụng các phương tiện và công cụ của kinh tế thị trường trong hoạtđộng kinh doanh, đưa lại một không gian rộng lớn, không gian toàncầu cho các hoạt động sản xuất và lưu chuyển các yếu tố của chínhquá trình sản xuất ấy

2.2.6 Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế về

thương mại và tài chính, sự hình thành các hệ thống tài chính, ngân hàng quốc

tế, tạo ra khối lượng giao dịch tiền tệ, hàng hóa khổng lồ.

Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa tư bản tấtyếu dẫn đến sự tập trung sản xuất và dẫn đến độc quyền Trong lịch

sử của nền sản xuất thế giới vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 vànhững năm đầu của thế kỷ 21 này dưới sự tác động của cuộc cáchmạng khoa học kĩ thuật đã đưa lại sự phát triển chưa từng có củacác công ti xuyên quốc gia

Trang 8

Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểmsoát 2/3 nền thưong mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ởnước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệthế giới Với sức mạnh như vậy các công ti xuyên quốc gia khôngnhững có ưu thế trong phân phối tài nguyên trên phạm vi thế giớigiúp cho việc thúc đẩy phân công lao động quốc tế đi vào chi tiếthoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và kinh doanh đểđẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phậntoàn cầu đã tạo ra mạng lưới liên kết kinh tế quốc tế Các quốc gia

có thể tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vìvậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng

Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăngmức xuất khẩu, gia tăng mạnh mẽ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàivào các nước đang phát triển đẩy mạnh tiến trình hội nhập của nềnkinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói chung

Như vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công tyxuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sựngăn cách biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.Các quốc gia dân tộc từng bước tham gia, thích ứng với các chuẩnmực của nền kinh tế quốc tế đồng thời nó cũng đem lại nét mới từnhững bản sắc riêng, bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làm gia tăngtính đa dạng của nó

II Tác động tích cực của toàn cầu hóa kinh tế:

1 Thúc đẩy sự hình thành các tổ chức liên kết kinh tế quốc tế:

- Xuất hiện từ những năm 1960, “toàn cầu hóa” đã trở thành một trongnhững khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành khoa học xãhội đương đại và đồng thời là một trong những vấn đề gây nhiều tranhcãi nhất

- Toàn cầu hóa có thể hiểu là một hiện tượng gắn liền với sự gia tăng về

số lượng cũng như cường độ của các cơ chế, tiến trình và hoạt độngnhằm thúc đẩy gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thếgiới cũng như sự hội nhập kinh tế và chính trị ở cấp độ toàn cầu Theo

đó, toàn cầu hóa làm lu mờ các đường biên giới quốc gia, thu hẹp cáckhoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị, xã hội

và văn hóa của thế giới tạo điều kiện thúc đẩy các quốc gia trên thế giới

Trang 9

có xu hướng liên kết với nhau để tạo thành các tổ chức liên kết kinh tếquốc tế để có thể cùng nhau phát triển kinh tế.

- Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (The General Agreement onTariffs and Trade – GATT ) được ký kết năm 1947 giữa 23 nước

- Đến năm 1985 GATT có 87 thành viên, giá trị trao đổi thương mại thếgiới đạt 1,8 nghìn tỷ USD Đến năm 1995 GATT chuyển thành WTOvới số lượng thành viên lên đến 127, tổng giá trị trao đổi thương mạitrên thế giới đã lên đến 5,7 nghìn tỷ USD Năm 2003 các chỉ số này tuần

tự là 148 và 7,5 Đến năm 2018 các chỉ số này đã phát triển mạnh mẽ lêncon số 164 và 19,9 nghìn tỷ USD

- Như vậy, WTO ngày càng có vai trò lớn và tác động mạnh mẽ đến sựphát triển thương mại, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia và trên bìnhdiện thế giới Các quốc gia tham gia tổ chức này sẽ làm cho nền kinh tếquốc gia mình phát triển hài hòa theo thông lệ và nguyên tắc của WTO,

là cơ hội đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế,

từ đó tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội

Các thành viên gia nh p WTO (1995-2019) ập WTO (1995-2019)

Hình 3: Biểu đồ số lượng thành viên WTO giai đoạn 1995-2019

(Nguồn: https://data.worldbank.org )

- Ngoài hai tổ chức lớn là UNO, WTO, các tổ chức hợp tác khu vực vàquốc tế khác được thành lập ngày càng nhiều và phát triển lớn mạnh, cóvai trò lớn trong việc phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia, cáckhu vực và trên toàn thế giới như: Chương trình Phát triển Liên HợpQuốc (United Nations Development Programme – UNDP) ; Tổ chứcLương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (Food and AgricultureOrganization of The United Nationals – FAO) ; Tổ chức Giáo dục Khoahọc về Văn hóa Liên Hợp Quốc (United National of Education Scienceand Culture Organization – UNESCO) ; Tổ chức Y tế Thế giới (WorldHealth Organization – WHO) ; Liên minh châu Âu (European United –

Trang 10

EU) ; Khối Buôn bán tự do Bắc Mỹ (North American Free TradeAssociation – NAFTA) ; Diễn đàn Hợp tác châu Á – Thái Bình Dương(Asian Pacific Economic Co – Operation Forum – APEC) ; Hiệp hội cácnước Đông Nam Á (Association of South East Asia Nations –ASEAN) ; Tổ chức Thống nhất châu Phi (Organization African Union –OAU)…

- Chỉ riêng ở châu Phi từ năm 1990 đến nay đã có tới hơn 100 tổ chứckinh tế – xã hội khác nhau được thành lập

- Tự do hóa đang khẳng định vai trò vô cùng lớn trong việc thúc đẩy hìnhthành liên kết các tổ chức kinh tế quốc tế Và với xu thế như hiện tại dựđoán rằng trong tương lai với sự ra đời và phát triển của các tổ chứckinh tế quốc tế sẽ làm cho khoảng cách và rào cảnh giữa các quốc gia bịxóa bỏ, hình thành nên một môi trường hợp tác kinh tế toàn cầu chungcùng hỗ trợ nhau phát triển mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia trênthế giới

2 Thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển:

- Thương mại quốc tế là việc trao đổi và mua bán hàng hóa dịch vụ giữacác quốc gia tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá đối với phần lớncác nước nó tương đương với một lượng lớn tỉ lệ GDP Mặc dù thươngmại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển loài người ( Conđường tơ lụa hay con đường hổ phách) tuy nhiên tầm quan trọng kinh tế,

xã hội, chính trị của nó mới được tập trung và chú trọng ở các quốc gianhững năm gần đây

- Toàn cầu hóa phát triển phá bỏ những rào cản ngăn cách giữa các quốcgia, mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế quốc tế, từ

đó các quốc gia có thể tận dụng những cơ hội to lớn mà toàn cầu hóamang lại để phát triển thị trường bên ngoài

- Chúng ta đều biết đối với nền kinh tế thị trường thì việc tạo lập đượcmột thị trường quy mô cho phát triển kinh tế, tạo đầu ra cho các sảnphẩm công nông nghiệp và dịch vụ là điều vô cùng quan trọng Từ việckhai thông thị trường quốc gia với quốc tế cho phép các quốc gia có thểphát huy những thế mạnh và khắc phục những nhược điểm của mình đểtạo ra sự phát triển kinh tế tối ưu nhất Một thực tế hiển nhiên là khôngmột quốc gia nào trên thế giới có thể xây dựng một nền kinh tế nội địahiệu quả mà không cần đến thị trường bên ngoài cho dù đó là các siêucường như : Mỹ, Nhật, Trung Quốc, vì thế, toàn cầu hóa giúp cho các

Trang 11

nước có thể tiếp cận với rất nhiều thị trường khác nhau, từ đó thúc đẩyphát triển trao đổi và mua bán hàng hóa mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu

và nhập khẩu hàng hóa toàn thế giới những năm gần đây tăng trưởng vớitốc độ chóng mặt

- Mặt khác, toàn cầu hóa cũng làm cho phân công lao động quốc tế ngàycàng sâu sắc, xu hướng phân công lao động quốc tế cũng đang dầnchuyển dịch từ chiều dọc sang chiều ngang

- Vào giai đoạn trước những năm 80 của thế kỉ trước, dưới sự thống trịcủa các nước tư bản phát triển hình thành hai nhóm nước rõ rệt, mộtnhóm là các nước lạc hậu kém phát triển chuyên cung cấp nguyên vậtliệu, còn nhóm còn lại là các nước phát triển chuyên gia công, chế tạosản phẩm và bán lại cho các quốc gia khác Hình thức phân công laođộng theo chiều dọc sẽ làm cho các nước đang lạc hậu sẽ càng lạc hậu

và chậm phát triển hơn trong khi đó các nước phát triển sẽ khống chế thịtrường, hạn chế sự thâm nhập từ bên ngoài dẫn đến chia cắt thị trườngquốc tế, cản trở sự phát triển của sản xuất và phân công thị trường trênthế giới Nhưng cuối cùng sau những năm 80 của thế kỉ trước với thấtbại của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc kết hợp với tác độngcủa xu thế toàn cầu hóa, hình thức phân công lao động thế giới theochiều ngang đang dần trở thành hình thức phân công lao động chủ yếuvới nội dung của nó là phân công theo bộ phận sản phẩm Các quốc giatrên thế giới tham gia vào sản xuất các bộ phận và linh kiện theo mộttiêu chuẩn và sau đó được lắp ráp lại thành một sản phẩm hoàn chỉnh

- Với hình thức phân công mới, mỗi quốc gia đều có thể tham gia vào mộtchuỗi giá trị toàn cầu với vai trò là một mắt xích tạo nên một sản phẩmhoàn chỉnh Điều đó cũng có nghĩa là toàn cầu hóa đã tăng thêm sự phụthuộc lẫn nhau và tác động qua lại lẫn nhau giữa các quốc gia, tạo ra cụcdiện thâm nhập, đan xen, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau Thương mại quốc tếcũng chính vì đó mà phát triển nhờ vào sự tham gia và gắn bó của cácquốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế

Trang 12

Hình 4: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu toàn cầu giai đoạn (1960-2017)

(Nguồn: https://data.worldbank.org/ )

- Sau đó với sự phát triển của các tổ chức kinh tế thế giới, lần lượt sự rađời của các hiệp định, hàng loạt quan hệ ngoại giao đơn phương và đaphương giữa các quốc gia được thành lập Hàng rào thuế quan và cácđịnh chế tài chính gây khó khan cho thương mại giữa các quốc gia dầnđược hạn chế và xóa bỏ

- Tiếp đó là quá trình công nghiệp hóa và mạng lưới giao thông vận tảitoàn cầu ngày càng phát triển làm cho thương mại quốc tế tăng nhanh vàdần trở trên vô cùng quan trọng với tất cả các quốc gia trên toàn cầu, tỉtrọng thương mại trên GDP toàn cầu tính đến năm 2018 chiếm hơn 50%

- Từ các báo cáo về số liệu trên ta thấy được tác động vô cùng mạnh mẽcủa toàn cầu hóa đến sự phát triển thương mại quốc tế toàn cầu Vàtrong tương lai, hai khái niệm toàn cầu hóa và thương mại quốc tế sẽcàng có sự liên kết chặt chẽ hơn nữa hay ta có thể nói, việc tăng cườngthương mại quốc tế là một ý nghĩa của nội dung “Toàn cầu hóa”

Trang 13

3 Tạo điều kiện gia tăng dòng vốn đầu tư quốc tế:

- Toàn cầu hóa phát triển làm tăng mức độ tự do hóa tài chính của cácquốc gia, làm hạn chế đi các rào cản để mở cửa cho các quốc gia kémhoặc đang phát triển dễ dàng nhận được dòng vốn đầu tư hơn từ cácnước phát triển trên thế giới để phát triển kinh tế như: FDI, FPI, ODA,

+ Khoa học công nghệ làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất

và phân phối sản phẩm; trực tiếp tham gia như một yếu tố đầuvào của sản xuất; giảm chi phí vận tải, thông tin liên lạc, thu hẹpkhông gian kinh tế Đồng thời tự thân cũng là một yếu tố thu hútFDI

+ Các công ty xuyên quốc gia (TNC) là động lực chính di chuyểncác nguồn lực trên phạm vi quốc tế, trong đó có các hoạt độngcủa đầu tư quốc tế thông qua sát nhập, nghiên cứu và triển khai,sản xuất và phân phối hàng hóa dịch vụ

+ Các thể chế kinh tế, tài chính, thương mại toàn cầu và khu vực cóvai trò vô cùng quan trọng trong điều tiết các hoạt động kinh tếquốc tế, trong đó có sự vận động của dòng vốn FDI

+ Các nước tư bản phát triển, một số nền kinh tế và liên kết kinh tếlớn đóng vai trò chủ đạo trong xuất khẩu và tiếp nhận FDI

- Với những đặc trưng trên, toàn cầu hóa đã tác động vào hoạt động kinh

tế quốc tế, dẫn đến những thay đổi trong sự vận động, tương quan sosánh giữa các yếu tố sản xuất và đòi hỏi phải có một hệ thống thể chếtoàn cầu để điều tiết các hoạt động kinh tế toàn cầu Những tác độngtrên cũng phản ánh mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố khoahọc công nghệ, nguồn nhân lực, hệ thống thể chế toàn cầu và các hoạtđộng kinh tế quốc tế

- Những mối quan hệ trên, đến lượt chúng lại tác động đến môi trườngđầu tư, đến thị trường hàng hóa dịch vụ và các yếu tố đầu vào của sảnxuất như lao động, vốn, công nghệ, tài nguyên,… làm thay đổi tươngquan lợi thế so sánh giữa các yếu tố này, qua các yếu tố trên tác độngđến sự vận động của dòng FDI trên toàn cầu Những tác động này đượcthể hiện qua giá trị và cơ cấu của FDI theo ngành và khu vực…

Trang 14

- Như vậy toàn cầu hóa sẽ tác động đến FDI qua các kênh như môi trườngđầu tư, thị trường hàng hóa và dịch vụ, các yếu tố sản xuất

- Từ các kênh đó, toàn cầu hóa đã làm cho dòng vốn FDI trên toàn cầuphát triển vô cùng nhanh chóng trong vòng hai thập niên vừa qua, đỉnhđiểm là vào năm 2007, tổng vốn FDI trên toàn thế giới đạt mốc hơn

3000 tỷ USD chiếm tỷ trọng xấp xỉ 5% GDP toàn thế giới

Trang 15

Đ u t tr c ti p t n ầu tư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP) ư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP) ực tiếp từ nước ngoài (%GDP) ếp từ nước ngoài (%GDP) ừ nước ngoài (%GDP) ư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP)ớc ngoài (%GDP) c ngoài (%GDP)

Đ u t tr c ti p t n ầu tư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP) ư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP) ực tiếp từ nước ngoài (%GDP) ếp từ nước ngoài (%GDP) ừ nước ngoài (%GDP) ư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP)ớc ngoài (%GDP) c ngoài (%GDP)

Hình 6: Biểu đồ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên GDP giai đoạn (1970-2017)

(Nguồn: https://data.worldbank.org/ )

- Ngoài FDI, các dòng vốn đầu tư quốc tế khác cũng nhờ vào tác động củatoàn cầu hóa nên được tạo điều kiện gia tăng một cách nhanh chóng điển

Trang 16

hình là dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA.

20 40 60 80 100 120 140 160 180

ODA

Hình 7: Biểu đồ tổng vốn hỗ trợ phát triển chính thức trên thế giới (1970-2017)

(Nguồn: https://data.worldbank.org/ )

- Khác với hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), dòng vốn đầu

tư hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là dòng vốn mang tính viện trợ từcác nước phát triển sang cho các nước đang phát triển với mục đíchchính là hỗ trợ phát triển vì thế tự do hóa đóng vai trò khá quan trọngtrong việc tạo điều kiện gia tăng dòng vốn ODA

- Khi sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giớiđang rất nhiều khoảng cách, các nước kém hoặc đang phát triển rất cầnvốn để phát triển kinh tế và ngược lại các quốc gia phát triển đang códòng dự trữ ngân sách vô cùng dồi dào

- Toàn cầu hóa dẫn đến tự do hóa tài chính làm cho các quốc gia kém vàđang phát triển có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn (bao gồm các

Trang 17

dòng vốn đầu tư quốc tế như FDI hay ODA) để có thể phát triển kinh tế,bắt kịp với nhịp phát triển của các quốc gia trên thế giới.

4 Thúc đẩy cạnh tranh kinh tế giữa các nước:

Việc tham gia vào toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đem lại cho các quốcgia những lợi ích, những cơ hội hết sức quý giá để đẩy mạnh sự phát triểnkinh tế, xã hội Do đó, trong xu thế hiện nay, song song với quá trình liênkết, hợp tác sâu rộng còn diễn ra sự cạnh tranh kinh tế hết sức gay gắt đểgiành được lợi ích lớn nhất cho nước mình

● Sự cạnh tranh kinh tế diễn ra gay gắt trên cả 3 cấp độ: không chỉ còn là

sự cạnh tranh giữa các sản phẩm, các doanh nghiệp mà nâng lên thành

sự cạnh tranh giữa nền kinh tế của các nước

Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra kéo theo sự tự do hóa về thương mại, tự dolưu thông các dòng vốn đầu tư Điều này giúp các hàng hóa, dịch vụ củacác nước dễ dàng thâm nhập thị trường của nhau, các doanh nghiệp cónhiều cơ hội mở rộng thị phần ra nước ngoài Sự cạnh tranh giờ đây khôngchỉ bó hẹp trong phạm vi một nước hay một khu vực mà mở rộng ra phạm

vi thế giới, đồng thời cũng không chỉ dừng lại ở cấp độ giữa những doanhnghiệp mà nâng lên thành sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế

Do sự dỡ bỏ các hàng rào bảo hộ, hàng hóa của mỗi nước đầu phải đối mặtvới sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa cũngnhư phải cạnh tranh với hàng hóa nước khác khi xuất khẩu Ðiều đó khôngchỉ đòi hỏi bản thân sản phẩm phải có chất lượng cao, giá thành hạ (điềunày chủ yếu do công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý của doanh nghiệpquyết định), để sản phẩm đến được với người tiêu dùng, doanh nghiệp cònphải có khả năng tổ chức thị trường, làm tốt các dịch vụ sau bán hàng, xâydựng thương hiệu Bằng cách đó, doanh nghiệp đưa sản phẩm đến ngườitiêu dùng và mở rộng kinh doanh Và như vậy, cạnh tranh không chỉ ở cấp

độ sản phẩm mà là ở cấp độ doanh nghiệp Chưa hết! Là đơn vị kinh tế cơ

sở, hoạt động của doanh nghiệp tuy phản ánh tất cả, nhưng tự nó khôngquyết định tất cả Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp phụ thuộc rấtlớn vào chi phí "đầu vào" mà doanh nghiệp khác đặt ra cho nó, phụ thuộcvào các cơ chế chính sách vĩ mô, vào các dịch vụ công mà Nhà nước cungứng Tất cả những yếu tố này tạo nên chi phí giao dịch xã hội của doanhnghiệp Chi phí giao dịch xã hội càng lớn thì khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp càng nhỏ Và vì vậy, sự cạnh tranh được đặt ra trên cấp độlớn hơn: Cạnh tranh tổng lực của nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia

Trang 18

● Các công ty đa quốc gia cạnh tranh quyết liệt với nhau trong qua trìnhbành trướng và mở rộng thị trường

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, thế giới chứng kiến sự nổi lên của cáccông ty xuyên quốc gia - lực lượng tiên phong và then chốt của xu thế toàncầu hóa Các rào cản về đầu tư và kinh doanh, các rào cản bảo hộ trongthương mại ngày càng được cắt giảm tạo điều kiện cho các doanh nghiệplớn mở rộng thị trường tiêu thụ, đầu tư ra nước ngoài và trở thành nhữngcông ty xuyên quốc gia Với bản chất là những tập đoàn tư bản độc quyền,các công ty xuyên quốc gia luôn tận dụng những cơ hội mà toàn cầu hóamang lại để bành trướng, mở rộng thị phần và thôn tính đối thủ cạnh tranh.Điều này khiến sự cạnh tranh kinh tế ngày càng quyết liệt và mang ý nghĩasống còn Và trên thực tế, đã có hàng chục ngàn doanh nghiệp kể cả nhữngcông ty lớn bị phá sản hoặc sáp nhập do không đủ sức cạnh tranh

10814

14102 16816 24310 30218 39783

27201 32953

41407

45173 43200 40362 42950

4901450874

540 400 624 1217

2678 3623

1242 2145

4023

3075 2719 2517

3953 3640 3969

Th ng kê ho t đ ng M&A t 1990 đ n nay ống kê hoạt động M&A từ 1990 đến nay ạt động M&A từ 1990 đến nay ộng M&A từ 1990 đến nay ừ 1990 đến nay ến nay

s l ố lượng giao dịch ư trực tiếp từ nước ngoài (%GDP)ợng giao dịch ng giao d ch ịch giá tr giao d ch ịch ịch

Hình 8: Thống kê hoạt động M&A giai đoạn 1990-2018 (nguồn imaa-institute.org)

Từ biểu đồ trong hình 8, dễ dàng thấy hoạt động mua lại và sáp nhập

(mergers and acquisitions hay M&A) các doanh nghiệp trên thế giới có xu

Ngày đăng: 18/02/2022, 22:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w