Ảnh hưởng của độ rắn môi trường nuôi cấy đối với sự phát sinh phôi vô tính từ mô sẹo dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy .... Ảnh hưởng của NAA và BAP đơn lẻ hoặc kết hợp đối với sự
Trang 1VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VŨ THỊ MƠ
NGHIÊN CỨU SINH HỌC, SINH THÁI
(F Schmitz) Doty ex P.C Silva, 1996
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
KHÁNH HÒA, 2022
Trang 2VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VŨ THỊ MƠ
NGHIÊN CỨU SINH HỌC, SINH THÁI
VÀ NHÂN GIỐNG RONG BẮP SÚ – Kappaphycus striatus
(F Schmitz) Doty ex P.C Silva, 1996
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TS DƯƠNG TẤN NHỰT
2 GS.TS NGUYỄN NGỌC LÂM
KHÁNH HÒA, 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án tiến sĩ, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ rất tận tình từ quý thầy cô, các anh chị, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Dương Tấn Nhựt (Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên) Thầy đã truyền cho tôi nhiệt huyết, lòng say mê khoa học, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả và hướng nghiên cứu mới Thầy tận tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu, sách vở quý giá, hết lòng sửa chữa những sai sót trong bài báo và các chuyên đề cũng như luận án Thầy không chỉ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể hoàn thành tốt luận án nghiên cứu của mình
mà còn tích lũy cho tôi vốn kiến thức và vốn sống mà không ở đâu có được Tôi xin gửi lời cảm ơn đến GS.TS Nguyễn Ngọc Lâm (Viện Hải dương học) đã hỗ trợ hết mình giúp tôi hoàn thành các môn học và đã định hướng, dìu dắt cũng như giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Lòng biết ơn sâu sắc kính gửi tới GS.TS Reddy (Trung tâm muối và Viện Nghiên cứu Hóa học Biển, Bhavnagar, Ấn Độ) người đã trao cho tôi cơ hội để được tiếp cận một lĩnh vực nghiên cứu mới về nuôi cấy mô rong biển Tôi không thể quên
sự giúp đỡ của TS Lê Kim Cương và TS Hoàng Thanh Tùng (Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên), TS Huỳnh Hoàng Như Khánh và ThS Trần Mai Đức (Viện Nghiên cứu & Ứng dụng công nghệ Nha Trang) đã có những hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện luận án
Lời cám ơn chân thành cũng được gửi đến Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, Viện Hải dương học và Viện Nghiên cứu & Ứng dụng công nghệ Nha Trang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận án Kính gởi lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô trong khoa Khoa học và Công nghệ biển, Học Viện Khoa học và Công Nghệ, VAST đã giúp đỡ tôi hoàn thành các môn học cũng như trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản về lĩnh vực thủy sinh vật học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ phòng Sinh học phân tử và chọn tạo giống cây trồng, Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, đặc biệt TS Vũ Thị Hiền,
CN Hoàng Đắc Khải, TS Nguyễn Thị Phương Mai cùng các nghiên cứu sinh NCS
Trang 4Lê Thị Diễm, NCS Trương Hoài Phong, NCS Hà Thị Mỹ Ngân và các em sinh viên như em Mai, em Nguyệt… đã hết lòng giúp đỡ động viên tôi hoàn thành luận án
Chân thành cảm ơn quý đồng nghiệp trong Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ Nha Trang, đặc biệt là tập thể phòng Vật liệu Hữu cơ từ Tài nguyên biển, suốt thời gian qua đã giúp đỡ, động viên tinh thần cho tôi hoàn thành luận án
Nhân dịp này, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến thầy cô đã dành thời gian quý báu để đọc, tham gia hội đồng các cấp với những góp ý cụ thể, gợi ý bổ ích, giúp tôi hoàn thiện tốt hơn các nội dung nghiên cứu của luận án
Cuối cùng, công trình luận án này sẽ không được hoàn thành nếu không có sự cảm thông và chia sẻ của gia đình, người thân và bạn bè đã luôn sát cánh động viên
và chăm sóc gia đình trong thời gian tôi vắng nhà theo đuổi con đường khoa học
Khánh Hòa, tháng 01 năm 2022
Tác giả luận án
Vũ Thị Mơ
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực, khách quan, nghiêm túc và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Khánh Hòa, tháng 01 năm 2022
Tác giả luận án
Vũ Thị Mơ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về rong Bắp sú 4
1.1.1 Hệ thống phân loại 4
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học và sinh thái 5
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái 5
1.1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 5
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rong 6
1.1.2.4 Đặc điểm phân bố tự nhiên 8
1.1.2.5 Chu trình sinh trưởng và phát triển 8
1.1.3 Giá trị của rong Bắp sú 9
1.2 Nhân giống in vitro rong biển 11
1.2.1 Các giai đoạn nhân giống in vitro 11
1.2.1.1 Tạo nguồn vật liệu ban đầu 11
1.2.1.2 Cảm ứng mô sẹo 12
1.2.1.3 Tái sinh phôi vô tính 13
1.2.1.4 Tái sinh cây con 13
1.2.1.5 Giai đoạn thích nghi 14
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân giống in vitro rong biển 14
1.2.2.1 Nguồn mẫu cấy 14
1.2.2.2 Chất khử trùng 14
1.2.2.3 Môi trường dinh dưỡng 16
1.2.2.4 Nhiệt độ 17
Trang 71.2.2.5 Ánh sáng 17
1.2.2.6 Chất tạo đông 18
1.2.2.7 Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật 18
1.3 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và nhân giống rong biển
trên thế giới 20
1.3.1 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái 20
1.3.2 Tình hình nghiên cứu nhân giống rong biển 23
1.4 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và nhân giống rong biển
tại Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.1.1 Vật liệu 30
2.1.2 Địa điểm 30
2.1.3 Thời gian 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.1 Đặc điểm sinh học và sinh thái các dòng rong Bắp sú 31
2.2.2 Nhân giống rong Bắp sú bằng phương pháp nuôi cấy in vitro 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Điều kiện nuôi cấy/trồng 32
2.3.1.1 Điều kiện in vitro 32
2.3.1.2 Điều kiện ex vitro 32
2.3.2 Nuôi trồng và chăm sóc rong Bắp sú ngoài tự nhiên 33
2.3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34
2.3.3.1 Hiện trạng các dòng rong Bắp sú đang được nuôi trồng ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh 34
2.3.3.2 Đánh giá sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng carrageenan của các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú thu thập được ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh 34
2.3.3.3 Tạo nguồn vật liệu 35
2.3.3.4 Cảm ứng mô sẹo và nhân nhanh mô sẹo 36
2.3.3.5 Sự phát sinh phôi vô tính từ mô sẹo 38
Trang 82.3.3.6 Khả năng tái sinh cây con và thích nghi điều kiện sống tự
nhiên 38
2.3.4 Phương pháp quan sát giải phẫu hình thái thực vật 41
2.3.5 Phương pháp ghi nhận số liệu 42
2.3.5.1 Các yếu môi trường 42
2.3.5.2 Xác định khối lượng tươi và khô 42
2.3.5.3 Tốc độ tăng trưởng 42
2.3.5.4 Xác định chiều dài cây con và số nhánh/cây 43
2.3.5.5 Xác định hàm lượng và chất lượng carrageenan 43
2.3.5.6 Các chỉ tiêu theo dõi 43
2.3.5.7 Một số công thức tính sau khi thu nhận số liệu 44
2.3.6 Xử lý số liệu 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm sinh học và sinh thái rong Bắp sú 46
3.1.1 Hiện trạng các dòng rong Bắp sú ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh 46
3.1.2 Sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng carrageenan dòng rong nâu Sacol và nâu Payaka nuôi trồng ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh 47
3.1.2.1 Các yếu tố môi trường tại khu vực nuôi trồng 47
3.1.2.2 Sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng carrageenan của 2 dòng rong nuôi trồng 47
3.2 Nhân giống dòng rong nâu Sacol thuộc loài rong Bắp sú 56
3.2.1 Tạo nguồn vật liệu 56
3.2.1.1 Thử nghiệm các loại môi trường dinh dưỡng đối với sự sinh trưởng của rong giống trong điều kiện in vitro giai đoạn thuần hóa 56
3.2.1.2 Khử trùng mẫu in vitro 58
3.2.2 Cảm ứng và nhân nhanh mô sẹo 62
3.2.2.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố đối với sự cảm ứng mô sẹo 62
3.2.2.2 Ảnh hưởng của các loại môi trường dinh dưỡng và NAA, BAP đối với khả năng nhân nhanh mô sẹo 75
Trang 93.2.3 Sự phát sinh phôi vô tính từ mô sẹo 80
3.2.3.1 Ảnh hưởng của độ rắn môi trường nuôi cấy đối với khả
năng phát sinh phôi vô tính 80 3.2.3.2 Ảnh hưởng của NAA và BAP đối với khả năng phát sinh
phôi vô tính 82 3.2.4 Khả năng tái sinh cây con và thích nghi điều kiện sống tự nhiên 88
3.2.4.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố đối với khả năng tái sinh cây
con hoàn chỉnh từ phôi vô tính 88 3.2.4.2 Giai đoạn thích nghi ngoài tự nhiên của cây con có nguồn
gốc in vitro 102
3.2.4.3 Đánh giá hàm lượng và chất lượng carrageenan của dòng
rong nâu Sacol có nguồn gốc in vitro 113
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận 117 4.2 Kiến nghị 117
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
½ MPI: Môi trường MPI có hàm lượng khoáng đa lượng giảm đi một nửa
½ MS: Môi trường MS có hàm lượng khoáng đa lượng giảm đi một nửa
½ PES: Môi trường PES có hàm lượng khoáng đa lượng giảm đi một nửa
2,4-D: 2,4-Dichlorophenoxyacetic axit
2iP: Di-methyl-allyl-amino purine
AMPEP: Dịch chiết xuất từ rong
ASP12-NTA: Synthetic ASP 12-NTA
BAP: Benzyl-amino-purine
CĐAS: Cường độ ánh sáng
CĐHSTTV: Chất điều hòa sinh trưởng thực vật
Cps: Đơn vị đo độ nhớt tuyệt đối
CW: Môi trường Conwy
EC: Các cụm phát triển phôi
ESS/2: Môi trường làm giàu nước biển Erdshcribers
F/2 50: 50% dung dịch Guillard và Ryther
IAA: 3-Indoleacetic axit
IBA: 3-Indolebutyric axit
MPI ½: Môi trường MPI có hàm lượng khoáng đa lượng và vi lượng giảm đi
một nửa
MPI: Môi trường Suto
MS ½: Môi trường MS có hàm lượng khoáng đa lượng và vi lượng giảm đi
một nửa
MS: Môi trường Murashige và Skoog
NAA: α-Naphthaleneacetic axit
NCN: Nghiên cứu này
NCS: Nghiên cứu sinh
PES ½: Môi trường PES có hàm lượng khoáng đa lượng và vi lượng giảm đi
một nửa
PES: Môi trường làm giàu nước biển Provasoli
Trang 12rong nâu Sacol được nuôi ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh 52
Bảng 3.2 So sánh TĐTT, hàm lượng và chất lượng carrageenan dòng rong
nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol với các nghiên cứu trước đây 55
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của nồng độ nano bạc, kháng sinh và thời gian xử lý lên
tỉ lệ mẫu nhiễm VSV và tỉ lệ mẫu sống và sạch VSV của dòng rong
nâu Sacol 60
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đối với cảm ứng mô sẹo
dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 64
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của NAA và BAP đơn lẻ hoặc kết hợp đối với cảm ứng
mô sẹo dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 68 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của CĐAS đối với cảm ứng mô sẹo dòng rong nâu Sacol
sau 8 tuần nuôi cấy 70 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của hàm lượng agar đối với cảm ứng mô sẹo dòng rong
nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 71
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đối với khả năng nhân
nhanh mô sẹo dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 76
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của NAA và BAP đối với khả năng nhân nhanh mô sẹo
dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 78
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của độ rắn môi trường nuôi cấy đối với sự phát sinh
phôi vô tính từ mô sẹo dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 80
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của NAA và BAP đơn lẻ hoặc kết hợp đối với sự phát sinh
phôi vô tính từ mô sẹo dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 84
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đối với khả năng tái sinh
cây con từ phôi vô tính dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 89
Trang 13Bảng 3.13 Ảnh hưởng của tần số lắc (số vòng/phút) và sục khí đối với khả năng
tái sinh cây con từ phôi vô tính dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi
cấy 92 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của CĐAS đối với khả năng tái sinh cây con từ phôi vô
tính dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 94
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của độ mặn đối với khả năng tái sinh cây con từ phôi
vô tính dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 97 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với khả năng tái sinh cây con từ phôi
vô tính dòng rong nâu Sacol sau 8 tuần nuôi cấy 100
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 1.1 Hình thái của một số dòng thuộc loài rong Bắp sú được di trồng vào
Việt Nam 5
Hình 1.2 Vòng đời của rong Kappaphycus 9
Hình 2.1 Vị trí bố trí thí nghiệm ở vịnh Vân Phong (A) và vịnh Cam Ranh (B) 31 Hình 3.1 Hình thái các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú thu thập ở vịnh Vân
Phong 46
Hình 3.2 Hình thái dòng rong nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol trước nuôi
trồng và sau khi đạt sinh khối cực đại ở vịnh Vân Phong và vịnh
Cam Ranh 49
Hình 3.3 Hình thái dòng rong nâu Sacol trước và sau khi nuôi 7 tuần ở các
loại môi trường dinh dưỡng khác nhau 58
Hình 3.4 Hình thái của mẫu cấy dòng rong nâu Sacol được khử trùng bằng nano
bạc, kháng sinh và thời gian xử lý khác nhau sau 1 tuần nuôi cấy 61
Hình 3.5 Hình thái mô sẹo của dòng rong nâu Sacol ở các loại môi trường
dinh dưỡng khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 63
Hình 3.6 Hình thái mô sẹo của dòng rong nâu Sacol ở môi trường PES có bổ
sung NAA và BAP đơn lẻ hoặc kết hợp sau 8 tuần nuôi cấy 66
Hình 3.7 Hình thái mô sẹo của dòng rong nâu Sacol dưới các CĐAS khác
nhau sau 8 tuần nuôi cấy 69
Hình 3.8 Hình thái mô sẹo của dòng rong nâu Sacol ở các hàm lượng agar
khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 72
Hình 3.9 Quá trình phát triển mô sẹo dòng rong nâu Sacol 74 Hình 3.10 Hình thái cụm mô sẹo dòng rong nâu Sacol ở các loại môi trường
dinh dưỡng khác nhau sau 8 tuần nhân nhanh 77
Hình 3.11 Hình thái cụm mô sẹo dòng rong nâu Sacol ở môi trường PES bổ sung
NAA và BAP ở các nồng độ khác nhau sau 8 tuần nhân nhanh 79
Hình 3.12 Hình thái giải phẫu mô sẹo dòng rong nâu Sacol ở các điều kiện
nuôi khác nhau 81
Trang 15Hình 3.13 Hình thái giải phẫu cụm mô sẹo dòng rong nâu Sacol ở môi
trường PES bổ sung NAA và BAP đơn lẻ hoặc kết hợp sau 8 tuần
nuôi cấy 83
Hình 3.14 Sự phát sinh phôi vô tính của dòng rong nâu Sacol thông qua mô sẹo 87 Hình 3.15 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc từ phôi vô
tính ở các loại môi trường dinh dưỡng khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 88
Hình 3.16 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc từ phôi vô
tính ở các chế độ khuấy trộn nước khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 91
Hình 3.17 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc từ phôi vô
tính ở các CĐAS khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 95
Hình 3.18 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc từ phôi vô
tính ở các độ mặn khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 98
Hình 3.19 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc từ phôi vô
tính ở các nhiệt độ khác nhau sau 8 tuần nuôi cấy 101
Hình 3.20 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc in vitro
dưới các nguồn ánh sáng khác nhau ở giai đoạn thích nghi sau 8
tuần nuôi trồng 103
Hình 3.21 Hình thái của cây con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc in vitro
của các loại cây khác nhau ở giai đoạn thích sau 8 tuần nuôi trồng 109
Hình 3.22 Sơ đồ tóm tắt quy trình nhân giống in vitro dòng rong nâu Sacol 116
Trang 16DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Biến động khối lượng tươi của dòng rong nâu Payaka và dòng
rong nâu Sacol ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh theo thời
gian nuôi 48
Biểu đồ 3.2 Biến động khối lượng khô của dòng rong nâu Payaka và dòng
rong nâu Sacol ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh theo thời
gian nuôi 50
Biểu đồ 3.3 TĐTT của dòng rong nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol ở vịnh
Vân Phong và vịnh Cam Ranh theo thời gian nuôi 51
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ khô tươi dòng rong nâu Payaka và dòng rong nâu Sacol ở
vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh theo thời gian 52 Biểu đồ 3.5 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đối với khối lượng của
rong giống dòng rong nâu Sacol sau 7 tuần nuôi trồng 57
Biểu đồ 3.6 Ảnh hưởng của nguồn ánh sáng đối với tỉ lệ sống của cây con dòng
rong nâu Sacol có nguồn gốc in vitro ở giai đoạn thích nghi bán tự
nhiên sau 8 tuần nuôi trồng 102 Biểu đồ 3.7 Ảnh hưởng của nguồn ánh sáng đối với khối lượng tươi của cây
con dòng rong nâu Sacol có nguồn gốc in vitro ở giai đoạn thích
nghi bán tự nhiên sau 8 tuần nuôi trồng 104 Biểu đồ 3.8 Ảnh hưởng của CĐAS đối với TĐTT của cây con dòng rong nâu
Sacol có nguồn gốc in vitro ở giai đoạn thích nghi bán tự nhiên
sau 8 tuần nuôi trồng 105
Biểu đồ 3.9 Ảnh hưởng của loại cây in vitro đối với tỉ lệ sống của cây con
dòng rong nâu Sacol ở giai đoạn thích nghi bán tự nhiên sau 8
tuần nuôi trồng 106
Biểu đồ 3.10 Ảnh hưởng của loại cây in vitro đối với khối lượng tươi của cây
con dòng rong nâu Sacol ở giai đoạn thích nghi bán tự nhiên sau
8 tuần nuôi trồng 107
Biểu đồ 3.11 Ảnh hưởng của loại cây in vitro đối với TĐTT của cây con dòng
rong nâu Sacol ở giai đoạn thích nghi bán tự nhiên sau 8 tuần
nuôi trồng 107
Trang 17Biểu đồ 3.12 Khối lượng tươi rong in vitro và rong tự nhiên nuôi trồng ngoài
tự nhiên sau 12 tuần 110
Biểu đồ 3.13 Khối lượng khô rong in vitro và rong tự nhiên nuôi trồng ngoài
tự nhiên sau 12 tuần 110
Biểu đồ 3.14 TĐTT của rong in vitro và rong tự nhiên nuôi trồng ngoài tự
nhiên sau 12 tuần 111
Biểu đồ 3.15 Tỉ lệ khô tươi rong in vitro và rong tự nhiên nuôi trồng ngoài tự
nhiên sau 10 tuần 112
Biểu đồ 3.16 Hàm lượng carrageenan rong in vitro và rong tự nhiên nuôi trồng
ngoài tự nhiên sau 10 tuần 113 Biểu đồ 3.17 Sức đông của carrageenan được chiết xuất từ rong có nguồn gốc
in vitro và rong tự nhiên sau 10 tuần 114
Biểu đồ 3.18 Độ nhớt của carrageenan được chiết xuất từ rong có nguồn gốc
in vitro và rong tự nhiên sau 10 tuần 114
Trang 18MỞ ĐẦU
Rong Bắp sú – Kappaphycus striatus thuộc ngành rong đỏ (Rhodophyta), phân
bố chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới, trong các thủy vực biển hở ven bờ nơi có sự trao đổi nước, độ mặn cao ổn định, nước trong và cường độ ánh sáng (CĐAS) cao… Rong Bắp sú không chỉ giàu chất xơ thô, sắt, axit béo omega-3, chất chống oxy hóa
mà còn chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học phục vụ cho ngành dược phẩm và sinh học Vì vậy, rong Bắp sú được sử dụng làm nguyên liệu để chiết xuất Kappa – carrageenan, làm phân bón nông nghiệp và ethanol sinh học
Năm 2005, Việt Nam đã di trồng thành công loài rong Bắp sú có nguồn gốc từ Phillipines Những năm đầu mới di trồng, rong có tốc độ tăng trưởng (TĐTT) cao và
có thể trồng quanh năm ở những vực nước có độ mặn cao ổn định Vì vậy, nghề nuôi trồng rong Bắp sú góp phần xóa đói giảm nghèo và đã thành công trong việc bảo đảm sinh kế cho nhiều cộng đồng cư dân ven biển Tuy nhiên, sau gần hai mươi năm di trồng, rong Bắp sú phân bố ngoài tự nhiên hiện tại đã không giữ được đặc tính sinh học và chất lượng carrageenan như ban đầu Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng rong biển thô và những sản phẩm từ rong ngày càng tăng trong khi sản lượng rong Bắp sú đã không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trên thế giới
Tại Việt Nam, từ khi di trồng thành công đến nay, phương pháp sinh sản sinh dưỡng là phương pháp duy nhất được sử dụng để nhân giống trong nuôi trồng loài rong này Việc nhân giống bằng phương pháp sinh sản sinh dưỡng nhiều năm không
có chọn lọc đã dẫn đến rong giống bị sự suy giảm sức sống và bị thoái hóa Hơn nữa, dưới tác động của điều kiện sinh thái, rong đã bị biến đổi về: TĐTT, hàm lượng cũng như chất lượng carrageenan Đặc biệt, trong những năm gần đây, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dẫn đến dễ bùng phát dịch bệnh, từ đó làm cho năng suất và chất lượng rong cũng giảm một cách đáng kể
Trong số các phương pháp nhân giống được sử dụng trong nghiên cứu rong
biển, nuôi cấy in vitro là một phương pháp nhân giống ít phụ thuộc vào thời tiết, đáp
ứng số lượng giống rong lớn và là con đường tạo được nguồn rong giống sạch bệnh, kháng bệnh, năng suất cao, chống chịu được với sâu bệnh và phát triển tốt trong điều
kiện nghèo dinh dưỡng Nuôi cấy in vitro đã được coi là một phương pháp thay thế để
sản xuất rong biển sạch, không nhiễm bệnh để canh tác bền vững và cung cấp nguyên
Trang 19liệu cho các ngành công nghiệp khác nhau bao gồm cả sản xuất thực phẩm Rong biển
có nguồn gốc từ nuôi cấy in vitro cũng có nồng độ Asen, Cadimi và Chì thấp hơn so
với rong biển có nguồn gốc tự nhiên Thêm vào đó, TĐTT của rong có nguồn gốc nuôi
cấy in vitro nhanh hơn 1,5 – 1,8 lần so với giống truyền thống Đặc biệt, rong có khả
năng sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ cao cũng như kháng được mầm bệnh
trắng nhũn thân Hơn thế nữa, rong có nguồn gốc nuôi cấy in vitro có hàm lượng và
chất lượng carrageenan cao hơn, giá trị dinh dưỡng tốt hơn so với rong có nguồn gốc
từ sinh sản sinh dưỡng
Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về đặc điểm sinh học cũng như nhân
giống rong này đặc biệt là nhân giống in vitro còn hạn chế Do đó, nhằm nghiên cứu
sự biến đổi đặc điểm sinh học của một số dòng rong Bắp sú sau gần hai mươi năm di trồng, qua đó chọn được dòng rong vượt trội thích nghi cao với điều kiện sinh thái của vùng biển Việt Nam để tiến hành nhân giống dựa trên kết hợp phát huy những ưu
điểm của công nghệ nuôi cấy in vitro, nghiên cứu sinh tiến hành thực hiện luận án:
“Nghiên cứu sinh học, sinh thái và nhân giống rong Bắp sú – Kappaphycus striatus (F Schmitz) Doty ex P C Silva, 1996”
Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Tìm được dòng rong có đặc điểm sinh học phù hợp để làm vật liệu nghiên
cứu tạo ra nguồn giống chất lượng cao bằng phương pháp nuôi cấy in vitro
Nghiên cứu để tìm ra các điều kiện nuôi cấy in vitro thích hợp cho các quá
trình phát sinh hình thái khác nhau (cảm ứng mô sẹo, phát sinh phôi và tái sinh cây
con hoàn chỉnh…) của rong Bắp sú Đánh giá chất lượng cây giống có nguồn gốc in
vitro của rong Bắp sú thông qua khả năng thích nghi ngoài tự nhiên, hàm lượng cũng
như chất lượng carrageenan
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú được nuôi trồng
ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của các dòng rong Bắp sú đang được nuôi trồng tại vịnh Vân Phong và Cam Ranh sau gần hai mươi năm di trồng Lựa chọn dòng rong có đặc điểm sinh học tốt nhất để nghiên cứu quy
Trang 20trình nhân giống in vitro.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Xác định dòng rong có TĐTT, tỉ lệ khô tươi, hàm lượng và
chất lượng carrageenan tốt nhất, phù hợp nhất trong điều kiện sinh thái của vùng biển Việt Nam hiện nay Cung cấp dữ liệu khoa học về vi nhân giống rong Bắp sú bằng
phương pháp nuôi cấy in vitro
Ý nghĩa thực tiễn: Xác định được phương pháp tái sinh và nhân giống hiệu quả
đối với rong Bắp sú bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro Đây là một bước tiến quan trọng
nhằm cung cấp nguồn giống cho phát triển nuôi trồng rong Bắp sú ở quy mô lớn, góp phần lưu giữ nguồn gen, thay thế nguồn giống từ phương pháp sinh sản sinh dưỡng hiện nay đang làm thoái hóa nguồn giống ngoại nhập
Những đóng góp mới của luận án
Cung cấp dữ liệu cụ thể về đặc điểm sinh học, sinh thái của các dòng rong thuộc loài rong Bắp sú sau gần hai mươi năm di trồng ở vịnh Vân Phong và vịnh Cam Ranh, Khánh Hòa
Sử dụng nano bạc như là chất khử trùng mới trong nuôi cấy in vitro rong biển
Cung cấp dữ liệu về quá trình phát sinh phôi vô tính và xây dựng quy trình nhân
giống rong Bắp sú bằng phương pháp nuôi cấy in vitro Luận án đóng góp cho công tác đào tạo và giảng dạy về lĩnh vực nuôi cấy in vitro thực vật nói chung và rong biển
nói riêng
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Trang 221.1 Giới thiệu về rong Bắp sú
1.1.1 Hệ thống phân loại
Trước đây, loài rong Bắp sú (Kappaphycus striatus) được định danh là
Eucheuma striatum Schmitz và xếp vào chi Eucheuma thuộc họ Solieriaceae, bộ
Gigartinales, lớp Eucheumatoideae, ngành Rhodophyta Đến năm 1989, dựa vào thành phần hóa học có chứa chủ yếu là Kappa-carrageenan của một số loài trong chi
Eucheuma, Doty đã tách ra một chi mới, đặt tên là Kappaphycus và xếp loài rong Bắp
sú vào chi này mang tên K striatum [1] Năm 1996, Liao đã hiệu chỉnh thành
Chi : Kappaphycus, Doty
Loài : K striatus (F Schmitz, 1895) Doty ex P.C Silva, 1996
Tên tiếng việt: Rong Bắp sú [2]
Rong Bắp sú có nhiều dòng khác nhau, trong đó có 6 dòng đang được nuôi
trồng phổ biến trên thế giới đó là:
Kab Kab sitangkai, Tawi – Tawi: Dòng rong Kab Kab
Red Payaka Hingutanan Is., Bohol: Dòng rong đỏ Payaka
Green Sacol Green Is., Roxas, Palawan: Dòng rong xanh Sacol
Brown Sacol Tuluk sangay, zamboanga City: Dòng rong nâu Sacol
Brown Payaka Hingutanan Is., Bohol: Dòng rong nâu Payaka
Green Sacol Tando, Guimaras: Dòng rong xanh Sacol
Trong số những dòng rong trên, ba dòng rong (nâu Sacol, xanh Sacol và nâu
Payaka) có những đặc tính sinh học vượt trội và được trồng phổ biến ở đảo Coco,
Philippines Vì vậy, năm 2005, ba dòng này đã được di trồng vào vùng biển các tỉnh miền Trung, Việt Nam (Hình 1.1) [3]
Trang 23Hình 1.1 Hình thái của một số dòng thuộc loài rong Bắp sú được di trồng vào Việt Nam
A: Dòng rong nâu Sacol
B: Dòng rong nâu Payaka
C: Dòng rong xanh Sacol
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học và sinh thái
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái
Tản rong Bắp sú có cấu tạo thân hình trụ đặc, thường tròn hay hơi dẹp và nhiều nhánh Thân dạng bò hoặc thẳng, cao khoảng 20 – 25 cm, đường kính thân chính và nhánh 1 – 2 cm Phân nhánh dày 3 – 4 lần, theo kiểu đối nhau, mọc vòng, chạc hai không đều Nhánh chót ngắn, đỉnh nhánh chia chạc hai có đầu vuốt nhọn hoặc tù Khi
sờ vào rong Bắp sú ta thấy các nhánh rong hơi dẻo và mềm [4]
Dòng rong nâu Sacol (Hình 1.1 A) có màu xanh nâu đến nâu, màu nâu của dòng
này thay đổi nhẹ liên quan đến cường độ ánh sáng (CĐAS) Các nhánh rong trơn bóng,
khoảng cách giữa hai nhánh 1 – 4 cm, đỉnh nhánh chia chạc hai với đầu nhọn [4]
Dòng rong nâu Payaka (Hình 1.1 B) có màu từ nâu nhạt đến nâu đậm hoặc
nâu đỏ, màu nâu thay đổi đậm hay nhạt liên quan đến CĐAS vào các mùa khác nhau trong một năm Rong thô và sần sùi, bề mặt nhánh có nhiều u lồi, khoảng cách giữa hai nhánh 1 – 3 cm Đỉnh nhánh cùn hoặc tròn [4]
Dòng rong xanh Sacol (Hình 1.1 C) có đặc điểm phân nhánh tương tự dòng rong nâu Sacol nhưng có màu xanh lá cây hay xanh ngọc, màu xanh của dòng này
thay đổi nhẹ liên quan đến CĐAS [4]
1.1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Rong Bắp sú là loài hẹp muối, chỉ sinh trưởng và phát triển tốt ở độ mặn từ
Trang 2427‰ đến 33‰ Ở độ mặn dưới 20‰ kéo dài nhiều ngày, rong ngừng phát triển và chết sau một tuần; độ mặn cao 35 – 40‰ thì rong bị ức chế sinh trưởng [5] Nhiệt độ nước thích hợp nhất cho rong Bắp sú sinh trưởng và phát triển là từ 25°C đến 30°C; khi nhiệt độ nước cao hơn 31°C thì rong tăng trưởng chậm còn ở nhiệt độ thấp hơn 15°C rong bị chết [6] Nhu cầu muối khoáng (chủ yếu là muối nitơ và photpho) đối với rong Bắp sú cao trong điều kiện nhiệt độ cao và ánh sáng mạnh Trong điều kiện nước biển tự nhiên và trao đổi thường xuyên, hàm lượng khoáng đã đủ cho rong sinh trưởng và phát triển [5] Trong điều kiện tự nhiên, CĐAS thích hợp nhất là 585 – 975 μmol photons.m-2.s-1, CĐAS quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rong [7] Rong phát triển tốt ở vùng nước thường xuyên trao đổi nước
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rong
Có nhiều yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của rong như: Nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn, hàm lượng khoáng và dòng chảy…[8, 9]
Độ mặn ảnh hưởng đối với sinh trưởng và phát triển của rong Độ mặn ảnh
hưởng đến TĐTT của rong Kappaphycus Rong Sụn (K alvarezzi) phát triển thuận
lợi ở độ mặn 25 – 35‰ [10] và có TĐTT cao nhất ở độ mặn dao động từ 33,8‰ đến 34,8‰ [11, 12] Độ mặn thấp hơn 26‰ thì rong Sụn bị căng thẳng và dễ bị bệnh
trắng nhũn thân [13] Rong Sụn được thu thập vào những tháng có nhiệt độ nước cao
có khả năng chịu đựng sự thay đổi độ mặn (25 – 35‰) cao hơn những mẫu rong được thu thập trong những tháng có nhiệt độ nước thấp Rong Bắp sú là loài hẹp muối, chỉ sinh trưởng và phát triển tốt ở độ mặn từ 27 – 33‰ Độ mặn dưới 20‰ kéo dài nhiều ngày, rong ngừng phát triển và chết sau một tuần Độ mặn cao 35 – 40‰ thì rong bị
ức chế sinh trưởng [14]
Bên cạnh độ mặn thì nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng của rong Trong phạm vi nhiệt độ thích hợp, khi nhiệt độ tăng thì quá trình sinh trưởng của rong tăng
và ngược lại, yêu cầu nhiệt độ thích hợp cho quá trình sinh trưởng của rong khác nhau
ở từng loài Mặt khác, nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình sinh lý của rong Quá trình quang hợp và hô hấp của rong tối ưu trong phạm vi nhiệt độ thích hợp TĐTT trung bình của rong cũng thay đổi theo mùa TĐTT của rong Sụn vào những tháng có nhiệt
độ nước thấp cao hơn những tháng có nhiệt độ nước cao [15] Rong Sụn sinh trưởng
và phát triển tốt ở nhiệt độ 20 – 30°C [10, 11] Khi nuôi ngoài biển, nhiệt độ nước
Trang 25biển cao làm giảm TĐTT [16–18] Nhiệt độ nước tăng cao (35,7 ± 2,4°C) làm cho rong chết hàng loạt [19] Nhiệt độ nước thích hợp nhất cho rong Bắp sú sinh trưởng
và phát triển là từ 25 – 30°C; khi nhiệt độ nước cao hơn 31oC rong tăng trưởng chậm,
ở nhiệt độ thấp hơn 15°C rong bị chết [20] Rong Bắp sú có TĐTT cao nhất trong khoảng nhiệt độ 21 – 31°C được nuôi ngoài tự nhiên và 24 – 31°C trong phòng thí nghiệm và sống được ở nhiệt độ 18°C trong khoảng thời gian 10 ngày [21] Vì vậy, nên trồng rong tập trung vào mùa có nhiệt độ nước thấp để rong sinh trưởng và phát triển tốt [8]
Hơn nữa, hàm lượng khoáng có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của rong Nhu cầu muối khoáng (chủ yếu là muối nitơ và photpho) đối với rong Bắp sú cao trong điều kiện nhiệt độ cao và ánh sáng mạnh Trong điều kiện nước biển tự nhiên và trao đổi thường xuyên, hàm lượng khoáng đã đủ cho rong sinh trưởng
và phát triển [5] Tuy nhiên, năng suất của rong bị suy giảm sau 2 – 3 năm nuôi trồng
Do đó, việc cung cấp khoáng dạng nitơ đã được thực hiện trong nuôi trồng bằng cách
hồ phân trong chậu trước khi thả giống để đạt được tốc độ tăng trưởng (TĐTT) cao nhất [22]
Nguồn ánh sáng cũng là một trong những yếu tố quan trọng của rong do liên quan đến cường độ quang hợp Cường độ và bước sóng ánh sáng đều ảnh hưởng đến năng suất quang hợp của rong Các dòng rong khác nhau thể hiện phạm vi sinh trưởng tối ưu khác nhau và khả năng chịu được các nguồn ánh sáng khác nhau CĐAS tác động đến hoạt động của tế bào trong hoạt động trao đổi chất và tăng trưởng Cường
độ quang hợp khác nhau đối với các loại mô khác nhau ở rong Bắp sú, những mô ở gần đỉnh nhánh có cường độ quang hợp cao hơn Trong điều kiện tự nhiên, CĐAS thích hợp nhất là 585 – 975 μmol photons.m-2.s-1, CĐAS quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rong [7]
Ngoài các yếu tố trên, trao đổi nước cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của rong Rong phát triển tốt ở vùng nước thường xuyên trao đổi nước, đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến TĐTT, phát triển cũng như chất lượng của rong Nước tù hay
sự lưu thông kém sẽ làm cho tốc độ phát triển của rong chậm lại Đặc biệt, nếu kết hợp với nhiệt độ của nước cao, các chất lơ lửng trong nước lớn, hàm lượng khoáng trong nước thấp sẽ dẫn đến sự tàn lụi của rong Ngược lại, nguồn nước có sự trao đổi
Trang 26và dòng chảy tốt giúp vận chuyển dinh dưỡng và loại bỏ tảo tạp bám trên rong Rong
Bắp sú có tỉ lệ mất nước thấp và tỉ lệ bù nước cao hơn so với rong Sụn [23] TĐTT của rong Bắp sú diễn ra cao nhất trong mùa gió mạnh và làm nước chuyển động
mạnh [24]
Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm rong biển rất
dễ bùng phát dịch bệnh dẫn đến năng suất và chất lượng rong cũng giảm một cách đáng kể Do đó, việc lựa chọn vùng trồng và mùa vụ trồng rất quan trọng trong nuôi trồng rong Bắp sú
1.1.2.4 Đặc điểm phân bố tự nhiên
Rong Bắp sú có nguồn gốc từ vùng biển nhiệt đới như: Khu vực Đông Nam Á gồm: Philippines, Singapore, Indonesia, Malaysia, Papua New Guine; khu vực Ấn
Độ – Thái Bình Dương gồm: Kenya, Tanzania, Madascar, Ấn Độ; khu vực biển Ấn
Độ Dương gồm: Đài Loan, quần đảo Ryukyu và liên bang Micronesia [5] Rong Bắp
sú phát triển ở khu vực có sự trao đổi nước trung bình, nơi có chất đáy cát – san hô, nằm ở vùng trung triều đến dưới triều, rong thường bám vào các vật bám cứng hoặc nằm trong hốc đá khi không bám được [1, 6]
Hiện nay, có khoảng 30 nước trên thế giới trồng rong Kappaphycus Ngoài ra,
rong này còn được di trồng ở nhiều quốc gia và khu vực như: Khu vực Đông Bắc Á gồm Nhật Bản, Trung Quốc; khu vực Đông Nam Á gồm Philippines, Singapore, Việt Nam…; khu vực Tây đại Tây Dương và khu vực Tây Nam Á như Ấn Độ…[22]
1.1.2.5 Chu trình sinh trưởng và phát triển
Vòng đời của rong Kappaphycus có ba pha phát triển là: Cây đơn tính (n)
(gametophyte), cây bào tử (2n) (carsporophyte) và cây tứ bào tử (2n) (tetrasporophyte) xuất hiện luân phiên Cây giao tử đực (male plant) thành thục hình thành túi tinh tử, cây giao tử cái (female plant) thành thục hình thành túi noãn Các giao tử thụ tinh trong túi bào tử của cây cái để tạo thành túi bào tử lưỡng bội, sau đó tạo ra các bào tử lưỡng bội (2n), giao tử được phóng thích ra ngoài môi trường, bám vào nền đáy, phát triển thành cây lưỡng bội Sự phân chia nguyên phân lặp đi lặp lại trong túi bào tử dẫn đến sự hình thành của tứ bào tử và sự phân chia giảm phân tiếp
Trang 27theo trong tứ bào tử tạo ra tứ bào tử đơn bội Các tứ bào tử được giải phóng phát triển thành các cây giao tử tương ứng để hoàn thành vòng đời [25]
Hình 1.2 Vòng đời của rong Kappaphycus [25]
Trong tự nhiên, rong Bắp sú sinh sản theo hình thức sinh sản sinh dưỡng từ các đoạn thân và nhánh, sinh sản đơn tính bằng bào tử và sinh sản hữu tính bằng sự kết hợp giữa tinh tử của cây giao tử đực với noãn của cây giao tử cái Các hình thức sinh sản này luân phiên xảy ra trong tự nhiên, các dạng cây này đồng thời tồn tại và phát triển
1.1.3 Giá trị của rong Bắp sú
Rong Bắp sú có chứa hàm lượng chất khoáng cao và 18 loại axit amin gồm: Axit aspartic, axit glutamic, asparagine, serine, glultamine, glycine, threonine, arginine, alanine, cysteine, tyrosine, histidine, valine, methionine, iso-leucine, phenyl alanine, lysine và tryptophan [26] Bên cạnh đó, rong còn chứa hàm lượng axit béo cao nên phù hợp với chế độ dinh dưỡng của con người [26, 27], đặc biệt là tỉ lệ Na/K rất tốt cho người bệnh trong điều trị chứng cao huyết áp [26] Rong Bắp sú không chỉ giàu chất xơ thô, sắt và axit béo omega-3 [28], chất chống oxy hóa [29] mà còn chứa
Cây giao tử
(Carsporophyte) Túi bào tử
Cây tứ bào tử (Tetrasporophyte)
Trang 28các hợp chất sinh học phục vụ cho ngành dược phẩm và sinh hóa như lectin [30, 31] hay K-carrageenan oligosaccharite là chất có hoạt tính chống ung thư và điều hòa miễn dịch [32] Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, rong Bắp sú được sử dụng làm nguyên liệu để chiết xuất K-carrageenan, làm phân bón nông nghiệp [33–36] và ethanol sinh học [37–39]
Một trong những ứng dụng điển hình của rong Bắp sú là chiết xuất carrageenan Carrageenan là một loại colloid nhóm phycocolloid được chiết xuất từ
rong biển thuộc ngành rong đỏ như chi Kappaphycus Carrageenan có cấu trúc là một
polysaccharite, có đặc tính liên kết rất tốt với các phân tử protein của động và thực vật [40] Vì vậy, carrageenan được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực sau:
Trong lĩnh vực thực phẩm: Carrageenan đóng vai trò là chất phụ gia trong thực
phẩm để tạo đông tụ, tạo tính mềm dẻo đồng nhất cho sản phẩm và do điểm nóng chảy thấp nên carrageenan được dùng để làm các món ăn như: Các món thạch, hạnh nhân và nước uống Carrageenan được bổ sung vào bia rượu và dấm làm tăng độ trong suốt Trong sản xuất bánh mì, bánh quy và bánh bông lan… carrageenan có tác dụng tạo cho sản phẩm có cấu trúc mềm xốp [41]
Trong y học và dược phẩm: Carrageenan là chất nhũ hoá trong ngành dược
phẩm Carrageenan được sử dụng để sản xuất các loại sản phẩm như các loại thuốc nhờn, nhũ tương để thoa lên các vết thương mau lành và làm màng bao cho thuốc Cũng dựa vào tính chất mang điện tích âm nên carrageenan được ứng dụng trong việc điều chế thuốc loét dạ dày và đường ruột Khi thành dạ dày bị men pepsin tấn công protein tại chỗ loét làm cho độ axit tăng lên nhưng khi có mặt của carrageenan thì nó tương tác với pepsin và làm ức chế tác dụng của pepsin [41]
Trong công nghiệp: Hỗn hợp I-carrageenan, K-carrageenan và các chất tạo nhũ
tương được đưa vào dung dịch sơn nước để tạo độ đồng nhất nhũ hóa cho sơn Bổ sung carrageenan vào kem đánh răng để chống lại sự tách lỏng và sự bào mòn trạng thái tạo các đặc tính tốt cho sản phẩm Carrageenan được ứng dụng trong công nghiệp sợi nhân tạo, phim ảnh và sản xuất giấy Ngoài ra, carrageenan là môi trường cố định enzyme, chất xúc tác trong công nghiệp tổng hợp và chuyển hoá các chất khác [41]
Hiện nay, việc sử dụng rong biển thô và những sản phẩm từ rong ngày càng tăng trong khi sản lượng rong Bắp sú đã không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trên thế
Trang 29giới [42] Vì vậy, nghiên cứu để tăng sản lượng rong biển để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ trên thế giới là việc làm quan trọng
1.2 Nhân giống in vitro rong biển
Có nhiều phương pháp nhân giống in vitro rong biển bao gồm: Tái sinh chồi
trực tiếp, tế bào đơn, phương pháp phát sinh phôi vô tính trực tiếp và phát sinh phôi
vô tính gián tiếp thông qua mô sẹo… Trong đó, phương pháp phát sinh phôi vô tính gián tiếp thông qua mô sẹo trải qua các giai đoạn và các yếu tố ảnh hưởng như sau:
1.2.1 Các giai đoạn nhân giống in vitro
Nhân giống in vitro rong biển trải qua các giai đoạn sau: Tạo nguồn vật liệu ban
đầu, cảm ứng mô sẹo, tái sinh phôi vô tính, tái sinh cây con và thích nghi ngoài tự nhiên
1.2.1.1 Tạo nguồn vật liệu ban đầu
Trong giai đoạn tạo nguồn vật liệu ban đầu thì đầu tiên rong cần được thuần
hóa trong điều kiện in vitro Rong ngoài tự nhiên đã quen với việc phát triển trong điều kiện có nhiệt độ và CĐAS cao so với điều kiện nuôi cấy in vitro Do vậy, trước khi đưa vào môi trường in vitro cần có bước đệm giúp rong giống làm quen với điều
kiện bên trong phòng thí nghiệm bằng cách nuôi trong các bể kính với nhiệt độ và
CĐAS giảm dần đến khi đạt được điều kiện in vitro Rong ngoài tự nhiên bị bám
nhiều rong tảo và vi sinh vật (VSV) phụ sinh, trong khi đó, mẫu đưa vào nhân giống phải đảm bảo sạch bệnh và không có phụ sinh cũng như VSV bám Vì thế, môi trường dinh dưỡng thuần hóa rong vừa phải đảm bảo cho rong sinh trưởng tốt và vừa hạn
chế sự phát triển của VSV có hại trong điều kiện in vitro Vì vậy, Ge2O thường được
sử dụng để hạn chế phụ sinh và VSV phát triển Tuy nhiên, đây là hóa chất đắt tiền
và có hại cho rong giống [43] Vì thế, việc tìm ra loại môi trường phù hợp với giai đoạn thuần hóa rong làm nguyên liệu nhân giống là rất cần thiết
Sau khi rong thích nghi với điều kiện in vitro thì bước tiếp theo là khử trùng
mẫu cấy Khử trùng mẫu cấy sau giai đoạn thuần hóa rong là bước quan trọng quyết
định cả quá trình nhân giống Hiệu quả của nhân giống in vitro phụ thuộc vào giai
đoạn khử trùng mẫu cấy Khử trùng mẫu cấy ở rong biển gặp khó khăn hơn so với thực vật bậc cao [44] và tỉ lệ mẫu vô trùng đạt được thấp [45] Do cấu trúc tản rong
Trang 30biển có lớp biểu bì bên ngoài mỏng [46] và chỉ được bảo vệ bởi một lớp tế bào Khi rong được khử trùng, lớp này bị mất đi, các nguyên tố kim loại dễ dàng xâm nhập và những tác nhân vật lí khác làm hư hại mô rong Do đó, mô rong trở nên nhạy cảm sau khi khử trùng Vì vậy, phương pháp khử trùng phải vừa có thể loại bỏ các tác nhân như: Vi khuẩn, nấm và các VSV khác mà vẫn bảo vệ được các tế bào của mô cấy Khả năng tiêu diệt nấm, khuẩn và VSV khác của các chất khử trùng phụ thuộc vào nồng độ, thời gian xử lý và mức độ xâm nhập của chúng vào các ngõ ngách trên bề mặt của mô cấy Vì vậy, tùy thuộc vào loài rong mà lựa chọn chất khử trùng cũng như nồng độ sử dụng phù hợp
1.2.1.2 Cảm ứng mô sẹo
Khái niệm mô sẹo: Mô sẹo là một khối tế bào không có tổ chức và hình dạng
nhất định Mô sẹo là kết quả của sự xáo trộn trong quá trình tạo cơ quan Mô sẹo được hình thành từ lớp cắt của các phần non của cơ thể thực vật (mô phân sinh ngọn, thân hay rễ…), bao gồm các tế bào nhu mô và thành phần tế bào cây Mô sẹo phát triển không theo quy luật nhưng có khả năng biệt hóa thành rễ, chồi hoặc phôi Từ đó, mô sẹo có thể tái sinh thành cây hoàn chỉnh Mô sẹo là nguyên liệu ban đầu cho các nghiên cứu quan trọng khác như: Phân hóa mô và tế bào, nuôi cấy tế bào đơn, nuôi cấy phôi vô tính và sản xuất các chất thứ cấp có hoạt tính sinh học…[47]
Đặc điểm của mô sẹo: Mô sẹo thường có màu vàng trắng, xanh hay màu của
sắc tố anthocyanin Có hai loại tế bào mô sẹo là tế bào mô sẹo xốp (có đặc điểm như không bào to, nhân nhỏ, tế bào chất loãng) và tế bào mô sẹo cứng (có không bào nhỏ, nhân to và tế bào chất đậm đặc) Sau khi mô sẹo hình thành, mô sẹo được cấy chuyển sang môi trường mới Mô sẹo được tách với kích thước vừa phải để tế bào phát triển mạnh nhất, thường cụm mô sẹo có trọng lượng 20 – 100 mg, thời gian giữa hai lần cấy chuyển là 20 – 30 ngày phụ thuộc vào từng loại mô sẹo [47] Mô sẹo cứng có khả năng tái sinh chồi sớm nhất Nguyên nhân có thể do các tế bào mô sẹo sẽ mất đi khả năng sinh ra một số chất thiết yếu cho sự tái sinh của nó khi số lần cấy chuyển tăng lên [47]
Cũng giống như mô sẹo của thực vật bậc cao, mô sẹo rong biển có nhiều loại khác nhau như: Mô sẹo dạng sợi, mô sẹo xốp, mô sẹo đặc… và màu sắc biến thiên từ trắng đến nâu và hơi xanh [48, 49] Mô sẹo có dạng đặc “compact” ở đầu mô cấy khi đầu mô cấy tiếp xúc với môi trường thạch [50] Mô sẹo được cảm ứng từ nhiều bộ
Trang 31phận khác nhau như phần vỏ, phần ruột của nhánh rong Sụn [48, 50–52] và rong Sụn
gai (Euchema denticulatum) [53] Thời gian cảm ứng mô sẹo từ 4 ngày đến 15 ngày
[48, 50] hoặc lâu hơn 29 – 35 ngày [54] Mô sẹo rong Sụn có dạng sợi gồm nhiều tế bào xếp lại tạo thành chuỗi, có hình thuôn dài (10 – 15 µm x 25 – 200 µm); mô sẹo chứa không bào và chất lục lạp [48] Tỉ lệ cảm ứng mô sẹo phụ thuộc vào loài, điều kiện nuôi cấy như nhiệt độ và vị trí mẫu mô [55–57]
1.2.1.3 Tái sinh phôi vô tính
Phôi vô tính hay còn gọi là phôi soma có chứa tế bào phát sinh cơ quan tương
tự như phôi hữu tính Các mô và tế bào sinh dưỡng tạo ra phôi vô tính thông qua quá trình tạo mô sẹo trung gian [58] Trong quá trình phát sinh phôi vô tính, tế bào soma đóng vai trò sinh phôi như hợp tử và sự phát triển của phôi cũng trải qua các giai đoạn như trong quá trình sinh phôi hợp tử Để tạo thành phôi vô tính, các tế bào thực vật
đã biệt hóa cần phản biệt hóa (trừ các tế bào mô phân sinh) tạo thành tế bào gốc, phát triển thông qua giai đoạn phôi đặc trưng để tạo ra tất cả các loại tế bào của cây mới
Do đó, các tế bào tiền thân của một phôi vô tính là một tế bào gốc có tính toàn năng Các đặc điểm chính để phân biệt một phôi vô tính với một chồi bất định là khi giải phẫu hình thái cho thấy phôi có cấu tạo rời rạc, độc lập không có liên kết mạch với các mô của mô mẹ [59, 60] Phôi vô tính có hình dạng tương tự như phôi hữu tính,
có cấu trúc lưỡng cực và có đầy đủ các bộ phận của một phôi
Tế bào có khả năng phát sinh phôi là những tế bào nhỏ, nhân nằm ở vị trí trung tâm được bao bọc bởi khối tế bào chất dày và những không bào nhỏ Về cơ bản chúng rất giống các tế bào mô phân sinh hay hợp tử Các tế bào có khả năng phát sinh phôi gặp điều kiện như nội bào và ngoại bào cho phép biểu hiện quá trình phát sinh phôi thì sẽ phát sinh phôi, xảy ra sau hoặc đồng thời với quá trình phân bào Quá trình phân bào tiếp theo cùng với quá trình phân cực tế bào dẫn đến sự phát sinh phôi [58] Các nhân tố ảnh hưởng đến cảm ứng phát sinh phôi vô tính rất phong phú, nhưng chủ yếu là CĐHSTTV ngoại sinh và các nhân tố gây căng thẳng khác
1.2.1.4 Tái sinh cây con
Thời gian tái sinh chồi (nảy mầm) phụ thuộc vào loài rong và điều kiện nuôi Chỉ có những phôi đã trưởng thành với hình thái bình thường có tích lũy đủ vật chất
Trang 32dự trữ và vượt qua giai đoạn làm khô thì phát triển thành cây hoàn chỉnh được Giai đoạn nảy mầm thường không có có sự hiện diện của CĐHSTTV ngoại sinh Tuy nhiên, có vài trường hợp cần auxin và cytokinin để thúc đẩy sự nảy mầm
Tỉ lệ nảy mầm của phôi vô tính, thời gian hình thành nhánh chính và TĐTT phụ thuộc vào loài rong Mô sẹo rong Sụn phát sinh phôi và tái sinh cây con đạt kích thước 2 –
3 mm sau 98 – 177 ngày [54] Rong có thể tái sinh cây mới trong môi trường lỏng có
bổ sung Kinetin (Kin) và α-Naphthaleneacetic axit (NAA) [61]
1.2.1.5 Giai đoạn thích nghi
Cây con có nguồn gốc in vitro đã quen với việc phát triển trong điều kiện vô
trùng, nhiệt độ và CĐAS thấp Do vậy khi chuyển ra bên ngoài môi trường khắc nghiệt, cần có bước đệm giúp cây con làm quen với điều kiện bên ngoài bằng cách nuôi trong các bể kính với nhiệt độ và CĐAS tăng dần đến khi đạt được điều kiện tự nhiên
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân giống in vitro rong biển
1.2.2.1 Nguồn mẫu cấy
Mẫu cấy đóng vai trò quan trọng đến hiệu quả của nhân giống in vitro Nguồn
mẫu được chọn phải khỏe, không bị bệnh như bệnh trắng nhũn thân và bệnh do phụ sinh gây ra Chọn những đầu nhánh non [62], phần nhánh [48] hoặc có thể cả tản rong [49] Tuổi mẫu cấy, vị trí mẫu cấy khác nhau cho cảm ứng mô sẹo khác nhau Mẫu cấy cần có kích thước từ 0,5 cm đến 2 cm [48, 63]
1.2.2.2 Chất khử trùng
Khử trùng mẫu thường trải qua hai bước Đầu tiên cần loại bỏ tảo và VSV bám trên bề mặt bằng cách rửa với nước biển đã khử trùng với bàn chải mềm, lược mỏng hoặc dao cạo [64] Sau đó, mẫu được khử trùng với chất khử trùng chính như cồn, Ca(OCl)2, NaOCl, H2O2, Betadine hoặc kháng sinh
Kháng sinh sử dụng trong khử trùng mẫu cấy là hỗn hợp nhiều kháng sinh có khả năng tiêu diệt được nhiều chủng vi khuẩn, nấm kí sinh sâu bên trong thân rong, loại và nồng độ kháng sinh lần đầu tiên được báo cáo bởi Saga và cộng sự [65], Bradley và cộng sự [66] Thời gian khử trùng và nồng độ các chất khử trùng cũng khác nhau phụ thuộc vào nguồn gốc của mẫu [48, 63, 67] Nhiều nghiên cứu đã tiến
Trang 33hành và chỉ ra rằng khi sử dụng hỗn hợp kháng sinh như: Antimycotic, penicillin G, streptomycin sulfate, amphotericin B, kanamycin, neomycin (sulphate) và nystatin
cho kết quả khử trùng tốt trên rong Sụn [48, 52, 63] Tuy nhiên, thời gian khử trùng
dài từ 2 ngày đến 7 ngày, thậm chí 2 tuần Khi đạt được mẫu vô trùng thì những mẫu này sẽ được chuyển sang môi trường mới để cảm ứng mô sẹo [48, 52, 65, 68] Mặc
dù kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong nhân giống in vitro rong biển cho hiệu quả
sạch VSV cao nhưng có thể gây ra hiện tượng kháng kháng sinh ở thực vật, đồng thời thời gian khử trùng kéo dài Các chất khử trùng khác có thời gian khử trùng ngắn, nhưng đều là chất độc hại đối với cơ thể con người Sử dụng kháng sinh trong môi trường nuôi cấy có thể ảnh hưởng tới người thí nghiệm và môi trường Dư lượng kháng sinh trong rong có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Ngoài kháng sinh, một số chất khử trùng khác cũng được sử dụng cho hiệu quả tốt trên đối tượng rong biển như: Nước Javel 0,05%, chất tẩy rửa Triton X-100 hữu cơ (Sigma) 2% trong 5 giây [52], 3 mg.L-1 Iodine và 15% ethanol trong thời gian
30 phút [63] Có thể sử dụng các chất khử trùng này độc lập hoặc sử dụng sau khi xử
lí với kháng sinh [52]
Những năm gần đây, việc sử dụng Nano bạc để làm chất khử trùng cũng được các tác giả quan tâm Nano bạc là chất kháng khuẩn tốt, tiêu diệt các loài vi khuẩn, vi rút và bào tử nấm nhưng không độc hại đối với cơ thể con người Nano bạc có thể thẩm thấu nhanh vào sâu bên trong nhánh rong cùng cơ chế diệt khuẩn của nó là phá hủy chức năng hô hấp của tế bào VSV, phá hủy chức năng của thành tế bào hay liên kết với DNA và ức chế khả năng sao chép của VSV [69]; với kích thước siêu nhỏ của các hạt nano giúp chúng tăng khả năng tiếp xúc bề mặt, dễ dàng xâm nhập và tác động sâu bên trong tế bào [70, 71] và có khả năng tiêu diệt những VSV kí sinh sâu bên trong thân rong hiệu quả Vì vậy, nano bạc được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y học, mỹ phẩm và dược phẩm… Trong nuôi cấy mô, Nano bạc cũng được nhiều tác giả sử dụng để khử trùng mẫu trên đối tượng thực vật bậc cao Trong
đó, đi đầu là nhóm nghiên cứu của Dương Tấn Nhựt và cộng sự đã thành công trong việc sử dụng nano bạc làm tác nhân khử trùng mẫu cấy cây African violet [72], cây Chanh dây [73], cây Salem [74] và cây sâm Ngọc Linh [75]… Thêm vào đó, nano bạc không chỉ có tính kháng khuẩn tốt mà còn là chất khử trùng an toàn cho sức khỏe
Trang 34con người Nano bạc không gây độc hại đối với tế bào của động vật máu nóng Bởi
vì màng tế bào của chúng được bảo vệ bởi một lớp lipoprotein kép nhiều liên kết đôi nên các ion được giải phóng ra từ các hạt nano bạc dễ dàng bị vô hiệu hóa [76] Vì vậy, nghiên cứu sử dụng nano bạc như là một chất khử trùng thay thế các chất khử trùng truyền thống khác là hướng nghiên cứu mới
1.2.2.3 Môi trường dinh dưỡng
Môi trường dinh dưỡng trong nuôi cấy in vitro rong biển phải cung cấp đầy đủ
các ion khoáng cần thiết, nguồn chất hữu cơ bổ sung như axit amin và vitamin, nguồn carbon cố định và một số thành phần khác cho sự sống Hiện nay, có rất nhiều môi trường được sử dụng như: Môi trường làm giàu nước biển Provasoli (PES) [77], môi trường Suto (MPI) [78], môi trường Murashige và Skoog (MS) [79], môi trường ASP 12-NTA tổng hợp (ASP12-NTA) [80], môi trường làm giàu nước biển Erdshcribers (ESS/2) [54] và môi trường 50% dung dịch Von Stosch (VS 50) [52] Trong đó, môi trường PES được đánh giá là phù hợp với nhiều loài rong đặc biệt là rong
Kappaphycus [48, 63]
Môi trường dinh dưỡng ảnh hưởng đến thời gian cảm ứng mô sẹo Đối với rong Sụn, mô sẹo cảm ứng sau 4 ngày đến 14 ngày nuôi cấy trên môi trường PES [48, 81], 14 –15 ngày ở môi trường 50% dung dịch Guillard và Ryther (F/2 50) [49, 50],
28 ngày ở môi trường Conwy (CW) [49, 81] và 29 – 35 ngày ở môi trường ESS/2 +
E3 Bên cạnh đó, môi trường dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đối với tỉ lệ cảm ứng mô sẹo Mẫu rong Sụn nuôi ở môi trường PES có tỉ lệ cảm ứng mô sẹo là 80 – 100% [48], tỉ lệ này là 90% ở môi trường F/2 50 [50] Môi trường VS 50, F/2 50 và ASP 12
có tỉ lệ cảm ứng mô sẹo rong Sụn 40 – 100% [50] Việc bổ sung đường carbon như glycerol, manose, glucose và galactose cũng nâng cao sự phát triển của mô sẹo [82] Tuy nhiên, glycerol kìm hãm sự phát sinh chồi trực tiếp ở rong Sụn [50]
Môi trường bổ sung dịch chiết rong nâu Ascophyllum (AMPEP) kích thích sự
nảy chồi trực tiếp [83] Rong Sụn có tỉ lệ phát sinh chồi trực tiếp (98 – 100%) sau 9 – 15 ngày nuôi cấy và sau 45 ngày nuôi cấy nhánh rong đạt kích thước (6,4 – 7,0 mm) [84] Do đó, việc tìm ra môi trường dinh dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển
của từng loài rong rất quan trọng trong quy trình nhân giống in vitro
Trang 351.2.2.4 Nhiệt độ
Nhiệt độ trong phòng nuôi cấy in vitro thường được điều chỉnh ổn định từ
22°C đến 25°C Tuy nhiên, tùy từng loại nuôi cấy, đối tượng và giai đoạn nuôi khác nhau mà có sự điều chỉnh nhiệt độ phù hợp Nhiệt độ thích hợp cảm ứng mô sẹo rong Sụn là 23 – 25°C [52, 54] Ở giai đoạn tái sinh cây con từ phôi thì nhu cầu nhiệt độ thấp hơn là 20°C Giai đoạn nuôi cây con cần nhiệt độ 25°C [54]
1.2.2.5 Ánh sáng
Ánh sáng bao gồm cường độ và chu kỳ chiếu sáng, là một nhân tố quan trọng
trong quang hợp và ảnh hưởng đến khả năng nuôi cấy in vitro thực vật nói chung
và rong biển nói riêng Ảnh hưởng của ánh sáng liên quan đến loài; có loài chịu ánh
sáng cao, trung bình và thấp Trong nuôi cấy in vitro, nhu cầu về CĐAS thấp hơn
so với rong ngoài tự nhiên nhưng thời gian chiếu sáng và CĐAS… rất quan trọng trong sự điều hòa quang phát sinh hình thái của mẫu mô nuôi cấy Nhu cầu về CĐCS
và chu kì chiếu sáng tùy thuộc vào từng giai đoạn Rong Sụn cảm ứng mô sẹo tốt nhất ở CĐAS 5 µmol photons.m-2.s-1 với chu kì chiếu sáng 12 giờ/ngày [48]; 10 –
15 µmol photons.m-2.s-1 với chu kì chiếu sáng 13 giờ/ngày [54] và 40 ± 10 µmol photons.m-2.s-1 [52] Khi CĐAS cao thì mô cấy bị mất màu và hoại tử, mẫu có cảm ứng mô sẹo nhưng phát triển chậm hoặc bị mất màu thậm chí bị hoại tử [48]
Phôi vô tính có thể được tạo ra trong những điều kiện sáng và tối khác nhau
Có những loài có nhu cầu CĐAS cao nhưng cũng có những loài sự hình thành phôi xảy ra trong điều kiện tối hoàn toàn Ví dụ như, sự phát sinh phôi vô tính ở cây Vân sam Na uy chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện tối hoàn toàn nếu có sự hiện diện của ammonium trong môi trường và việc loại bỏ ammonium ra khỏi môi trường là hoàn toàn cần thiết trước khi việc phát sinh phôi được tiến hành ngoài sáng [47] Ánh sáng đỏ thúc đẩy phát sinh phôi trên cây Chà là trong khi ánh sáng xanh thì làm giảm khả năng đó Trong quá trình phát sinh phôi vô tính ở cây Cà rốt thì ánh sáng đỏ, ánh sáng xanh lục hoặc tối đều có hiệu quả tương tự như nhau, còn ánh sáng xanh hoặc ánh sáng trắng lại ức chế hiệu quả phát sinh phôi [47] Rong Sụn phát sinh phôi ở
5 µmol photons.m-2.s-1 với chu kỳ chiếu sáng 12 giờ/ngày [52, 54] Ở giai đoạn tái sinh cây con từ phôi, nhu cầu CĐAS có sự thay đổi 10 – 15 µmol photons.m-2.s-1, chu
kì chiếu sáng 16 giờ/ngày; ở giai đoạn cây con là 40 – 80 µmol photons.m-2.s-1 với
Trang 36chu kì chiếu sáng 16 giờ/ngày [54]
1.2.2.6 Chất tạo đông
Trong nuôi cấy in vitro, agar thường được sử dụng như là chất làm đông môi
trường để tránh hiện tượng mô chìm trong môi trường hoặc bị chết vì thiếu oxy nếu môi trường lỏng và tĩnh Đây là một loại polysaccharide tách chiết từ rong biển Hàm lượng agar cũng ảnh hưởng đối với sự phát sinh hình thái mô cấy Mô sẹo cảm ứng ở 5 – 8 g.L-1 agar trên đối tượng rong Sụn [49, 50, 52] Tuy nhiên, ở một báo cáo khác lại cho rằng agar ở hàm lượng 15 g.L-1 agar thích hợp cho rong Sụn cảm ứng mô sẹo, hàm lượng quá cao hoặc quá thấp kích thích tạo chồi [48]
Khả năng phát sinh phôi vô tính cũng ảnh hưởng bởi trạng thái vật lí của môi
trường nuôi cấy [85] Trong nuôi cấy in vitro, sự nảy mầm của phôi vô tính thường diễn
ra trên môi trường được làm đông bằng agar hoặc trên môi trường lỏng có các giá thể nâng đỡ như cầu giấy lọc Mô sẹo của rong Sụn có thể hình thành phôi vô tính ở môi trường PES từ lỏng đến rắn (bổ sung 10 g.L-1 agar) [48, 86] Tuy nhiên, thông thường phôi vô tính hình thành ở môi trường bán lỏng Sau đó phôi này được chuyển sang môi trường PES lỏng để tái sinh cây con [48] Ngoài ra, ở hàm lượng agar cao thường kích thích mô sẹo phát triển thành dạng búp [87] Do đó, việc nghiên cứu hàm lượng agar thích hợp với từng giai đoạn phát sinh hình thái đối với rong Bắp sú là việc cần thiết
1.2.2.7 Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật
Các CĐHSTTV đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự sinh trưởng, biệt hóa, phát triển của thực vật nói chung và rong biển nói riêng Mức độ kiểm soát phụ thuộc vào loài, từng giai đoạn ở mỗi nồng độ và loại CĐHSTTV khác nhau CĐHSTTV như auxin và cytokinin ảnh hưởng đối với quá trình cảm ứng mô sẹo và biệt hóa phôi
Auxin có hai nhóm gồm auxin nội sinh (Indolebutyric axit (IBA), Indoleacetic axit (IAA)) được tổng hợp từ mô non đang phân chia nhanh và auxin nhân tạo (NAA, 2,4-D…) Auxin kích thích rất mạnh sự phân chia tế bào thượng tầng Ở mức độ tế bào, auxin kích thích sự trương giãn tế bào, đặc biệt theo chiều ngang làm tế bào lớn lên, kích thích sự tổng hợp các cấu tử cấu trúc lên thành tế bào như các chất cenlulose và pectin… Auxin có vai trò kích thích cảm ứng và tăng trưởng của mô sẹo Tuy nhiên, vai trò của auxin lên quá trình cảm ứng mô sẹo và biệt hóa
Trang 373-phôi tùy thuộc vào sự kết hợp giữa các chất và nồng độ Kết hợp NAA với amino-purine (BAP)hoặc IAA được cho là không ảnh hưởng đối với quá trình cảm ứng mô sẹo rong Sụn [48, 49, 88] Mặt khác, khi kết hợp đúng loại và đúng nồng độ của hai nhóm CĐHSTTV như NAA + Di-methyl-allyl-amino purine (2iP), NAA+ BAP và PAA + 2iP làm tăng kích thước của mô sẹo [51] Sử dụng NAA và BA đơn
Benzyl-lẻ hoặc kết hợp với nồng độ 0,1 – 1,0 mg.L-1 không kích thích cảm ứng mô sẹo nhưng kích thích biệt hóa phôi vô tính [48] Vai trò của auxin đối với quá trình phát sinh phôi tùy thuộc vào sự kết hợp giữa các chất và nồng độ [56] Sự phát triển của phôi
vô tính cây Cà rốt trong nuôi cấy trải qua một quá trình gồm hai giai đoạn, mỗi giai đoạn cần có môi trường riêng Các mô sẹo được nuôi cấy khởi đầu và nhân sinh khối trên môi trường giàu auxin và thường được sử dụng 2,4-D ở phạm vi nồng độ 0,5 – 1 mg.L-1 Trên môi trường này, sự phân hoá mô sẹo xảy ra tại các nhóm tế bào phân sinh được gọi là “các cụm phát triển phôi” (EC) Khi cấy chuyền sang môi trường tăng sinh, các EC tiếp tục lớn dần mà không tạo các phôi trưởng thành Nếu các EC được chuyển sang môi trường có nồng độ auxin rất thấp (0,01 – 0,1 mg.L-1) hoặc không có auxin, chúng sẽ phát triển thành phôi trưởng thành Sự có mặt của auxin trong môi trường tăng sinh là cần thiết cho mẫu có thể phát triển thành phôi khi chuyển sang môi trường phù hợp Các môi trường tăng sinh có thể coi là môi trường cảm ứng đối với hình thành phôi vô tính Những mẫu duy trì liên tục trong môi trường không có auxin sẽ không hình thành phôi [89] Sử dụng NAA đơn hoặc kết hợp với BAP ở nồng độ 0,1 – 1,0 mg.L-1 kích thích biệt hóa phôi vô tính rong Sụn [48]
Tương tự auxin, cytokinin cũng gồm cytokinin nội sinh (Zeatin,2-iP (IPA)…)
và cytokinin nhân tạo (BAP, Kin, Thidiazuron (TDZ)…) Cytokinin nội sinh được tổng hợp từ rễ và phôi đang tăng trưởng Cytokinin có vai trò kích thích sự phân chia
tế bào Cytokinin ảnh hưởng rõ rệt đối với sự hình thành và phân hóa cơ quan thực vật như sự phân hóa chồi, phân chia và phát sinh hình thái tế bào Cytokinin kích thích sự tăng trưởng tế bào trong điều kiện có auxin Khi kết hợp PAA và Zeatin ở nồng độ 1 mg.L-1 là đủ cho sự phát triển mô sẹo rong Sụn gai [53] Khi sử dụng 1 mg.L-1 Kin, 1 mg.L-1 NAA và 0,018 mg.L-1 spermine mô sẹo hình thành sau 30 ngày nuôi cấy Kết hợp 1 mg.L-1 BA với 2,5 mg.L-1 IAA kích thích tạo cụm mô sẹo dạng sợi
ở rong Sụn [49] Tỉ lệ cảm ứng mô sẹo ở rong Sụn được nuôi ở môi trường có bổ sung
1 mg.L-1 NAA và 1 mg.L-1 BAP là 100% khi so sánh với đối chứng [90] Ở rong Sụn,
Trang 38tỉ lệ CĐHSTTV là 5 mg.L-1 IAA kết hợp với 1 mg.L-1 BAP [63], 2,5 mg.L-1 BAP kết hợp với 1 mg.L-1 IAA [91] hay IAA và Kin đơn lẻ kích thích phát sinh chồi chính trực tiếp [92]
Ngoài ra, các cytokinin cũng được dùng cho cảm ứng phát sinh hình thái ở các loài thực vật hai lá mầm Loại cytokinin được sử dụng nhiều trong môi trường nuôi cấy là BAP, nhưng các cytokinin khác như Kin, zeatin và TDZ cũng cho kết quả tốt tuỳ thuộc vào loài thực vật Trong nuôi cấy phôi, nồng độ của các CĐHSTTV là rất quan trọng đối với phản ứng sinh trưởng tối ưu của mẫu cấy Khi nồng độ quá thấp sẽ không kích thích sinh trưởng, ngược lại nồng độ quá cao có thể gây độc cho mẫu… Các môi trường tăng sinh chứa BAP có thể thúc đẩy sự phân bào nhưng kìm hãm khả năng phát sinh phôi trong trường hợp ở cây Cà rốt Điều này có lẽ do những kích thích tăng sinh khối chọn lọc ở những thành phần của tế bào không phát sinh phôi Tuy nhiên hiệu quả tích cực của cytokinin đối với sự hình thành phôi đã được xác nhận trong nuôi cấy nhiều loài thực vật Zeatin có tác dụng kích thích tốt nhất đối với
sự hình thành phôi khi được đưa vào môi trường phôi hoá đã chứa mẫu nuôi cấy được
3 – 4 ngày tuổi [93] Nhìn chung, vai trò của cytokinin trong phát sinh phôi vô tính
là khác nhau giữa các loài thực vật phụ thuộc vào kiểu gene, điều kiện môi trường và thời điểm chúng được sử dụng Đối với rong Sụn khi bổ sung BA đơn hoặc kết hợp với NAA ở nồng độ 0,1 – 1,0 mg.L-1 kích thích phát sinh phôi vô tính [48] Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy, CĐHSTTV rất đa dạng và nồng độ sử dụng cũng rất khác nhau Vì vậy, cần phải nghiên cứu để tìm ra loại và nồng độ thích hợp ứng với mỗi giai đoạn phát triển hình thái của mẫu cấy
1.3 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và nhân giống rong biển trên thế giới
1.3.1 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái
Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của những loài rong có chứa carrageenan Tuy nhiên, hầu hết các tác giả tập trung nghiên cứu về rong Sụn, chỉ một số ít công trình nghiên cứu về loài rong Bắp sú Nội dung các nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề ảnh hưởng của môi trường như: Nhiệt độ, ánh sáng và phương pháp trồng đối với TĐTT và hàm lượng carrageenan (Bảng 1.1)
Trang 39Bảng 1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái các loài rong chứa carrageenan
tham khảo
denticulatum
Điều kiện phòng thí nghiệm
Điều kiện
nhiên
Phương pháp trồng bằng lồng lưới nổi, độ sâu 0,5 m,
104] Phương pháp trồng bằng túi lưới 26,51 ± 1,72°C,
Trang 40Thử nghiệm nuôi trồng rong bằng bè nổi
Sinh khối tăng gấp 8 lần sau 45 ngày nuôi
TĐTT: 3,69 – 3,76%/ngày
[105, 106]
Hồ phân với dịch chiết xuất thương mại rong nâu
Ascophyllum nodosum (AMPEP), độ sâu 50 – 100 cm
TĐTT: 3,1 – 5,6%/ngày Hàm lượng carrageenan: 33,3 – 44,65%
Hồ phân với dịch chiết xuất thương mại rong nâu
Hàm lượng carrageenan giảm so với