- Trong bài luận văn tốt nghiệp trung học của Mác, người ta có thể nhận thấy được những tư tưởng nhân đạo sơ khai về phương hướng thực hiện chúng - Mác viết: “Chúng ta không phải bao giờ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI:
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN THẾ GIỚI QUAN TỪ DUY TÂM SANG DUY VẬT
TỪ CHỦ NGHĨA DÂN CHỦ TƯ SẢN SANG
CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ts Nguyễn Phương Thành
SINH VIÊN THỰC HIỆN : 1) Ngô Thị Mỹ Linh - 1656070052
2)Lưu Tống Khánh Linh - 1656070050 LỚP: Chủ nghĩa xã hội khoa học 2
Trang 3-Phần
1-CÁC MÁC (05/05/1818 – 14/03/1883) VÀ PHRIĐRÍCH
ĂNGGHEN (28/10/1820 – 05/08/1895) – NHỮNG NHÀ NHÂN ĐẠO CHỦ
NGHĨA Ngay từ lúc thiếu thời, Mác và Ăngghen – những tư tưởng đầu tiên chưa phải
là những tư tưởng triết học, kinh tế học hoặc xã hội học mà là tư tưởng nhân đạo còn mang tính chung chung
- Trong bài luận văn tốt nghiệp trung học của Mác, người ta có thể nhận thấy được những tư tưởng nhân đạo sơ khai về phương hướng thực hiện chúng
- Mác viết: “Chúng ta không phải bao giờ cũng có thể chọn được cái nghề mà chúng ta mong muốn: các quan hệ của chúng ta trong xã hội đến chừng mực nào
đó đã bắt đầu được xác định ngay từ trước khi chúng ta có thể tác động quyết định đối với các quan hệ đó”
- Cái mầm của phép biện chứng cũng đã bắt đầu hé mở, Mác đã sớm nhận thấy mặc dù chưa có cơ sở khoa học đầy đủ về sự ràng buộc giữa con người và môi trường chung quanh, giữa cá nhân và xã hội, giữa chủ thể và khách thể
- Đến khi “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”(1848) ra đời với luận điểm cuộc đấu tranh giai cấp đã phát triển đến một giai đoạn mà giai cấp vô sản không thể
tự giải phóng nếu không đồng thời giải phóng vĩnh viễn toàn xã hội thoát khỏi tình trạng phân chia giai cấp, áp bức, bóc lột và đấu tranh giai cấp, thì tư tưởng nhân đạo của Mác Ăngghen mới thể hiện rõ tính giai cấp và tính hiện đại
- Năm 1841, khi viết luận văn tiến sĩ với đề tài “Sự khác nhau giữa triết học về
tự nhiên của Đêmôcrit và Êpiquya” Mác còn đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm Mác khẳng định: “Chủ nghĩa duy tâm không phải là một sự sáng tạo đơn thuần của trí tưởng tượng, mà là một chân lý”
Mác không tán thành triết học về tự nhiên của Đêmôcrit vì ở đâu cũng chỉ thấy tính tất yếu của tự nhiên đối với con người mà không thấy khả năng chủ quan của con người đối với giới tự nhiên Còn triết học về tự nhiên của Êpiquya thì bác bỏ định luận của Đêmôcrit và vạch ra khả năng của con người
có thể hành động tự do
Đồng thời Mác cũng phê phán Êpiquya về quan niệm tự do tuyệt đối của ông, tách hẳn con người ra khỏi môi trường khách quan, không thấy mối quan
hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu, giữa con người và thế giới tự nhiên, giữa con người và đời sống xã hội Mác cho rằng tự do phải được đặt trong mối quan
hệ với tất yếu, con người không thể tự cô lập và đối lập với thế giới bên ngoài,
Trang 4bị thế giới bên ngoài chi phối, đồng thời lại có khả năng tác động lại thế giới bên ngoài
=> Là bước đầu Mác thấy được, chỉ có thể có tự do nếu con người tiếp xúc trực tiếp với tự nhiên và xã hội, có quan hệ với cuộc sống của nhân quần Điểm hạn chế trong tư tưởng của Mác lúc này là chưa quan niệm được rằng, mối quan hệ giữa con người và thế giới dưới dạng hoạt động thực tiễn mới là quan trọng Từ những tư tưởng về tự do sơ khai trong lĩnh vực triết học làm cơ sở cho việc hình thành những tư tưởng tự
do của Mác trong lĩnh vực chính trị sau này.
- Mác xuất thân từ một gia đình tiểu tư sản trí thức tiến bộ, còn Ăngghen xuất thân từ một gia đình tư sản ngoan đạo và lạc hậu Gia đình có ảnh hưởng sâu sắc đến Ăngghen thời trẻ về mặt tôn giáo Nhưng từng bước, giữa tín ngưỡng tôn giáo và tư tưởng của Ăgnghen âm ỉ những mâu thuẫn giữa đức tin và lòng hoài nghi, giữa sự thật và giả dối khi nhìn vào đời sống hiện thực của quê hương nơi ông sinh ra Đặc biệt là tình trạng đối nghịch giữa giàu sang của một thiểu số những chúa đất, những tên chủ tư sản một bên; và bên khác là cảnh nghèo khổ, khốn cùng của đông đảo những người lao động
- Ở vùng Rênani, những tiến bộ của nền công nghiệp lớn quyết định sự hình thành những đội ngũ đầu tiên của giai cấp vô sản hiện đại, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã bắt đầu bộc lộ rõ, những cuộc xung đột của người lao động và giới chủ đã gây cho Ăngghen một ấn tượng sâu sắc
- Mác đã sớm thấy cần phải có triết học để tìm hiểu đời sống, Ăngghen lại từ đời sống thực tế mà thấy cần phải có triết học Cuốn “ Đời sống của chúa
Giêduy do Đavít Xtrauxơ (1835) giúp Ăngghen đoạn tuyệt với tôn giáo và gợi
ý cho ông tìm đến triết học Heghen
=> Mác và Ăngghen muốn hành động độc lập và tự do vì hạnh phúc của con người.
Trang 5-PHẦN
2-CÁC MÁC VÀ PH ĂNGGHEN:
SỰ CHUYỂN HƯỚNG TỪ LẬP TRƯỜNG DÂN CHỦ CÁCH
- Giai đoạn trước khi trở thành những người cộng sản, Mác và Ăngghen đều là những người mang tinh thần dân chủ cách mạng
- Ở hai ông, song song với quá trình chuyển biến từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật là quá trình chuyển biến từ lập trường dân chủ - cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa Là quá trình hình thành từng bước những cơ sở triết học cho những tư tưởng và quan điểm của hai ông về chủ nghĩa cộng sản
- Trong thời kỳ còn là những nhà dân chủ cách mạng, Mác và Ăngghen còn chịu ảnh hưởng triết học duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc Hai ông đều có ý thức đấu tranh vì quyền tự do, dân chủ cho mọi người, không phải chỉ bằng lý luận, phê phán mà bằng cả quá trình thực tiễn; không tán thành khuynh hướng hoạt động tư biện thuần túy của những người thuộc trường phái này
- Năm 1842, đánh dấu hoạt động thực tiễn của Mác bằng công tác báo chí, Mác càng thấy rõ yêu cầu của cuộc sống tự do ( không thể có đời sống chính trị tự do,nếu Mác không có quyền đại diện của nhân dân, quyền đại diện đó cần cho
xã hội giống như không khí cần cho con người) Về mặt tư tưởng, Mác không chỉ đòi quyền tự do báo chí mà còn cho rằng việc bóp nghẹt quyền tự do báo chí
là chính sách Nhà nước Phổ quyết định
=> Mác bắt đầu có một sự chệch hướng so với những quan niệm
cổ truyền về Nhà nước.( Mác thừa nhận Nhà nước là hiện thân của lý tính, của trật tự, công lý vĩnh cửu nhưng lúc này ông cho rằng Nhà nước không phải là cơ quan đại biểu quyền lợi cho nhân dân nói chung mà chỉ cho một bộ phận trong nhân dân, tức là của một số ít người có của mà thôi) => Quyền tự do là của những người có của cải chứ không phải là của nhân dân nói chung.
- Từ thực tế sinh động của hiện thực xã hội, Mác bắt đầu thấy được tính chất của Nhà nước Phổ lúc bấy giờ là như thế nào chính sách bất công của chế độ quân chủ quân chủ chuyên chế, cảnh tương phản giữa kẻ giàu và người nghèo Mác cho rằng biểu hiện của chính trị trước hết là Nhà nước, triết học cần phải tiếp xúc và tác động vào hiện thực xã hội của thời đại, triết học không thể đứng biệt lập ngoài xã hội, triết học cần can thiệp vào thế sự, Nhà nước Từ đó Mác
Trang 6đã nêu lên một quan điểm chính trị quan trọng là phải tách Nhà nước ra khỏi nhà thờ.Mác vạch ra tính chất bất công của Nhà nước Phổ, tính chất giai cấp, thái độ thông cảm sâu sắc với quần chúng nhân dân nghèo, bênh vực họ và lên
án chính sách vô nhân đạo của Nhà nước
- Mác ví người nông dân nghèo chẳng khác gì một cành củi khô đã lìa khỏi lòng đất, còn chủ rừng là rừng cây bắt rễ sâu vào lòng đất
=> Mác đòi cho người nông dân có quyền công dân.
- Nhà nước là đại biểu cho quyền tư hữu, là nguyên nhân của tình trạng nghèo khổ của quần chúng -> Mác đã vạch ra tính chất giai cấp, tính chất áp bức, bóc lột của Nhà nước mặc dù chưa có đầy đủ cơ sở duy vật về lịch sử, chỉ mới theo quan điểm pháp lý và đạo đức
=> Đó là những quan điểm dân chủ - cách mạng
- Năm 1843, với tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen” Mác đã tỏ thái độ dứt khoát với chủ nghĩa duy tâm của Hêghen về vấn
đề nhà nước Đánh dấu sự thanh toán bước dầu của Mác với những quan niệm của Hêghen về vấn đề nhà nước nói riêng và về triết học duy tâm nói chung
- Chịu ảnh hưởng của những quan điểm duy vật của Phoiơbắc , Mác cho rằng không phải nhà nước có trước xã hội mà chính xã hội là cơ sở hiện thực trên đó Nhà nước được xây dựng lên Khẳng định tính tịch sử của các xã hội đồng thời cũng khẳng định tính lịch sử của Nhà nước
Mác cho rằng sự tha hóa bản chất con người vào Nhà nước là do hậu quả của chế độ tư hữu Do đó muốn xóa bỏ tình trạng mất nhân tính của con người thì cần phải thay đổi ngay nền tảng của Nhà nước-chế độ tư hữu
=> Mác ngày càng tiến gần đến với những quan điểm cộng sản chủ nghĩa.
- Còn với Ăngghen, cuốn “ Đời sống của chúa Giêduy Crít” đã ảnh hưởng đến
sự chuyển biến tư tưởng của ông và đưa ông đến với Hêghen Ông sớm tỏ ra không thõa mãn với chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, trước khi gặp Mác ông còn chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng dân chủ dân chủ cách mạng của Lútvích Bớcnơ Những bài viết của Bớcnơ phê phán những nhà tư tưởng có khuynh hướng rời bỏ thực tiễn và ẩn mình trong lý luận thuần túy, kêu gọi đấu tranh cho
tự do và dân chủ đã làm rung động mạnh mẽ tâm hồn của Ănghen Ăngghen đã sớm nhìn thấy sự cần thiết của tính thống nhất giữa khoa học và đời sống, giữa triết học và chính trị, tư duy và hành động
Trang 7- Trong tác phẩm “Những bức thư từ Vuppéctan”, Ăngghen nói lên sự căm ghét của ông đối với quân chủ, mối thông cảm sâu sắc của ông đối với nhân dân lao động bị áp bức
=> Ăngghen là một người dân chủ cách mạng.Ông nêu ra khẩu hiệu chống chế độ phong kiến và những đặc quyền, đặc lợi của bọn quý tộc là “ thủ tiêu các đẳng cấp! Đấu tranh cho một dân tộc thống nhất gồm những công dân bình đẳng về quyền lợi ”
- Những tư tưởng dân chủ cách mạng của ông đã làm ông trở nên xa cách với bạn bè của mình hơn, nhưng không lâu sau đó ông gặp Mác và hai người trở thành đôi bạn chiến đấu suốt đời cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân hiện đại
- Một cách khái quát, lập trường dân chủ cách mạng của hai ông là lập trường xoá bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, xóa bỏ các đặc quyền, đặc lợi phong kiến; tách nhà nước ra khỏi nhà thờ; đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân; đòi quyền lợi ruộng đất cho nông dân, bằng một cuộc cách mạng xã hội
- Giai đoạn từ năm 1844, bắt đầu thời kỳ Mác và Ăngghen chuyển sang lập trường duy vật và cộng sản chủ nghĩa gần như đồng thời
- Tháng 10/1843, Mác rời Đức sang Pari – nơi có nền công nghiệp tập trung phát triển, một không khí cách mạng sôi sục nhằm đi sâu vào phong trào công nhân và hoạt động cách mạng
- Tháng 10/1942, ông gặp Mác lần thứ nhất tại Renani, thời gian ở Anh là thời gian rất có ích với Ăngghen, mở ra bước ngoặc mới trong đời sống tư tưởng chính trị của ông
- Cuối năm 1844, Ăngghen đã gặp Mác tại Pari lần thứ hai, từ đây hai ông luôn gắn bó với nhau trong cả về lý luận và thực tiễn cho đến cuối đời Trong thời gian từ 1844 đến khi Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời, diễn ra quá trình chín muồi dần dần về những quan điểm duy vật về lịch sử, về kinh tế chính trị học và về chủ nghĩa xã hội khoa học
- Năm 1844, các bài viết về Vấn đề Do thái, Mác đã tìm ra sự khác nhau, sự phân cách giữa con người công dân nói chung-tức con người lý tưởng của giai cấp tư sản, với con người riêng tư-tức con người cụ thể trong xã hội tư sản Ông vạch ra rằng, hiến pháp tư sản nói đến “bình đẳng, tự do, an ninh và sở hữu” nhưng đó chỉ áp dụng đối với giai cấp tư sản là chủ yếu
=> Một trong những điều kiện vật chất và xã hội để giải phóng con người là xóa bỏ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất trên cơ sở phát triển hết sức mạnh mẽ lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ của các tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội Từ quan điểm đó Mác đã hình thành tư
Trang 8tưởng về sự khác nhau giữa cách mạng vô sản sẽ xảy ra trong tương lai, cách mạng tư sản là cải cách chính trị trên cơ sở chế độ tư hữu vẫn còn tồn tại, còn cách mạng vô sản( cách mạng xã hội chủ nghĩa) là cuộc cách mạng xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu và chế độ người bóc lột người.
- Lời nói đầu trong cuốn Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Mác đã vạch rõ ở nước Đức lúc này, việc phê phán tôn giáo đã kết thúc và sự phê phán tôn giáo phải chuyển thành phê phán pháp quyền và chính trị Mác cho rằng chỉ có cách mạng vô sản mới có thể giải phóng đất nước, vạch rõ lực lượng xã hội duy nhất có khả năng tiến hành cuộc cách mạng đó là giai cấp vô sản
- Về giai cấp vô sản, Mác chỉ rõ đó là người có sứ mệnh tự giải phóng, đồng thời giải phóng tất cả các tầng lớp khác của xã hội
- Về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo: theo Mác chính con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người, tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân, việc xóa bỏ nó là yêu cầu hạnh phúc thật sự của nhân dân đề ra
- Để xóa bỏ tôn giáo, Mác vạch ra rằng cần xóa bỏ cơ sở xã hội đã đẻ ra nó Tuy nhiên do hạn chế của lịch sử, vào thời kỳ này Mác chưa thể lý giải một cách thật
sự có căn cứ khoa học những điều nêu ra Khi nêu ra đặc điểm của giai cấp vô sản Mác chưa phân tích được đầy đủ vị trí kinh tế - xã hội của nó mà còn nặng
nề phân tích theo triết học; hay khi phân tích nguồn gốc của tôn giáo Mác chưa nói đến những điều kiện xã hội cho sự ra đời của tôn giáo
- Điểm nổi bật nhất trong Lời nói đầu cuốn Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen là sự phát hiện ra vai trò cách mạng của giai cấp vô sản mặc
dù chưa đầy đủ về nội dung là phát kiến trọng đại của Mác mà trước đó chưa hề
có ai nhận thức được Tuy nhiên Mác vẫn chưa hình dung được một cách rõ rệt chế độ tư bản do mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp gay gắt dẫn đến cách mạng xã hội như thế nào
- Cuốn Bản thảo kinh tế triết học (1844), Mác khẳng định rằng, xét đến cùng thì tất cả các quan hệ xã hội đều có nguồn gốc trong các quan hệ sản xuất và
nguyên nhân của sự tha hóa của con người là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, không phải chỉ là sự tha hóa về tinh thần mà trước hết là sự tha hóa về kinh tế,
cơ sở của mọi sự tha hóa về chính trị và tinh thần.Muốn xóa bỏ sự tha hóa, phải xóa bỏ chế độ tư bản
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa lao động không còn là hoạt động tự do, lao động chủ yếu là tạo ra giá trị trao đổi, trong đó quan hệ trực tiếp giữa
Trang 9người lao động và sản phẩm lao động của họ không còn nữa, sẩn phẩm lao động của họ trở thành xa lạ đối với họ, các quan hệ xã hội diễn ra theo nguyên tắc trả tiền ngay, lạnh lùng, không tình nghĩa
- Sự phát triển của máy móc càng chia nhỏ lao động ra, người lao động chỉ như một bộ phận bằng bằng xương bằng thịt bên cạnh những cỗ máy bằng sắt thép, không được coi ngang hàng như một cỗ máy mà chỉ là một bộ phận phụ thuộc vào nó mà thôi Theo Mác, xét đến cùng thực chất mối quan hệ giữa người và người bị che giấu đằng sau mối quan hệ giữa vật và vật là quan hệ giữa giai cấp
tư sản bóc lột và giai cấp vô sản bị bóc lột
- Mác cho rằng, sự tha hóa của người lao động không phải là một hiện tượng tư tưởng ,à là một hiện tượng lịch sử xã hội Do đó muốn khắc phục được tình trạng tha hóa phải bằng hoạt động thực tiễn
=> Chủ nghĩa tư bản tất yếu phải chuyển sang chủ nghĩa cộng sản.
- Mác đã có nhận tức rõ ràng hơn về chủ nghĩa cộng sản, theo ông chủ nghĩa cộng sản không còn là một sáng kiến tinh thần theo kiểu những nhà không tưởng mà là kết quả tất yếu của sự phát triển biện chứng của bản thân chế độ tư hữu Là sự xóa bỏ một cách tích cực quyền tư hữu vốn là sự tha hóa con người,
và sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người Nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định
- Sau này, trên cơ sở những quan điểm duy vật mang tính hệ thống, hoàn chỉnh
về lịch sử và sự phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư, làm cho sự phân tích của Mác về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự chuyển biến từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, về vị trí kinh tế xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp vô sản mới thực sự khoa học
- Với tác phẩm “ Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” Ăngghen đã đưa ra một số nhận định của mình về sự vùng dậy của giai cấp vô sản để chống lại giai cấp tư sản( cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản là điều tất yếu; sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản là không tránh khỏi) Ăngghen rút ra được là phải gắn liền phong trào công nhân với lý luận chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội phải trở thành mục đích của cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân chứ không phải chỉ là những mơ tưởng hão huyền
- Năm 1844, Mác và Ăngghen cùng viết cuốn “ Gia đình thần thánh”, hai ông xác định được vai trò, nhiệm vụ, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, mối quan
hệ chặt chẽ giữa sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội, hoàn thiện thêm những quan điểm duy vật về lịch sử, nổi bật là vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử, về vai trò cách mạng và bản chất sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
Trang 10- Trong Luận cương về Phoiơbắc, Mác coi mục đích của hoạt động thực tiễn là nhằm cải tạo thế giới và cải tạo xã hội
- Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức là sự phát triển thêm những quan điểm duy vật về lịch sử của Mác và Ăngghen Hai ông đã khắc phục được những ảnh hưởng của triết học duy tâm tư biện của Hêghen và phái Hêghen trẻ, đồng thời phê phán tính chất thuần túy của chủ nghĩa duy vật và những quan điểm duy tâm về xã hội của Phoiơbắc Vạch rõ lực lượng sản xuất là động lực phát triển và là nội dung cơ bản nhất của phương thức sản xuất xã hội