1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm soát glucose máu và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 790,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đái tháo đường là một bệnh lý phức tạp, mạn tính đòi hỏi vừa kiểm soát glucose máu vừa kết hợp kiểm soát làm giảm các yếu tố nguy cơ. Việc kiểm soát tốt glucose máu giúp ngăn ngừa và làm chậm diễn tiến của các biến chứng tim mạch, thận, võng mạc, thần kinh đái tháo đường. Đề tài được tiến hành nhằm đánh giá tình trạng kiểm soát glucose máu và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2.

Trang 1

KIỂM SOÁT GLUCOSE MÁU VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Lê Quang Minh, Nguyễn Nguyên Trang

Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng

DOI: 10.47122/vjde.2021.49.3

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đái tháo đường là một bệnh

lý phức tạp, mạn tính đòi hỏi vừa kiểm soát

glucose máu vừa kết hợp kiểm soát làm giảm

các yếu tố nguy cơ Việc kiểm soát tốt

glucose máu giúp ngăn ngừa và làm chậm

diễn tiến của các biến chứng tim mạch, thận,

võng mạc, thần kinh đái tháo đường Đề tài

được tiến hành nhằm đánh giá tình trạng

kiểm soát glucose máu và mối liên quan với

các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân

đái tháo đường típ 2 Đối tượng và phương

pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt

ngang ở 165 bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Thu thập các dữ liệu: chỉ số khối cơ thể,

vòng bụng, huyết áp, yếu tố nguy cơ tim

mạch của đái tháo đường, xét nghiệm

glucose máu, HbA1c, biland lipid máu Kết

quả: Glucose máu đói trung bình là 12,44 ±

6,79 mmol/L, nhóm bệnh nhân kiểm soát tốt

Glucose máu đói chiếm tỷ lệ 18,8%; Chỉ số

HbA1c trung bình là 8,88 ± 2,06 %, nhóm

bệnh nhân kiểm soát tốt HbA1c chiếm

21,8%; Có mối liên quan giữa thời gian phát

hiện đái tháo đường ≥10 năm và tình trạng

rối loạn lipid máu với tình trạng kiểm soát

glucose máu (p<0,05); Không có mối liên

quan giữa giới tính, tuổi ≥60, hút thuốc lá, ít

hoạt động thể lực, thừa cân béo phì, tăng

vòng bụng, tăng huyết áp, mức lọc cầu thận

ước tính <60 ml/phút/1,73 m2 với tình trạng

kiểm soát glucose máu (p>0,05) Kết luận:

Tỷ lệ bệnh nhân có kiểm soát glucose máu

tốt dựa vào glucose máu đói là 18,8% và dựa

theo HbA1c là 21,8% Có mối liên quan giữa

thời gian phát hiện đái tháo đường và rối

loạn lipid máu với tình trạng kiểm soát

glucose máu

Từ khóa: Đái tháo đường, Rối loạn lipid

máu, Yếu tố nguy cơ

ABSTRACT

Glycemic control and the relationship with cardiovascular risk factors in type 2

diabetic patients

Le Quang Minh, Nguyen Nguyen Trang

Danang University of Medical

Technology and Pharmacy Background: Diabetes is a complex,

chronic illness requiring both of glycemic control beyond multifactorial risk-reduction strategies Good glycemic control helps prevent and slow down the progression of cardiovascular, renal, retinal, neuropathy complications in diabetic patients The study was conducted to evaluate glycemic control and the relationship with cardiovascular risk

factors in type 2 diabetic patients Materials

and methods: Cross-sectional descriptive

study in 165 tips 2 diabetic patients, collected with body mass index, waist circumference, blood pressure, cardiovascular risk factors, blood glucose test, HbA1c, blood lipid biland

Results: The average fasting blood glucose was

12,44 ± 6,79 mmol/L, group of patients with good control of fasting blood glucose is 18,8%; The average HbA1c index was 8,88 ± 2,06%, group of patients with good control of HbA1c is 21,8%; There is a relationship between the time

to detect diabetes ≥10 years and dyslipidemia with glycemic control (p<0,05); There was no relationship between sex, age ≥60 years, smoking, physical inactivity, overweight and obesity, increased waist circumference, hypertension, estimated glomerular filtration rate <60 ml/min/1,73m2 with glycemic control

(p>0,05) Conclusions: The proportion of

patients with good glycemic control based on fasting blood glucose was 18,8% and based on HbA1c was 21,8% There is a relationship between the time to detect diabetes and dyslipidemia with blood glucose control

Trang 2

Key words: Diabetes mellitus,

Dyslipidemia, risk factors

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Nguyên

Trang

Ngày nhận bài: 4/7/2021

Ngày phản biện khoa học: 04/7/2021

Ngày duyệt bài: 28/7/2021

Email: nntrang@dhktyduocdn.edu.vn

Điện thoại: 0976100805

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn

tính, phức tạp, đòi hỏi sự chăm sóc y tế không

ngừng, vừa kết hợp kiểm soát làm giảm các

yếu tố nguy cơ vừa kiểm soát glucose máu [7]

Theo ước tính, năm 2017 hiện có khoảng 451

triệu người bị ĐTĐ trên thế giới, dự kiến đến

năm 2045 con số này sẽ đạt lên đến 693 triệu

người Và điều đặc biệt quan trọng là có đến

khoảng một nửa số bệnh nhân (49,7%) bị ĐTĐ

mà không được chẩn đoán [10] ĐTĐ cũng là

nguyên nhân trực tiếp dẫn đến 5 triệu ca tử

vong trên toàn cầu Hàng năm, chi phí cho các

dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người ĐTĐ

chiếm tới 5 - 10% tổng ngân sách y tế của mỗi

quốc gia, trong đó chủ yếu cho điều trị biến

chứng [10]

ĐTĐ là yếu tố nguy cơ lớn của các bệnh lý

tim mạch và các bệnh lý tim mạch cũng chính

là những nguyên nhân phổ biến nhất gây tử

vong ở bệnh nhân ĐTĐ [17] Trên thực tế lâm

sàng, cũng đã có quan điểm cho rằng “Đái tháo

đường cũng là bệnh lý tim mạch” [15] Các

biến chứng tim mạch hiện tại vẫn là nguyên

nhân hàng đầu của tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ

lệ tử vong ở cả bệnh nhân ĐTĐ típ 1 lẫn ĐTĐ

típ 2 [13], [16], [19] Các biến chứng tim mạch

ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 chịu ảnh hưởng của

yếu tố kiểm soát glucose máu, vì vậy nếu kiểm

soát tốt glucose máu thì các biến chứng tim

mạch sẽ giảm đi tới 50% [18] Kiểm soát

glucose máu chặt chẽ trên bệnh nhân ĐTĐ típ

2 sẽ giúp làm giảm tỉ lệ tử vong và mức độ tàn

phế lên tới 60 - 70% [22]

Với tần suất mắc bệnh ngày càng gia tăng

và xu hướng ngày càng trẻ hóa của ĐTĐ, đặc

biệt là ĐTĐ típ 2 [10], việc quản lý điều trị và

chăm sóc bệnh nhân ĐTĐ, kiểm soát tốt

glucose máu lại càng chiếm nhiều vai trò quan trọng Kiểm soát tốt glucose máu và quản lý các yếu tố nguy cơ tim mạch giúp làm giảm biến cố suy tim cũng như tỷ lệ tử vong liên quan đến tim mạch và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ĐTĐ Xuất phát từ các lí

do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên

cứu tình trạng kiểm soát glucose máu và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2” với 2 mục

tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng kiểm soát glucose máu

và đặc điểm các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

2 Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng kiểm soát glucose máu với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh bệnh và tiêu chuẩn loại trừ

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định ĐTĐ: Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) 2021, khi thỏa mãn ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:

+ Nồng độ Glucose huyết tương lúc đói (G0) ≥ 126 mg/dl ( ≥7 mmol/l) (Đói có nghĩa

là không được cung cấp đường trong vòng ít nhất 8 giờ) *(1) HOẶC

+ Nồng độ Glucose huyết tương 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống (G2) ≥200 mg/dl (≥11,1 mmol/l) Nghiệm pháp dung nạp glucose phải được thực hiện theo đúng mô hình của Tổ chức Y tế Thế giới, sử dụng 75 gam glucose hòa trong nước

*(2) HOẶC + HbA1c ≥6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm được thực hiện tại phòng xét nghiệm

sử dụng phương pháp đã được phê duyệt và chuẩn hóa theo phương pháp thực hiện trong nghiên cứu DCCT *(3) HOẶC

+ Nồng độ Glucose huyết tương bất kì trong ngày ≥ 200 mg/dl (≥11,1 mmol/l) kèm

Trang 3

theo các triệu chứng lâm sàng điển hình của

hội chứng tăng glucose máu hoặc của cơn tăng

glucose máu cấp

(*: nếu tăng glucose máu không rõ ràng thì

cần lập lại xét nghiệm của cùng một mẫu máu

hoặc lấy mẫu máu ở một thời điểm khác để xác

định chẩn đoán)

- Chẩn đoán ĐTĐ típ 2: Chẩn đoán ĐTĐ

type 2 dựa theo tiêu chuẩn của nhóm nghiên

cứu chiến lược về ĐTĐ típ 2 Châu Á - Thái

Bình Dương năm 2005 và ADA 2021 [7],[8]:

+ Tuổi khởi phát sau 30

+ Khởi bệnh kín đáo, triệu chứng lâm sàng

không rõ ràng

+ Cơ địa thường có béo phì

+ Tiền sử đã hay đang ổn định glucose máu

bằng chế độ ăn, thay đổi lối sống hoặc thuốc

viên hạ glucose máu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- ĐTĐ típ 1, các loại ĐTĐ khác có nguyên

nhân

- Bệnh nhân có các bệnh lí đi kèm khác ảnh

hưởng lên glucose máu: bệnh to đầu chi, hội

chứng Cushing, u tủy thượng thận, cường

aldosteron nguyên phát

- Bệnh nhân có các bệnh nhiễm trùng, bệnh

nặng khác kèm theo, bệnh nhân đang sử dụng

glucocorticoid

- Những bệnh nhân mất máu cấp hoặc mạn,

thiếu sắt, xuất huyết tiêu hoá, nhiễm sắc tố sắt,

tán huyết, một số bệnh huyết sắc tố ảnh hưởng

tới kết quả HbA1c

- Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng

01/2021 đến tháng 6/2021 tại khoa Nội Nội

tiết, Bệnh viện C Đà Nẵng

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu

2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Cỡ mẫu: Công thức tính cỡ mẫu:

Trong đó:

+ n: là cỡ mẫu ngẫu nhiên

+ Z: là trị số từ phân phối chuẩn, tùy thuộc

vào mức tin cậy mong muốn của ước lượng

Mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z = 1,96

+ p: là trị số mong muốn của tỷ lệ, ở đây là

tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát tốt glucose máu; chọn p = 30% (theo số liệu của chương trình Diabcare Việt Nam năm 2003, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát tốt glucose máu là 30%) [12] + c: là mức sai lệch cho phép, trong nghiên cứu chọn mức sai lệch cho phép là 7%

Từ công thức trên, chúng tôi tính được n ≈

165

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

2.2.4 Các biến số nghiên cứu

- Tuổi: Dùng bộ câu hỏi phỏng vấn, ghi năm sinh bệnh nhân và tính tuổi Đánh giá nguy cơ tim mạch tăng theo tuổi đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu, vì thế trong nghiên cứu này, chúng tôi chia đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) thành 2 nhóm tuổi: không nguy cơ khi < 60 tuổi và có nguy cơ khi ≥ 60 tuổi [11]

- Giới: Chia thành 2 nhóm là nam và nữ

- Thời gian phát hiện đái tháo đường (TGPHĐTĐ): Ghi nhận mốc thời gian bệnh nhân được chẩn đoán xác định ĐTĐ vào năm nào Tính TGPHĐTĐ bằng cách lấy năm nghiên cứu 2021 trừ đi năm được chẩn đoán, đơn vị tính là năm Đánh giá dựa theo các nghiên cứu lớn bệnh nhân ĐTĐ típ 2, biến chứng tim mạch thường xảy ra nhiều hơn tại thời điểm sau 10 năm Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân 2 nhóm: không có nguy cơ khi TGPHĐTĐ < 10 năm và có nguy cơ khi TGPHĐTĐ ≥ 10 năm [11]

- Hút thuốc lá: Dùng bộ câu hỏi để phỏng vấn và ghi nhận tình trạng hút thuốc lá Đánh giá theo Hội Tim mạch Châu Âu/Hiệp hội nghiên cứu Đái tháo đường Châu Âu (ESC-EASD) năm 2019, phân làm 2 nhóm:

+ Không hút thuốc lá: thời gian ngưng hút thuốc lá ≥ 12 tháng

+ Hút thuốc lá: đang hút hay thời gian ngưng hút thuốc lá < 12 tháng [11]

- Hoạt động thể lực: Dùng bộ câu hỏi và phỏng vấn ghi nhận có hay không có hoạt động thể lực, thời gian mỗi lần tập và số ngày tập trung bình trong 1 tuần Đánh giá hoạt động thể lực là duy trì tập thể dục đều đặn, tối thiểu 150 phút/tuần, ít nhất 3 ngày/tuần và

Trang 4

không quá 2 ngày liên tiếp không tập Chúng

tôi phân nhóm như sau:

+ Ít hoạt động: khi không tập luyện, tập

luyện không đều đặn hay thời gian tập không

đủ thời gian

+ Có hoạt động: khi tập luyện đều đặn, đủ

thời gian theo khuyến cáo [7]

- Chỉ số khối cơ thể (BMI): Dùng cân bàn

SMIC có gắn thước đo chiều cao với đơn vị đo

cân nặng là kilôgam và chiều cao là mét Cách

đo: bệnh nhân mặc quần áo mỏng, bỏ dép,

không mang theo vật dụng trên người, bước

nhẹ lên giữa bàn cân, đứng thẳng lưng, mắt

nhìn thẳng về phía trước, không dựa lưng, ghi

nhận chỉ số cân nặng của bệnh nhân thể hiện

trên mặt đồng hồ Sau đó, đứng thẳng lưng,

điều chỉnh 2 gót chân và mông áp sát, chạm

nhẹ vào mặt sau của cân, mắt nhìn thẳng về

phía trước, kéo từ từ thước đo cho đến khi

thước định vị chạm nhẹ và nằm ngang đỉnh đầu, ghi nhận chiều cao Cách đánh giá: Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính theo công thức:

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới

đề nghị cho khu vực châu Á Thái Bình Dương, chia BMI làm 2 nhóm:

+ Thừa cân, béo phì: BMI ≥ 23 kg/m2 + Không thừa cân: BMI < 23 kg/m2 [4]

- Vòng bụng: Dùng thước dây không chun giãn có chia vạch Cách đo: bệnh nhân đứng thẳng, hai bàn chân dạng, thở đều, đo vào cuối thì thở ra để tránh co cơ, ngang qua mào chậu trước trên Đánh giá theo tiêu chuẩn vòng bụng của người Châu Á, để chia nhóm:

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá VB dành cho người châu Á [4]

- Huyết áp động mạch: Cho bệnh nhân ngồi nghỉ, dựa lưng ghế khoảng 10 phút trước khi đo, đo

2 tay, tối đa không quá 5 phút, lấy trung bình cộng Cách đo: máy đo huyết áp đồng hồ hiệu ALPKA-2 (Nhật) có băng quấn tay đạt tiêu chuẩn, đặt ngang mức tim ở tư tế ngồi và mép dưới băng quấn trên lằn khuỷu 3 cm kết hợp đặt ống nghe ở vị trí động mạch cánh tay, để xác định huyết áp tâm thu và tâm trương Chẩn đoán và phân loại tăng huyết áp dựa theo khuyến cáo của Hội Tăng huyết áp Thế giới (ISH) 2020 [23] Chia thành 2 nhóm:

+ Không THA: HATT < 140 mmHg và HATTr < 90 mmHg

+ THA: HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg

- Bilan lipid máu: Lấy mẫu máu tĩnh mạch của bệnh nhân buổi sáng, lúc đói (cách bữa ăn trước

ít nhất 8 giờ), được thực hiện trên máy sinh hóa tự động, định lượng nồng độ các thành phần sau: Cholesterol toàn phần (TC) (mmol/L), TG (mmol/L), LDL-C (mmol/L), HDL-C (mmol/L) Công thức Friedewald tính nồng độ LDL-C theo mmol/L:

LDL-C = (TC) - (HDL-C) - (TG/2,2) [49]

Đánh giá RLLP máu theo khuyến cáo của Bộ Y tế (2014) [2]

Bảng 2.2 Đánh giá bilan lipid máu theo khuyến cáo của Bộ Y tế [2]

TC (mmol/L) ≤ 5,2 > 5,2

TG (mmol/L) ≤ 1,7 > 1,7

LDL-C (mmol/L) ≤ 2,6 > 2,6

HDL-C (mmol/L) ≥ 1,0 <1,0

Cân nặng (kg) [Chiều cao (m)]2

BMI =

Trang 5

Chia 2 nhóm:

+ RLLP máu: ít nhất 1 trong 4 chỉ số lipid

máu có giá trị bất thường

+ Không RLLP máu: cả 4 chỉ số lipid máu

ở mức bình thường

- Mức lọc cầu thận ước tính (eGFR): Rút 2

ml máu tĩnh mạch cùng lúc với các xét nghiệm

khác, gởi phòng xét nghiệm định lượng

creatinine huyết thanh bằng máy tự động Đo

nồng độ creatinin huyết thanh (mg/dL) và áp

dụng mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) theo

công thức MDRD (Modification of Diet in

Renal Disease study):

eGFR (ml/phút/1,73 m²) =

175×(Creatinin(mg/dL))-1,154 ×(Tuổi)-0,203 ×

(0,742 nếu là nữ)

Chia 2 nhóm theo ESC-EASD 2019: + Không có nguy cơ: eGFR ≥ 60 ml/phút/1,73 m2

+ Có nguy cơ: eGFR < 60 ml/phút/1,73 m2

[11]

- Glucose máu đói (G0) và HbA1c: Cách thực hiện: lấy 2 ml máu tĩnh mạch của bệnh nhân buổi sáng, lúc đói (cách bữa ăn trước ít nhất 8 giờ), đựng vào ống nghiệm đã chuẩn bị, đưa đến khoa xét nghiệm thực hiện tách huyết tương và đo nồng độ bằng phương pháp so màu dùng enzyme trên máy sinh hóa tự động

Đánh giá theo khuyến cáo của ADA 2021 [7]:

Bảng 2.3 Mục tiêu kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ theo ADA 2021 [7]

G0 mmol/L 4,4 - 7,2 > 7,2 hoặc < 4,4

Nghiên cứu của chúng tôi chọn HbA1c là

chỉ số được dùng để đánh giá mối liên quan

với các YTNC tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ típ

2 vì những lý do sau:

+ Nồng độ HbA1c là dự báo chính của các

biến chứng vi mạch ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 +

Nồng độ G0 không liên kết chặt chẽ với các

biến chứng vi mạch như HbA1c

+ Phản ánh nồng độ glucose máu dài hạn

+ Độ biến thiên sinh học nhỏ, phản ánh

mức glucose máu “thực” Ngược lại, nồng độ

G0 biến thiên rất lớn theo thời gian trong ngày

ở cùng một người và giữa những đối tượng

khác nhau

+ Không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cấp

thời: stress, gắng sức…Ngược lại, nồng độ G0

dễ bị ảnh hưởng bới các yếu tố trên [21]

2.2.5 Tiến trình nghiên cứu

Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại khoa Nội Nội tiết

thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn

loại trừ được mời tham gia vào nghiên cứu, sẽ

lần lượt được phỏng vấn để khai thác tiền sử, thăm khám lâm sàng, làm cái xét nghiệm cần thiết, tra cứu hồ sơ bệnh án Tất cả dữ liệu được ghi vào phiếu thu thập số liệu đã được

mã hóa

2.2.6 Xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2016

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Khoa học và Y đức của Trường Đại học

Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng và Bệnh viện C

Đà Nẵng

Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và tự nguyện tham gia trong quá trình nghiên cứu, đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Trang 6

2.2.8 Sơ đồ nghiên cứu

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Tình trạng kiểm soát glucose máu và đặc điểm các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

3.1.1 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2

55,8%

Nữ

Biểu đồ 3.1 Phân bố ĐTNC theo giới tính

Nhận xét: Nhóm bệnh nhân mắc ĐTĐ típ 2 là nam giới chiếm tỷ lệ 55,8% và nữ giới chiếm 44,2%

Bảng 3.1 Phân bố ĐTNC theo các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống

Ít hoạt động thể lực Có 41 24,8

Nhận xét: Nhóm bệnh nhân hút thuốc lá chiếm tỷ lệ 30,9%, nhóm bệnh nhân ít hoạt động thể

lực chiếm 24,8%

Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ

Khai thác thói quen, tiền

sử:

- TGPHĐTĐ

- Hút thuốc lá

- Ít hoạt động thể lực

Khám lâm sàng:

- Cân nặng

- Chiều cao

- VB

- HATT, HATTr

Cận lâm sàng:

- G0, HbA1c

- TC, TG, LDL-C,

HDL-C

- Creatinin máu

- Creatinine máu

1 Mô tả tình trạng kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2

2 Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng kiểm soát glucose máu với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Trang 7

Bảng 3.2 Phân bố ĐTNC theo các yếu tố nguy cơ tim mạch về thời gian

Nhóm tuổi < 60 21 12,7 69,19 ± 8,90

≥ 60 144 87,3 TGPHĐTĐ

(năm) < 10 ≥ 10 104 61 63,0 37,0 8,44 ± 8,19

Nhận xét: Độ tuổi trung bình của ĐTNC là 69,19 ± 8,90 tuổi Trong đó, nhóm bệnh nhân ≥60

tuổi chiếm tỷ lệ 87,3%, nhóm bệnh nhân <60 tuổi chiếm tỷ lệ 12,7% TGPHĐTĐ trung bình là 8,44 ± 8,19 năm Trong đó, nhóm có TGPHĐTĐ ≥10 năm chiếm 37%, nhóm có TGPHĐTĐ <10 năm chiếm 63%

Bảng 3.3 Phân bố ĐTNC theo BMI và VB

BMI (kg/m2) Thừa cân béo phì 101 61,2 24,02 ± 3,24

Không thừa cân 64 38,8

VB (cm) Tăng VB 84 50,9 87,42 ± 7,33

Không tăng VB 81 49,1

Nhận xét: BMI trung bình của ĐTNC là 24,02 ± 3,24 kg/m2 Trong đó, nhóm bệnh nhân thừa cân béo phì chiếm tỷ lệ 61,2%, nhóm không thừa cân béo phì chiếm 38,8% VB trung bình là 87,42 ± 7,33 cm Trong đó, nhóm tăng VB chiếm 50,9%, nhóm không tăng VB chiếm 49,1%

43,6%

56,4%

0

10

20

30

40

50

60

Biểu đồ 3.2 Phân bố ĐTNC theo tình trạng THA

Nhận xét: Nhóm bệnh nhân THA chiếm tỷ lệ 43,6%, nhóm bệnh nhân không THA chiếm

56,4%

Bảng 3.4 Phân bố ĐTNC theo bilan lipid máu

TC (mmol/L) Bình thường 110 72,8 4,48 ± 1,24

Bất thường 41 27,2

TG (mmol/L) Bình thường 79 52,3 2,03 ± 1,25

Bất thường 72 47,7

Trang 8

LDL-C ( mmol/L) Bình thường 122 80,8 2,31 ± 1,31

Bất thường 29 19,2 HDL-C (mmol/L) Bình thường 96 63,6 1,18 ± 0,35

Bất thường 55 36,4

Nhận xét: Giá trị trung bình của các chỉ số lipid máu lần lượt là: TC 4,48 ± 1,24 mmol/L; TG

2,03 ± 1,25 mmol/L; LDL-C 2,31 ± 1,31 mmol/L; HDL-C 1,18 ± 0,35 mmol/L

81,5%

18,5%

RLLP máu

Biểu đồ 3.3 Phân bố ĐTNC theo tình trạng RLLP máu

Nhận xét: Nhóm bệnh nhân RLLP máu chiếm tỷ lệ 81,5%, nhóm bệnh nhân không RLLP máu

chiếm 18,5%

Bảng 3.5 Phân bố ĐTNC theo eGFR

eGFR

(ml/phút/1,73 m2)

< 60 23 13,9

86,44 ± 28,61

≥ 60 142 86,1

Nhận xét: eGFR trung bình của ĐTNC là 86,44 ± 28,61 ml/phút/1,73 m2 Trong đó, nhóm có eGFR < 60 ml/phút/1,73 m2 chiếm tỷ lệ 13,9%

3.1.2 Tình trạng kiểm soát glucose máu

Bảng 3.6 Đặc điểm kiểm soát G0 và HbA1c của ĐTNC

Nhận xét: Chỉ số G0 trung bình của ĐTNC là 12,44 ± 6,79 mmol/L Trong đó, nhóm bệnh nhân kiểm soát tốt G0 chiếm tỷ lệ 18,8%, nhóm bệnh nhân không kiểm soát tốt G0 chiếm 81,2% Chỉ số HbA1c trung bình là 8,88 ± 2,06 % Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát tốt HbA1c chiếm 21,8%,

tỷ lệ bệnh nhân không kiểm soát tốt HbA1c chiếm 78,2%

Tiêu chuẩn Kiểm soát tốt Không kiểm soát tốt TB ± ĐLC

G0 (mmol/L) 31 18,8 134 81,2 12,44 ± 6,79 HbA1c (%) 36 21,8 129 78,2 8,88 ± 2,06

Trang 9

3.2 Mối liên quan giữa tình trạng kiểm soát glucose máu với các yếu tố nguy cơ tim mạch

ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tình trạng kiểm soát glucose máu và các YTNC tim mạch

p

Hút thuốc lá Không 26 72,2 88 68,2 >0,05

Có 10 27,8 41 31,8

Ít hoạt động thể

lực

Không 25 69,4 99 76,7

>0,05

Có 11 30,6 30 23,3 Nhóm tuổi < 60 2 5,6 19 14,7 >0,05

≥ 60 34 94,4 110 85,3 TGPHĐTĐ

(năm)

< 10 31 86,1 73 56,6

<0,05

≥ 10 5 13,9 56 43,4 BMI Không 13 36,1 51 39,5 >0,05

Có 23 63,9 78 0,5 Tăng vòng bụng Không 17 47,2 64 49,6 >0,05

Có 19 52,8 65 50,4 THA Không 23 63,9 70 54,3 >0,05

Có 13 36,1 59 45,7 RLLP Không 13 38,2 15 12,8 <0,05

Có 21 61,8 102 87,2 eGFR < 60

ml/phút/1,73 m2

Không 31 86,1 111 86,0

>0,05

Có 5 13,9 18 14,0

Nhận xét: Tình trạng kiểm soát glucose máu có mối liên quan với TGPHĐTĐ ≥ 10 năm và

RLLP máu (p<0,05) Tình trạng kiểm soát glucose máu không có mối liên quan với giới tính, tuổi

≥60, hút thuốc lá, ít hoạt động thể lực, thừa cân béo phì, tăng VB, THA, eGFR <60 ml/phút/1,73

m2

4 BÀN LUẬN

4.1 Tình trạng kiểm soát glucose máu và

đặc điểm các yếu tố nguy cơ tim mạch ở

bệnh nhân đái tháo đường típ 2

4.1.1 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ tim

mạch

- Giới: Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ típ 2 là nam

giới nhiều hơn so với nữ giới, cụ thể nam giới

chiếm 55,8% còn nữ giới chiếm 44,2% (Biểu

đồ 3.1) Kết quả này không tương đồng với

một số nghiên cứu ở Việt Nam là tỷ lệ nữ giới

mắc ĐTĐ thường cao hơn nam giới Nghiên

cứu của tác giả Trần Thị Trúc Linh (2016), tỷ

lệ nữ giới là 85,3% còn nam giới là 14,7% [5]

Kết quả của Thạch Thị Phola (2021), 64% nữ

và 36% nam [6] Tác giả Võ Thị Ngọc Dung

(2021) cũng ghi nhận tỷ lệ ĐTĐ ở nữ giới cao hơn nam giới [3] Bệnh viện C Đà Nẵng đa phần các bệnh nhân là cán bộ công viên chức hưu trí, với số lượng cán bộ nhà nước là nam giới chiếm phần nhiều, nên đây có thể là yếu tố gây ra sự khác biệt kết quả nghiên cứu

- Tuổi: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 69,19 ± 8,90 tuổi (Bảng 3.2) Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Trúc Linh (2016) là 65,60 ± 9,90 tuổi [5] Tỷ lệ bệnh nhân ≥ 60 tuổi chiếm 87,3% cao hơn so với nhóm < 60 tuổi chiếm tỷ lệ 12,7% (Bảng 3.2) và cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Trúc Linh (2016), tỷ lệ bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên chiếm 68,1% [5] Khác biệt về độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi

Trang 10

phù hợp với xu hướng tỷ lệ bệnh ĐTĐ gia tăng

cùng với tuổi theo dự đoán của Liên đoàn

ĐTĐ Thế Giới [10]

- Thời gian phát hiện đái tháo đường: Giá

trị trung bình của TGPHĐTĐ là 8,44 ± 8,19

năm (Bảng 3.2) Thời gian này là dài hơn so

với trong nghiên cứu của Thạch Thị Phola

(2021) với thời gian trung bình là 6,92 ± 5,06

năm, Võ Thị Ngọc Dung (2021) là 7,26 ± 6,16

năm [3],[6] Tỷ lệ nhóm bệnh nhân có

TGPHĐTĐ ≥ 10 năm chiếm 37% (Bảng 3.2)

Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Trần

Thị Trúc Linh (2016) với 21,6% bệnh nhân có

TGPHĐTĐ ≥ 10 năm [5] TGPHĐTĐ của

nghiên cứu cao hơn có lẽ do các đối tượng

nghiên cứu có kiến thức tốt về bệnh, có ý thức

tầm soát phát hiện sớm bệnh

- Hút thuốc lá: Tỷ lệ hút thuốc lá trong

nghiên cứu là 30,9%, thấp hơn so với nhóm

không hút thuốc lá (Bảng 3.1) Nghiên cứu của

chúng tôi cho kết quả tương đồng so với điều

tra quốc gia về YTNC năm 2008 tại Thụy Điển

là 22% bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có hút thuốc lá

hay trong nghiên cứu LOD-DIABETES (2011)

đánh giá các YTNC truyền thống bệnh nhân

ĐTĐ típ 2, tỷ lệ hút thuốc lá chiếm 23,5% -

25% [13] Nghiên cứu của Huỳnh Lê Thái Bảo

(2021), tỷ lệ hút thuốc lá là 21,2% [1]

- Ít hoạt động thể lực: Tỷ lệ ít hoạt động

thể lực trong nghiên cứu là 30,3%, thấp hơn

nhiều so với nhóm có hoạt động thể lực (Bảng

3.1) Kết quả này tốt hơn so với nghiên cứu

của Trần Thị Trúc Linh (2016) với 67,3% ít

hoạt động thể lực [5] Nghiên cứu của

Ruckert I.M và cộng sự (2012) trên 240 bệnh

nhân ĐTĐ típ 2, tỷ lệ ít hoạt động thể lực

chiếm 71,2% [20] Giải thích lí do này, đa

phần các đối tượng trong nghiên cứu là cán

bộ trí thức, họ nhận thức được lợi ích của việc

hoạt động thể lực đều đặn đối với tình trạng

bệnh của mình Đồng thời, họ cũng là tầng

lớp hưu trí, có thể dành ra nhiều thời gian cho

việc hoạt động thể lực

- Chỉ số khối cơ thể và vòng bụng: Giá trị

trung bình của BMI trong nghiên cứu là 24,02

± 3,24 kg/m2, tỷ lệ thừa cân béo phì (BMI ≥

23 kg/m2) là 61,2% (Bảng 3.3) Trong khi đó,

giá trị trung bình của VB là 87,42 ± 7,33 cm,

tỷ lệ tăng VB trong nghiên cứu là 50,9% (Bảng 3.3) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Dung (2021) với lần lượt BMI trung bình là 24,34 ± 3,09 kg/m2, tỷ lệ thừa cân béo phì là 66,5%, VB trung bình 82,27 ± 1,38 cm và tỷ lệ tăng VB là 45% [3]

- Huyết áp động mạch: Kết quả nghiên cứu chúng tôi ghi nhận 43,6% bệnh nhân THA và 56,4% bệnh nhân không THA (Biểu đồ 3.2) Nghiên cứu của Trần Thị Trúc Linh (2016), Võ Thị Ngọc Dung (2021) tỷ lệ đạt mục tiêu huyết

áp < 140/90 mmHg khá thấp, lần lượt là 40,5%

và 20% [3],[5]

- Lipid máu: Tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán RLLP máu là 81,5% (Biểu đồ 3.3) Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tốt hơn

so nghiên cứu của Trần Thị Trúc Linh (2016), với tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán RLLP máu là 89,2% [5]

- Mức lọc cầu thận ước tính: Trong nghiên cứu, giá trị eGFR trung bình là 86,44 ± 28,61 ml/phút/1,73 m2, tỷ lệ bệnh nhân có eGFR <

60 ml/phút/1,73 m2 chiếm 13,9% (Bảng 3.5) Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương đồng với nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Dung (2021), ghi nhận eGFR trung bình là 84,51 ± 2,75 ml/phút/1,73 m2 và eGFR < 60 ml/phút/1,73 m2 chiếm tỷ lệ 17,5% [3]

4.1.2 Tình trạng kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận giá trị trung bình G0 là 12,44 ± 6,79 mmol/L và 81,2% bệnh nhân không kiểm soát tốt G0; HbA1c trung bình là 8,88 ± 2,06 % và 78,2% không kiểm soát tốt HbA1c (Bảng 3.6) Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương đồng so với nghiên cứu của Trần Thị Trúc Linh (2016), ghi nhận giá trị trung bình G0 là 11,29 ± 5,61 mmol/L, 74,1% không đạt mục tiêu G0; HbA1c trung bình là 8,36 ± 2,49 % và 66,4% không đạt mục tiêu HbA1c [5] Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ kiểm soát tốt glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 vẫn còn thấp Các nghiên cứu của Thạch Thị Phola (2021), Võ Thị Ngọc Dung (2021), tỷ lệ kiểm soát kém HbA1c lần lượt là 60% và 55,1% [3],[6] Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi,

Ngày đăng: 18/02/2022, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w