Do đó, nhằm nghiên cứu sự biến đổi đặc điểm sinh học của một số dòng rong Bắp sú sau gần hai mươi năm di trồng, qua đó chọn được dòng rong vượt trội thích nghi cao với điều kiện sinh thá
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VŨ THỊ MƠ
NGHIÊN CỨU SINH HỌC, SINH THÁI
VÀ NHÂN GIỐNG RONG BẮP SÚ – Kappaphycus striatus
(F Schmitz) Doty ex P.C Silva, 1996
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
KHÁNH HÒA, 2022
Trang 2- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS DƯƠNG TẤN NHỰT Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TS NGUYỄN NGỌC LÂM
… năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Rong Bắp sú (Kappaphycus striatus) thuộc ngành rong đỏ
(Rhodophyta), phân bố chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới, trong các thủy vực biển hở ven bờ và các vũng vịnh, nơi có sự trao đổi nước, độ mặn cao ổn định, nước trong và cường độ ánh sáng (CĐAS) cao… Rong Bắp sú không chỉ giàu chất xơ thô, sắt và axit béo omega-3, chất chống oxy hóa mà còn chứa các hợp chất sinh học phục vụ cho ngành dược phẩm và sinh học Vì vậy, rong Bắp sú có giá trị kinh tế được sử dụng làm nguyên liệu để chiết xuất K-carrageenan, thực phẩm… và làm phân bón nông nghiệp
Năm 2005, Việt Nam đã di trồng thành công loài rong Bắp sú có nguồn gốc từ Phillipines Những năm đầu mới di trồng, rong có tốc độ tăng trưởng (TĐTT) cao và có thể trồng quanh nămở những vực nước
có độ mặn cao ổn định Vì vậy, nghề nuôi trồng rong Bắp sú góp phần xóa đói giảm nghèo và đã thành công trong việc bảo đảm sinh kế cho nhiều cộng đồng cư dân ven biển Tuy nhiên, sau gần hai mươi năm
di trồng, rong Bắp sú hiện tại đã không giữ được đặc tính sinh học và chất lượng carrageenan như ban đầu
Tại Việt Nam, từ khi di trồng thành công đến nay, nhân giống bằng phương pháp sinh sản sinh dưỡng là phương pháp duy nhất được sử dụng trong nuôi trồng loài rong này Vì vậy, rong giống đã suy giảm sức sống, làm rong biển rất dễ bùng phát dịch bệnh dẫn đến năng suất và chất lượng rong cũng giảm một cách đáng kể Do đó, rong bị thoái hóa sau một thời gian dài nhân giống bằng phương pháp sinh sản sinh dưỡng
Nuôi cấy in vitro là một phương pháp nhân giống ít phụ thuộc vào
thời tiết, đáp ứng số lượng rong giống lớn và là con đường tạo được nguồn
Trang 4rong giống sạch bệnh, kháng bệnh, năng suất cao, chống chịu được với sâu bệnh và phát triển tốt trong điều kiện nghèo dinh dưỡng Ngoài ra,
rong có nguồn gốc nuôi cấy in vitro có TĐTT nhanh hơn 1,5 – 1,8 lần so
với giống truyền thống Đặc biệt, rong có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ cao và kháng được mầm bệnh trắng nhũn thân, thêm vào đó hàm lượng và chất lượng carrageenan cao hơn và giá trị dinh dưỡng tốt hơn so với rong có nguồn gốc từ sinh sản sinh dưỡng
Tuy nhiên cho đến nay những nghiên cứu về đặc điểm sinh học
cũng như nhân giống rong này đặc biệt là nhân giống in vitro còn hạn
chế Do đó, nhằm nghiên cứu sự biến đổi đặc điểm sinh học của một
số dòng rong Bắp sú sau gần hai mươi năm di trồng, qua đó chọn được dòng rong vượt trội thích nghi cao với điều kiện sinh thái của vùng biển Việt Nam để tiến hành nhân giống dựa trên kết hợp phát huy
những ưu điểm của công nghệ nuôi cấy in vitro, nghiên cứu sinh tiến
hành thực hiện luận án: “Nghiên cứu sinh học, sinh thái và nhân
giống rong Bắp sú – Kappaphycus striatus (F Schmitz) Doty ex P
C Silva, 1996”
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Tìm được dòng rong có đặc điểm sinh học phù hợp để làm vật liệu nghiên cứu tạo ra nguồn giống chất lượng cao bằng phương pháp
nuôi cấy in vitro
Nghiên cứu để tìm ra các điều kiện nuôi cấy in vitro thích hợp cho
các quá trình phát sinh hình thái khác nhau (cảm ứng mô sẹo, phát sinh phôi và tái sinh cây con hoàn chỉnh…) của rong Bắp sú Đánh giá chất
lượng cây giống có nguồn gốc in vitro của rong Bắp sú thông qua khả
năng thích nghi ngoài tự nhiên, hàm lượng cũng như chất lượng carrageenan
Trang 53 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án
Đặc điểm sinh học và sinh thái các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú
Nhân giống loài rong Bắp sú bằng phương pháp nuôi cấy in vitro
4 Những đóng góp mới của luận án
Cung cấp dữ liệu cụ thể về đặc điểm sinh học, sinh thái của các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú sau gần hai mươi năm di trồng ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh, Khánh Hòa
Sử dụng nano bạc như là chất khử trùng mới cho nuôi cấy in vitro
rong biển
Cung cấp dữ liệu về quá trình phát sinh phôi vô tính và xây dựng
quy trình nhân giống cây rong Bắp sú bằng phương pháp nuôi cấy in
vitro Luận án đóng góp cho công tác đào tạo và giảng dạy về lĩnh vực
nuôi cấy in vitro thực vật nói chung và rong biển nói riêng
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Rong Bắp sú là loài rong có giá trị kinh tế, thuộc ngành Rhodophyta được nuôi trồng rộng rãi ở các nước như: Philippines và Ấn Độ… Năm
2005, Việt Nam đã di trồng thành công 3 dòng rong thuộc loài rong
này là: Dòng rong xanh Sacol, dòng rong nâu Sacol và dòng rong nâu
Payaka Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng của
rong của rong như các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng và độ mặn…) và nguồn gốc giống Những năm qua, một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của rong Bắp sú đã được thực hiện Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá so sánh sinh trưởng cũng như hàm lượng và chất lượng các dòng rong sau gần hai mươi năm di trồng vào Việt Nam
Mặt khác, trên thế giới, nhân giống in vitro đã được thực hiện trên
các đối tượng rong Sụn, rong Sụn gai với phương pháp tái sinh chồi
Trang 6trực tiếp và phương pháp phát sinh phôi vô tính cho kết quả khả quan
Nuôi cấy in vitro rong biển là phương pháp khá đơn giản nhưng hiệu
quả trong việc lưu giữ những nguồn gen quí phục vụ cho việc sản xuất đại trà theo phương pháp truyền thống Quá trình phục hồi và nhân nhanh thành rong non có tác dụng “trẻ hóa” nguồn giống, tăng cường khả năng chống chịu với môi trường Bên cạnh đó, việc kết hợp với
các kỹ thuật di truyền như chuyển gen, lai tạo tế bào trong nuôi cấy in
vitro rong biển làm tăng nhanh chất lượng rong giống theo ý muốn
Ở Việt Nam, một số tác giả đã nghiên cứu về nhân giống in vitro
trên rong Sụn nhưng kết quả còn hạn chế và chưa đưa ra được quy trình nhân giống Vì vậy, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa được ứng dụng vào trong sản xuất thực tiễn Trên đối tượng rong Bắp sú, tái sinh chồi trực tiếp đã được thực hiện Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là hệ số nhân giống thấp dẫn đến không đáp ứng được nhu
cầu về nguồn giống Vì vậy, nghiên cứu nhân giống in vitro bằng
phương pháp phát sinh phôi vô tính thông qua mô sẹo là việc làm cần thiết Kết quả tạo ra được thế hệ cây con có đặc tính tốt, có khả năng chịu được nhiệt độ cao, kháng bệnh, từ đó nâng cao năng suất nuôi trồng cũng như chất lượng rong Nhân giống bằng phương pháp phát sinh phôi vô tính thông qua mô sẹo trải qua các giai đoạn sau: Tạo nguồn vật liệu ban đầu, cảm ứng và nhân nhanh mô sẹo, tái sinh phôi
vô tính, tái sinh cây con hoàn chỉnh từ phôi vô tính và nuôi thích nghi
ngoài tự nhiên Nghiên cứu điều kiện nuôi cấy in vitro thích hợp cho
các quá trình phát sinh hình thái khác nhau (cảm ứng mô sẹo, phát sinh phôi, tái sinh cây con hoàn chỉnh…) của rong Bắp sú để tìm ra quy
trình nhân giống in vitro là điều cần thiết
Trang 7CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu
Những bụi rong 2 – 4 tuần tuổi, khỏe, không bị bệnh, màu nâu
nhạt, không trầy xước của dòng rong nâu Payaka và dòng rong nâu
Sacol thuộc loài rong Bắp sú, khối lượng khoảng 400 g, kích thước
30 – 40 cm, được thu thập tại vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh,
tỉnh Khánh Hòa
2.2 Nội dung nghiên cứu
Đặc điểm sinh học và sinh thái các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú
Nhân giống loài rong Bắp sú bằng phương pháp nuôi cấy in vitro
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Hiện trạng các dòng rong Bắp sú đang được nuôi trồng ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh
Thu thập và phân loại các dòng thuộc loài rong Bắp sú Tiến hành đánh giá sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng carrageenan của các dòng thuộc loài rong Bắp sú để tìm ra dòng rong có đặc điểm sinh học
tốt nhất dùng làm vật liệu nghiên cứu nhân giống in vitro
2.3.2 Nhân giống dòng rong nâu Sacol thuộc loài rong Bắp sú Tạo nguồn vật liệu
Những nhánh rong khỏe của dòng rong phù hợp theo kết quả trên được chọn Tiến hành thử nghiệm các loại môi trường dinh dưỡng đối
với sự sinh trưởng của rong giống trong điều kiện in vitro giai đoạn thuần hóa Sau đó, rong được khử trùng bằng nano bạc và kháng sinh
phổ rộng để tìm ra điều kiện khử trùng tốt nhất
Cảm ứng và nhân nhanh mô sẹo
Những mẫu rong vô trùng được sử dụng để cảm ứng mô sẹo Các
Trang 8yếu tố nuôi cấy được khảo sát là: Môi trường dinh dưỡng (MS, ½ MS,
MS ½, PES, ½ PES, PES ½, MPI, ½ MPI, MPI ½); bổ sung đơn lẻ hoặc kết hợp NAA (0,1; 1,0 mg.L-1) và BAP (0,1; 1,0 mg.L-1); hàm lượng agar (5 – 20 mg.L-1) và đặt dưới ánh sáng trắng đèn huỳnh quang
ở các CĐAS khác nhau (0 – 55 µmol photons.m-2.s-1) Sau 8 tuần nuôi cấy, mô sẹo ở nghiệm thức tốt nhất được sử dụng để nghiên cứu khả năng nhân nhanh mô sẹo rong Bắp sú
Sự phát sinh phôi vô tính từ mô sẹo
Cụm mô sẹo 16 tuần tuổi có kích thước khoảng 2 x 2 mm và khối lượng khoảng 10 mg được cấy vào môi trường PES ở các độ rắn khác nhau Sau đó, bổ sung NAA và BAP để tìm ra điều kiện phát sinh phôi
vô tính tốt nhất
Khả năng tái sinh cây con và thích nghi điều kiện sống tự nhiên
Phôi trưởng thành có kích thước 0,5 – 0,6 mm được sử dụng để tái sinh cây con Các yếu tố nuôi cấy được khảo sát: Môi trường dinh dưỡng (MS, ½ MS, MS ½, PES, ½ PES, PES ½, MPI, ½ MPI, MPI ½);
sự xáo trộn của nước (sục khí, 50 vòng/phút và 100 vòng/phút); CĐAS (0 – 70 µmol photons.m-2.s-1); độ mặn (20 – 40‰) và nhiệt độ (20 – 35°C) để tìm ra điều kiện tái sinh cây con tốt nhất
Cây con 8 tuần tuổi được đưa ra ngoài nuôi trồng bán thích nghi
Các yếu tố được khảo sát là nguồn ánh sáng và loại cây con in vitro Cây con 16 tuần tuổi có nguồn gốc in vitro đã được nuôi trồng trong
điều kiện bán tự nhiên có kích thước khoảng 50 – 70 g được nuôi trồng tại vịnh Vân Phong để đánh giá khả năng thích nghi ngoài tự nhiên
Sau 10 tuần nuôi trồng ngoài tự nhiên, rong có nguồn gốc in vitro
được thu hoạch để đánh giá hàm lượng carrageenan theo phương pháp
Trang 9của Istinii và cộng sự (1994) và chất lượng carrageenan theo phương pháp của Stanley (1987)
2.3.4 Xử lý số liệu
Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần,
số liệu được thể hiện giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (TB ± SD) Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010, so sánh ANOVA 1 yếu tố với phép thử Duncan (p<0,05) trên phần mềm SPSS 16.0
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái rong Bắp sú
3.1.1 Hiện trạng các dòng rong Bắp sú ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh
Kết quả điều tra đã xác định có 2 dòng thuộc rong Bắp sú là dòng rong
nâu Sacol (Hình 3.1 A) và dòng rong nâu Payaka (Hình 3.1 B) đang
được nuôi trồng ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa
Hình 3.1 Hình thái các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú thu thập ở vịnh
Vân Phong Thước 2 cm
C: Biến đổi về màu sắc trên cùng một cây rong dòng rong nâu Payaka
3.1.2 Sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng carrageenan của dòng rong nâu Sacol và nâu Payaka nuôi trồng ở vịnh Vân Phong
và vịnh Cam Ranh
Sau 12 tuần nuôi trồng tự nhiên, kết quả cho thấy khối lượng tươi
và khô của hai dòng rong nâu Payaka (355,33; 42,33 g; tương ứng) và
Trang 10rong nâu Sacol (343,33; 42,67 g; tương ứng) đạt sinh khối cực đại vào
tuần thứ 8 khi nuôi ở vịnh Vân Phong (Biểu đồ 3.1 và Biểu đồ 3.2)
Biểu đồ 3.1 Biến động khối lượng tươi của
dòng rong nâu Payaka và nâu
Sacol ở vịnh Vân Phong và vịnh
Cam Ranh theo thời gian nuôi
Biểu đồ 3.2 Biến động khối lượng khô của
dòng rong nâu Payaka và nâu Sacol ở vịnh Vân Phong và
Cam Ranh theo thời gian nuôi
Bên cạnh đó, TĐTT tích lũy của hai dòng rong được nuôi ở vịnh Vân Phong bằng nhau (1,30%/ngày) và cao hơn so với TĐTT tích lũy dòng
rong nâu Payaka (1,26%/ngày) và dòng rong nâu Sacol (1,05%/ngày)
được nuôi ở vịnh Cam Ranh sau 12 tuần nuôi trồng (Biều đồ 3.3).
Biểu đồ 3.3 TĐTT của dòng rong
nâu Payaka và dòng
rong nâu Sacol ở vịnh
Vân Phong và vịnh Cam
Ranh theo thời gian nuôi
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ khô tươi của dòng
rong nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol ở vịnh
Vân Phong và vịnh Cam
Ranh theo thời gian nuôi
Ngoài ra, tỷ lệ khô tươi của dòng rong nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol thuộc loài rong Bắp sú (12,45%; 12,09%) nuôi trồng ở vịnh
Thời gian nuôi (tuần)
Dòng nâu Payaka (Vân Phong) Dòng nâu Sacol (Vân Phong) Dòng nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng nâu Sacol (Cam Ranh)
Dòng rong nâu Payaka (Vân Phong) Dòng rong nâu Sacol (Vân Phong) Dòng rong nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng rong nâu Sacol (Cam Ranh)
0 10 20 30 40 50
Thời gian nuôi (tuần)
Dòng nâu Payaka (Vân Phong) Dòng nâu Sacol (Vân Phong) Dòng nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng nâu Sacol (Cam Ranh)
Dòng rong nâu Payaka (Vân Phong) Dòng rong nâu Sacol (Vân Phong) Dòng rong nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng rong nâu Sacol (Cam Ranh)
0 4 8 12 16
Thời gian nuôi (tuần)
Dòng nâu Payaka (Vân Phong) Dòng nâu Sacol (Vân Phong) Dòng nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng nâu Sacol (Cam Ranh)
Dòng rong nâu Payaka (Vân Phong) Dòng rong nâu Sacol (Vân Phong) Dòng rong nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng rong nâu Sacol (Cam Ranh)
Thời gian nuôi (tuần)
Dòng nâu Payaka (Vân Phong) Dòng nâu Sacol (Vân Phong) Dòng nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng nâu Sacol (Cam Ranh)
Dòng rong nâu Payaka (Vân Phong) Dòng rong nâu Sacol (Vân Phong) Dòng rong nâu Payaka (Cam Ranh) Dòng rong nâu Sacol (Cam Ranh)
Trang 11Vân Phong đạt cao nhất sau 8 tuần nuôi trồng (Biểu đồ 3.4)
Dựa vào khối lượng tươi và tỉ lệ khô tươi để xác định được thời điểm thu hoạch Các dòng rong Bắp sú nuôi ở vịnh Vân Phong được thu hoạch sau 8 tuần nuôi trồng và vịnh Cam Ranh là sau 10 tuần nuôi để tiến hành xác định hàm lượng và chất lượng carrageenan Kết quả nghiên cứu cho
thấy hàm lượng và độ nhớt carrageenan của dòng rong nâu Sacol được
nuôi trồng ở vịnh Vân Phong là cao nhất (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Hàm lượng, chất lượng carrageenan dòng rong nâu Payaka và dòng
rong nâu Sacol được nuôi ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh, n =3
rong
Hàm lượng (%/W)
Sức đông
Độ Nhớt (cps) Vân
đã giảm so với thời gian đầu mới di trồng
Bảng 3.2 So sánh TĐTT, hàm lượng và chất lượng carrageenan dòng rong
nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol với các nghiên cứu trước đây
Thời
gian
(năm) Vịnh
Dòng rong
TĐTT (%/ngày)
Hàm lượng carrageenan (%/w)
Chất lượng carrageenan
Nguồn Sức đông
(g.cm -2 )
Độ Nhớt (cps)
2005 Vân Phong Nâu Payaka 2,96 – 5,04 25,84 – 28,7 873 –1117 103,32 – 105 (Trần Kha và
CS, 2007)
Cam Ranh Nâu Sacol 5,7 – 5,8 26,2 778 96
2014 Cam Ranh Nâu Sacol 2,5 – 5,8 25,1 – 28,4 555 – 935 23,8 – 34,6 ( Hung và CS,
2019)
2017 Vân Phong Nâu Payaka 1,26 – 1,30 22,33 – 23,00 723,33 –726,33 26 – 27,10 Nghiên cứu
này
Cam Ranh Nâu Sacol 1,05 – 1,30 21,67 – 24,67 731,67 – 741,67 27,33 – 29,00
Dựa theo kết quả trên có thể thấy, dòng rong nâu Sacol có hàm lượng carrageenan cao hơn dòng rong nâu Payaka trong cùng điều kiện được nuôi trồng ở vịnh Vân Phong Vì vậy, dòng rong nâu Sacol
Trang 12thu thập ở vịnh Vân Phong được sử dụng để tiến hành nghiên cứu quy
trình nhân giống in vitro
3.2 Nhân giống dòng rong nâu Sacol thuộc loài rong Bắp sú 3.2.1 Tạo nguồn vật liệu
Sau 7 tuần, rong giống dòng rong nâu Sacol thuần hóa trong điều kiện
in vitro Kết quả thấy rằng, rong sinh trưởng tốt nhất trong môi trường
MPI Rong vẫn giữ được màu nâu đặc trưng, bề mặt rong bóng, không
có rong tạp và các chất bẩn bám trên bề mặt, với khối lượng đạt 1,85 g Mẫu rong đã thuần hóa được khử trùng bằng nano bạc (0,02 – 0,1% trong thời gian 5 – 20 phút) và kháng sinh (1– 4% trong thời gian 24 giờ) Kết quả sau 1 tuần nuôi cấy cho thấy, khử trùng mẫu bằng nano bạc ở nồng độ 0,05% trong thời gian 5 phút cho hiệu quả khử trùng mẫu tốt nhất, tỉ lệ mẫu nhiễm vi sinh vật (VSV) thấp (0%) và tỉ lệ mẫu sống và sạch VSV cao (80%) (Hình 3.4)
Hình 3.4 Hình thái của mẫu cấy dòng rong nâu Sacol được khử trùng bằng
nano bạc, kháng sinh và thời gian xử lý khác nhau sau 1 tuần nuôi
cấy Thước: 2mm
A, B, C, D: Mẫu được khử trùng lần lượt với thời gian 5; 10; 15; 20 phút Từ trái sang
phải, mẫu được khử trùng bằng nano bạc với nồng độ 0,02; 0,03; 0,04; 0,05; 0,1%
E: Mẫu được khử trùng bằng kháng sinh 1; 2; 3; 4% trong thời gian 24 giờ
F: Mẫu được khử trùng bằng Natri hypochlorite 1% trong thời gian 15 phút
Như vậy, việc chứng minh sử dụng nano bạc như là một chất tác nhân mới để thay thế các chất khử trùng truyền thống khác, là một trong những điểm mới của luận án đạt được Vì vậy, mẫu được khử trùng bằng nano bạc với nồng độ 0,05% trong thời gian 5 phút được sử dụng trong
Trang 13tất cả các thí nghiệm tiếp theo
3.2.2 Cảm ứng và nhân nhanh mô sẹo
Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy, mô sẹo cảm ứng tốt nhất ở môi trường PES có bổ sung 15 g.L-1 agar trong điều kiện CĐAS 5 µmol photons.m-2.s-1 (Bảng 3.4, 3.6 và Hình 3.6, 3.8)
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đối với cảm ứng mô sẹo
dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy, n = 30
Đối chứng 41,1 c ± 2,8* Hoại tử Hoại tử Mẫu hoại tử sau vài ngày nuôi
MS Hoại tử Hoại tử Hoại tử Sau 2 – 3 ngày nuôi cấy 80% mẫu bị đỏ
thân, hoại tử hoàn hoàn sau 7 ngày cấy
½ MS Hoại tử Hoại tử Hoại tử 70% mẫu bị đỏ thân sau 2 – 3 ngày nuôi cấy, sau 7 ngày thì hoại tử
MS ½ Hoại tử Hoại tử Hoại tử Mẫu hoại tử
½ PES 70,0 b ± 1,9 73,1 b ± 1,8 1,40 b ± 0,10 Mô sẹo nhỏ
PES ½ 72,2 b ± 3,4 75,4 b ± 1,3 1,53 b ± 0,35 Mô sẹo phát triển chậm
MPI 70,0 b ± 3,8 55,7 c ± 3,1 1,30 b ± 0,10 Mô sẹo cảm ứng nhưng chậm phát triển
½ MPI 68,9 b ± 5,3 30,7 d ± 0,5 1,00 c ± 0,10 Mô sẹo chậm phát triển và bị hoại tử MPI ½ 67,8 b ± 8,6 28,1 d ± 3,3 0,47 d ± 0,15 Xuất hiện mô sẹo dạng “compact”
Hình 3.6 Hình thái mô sẹo của dòng rong nâu Sacol ở môi trường PES có
bổ sung NAA và BAP đơn lẻ hoặc kết hợp sau 8 tuần nuôi cấy
Thước: 2mm
A: Đối chứng
B: 0,1 mg.L-1 NAA
D: 0,1 mg.L-1 BAP E: 1,0 mg.L-1 BAP
G: 1,0 mg.L-1 NAA + 1,0 mg.L -1 BAP H: 0,1 mg.L-1 NAA + 1,0 mg.L -1 BAP
C: 1,0 mg.L-1 NAA F: 0,1 mg.L-1 NAA + 0,1 mg.L -1 BAP