1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Xử phạt vi phạm pháp luật lao động - Hậu quả pháp lý của nó

84 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật lao động năm 2012, Bộ luật hình sự năm 2009, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THU HẰNG

XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG -

HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THU HẰNG

XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG -

HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA NÓ

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hoàng Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO

2.1.2 Trong lĩnh vực thỏa ước lao động tập thể 32

2.1.4 Trong lĩnh vực về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 35 2.1.5 Trong lĩnh vực về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất 36

Trang 5

2.1.6 Trong một số trường hợp là lao động đặc thù 37 2.1.7 Đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam 41 2.1.8 Trong lĩnh vực về an toàn lao động, vệ sinh lao động 42 2.2 Thực trạng xử phạt vi phạm pháp luật lao động và hậu quả

pháp lý của nó

43

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 53

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO

57

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt

vi phạm pháp luật lao động ở Việt Nam

57

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm pháp luật ở Việt

Nam hiện nay

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, số lượng vi phạm pháp luật lao động ở nước ta ngày càng tăng Các vi phạm pháp luật không chỉ giới hạn ở một doanh nghiệp, một địa phương mà còn xảy ra trên phạm vi rộng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, như ý thức của người lao động, người sử dụng lao động còn thấp, đặc biệt hệ thống pháp luật về lao động còn thiếu đồng bộ, chưa được quan tâm và hiệu quả thực thi pháp luật về lao động còn hạn chế

Bộ luật lao động năm 2012, Bộ luật hình sự năm 2009, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

và các văn bản pháp lý liên quan được ban hành nhằm đáp ứng một cách cơ bản yêu cầu về một hành lang pháp lý cần thiết cho việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động

Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về lao động hiện nay chưa được quan tâm đúng mức từ các nhà lập pháp, các nhà quản lý và các chủ thể Hoạt động ban hành, triển khai, thực hiện pháp luật về lao động còn bất cập, hạn chế Việc hoàn thiện pháp luật về lao động nói chung và vấn đề xử phạt vi phạm nói riêng thực sự mang tính cấp thiết, cần được quan tâm, coi trọng

Qua nghiên cứu cho thấy, các quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động ở nước ta phần lớn mới được ban hành, còn tồn tại nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tiễn, chưa thể đi vào thực tiễn, có những quy định chưa bắt nguồn từ thực tiễn

Thông qua việc hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động sẽ góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm trong lĩnh vực lao động một cách có hiệu quả, tăng cuờng pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 7

Vì vậy, tôi chọn đề tài "Xử phạt vi phạm pháp luật lao động - hậu

quả pháp lý của nó" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề xử phạt vi phạm pháp luật và hậu quả pháp lý của nó là vấn đề luôn có tính thời sự và được nhiều tác giả quan tâm, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này Nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể, có một số công trình khoa học về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực như giáo dục, xây dựng, bảo vệ rừng…trong lĩnh vực lao động, đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về vi phạm pháp

luật lao động như: Ngô thị Thanh Huyền, Vi phạm pháp luật lao động về hợp đồng lao động, Luận văn Thạc sĩ luật học - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009; Đinh Thị Thùy Nga, Vi phạm pháp luật lao động và hậu quả pháp lý của nó, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, năm 2000 Ngoài

ra còn có nhiều bài viết như "Bàn về xử lý vi phạm hành chính", của TS Trần Minh Hương, đăng trên Tạp chí Luật học, số 4/1999; "Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính", của TS Trần Thị Hiền đăng trên

tạp chí Luật học, số đặc san về vi phạm hành chính…

Nhìn chung, các công trình khoa học nói trên đều xem xét vấn đề xử phạt vi phạm dưới các góc độ, mức độ khác nhau Các công trình, bài viết đó mới chỉ tập trung vào liệt kê các hành vi vi phạm pháp luật và đã đem lại những giá trị khoa học quý giá ở góc độ lý luận cũng như thực tiễn, là tài liệu tham khảo hữu ích về vấn đề xử phạt vi phạm Tuy nhiên, cho đến nay nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm pháp luật lao động và hậu quả pháp lý của nó thì chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến Chính vì vậy, việc

nghiên cứu vấn đề "Xử phạt vi phạm pháp luật lao động - hậu quả pháp lý

của nó" là việc làm mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của yêu cầu khách quan

Từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động

* Nhiệm vụ

+ Phân tích cơ sở lý luận về lao động như: Phân tích một số khái niệm liên quan, đối tượng áp dụng xử phạt vi phạm pháp luật lao động, điều kiện để

áp dụng và hậu quả pháp lý của nó

+ Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng của xử phạt vi phạm pháp luật lao động từ đó rút ra những nguyên nhân, hạn chế

+ Đề xuất luận chứng quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề xử phạt vi phạm pháp luật lao động

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm có tính lý luận của Đảng trong các đường lối, chủ trương đổi mới về lao động, hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin như: Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể và một số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,…

5 Phạm vi nghiên cứu

Xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động bao gồm nhiều vấn đề đặt ra cần quan tâm nghiên cứu Đề tài nghiên cứu của luận văn tập trung chú ý vào

Trang 9

việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật lao động Là một đề tài nghiên cứu lý luận, luận văn không đi quá sâu ở từng nội dung trong hoạt động xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động Tuy nhiên, luận văn có phân tích và khái quát hóa các yêu cầu thực tế của từng nội dung để làm nổi bật vấn đề quan tâm chủ yếu là: Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật lao động

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về xử phạt vi phạm pháp luật lao động và

hậu quả pháp lý của nó

Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm pháp luật lao động và hậu quả

pháp lý của nó

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử

phạt vi phạm pháp luật lao động

Trang 10

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG -

HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA NÓ

1.1 QUAN NIỆM VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ XỬ PHẠT

VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

1.1.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật lao động

1.1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

Trong đời sống xã hội, pháp luật là những chuẩn mực, thước đo cho hành vi xử sự của con người Vi phạm pháp luật lao động là hiện tượng xã hội xuất hiện trong quá trình lao động Đó là những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về lao động Vi phạm pháp luật lao động được thể hiện dưới những dạng thức khác nhau: có thể là việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện những quy định của pháp luật lao động đã được ghi trong Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật khác [40, tr 137]

Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động là người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; người lao động; tập thể lao động; tổ chức công đoàn khi thực hiện quyền đại diện cho người lao động

Vi phạm pháp luật lao động được hiểu là những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật lao động, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động của Nhà nước và xã hội [22, tr 160]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu vi phạm pháp luật lao động là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật lao động và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới quan hệ lao động và các quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động

Trang 11

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật lao động

Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật là tổng hợp các dấu hiệu pháp

lý (khách quan và chủ quan) do từng ngành luật tương ứng quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể vi phạm pháp luật Thông thường một cấu thành vi phạm pháp luật gồm bốn yếu tố: Khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan

* Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động

Chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý, nghĩa là theo quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình trong trường hợp đó [40, tr 211]

Để đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động việc xác định chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hết sức cần thiết Chủ thể vi phạm pháp luật lao động có thể là: (i) Người sử dụng lao động; tổ chức đại diện người sử dụng lao động; (ii) Người lao động; (iii) Tập thể lao động; (iv) Tổ chức công đoàn; (v) Cơ quan tiến hành tố tụng lao động

- Người sử dụng lao động:

Người sử dụng lao động là một chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, bao gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cơ quan, tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân, hộ gia đình Các chủ thể này trong quá trình sử dụng lao động đã không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật lao động làm xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động

Trang 12

Người lao động chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm pháp luật lao động khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa

vụ lao động dẫn đến xâm hại quyền và nghĩa vụ chủ thể khác trong quan hệ lao động

- Tổ chức công đoàn:

Tổ chức công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động và là tổ chức xã hội tập hợp đông đảo người lao động Tổ chức công đoàn chỉ trở thành chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động khi họ không thực hiện chức năng đại diện của mình, chống lại quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Trên thực tế, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là các tổ chức công đoàn rất ít, hầu như không có Trong giai đoạn hiện nay công đoàn đã từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, thông qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao động

- Cơ quan quản lý lao động, cơ quan tố tụng lao động:

Các cơ quan này đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn trong lĩnh vực lao động, đảm bảo cho pháp luật lao động được thi hành nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội thông qua việc thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật trong các cơ quan, tổ chức đối với cơ quan quản lý lao động và trong hoạt động xét xử các tranh chấp lao động với cơ quan tố tụng lao động Ví dụ về những hành vi vi phạm pháp luật lao động của những cơ quan này có thể kể ra là:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, trong quá trình thực hiện việc kiểm tra giám sát những quy định của pháp luật lao động phát hiện

ra những hành vi vi phạm pháp luật lao động nhưng đã không xử lý hoặc xử

lý không đúng với các quy định của pháp luật lao động hoặc đã cho phép sử dụng máy móc thiết bị không đảm bảo yêu cầu về an toàn vệ sinh lao động

Trang 13

hay đã chấp thuận những giải pháp không đảm bảo vệ sinh lao động khi mở rộng hoặc cải tạo các cơ sở để sản xuất, sử dụng, lưu giữ chất phóng xạ…

Đối với cơ quan tố tụng lao động, trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động đã ra những bản án, quyết định trái với quy định của pháp luật lao động, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong việc đảm bảo thi hành các quy định của pháp luật lao động từ đó dẫn đến sự coi thường các quy định pháp luật lao động

* Khách thể của vi phạm pháp luật lao động

Mọi hành vi trái pháp luật đều xâm hại tới những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ Vì vậy, những quan hệ xã hội ấy là khách thể của vi phạm pháp luật Tính chất của khách thể có ý nghĩa quan trọng xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật [21, tr 391]

Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, các chủ thể đều hướng tới mục đích nhất định, lợi ích mà các bên hướng tới rất khác nhau Đối với người sử dụng lao động, khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động lợi ích

mà họ hướng tới đó là lợi nhuận cao, đồng thời quá trình sản xuất đảm bảo trật tự nề nếp Còn đối với người lao động lợi ích mà họ hướng tới là có thu nhập cao để đảm bảo cuộc sống của gia đình họ, nhưng đồng thời phải đảm bảo những điều kiện phù hợp cho quá trình lao động của mình Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động và cơ quan tố tụng lao động, lợi ích mà họ hướng tới là đảm bảo việc sử dụng lao động một cách hợp lý, đồng thời các quy định của pháp luật phát huy vai trò của nó trong việc bảo vệ quyền và lợi ích các bên trong quan hệ lao động, đặc biệt là người lao động

Trang 14

Cũng như các loại vi phạm pháp luật khác, vi phạm pháp luật lao động được thể hiện qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định pháp luật pháp luật, gây thiệt hại chung cho xã hội hoặc thiệt hại trực tiếp về vật chất hay tinh thần cho từng thành viên cụ thể trong xã hội Đây là dấu hiệu cơ bản bắt buộc phải có trong một vi phạm, những gì mới chỉ nằm trong tư tưởng trong suy nghĩ mà chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa thể là vi phạm Những hành vi này có thể là không tuân thủ quy định của Bộ luật lao động năm 2012 về việc làm, học nghề, hợp đồng lao động,… và khi những hành vi này được thực hiện nó có thể gây ra những hậu quả nhất định như sự tổn thất về vật chất hoặc tinh thần của các chủ thể hoặc xâm hại đến trật tự kỷ cương của Nhà nước Những thiệt hại của các chủ thể, phải là sự hiện thực hóa khả năng gây hậu quả của hành vi trái pháp luật

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả do hành vi vi phạm gây ra là một dấu hiệu quan trọng của mặt khách quan Quan hệ nhân quả ở đây được hiểu là hành vi vi phạm gây ra hậu quả và hậu quả xảy ra bắt nguồn trực tiếp từ hành vi vi phạm là nguyên nhân và kết quả của nhau Nếu hậu quả xảy ra không liên quan hoặc không xuất phát trực tiếp từ hành vi vi phạm thì không phải là mối quan hệ nhân quả Việc xác định được mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật lao động và hậu quả gây ra có ý nghĩa trong việc xác định hành vi vi phạm cũng như trách nhiệm của người thực hiện hành vi

* Về mặt chủ quan

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật [41, tr 210] Nó được đặc trưng bởi yếu

tố lỗi, động cơ và mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật lao động

Lỗi được coi là một dấu hiệu cơ bản trong cấu thành của mọi vi phạm

Nó là yếu tố quyết định đến các yếu tố khác trong mặt chủ quan của vi phạm pháp luật lao động Lỗi là trạng thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái

Trang 15

độ của người đó đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình Lỗi trong vi phạm pháp luật lao động được quy định dưới hai hình thức: cố ý và vô ý

Lỗi cố ý thể hiện ở việc người sử dụng lao động hay người lao động nhận thức được tính chất trái pháp luật của hành vi nhưng vẫn thực hiện Trong trường hợp, người sử dụng lao động hay người lao động không nhận thức được hành vi của mình trái pháp luật lao động hoặc nhận biết được nhưng lại sơ suất cho rằng có thể ngăn ngừa hậu quả vi phạm thì đó là lỗi vô

ý Thông thường, trước khi tiến hành xử lý vi phạm pháp luật lao động người

ta phải xét đến yếu tố lỗi của chủ thể Trong nhiều trường hợp, yếu tố lỗi được xét đến như tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ

Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật lao động còn mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện vi phạm đó Người sử dụng lao động thường quan tâm đến lợi nhuận và giảm thiểu chi phí trong kinh doanh Chính vì thế họ không đảm bảo đầy đủ quyền

và lợi ích hợp pháp của người lao động Người lao động có thể do không hiểu biết các quy định của pháp luật mà vi phạm

1.1.2 Khái niệm về xử phạt vi phạm pháp luật lao động

Vi phạm pháp luật là một xử sự phi xã hội, chống lại trật tự xã hội chủ nghĩa, gây tác hại cho lợi ích xã hội, cho từng thành viên và tổ chức của nó

Để bảo vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa thì ngăn ngừa vi phạm pháp luật là một trong những hoạt động chính của nhà nước và xã hội

C Mác - Ph Ăngghen coi việc phòng ngừa và ngăn chặn các tội phạm là hướng chính trong việc loại trừ tội phạm (vi phạm pháp luật) C.Mác - Ph Ăngghen

đã nhấn mạnh: "Một người làm luật thông thái sẽ làm tất cả những gì nhằm ngăn chặn tội phạm hơn là việc bắt buộc phải xử phạt" [13] Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường thì vấn đề vi phạm pháp luật là khó tránh khỏi

Vì vậy phải xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm nhằm hạn chế sự vi phạm

Trang 16

và loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của sự vi phạm đó đối với xã hội Để thực hiện việc xử phạt vi phạm pháp luật đạt hiệu quả cao thì phải tuân theo những yêu cầu cơ bản chung cho tất cả các loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật lao động đó là: đảm bảo tính giáo dục

và sự phát triển hài hòa, ổn định của quan hệ lao động và thị trường lao động

Mỗi một vi phạm pháp luật lao động nhất thiết phải dẫn đến việc xử phạt Điều 52 Hiến pháp 1992 của nước ta khẳng định: "Mọi công dân bình đẳng trước pháp luật" [27] Vì vậy với bất cứ ai, ở địa vị nào trong quan hệ lao động (là người sử dụng lao động, người lao động hay chủ thể khác) khi có hành vi vi phạm pháp luật lao động đều bị xử phạt vi phạm

Xử phạt vi phạm pháp luật lao động của người lao động hoặc người sử dụng lao động là nhằm bảo vệ và tạo điều kiện cho môi trường lao động phát triển lành mạnh, đảm bảo cho quá trình điều chỉnh pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả Việc xử phạt vi phạm pháp luật chủ yếu do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cơ quan quản lý nhà nước, Tòa án…) áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Tức là áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã được Nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Việc

áp dụng các biện pháp này đem lại những hậu quả bất lợi cho người vi phạm

Ngoài tác dụng trừng phạt, các biện pháp để xử phạt vi phạm pháp luật còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa, cải tạo, giáo dục những người vi phạm pháp luật và ngăn ngừa tiếp tục vi phạm Nó còn có tác dụng răn đe tất cả những người khác khiến họ phải tuân theo pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng và tự nguyện thực hiện pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, dần dần từng bước hạn chế và tiến tới loại trừ hiện tượng vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, Nhà nước áp dụng các biện pháp xử phạt phù hợp với các

vi phạm để không chỉ nhằm trừng phạt người vi phạm mà còn giáo dục cá nhân, tập thể vi phạm sửa chữa, ngăn ngừa và triệt tiêu sự vi phạm trong tương lai

Trang 17

Đồng thời còn nhằm giáo dục các thành viên trong tập thể lao động tôn trọng pháp luật, biết đấu tranh phòng ngừa và chống sự vi phạm pháp luật lao động đảm bảo cho môi trường lao động tồn tại và phát triển lành mạnh

Như vậy, ta có thể định nghĩa, xử phạt vi phạm pháp luật lao động là một hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực Nhà nước phát sinh khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động biểu hiện ở việc áp dụng các chế tài mang tính chất trừng phạt do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật

1.2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật trong việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động

Nguyên tắc xử phạt vi phạm pháp luật lao động là những tư tưởng chỉ đạo quá trình áp dụng các quy định của văn bản quy phạm pháp luật vào xử phạt vi phạm hành chính về pháp luật lao động [40, tr 139]

Việc xử phạt vi phạm pháp luật không bao giờ là tùy tiện mà cần phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của pháp luật, đó chính là các nguyên tắc khi

xử phạt vi phạm Vi phạm pháp luật lao động cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thứ ba, việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức

độ vi phạm, thân nhân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ (chẳng hạn

Trang 18

người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi ), tình tiết tăng nặng (chẳng hạn vi phạm có tổ chức, vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm trong cùng một lĩnh vực ) để quyết định hình thức và biện pháp xử phạt phù hợp;

Tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là những tình tiết làm tăng hoặc giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Do vậy việc xem xét

kỹ tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ sẽ giúp cho người có thẩm quyền ra những quyết định đúng đắn đó

Thứ tư, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Một

người thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người vi phạm đều

bị xử phạt;

Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi

phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động nói riêng là một trong những hoạt động quản lý nhà nước rất quan trọng Theo quan điểm của C Mác thì: Hình phạt chẳng qua là sự

tự vệ của xã hội đối với những hành vi xâm phạm đến điều kiện tồn tại của nó

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động bao gồm nhiều hoạt động cụ thể khác nhau Trong lĩnh vực lao động thì hoạt động xử phạt vi phạm hành chính là một trong những hoạt động quan trọng nhất, có ý nghĩa to lớn trong đấu tranh phòng chống vi phạm, có tác dụng trực tiếp củng cố và tăng cường trật tự quản lý nhà nước Thực chất của việc xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động nói riêng là việc áp dụng các chế tài hành chính có tính chất răn đe do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài hành chính

Trang 19

không phải tập trung vào mục đích răn đe mà chủ yếu hướng đến giáo dục người vi phạm

1.2.2 Thẩm quyền tham gia xử phạt vi phạm pháp luật lao động

Bản chất của xử phạt là một hoạt động quản lý hành chính nhà nước Hoạt động xử phạt vi phạm pháp luật lao động phải do cơ quan, cán bộ quản

lý nhà nước có thẩm quyền chung là Ủy ban nhân các cấp và người có thẩm quyền xử phạt là Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên ngành là

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong đó người có thẩm quyền xử phạt là thanh tra lao động Trong quá trình thi hành công vụ của mình thanh tra nhà nước về lao động giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của mình hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc

xử phạt nhằm mục đích bảo vệ, duy trì trật tự quản lý nhà nước về lao động

Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các cơ quan khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm

Thanh tra nhà nước về lao động (thanh tra viên lao động, người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra lao động cấp Sở; Chánh thanh tra lao động cấp Bộ);

Thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động thuộc các ngành công an, quốc phòng, khoa học và công nghệ, công nghiệp, giao thông vận tải quản lý

Trong trường hợp những người có thẩm quyền đương nhiên được xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật mà vắng mặt thì cấp phó

Trang 20

được ủy quyền có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Nghiên cứu về vấn đề này, TS Trần Minh Hương có nêu: "Nhiều người quan niệm rằng việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản theo vụ việc, nếu tuân thủ quy định thì sẽ phải lập văn bản

ủy quyền nhiều lần và như vậy sẽ không giải quyết kịp thời các vụ vi phạm trong trường hợp cấp trưởng đi vắng" [20]

Theo Luật xử lý vi phạm hành chính của Trung Quốc thì chủ thể có thẩm quyền xử phạt là Hội đồng nhà nước (cơ quan quyền lực nhà nước - tương đương Quốc hội) hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, vùng tự trị được Hội đồng nhà nước ủy quyền có thể chỉ định một cơ quan hành chính thực hiện quyền xử phạt hành chính của các cơ quan hành chính có liên quan Trong phạm vi quyền hạn luật định, cơ quan hành chính có thể ủy quyền cho các tổ chức có đủ điều kiện thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính

1.2.3 Hình thức xử phạt

Hình thức xử lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật lao động gồm có các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả

Hình thức xử phạt thể hiện sự răn đe, trừng phạt của pháp luật đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước thông qua việc buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần Ngoài ra, các quy định này còn mang tính giáo dục đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt góp phần nâng cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản lý nhà nước, qua đó bảo

vệ duy trì trật tự quản lý nhà nước

Các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính mang tính cưỡng chế nhà nước, được áp dụng nhằm mục đích khắc phục triệt

Trang 21

để hậu quả do vi phạm hành chính gây ra, bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng và hoạt động bình thường của xã hội

Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động bao gồm hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung

Các hình thức xử phạt chính

Hình thức xử phạt chính là hình thức xử phạt "được áp dụng một cách độc lập, nghĩa là đối với mỗi vi phạm hành chính có thể áp dụng một hình thức xử phạt chính mà không nhất thiết phải áp dụng các hình thức phạt bổ sung kèm theo" [21, tr 567]

Khi có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động do pháp luật quy định, cá nhân, tổ chức vi phạm bắt buộc phải chịu một trong hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Bộ luật xử phạt vi phạm hành chính của Liên bang Nga quy định 8 hình thức xử phạt hành chính gồm: Cảnh cáo; phạt tiền hành chính; tịch thu có bồi hoàn công cụ thực hiện hoặc là đối tượng của vi phạm hành chính; tước quyền đã cấp cho người vi phạm; giam giữ hành chính; trục xuất đối với người nước ngoài hoặc người không quốc tịch và tước quyền đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo pháp nhân

Về nguyên tắc, mỗi cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ phải chịu một trong những hình thức xử phạt chính Pháp luật quy định và áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hay phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động dựa trên đánh giá của Nhà nước về tính chất, mức độ xâm hại của hành vi đó đối với các quy tắc quản lý nhà nước về lao động, tùy theo nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của người vi phạm

Hình thức phạt cảnh cáo là một biện pháp về mặt tinh thần So với

hình thức phạt tiền, thì cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ hơn, mang tính ý nghĩa giáo dục nhiều hơn trừng phạt Đây là hình thức cảnh báo cho đương sự

Trang 22

biết trước khả năng có thể bị áp dụng hình thức xử phạt nặng hơn nếu họ tiếp tục vi phạm hoặc tái phạm Tuy nhiên, cảnh cáo cũng là hình phạt thể hiện thái độ răn đe nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, do đó, vẫn mang tính cưỡng chế nhà nước, gây cho người bị xử phạt những tổn hại nhất định về mặt tinh thần

Cảnh cáo được áp dụng đối với những vi phạm hành chính nhỏ, do sơ suất, vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ mà chưa gây thiệt hại vật chất, do không hiểu biết hoặc do tác động của nguyên nhân khách quan Hình thức xử phạt này mang nặng ý nghĩa giáo dục

Hình thức xử phạt cảnh cáo do người có thẩm quyền quyết định bằng văn bản, tức là quyết định xử phạt hành chính dưới hình thức viết Như vậy, những hành vi vi phạm mà bị người có thẩm quyền nhắc nhở bằng lời nói thì không coi là bị xử phạt cảnh cáo

Cảnh cáo cũng được quy định trong luật hình sự là một hình phạt:

Được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt và do tòa án quyết định Sau một năm kể từ ngày tòa án tuyên phạt cảnh cáo, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới thì được xóa án tích [28] Hình phạt trong luật hình sự do tòa án quyết định đối với các đội tượng phạm tội

Hình thức phạt tiền là hình thức xử phạt chủ yếu trong xử phạt vi

phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động nói riêng Đây là hình thức phổ biến với đa số hành vi vi phạm hành chính trong lao động Phạt tiền là "người vi phạm hành chính phải nộp bằng tiền mặt" [40, tr 569] nghĩa là, tước bỏ của cá nhân tổ chức vi phạm một khoản

Trang 23

tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước Phạt tiền tác động trực tiếp đến vật chất, lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức vi phạm, gây cho họ hậu quả bất lợi

về tài sản Vì lý do đó, hình thức xử phạt này có hiệu quả rất lớn trong việc đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính trong lao động

Mức phạt được nghiên cứu dựa trên tính chất, mức độ xâm hại của vi phạm đối với trật tự quản lý nhà nước trong lao động, đồng thời dựa trên cơ

sở tổng kết thực tiễn áp dụng hình thức phạt tiền, tính hiệu quả của nó trong đấu tranh phòng chống vi phạm nhằm đảm bảo tính hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội

Các hình thức xử phạt bổ sung

Là hình thức xử phạt có thể được áp dụng trong một số trường hợp cần thiết nhằm hạn chế tác hại của hành vi vi phạm tiếp theo hoặc khả năng xuất hiện hành vi vi phạm của đương sự [40, tr 143]

Đối với hình thức xử phạt này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm, ngoài việc bị áp dụng một hình thức xử phạt chính thì

có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức bổ sung Tuy là hình thức xử phạt

bổ sung, song sự tác động của hình thức phạt này rất lớn, vì nếu bị áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề nó làm cho chủ thể không thể thực hiện hoặc tham gia vào một số công việc nhất định đòi hỏi phải có giấy phép hành nghề

Ngoài các hình thức xử phạt chính và xử phạt bổ sung, tổ chức cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả Biện pháp khắc phục hậu quả không phải là hình thức xử phạt vì mục đích chính của nó không phải là trừng trị, răn

đe giáo dục, nó chỉ mang tính chất khôi phục lại những việc mà theo pháp luật quy định những người đã vi phạm phải thực hiện nhưng chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng, chưa đủ theo quy định

Trang 24

1.2.4 Thủ tục xử phạt

Thủ tục xử phạt là những trình tự cách thức do cơ quan nhà nước quy định chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm pháp luật lao động cần phải tuân theo Thủ tục xử phạt bao gồm thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản:

Xử phạt không lập biên bản

Đối với những trường hợp xử phạt vi phạm pháp luật lao động bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ Trừ trường hợp vi phạm đó được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản [33]

Thủ tục lập biên bản

Hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức vi phạm bị xử phạt từ 250.000 đồng đối với cá nhân, từ 500.000 đồng đối với tổ chức thì bị phải lập biên bản Người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tớ có liên quan và phải được đánh bút lục

Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản

Trong trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay sau khi xác nhận được người có hành vi vi phạm

Trong biên bản về vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tên, địa chỉ tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; các biện pháp ngăn

Trang 25

chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý (nếu có); tình trạng tang vật, phương tiện bị tam giữ (nếu có); lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức

vi phạm; cơ quan tiến hành giải trình

Biên bản phải được lập thành ít nhất hai bản; phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trong trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì phải ký vào từng tờ biên bản Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản

Biên bản lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm một bản; nếu vụ vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì người đó phải gửi biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt

1.2.5 Thời hiệu xử phạt

Thời hiệu xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động là thời hạn do pháp luật quy định, mà việc xử phạt thực hiện trong thời hạn đó mới phát sinh hiệu lực pháp luật Việc xử phạt ngoài thời hiệu do pháp luật quy định sẽ không có giá trị pháp lý, thậm chí có thể hiểu là vi phạm pháp luật về xử phạt hành chính và người tiến hành xử phạt đó có thể

bị xử lý bởi một hoặc bởi các trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật [40, tr 141]

Thời hiệu xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động là một năm Như vậy, trong thời hạn là 1 năm kể từ

Trang 26

ngày hành vi xảy ra, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử phạt cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật lao động Quá thời hạn trên, cá nhân, tổ chức vi phạm

đó không thể bị xử phạt vì hành vi vi phạm đó Tuy nhiên, thời hiệu xử phạt

đó không áp dụng đối với người có hành vi trốn tránh, hoặc cố tình trì hoãn việc xử phạt Việc quy định như vậy góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân và phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật lao động

Như vậy, có thể thấy rằng thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật lao động rất cụ thể, dễ hiểu, hợp lý Đó là khoảng thời gian thích hợp để người thực hiện hành vi vi phạm bị xử lý kịp thời nhằm đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật

1.3 Ý NGHĨA CỦA XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

Lao động là hoạt động sáng tạo, có mục đích của con người Quá trình lao động là quá trình tuân thủ các quy luật tự nhiên và xã hội để tạo ra những sản phẩm có giá trị mà con người mong muốn Lao động ngoài ý nghĩa riêng của bản thân mỗi người còn mang tính chất xã hội, do vậy mà trong quan hệ lao động giữa người với người cần phải được bảo vệ trong một trật tự nhất định đảm bảo tốt lợi ích cho những người tham gia quan hệ lao động cũng như sự phát triển chung của toàn xã hội

Khi môi trường lao động bị các hành vi vi phạm lao động xâm hại gây các tác động không tốt đến các thành viên trong quan hệ lao động, nó phá vỡ trật tự quan hệ lao động nói riêng, trật tự xã hội nói chung Sự vi phạm đó khi xảy ra thì hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến một hay một vài chủ thể

mà ảnh hưởng đến cả tập thể lao động, ảnh hưởng môi trường lao động chung của mọi người Ví dụ, một tập thể lao động, người sử dụng lao động có xử sự trái với quy phạm đạo đức, trái pháp luật lao động bằng hành vi sa thải người lao động trái quy định với những lý do không hợp pháp, hoặc người sử dụng

Trang 27

lao động có hành vi đánh đập, sỉ nhục,… từ những xử sự đó lập tức môi trường lao động bị xáo trộn tâm lý, thái độ làm việc của những người lao động khác

có những ảnh hưởng không tốt Ngoài sự tác động tiêu cực đến năng suất, chất lượng, hiệu quả công vệc, sự vi phạm có thể gây ra những hậu quả khác như tranh chấp lao động, đình công Những hiện tượng đó không chỉ ảnh hưởng xấu đến tình hình doanh nghiệp, cơ quan mà còn có thể gây ra những ảnh hưởng xấu tới các hoạt động xã hội khác

Như vậy, những tác hại của hành vi vi phạm pháp luật lao động không chỉ ảnh hưởng đến ý thức tuân thủ pháp luật mà còn ảnh hưởng đến năng suất chất lượng lao động, ảnh hưởng về mặt kinh tế đối với đời sống mỗi người lao động và toàn xã hội Vì vậy, môi trường lao động cần có sự điều chỉnh của pháp luật và cần có sự đảm bảo để thực thi pháp luật, ngăn ngừa vi phạm và

xử phạt vi phạm để bảo vệ các chủ thể trong quan hệ lao động, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của xã hội chủ nghĩa

Đối với người lao động

Theo quy định của pháp luật, người lao động và người sử dụng lao động có địa vị pháp lý như nhau Song trên thực tế quan hệ lao động, người lao động là người ở thế yếu hơn do không nắm trong tay tư liệu sản xuất, không có thế mạnh về kinh tế nên phải lệ thuộc vào người sử dụng lao động

Do đó xuất phát từ bản chất nhân đạo, pháp luật nước ta bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, và đó cũng là nhiệm vụ cơ bản của pháp luật lao động Trong quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, những hành vi vi phạm của người sử dụng lao động về việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động,… sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động Vì vậy khi xử phạt, người

có thẩm quyền buộc các chủ thể vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả do vi phạm của mình gây ra có ý nghĩa rất lớn đối với bảo

Trang 28

vệ người lao động Thông qua việc quy định những hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật lao động của người sử dụng lao động và các chế tài được áp dụng đối với họ, Nhà nước góp phần bảo đảm cho việc thực hiện các quyền

cơ bản của công dân - người lao động Theo quy định của pháp luật, hầu hết những hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động được dự liệu đều thuộc về người sử dụng lao động, qua đó cho thấy Nhà nước luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là người lao động được phép coi thường pháp luật bởi khi họ thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật lao động thì họ cũng bị xử phạt vi phạm Việc xử phạt vi phạm đối với người lao động vừa có tác dụng răn đe, trừng trị vừa có ý nghĩa giáo dục, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của họ bởi việc tuân thủ pháp luật lao động vừa bảo vệ lợi ích cho chính họ vừa bảo

vệ lợi ích cho những chủ thể khác và Nhà nước

Đối với người sử dụng lao động

Với tư cách là một bên trong quan hệ lao động, là chủ thể tham gia hầu hết các quan hệ xã hội do Bộ luật lao động điều chỉnh, việc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật là điều kiện căn bản làm cho quan hệ lao động ổn định và phát triển bền vững Vì vậy, việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động đối với người sử dụng lao động ngoài ý nghĩa là trừng phạt, giáo dục còn gián tiếp bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động bởi vì khi quan hệ lao động được bình ổn trở lại sẽ tạo điều kiện để người sử dụng lao động phát triển sản xuất, gia tăng lợi nhuận Mặt khác pháp luật còn bảo vệ người sử dụng lao động thông qua việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động khi họ có những vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động Ngoài những ý nghĩa to lớn trên, xử phạt vi phạm pháp luật lao động còn có vai trò quan trọng trong việc giúp người sử dụng

Trang 29

lao động nâng cao ý thức pháp luật lao động, rèn luyện nếp sống và làm việc theo pháp luật

Về mặt xã hội

Khi Nhà nước ra đời, khi đó xuất hiện pháp luật Pháp luật là công cụ đắc lực, không thể thiếu của giai cấp thống trị để bình ổn các mối quan hệ xã hội, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước - ý chí của giai cấp thống trị, đó là những quy tắc xử sự bắt buộc mà các chủ thể tham gia quan hệ xã hội phải tuân theo Những chủ thể có hành vi đi ngược lại lợi ích của nhà nước, của xã hội, không tuân theo pháp luật thì những chủ thể đó phải bị trừng trị Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải được thực hiện một cách nghiêm minh, mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử phạt kịp thời

Trong giai đoạn hiện nay tình hình vi phạm pháp luật ngày càng tăng trên tất cả các lĩnh vực, vấn đề xử phạt vi phạm pháp luật lao động có ý nghĩa

vô cùng to lớn Khi một chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không nghiêm mà nó còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, xã hội và các chủ thể khác tham gia quan hệ Do đó nhà nước khi ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thì đồng thời phải có các biện pháp để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện

Xử phạt vi phạm pháp luật lao động là các biện pháp cưỡng chế, thể hiện ý chí của nhà nước mang tính quyền lực nhà nước được áp dụng với cá nhân, tổ chức có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật Mục đích của việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động là trừng phạt những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật lao động Sự trừng phạt đó biểu hiện ở việc buộc các chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần Đây là ý nghĩa quan trọng của việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động, song ý nghĩa cao hơn của việc trừng phạt là

Trang 30

giáo dục ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động Thông qua việc xử phạt trong lĩnh vực lao động với những hình thức xử phạt nghiêm khắc, nhà nước đã tác động đến tâm lý của người sử dụng lao động, người lao động và một số chủ thể khác từ đó tạo cho họ ý thức phải tuân thủ pháp luật Như vậy, xử phạt vi phạm pháp luật lao động trong lĩnh vực lao động có tác dụng đảm bảo cho pháp luật được thi hành một cách triệt để và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật lao động có hiệu quả

Hoạt động xử phạt vi phạm pháp luật lao động của các cơ quan, cán

bộ có thẩm quyền cũng là một hình thức tuyên truyền pháp luật lao động, làm cho các chủ thể hiểu và tuân theo pháp luật Với ý nghĩa trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật, việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động trong lĩnh vực lao động góp phần hạn chế vi phạm trong lĩnh vực lao động và thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa

Mặt khác xử phạt vi phạm pháp luật lao động còn bảo vệ lợi ích của của nhà nước, lợi ích của xã hội và lợi ích của các bên chủ thể bởi vì một hành vi vi phạm khi được thực hiện sẽ xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước, sự ổn định của xã hội và xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong lĩnh vực lao động Xử phạt vi phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động sẽ khôi phục lại trật tự quản lý nhà nước về lao động, tạo sự ổn định

về chính trị xã hội, phát triển kinh tế Nếu được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời và nghiêm minh không những bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội mà còn tạo ra được niềm tin của các cá nhân, tổ chức đối với pháp luật và nhà nước xã hội chủ nghĩa

Chính vì những ý nghĩa rất to lớn đối với Nhà nước, xã hội nói chung, đối với các chủ thể nói riêng của việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động mà nhà nước cần quan tâm hơn đến việc hoàn hiện các quy định của pháp luật về

xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động

Trang 31

1.4 HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

Hậu quả theo cách hiểu thông thường là "hậu quả là kết quả xảy ra hay xảy ra từ một quá trình, một việc làm trước đó" [43] Như vậy, hậu quả trước hết phải là một kết quả và kết quả đó phải được xảy ra từ một sự kiện, một hành vi,sự kiện và kết quả phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, hành

vi hay sự kiện là nguyên nhân dẫn tới kết quả Cách hiểu này cho thấy, không phải kết quả nào cũng có hậu quả, hậu quả chỉ là một bộ phận của kết quả không hay, kết quả xấu

Hậu quả pháp lý là kết cục tất yếu sẽ dẫn đến mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trong trường hợp vi phạm pháp luật Tùy theo tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật mà cá nhân, tổ chức vi phạm phải gánh chịu những loại trách nhiệm, hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm bồi thường dân sự [42]

Trong khoa học pháp lý chỉ những hành vi, sự kiện gây ra bất lợi cho

cá nhân, tổ chức, xã hội thì họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định nhưng phải được các nhà làm luật xác định hay dự liệu mới làm phát sinh hậu quả pháp lý Hậu quả pháp lý phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử nhất định

và cũng phụ thuộc vào chế độ chính trị xã hội nhất định Một hành vi nếu xảy

ra ở thời điểm này thì hậu quả xảy ra không coi là hậu quả pháp lý nhưng ở thời điểm khác coi là hậu quả pháp lý

Trường hợp có hành vi trái pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức gây ra hậu quả nhất định đối với môi trường lao động xã hội vì nó phá vỡ trật tự lao động xã hội chủ nghĩa, nó trực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần cho con người, xâm hại đến quyền và nghĩa vụ của

họ nhưng chưa đến mức truy tố trách nhiệm hình sự thì họ chịu xử phạt bằng quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải gánh chịu hậu quả nhất định theo quy định về xử phạt hành chính

Trang 32

Người lao động vi phạm pháp luật lao động và bị xử phạt vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, gây ra những thiệt hại cho người sử dụng lao động như thiệt hại về máy móc, thiết

bị, vật tư, nguyên liệu, kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị Ngoài ra nó không chỉ gây ra cho một đơn vị sản xuất kinh doanh mà nó còn để lại hậu quả chung cho toàn xã hội

Hậu quả pháp lý của việc xử phạt vi phạm pháp luật lao động thường dẫn tới sự bất lợi về tài sản hoặc lợi ích vất chất nằm ngoài ý chí và sự mong muốn của chủ thể

Dưới góc độ kinh tế: khi xử phạt những hành vi vi phạm pháp luật lao động đã gây ra những thiệt hại về mặt kinh tế, những thiệt hại đó biểu hiện dưới dạng: ảnh hưởng thu nhập của người lao động, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị, ảnh hưởng tốc độ phát kinh tế - xã hội của đất nước

Dưới góc độ chính trị xã hội: những thiệt hại của nó biểu hiện là sự coi thường những quy định của pháp luật lao động, sự thiếu tin tưởng vào sự nghiêm minh của pháp luật lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động

từ những thiệt hại này nhiều khi gây ra sự mất ổn định về mặt chính trị

Trang 33

Chương 2

THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ

2.1 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

2.1.1 Trong lĩnh vực lao động việc làm

Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật lao động năm 2012 "Nhà nước, người

sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm" [32] Quan hệ việc làm là quan hệ được xác lập để bảo đảm việc làm cho người lao động Những hành vi vi phạm quy định của pháp luật về việc làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người lao động, đến trật tự quản lý của Nhà Nước Do vậy Nhà nước đã thể hiện thái độ rất nghiêm khắc đối với hành vi

vi phạm này Tại Điều 4 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định tổ chức dịch

vụ việc làm có hành vi thu phí dịch vụ việc làm vượt quá mức quy định; có hành vi thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về vị trí việc làm; hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm hết hạn Chủ thể thực hiện những hành vi này là tổ chức dịch vụ việc làm Mức phạt đối với các hành vi trên cao nhất có thể lên đến 60.000.000 đồng Ngoài ra còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả lại cho người lao động khoản phí dịch vụ việc làm đã thu của người lao động cao hơn mức quy định đối với hành vi vi phạm; Buộc nộp lại phí dịch

vụ việc làm đã thu của người lao động vào ngân sách nhà nước

Như vậy, pháp luật đã quy định các hành vi vi phạm rõ ràng, chế tài rất nghiêm khắc để xử phạt các hành vi vi phạm Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xử phạt vi phạm

Trang 34

Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2005/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm Theo đó, hàng loạt các cơ sở giới thiệu việc làm không đủ điều kiện kinh doanh sẽ phải đóng cửa hoạt động Tuy nhiên, trên thực tế, các trung tâm này đã tìm mọi cách để lẩn tránh các quy định của pháp luật Trong khi các cơ quan có thẩm quyền lại lơi là, không nắm rõ hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm không thường xuyên

đi kiểm tra, giám sát và xử lý cho nên các trung tâm có hành vi vi phạm vẫn tiếp tục hoạt động và hậu quả là lao động tìm việc phải gánh chịu Do đó, để các quy định về tổ chức giới thiệu việc làm được thực thi có kết quả trên thực

tế, cần phải có thêm chế tài xử lý nghiêm minh đối với các tổ chức vi phạm, thậm chí là các cơ quan, cán bộ có trách nhiệm liên quan

Bộ luật lao động năm 2012 quy định "Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì không phải đăng ký hoạt động dạy nghề và không được thu học phí" [32, Điều 61] Tuy nhiên, khi doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động để làm việc trong doanh nghiệp theo thời hạn đã cam kết vẫn phải thực hiện một số điều kiện về thủ tục hành chính được quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật lao động về dạy nghề: "Doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc tại doanh nghiệp theo thời hạn cam kết trong hợp đồng học nghề thì không phải đăng ký hoạt động dạy nghề, nhưng phải báo cáo kết quả dạy nghề với sở Lao động - Thương binh và Xã hội sở tại" [9]

Việc doanh nghiệp báo cáo kết quả dạy nghề với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ là một thủ tục hành chính để Nhà nước quản lý doanh nghiệp Như vậy, theo quy định trên thì pháp luật hiện hành quy định các doanh nghiệp phải báo cáo kết quả hoạt động dạy nghề với cơ quan quản

lý nhà nước có thẩm quyền là để tránh tình trạng doanh nghiệp khai gian về hoạt động đào tạo nghề để hưởng chính sách ưu đãi về thuế cũng như các

Trang 35

chính sách của Nhà nước Ngoài ra việc báo cáo kết quả này cũng nhằm kiểm tra xem các doanh nghiệp có thực sự đào tạo nghề không, để giúp hạn chế việc các doanh nghiệp lợi dụng danh nghĩa đào tạo nghề để bóc lột sức lao động của người lao động

Tuy nhiên, chế tài xử phạt đối với các doanh nghiệp không thực hiện việc báo cáo đào tạo nghề lại quá nhẹ Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định mức xử phạt chỉ từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động Chính vì thế các doanh nghiệp coi nhẹ việc báo cáo và thậm chí không báo cáo về việc đào tạo nghề trong doanh nghiệp của mình Cho nên việc quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động để làm việc cho doanh nghiệp theo thời hạn đã cam kết là không có hiệu quả, dễ dàng và linh hoạt hơn so với các cơ sở đào tạo nghề khác

Điều 15 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: "Hợp đồng lao động là

sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động" [32] Hợp đồng lao động là hình thức tuyển dụng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là cơ sở phát sinh quan hệ lao động Vì vậy, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể dựa trên sự tự do, tự nguyện và bình đẳng của các bên Những hành vi vi phạm pháp luật lao động về hợp đồng lao động được quy định từ Điều 5 đến Điều 8 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP Nghị định số 95/2013/NĐ-CP đã quy định rất rõ ràng, chi tiết các hành vi vi phạm từ giao kết hợp đồng, thử việc, thực hiện hợp đồng đến việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động so với Nghị định số 47/2010/NĐ-CP

Về nguyên tắc, người lao động và người sử dụng lao động bình đẳng với nhau về mặt địa vị pháp lý Song, trên thực tế người lao động lại luôn ở thế yếu, phải phụ thuộc vào người sử dụng lao động do vậy ngay trong hợp

Trang 36

đồng lao động chủ yếu là ý chí của người sử dụng lao động và người lao động phải tuân theo mọi sự sắp đặt của người sử dụng lao động Nghị định số 95/2013/NĐ-CP đã dự liệu những hành vi vi phạm về hợp đồng lao động đều thuộc về người sử dụng lao động Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm về hợp đồng lao động từ 500.000 đồng đến 25.000.000 đồng Tuy nhiên, mức xử phạt như vậy lại là quá thấp Đơn cử như đối với hành vi không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng, với vi phạm từ 301 người lao động trở lên mà mức phạt cao nhất chỉ là 20.000.000 đồng Nếu so sánh mức phạt theo Nghị định số 47/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động thì mức xử phạt theo nghị định mới tăng không bao nhiêu Chưa kể doanh nghiệp vi phạm với số lượng lao động là hàng trăm người mà mức xử phạt cao nhất chỉ là 20.000.000 đồng Điều đó khiến các doanh nghiệp có thể "nhờn" pháp luật và thoải mái vi phạm

Bộ luật lao động

Người sử dụng lao động nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động [32, Điều 42] Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động Quy định như trên đã có sự phân biệt giữa người lao động và người sử dụng lao động trong việc xử lý hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Người sử dụng lao động phải bồi thường 02 tháng trong khi người lao động chỉ là nửa tháng lương Sự phân biệt này xem ra thiếu cơ sở khoa học và pháp lý Đã có hành vi vi phạm pháp luật như nhau thì cần phải chịu hậu quả pháp lý giống nhau Cũng không cần phải "bảo vệ" người lao động vi phạm hơn so với người sử dụng lao động Việc bảo vệ này có thể dẫn đến việc người lao động vi phạm pháp luật nhiều

Trang 37

Mặc dù pháp luật đã quy định tương đối đầy đủ về căn cứ, thủ tục, hậu quả pháp lý và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng lao động, song hiệu quả thực thi không cao Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động thường vi phạm các quy định của pháp luật về thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động Các lỗi mà người sử dụng lao động thường mắc, hay mắc phải

đó là khi xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động nhưng không có mặt người lao động ở lại đó; trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không trao đổi với Ban chấp hành công đoàn; cho người lao động nghỉ việc khi công ty thay đổi cơ cấu, công nghệ nhưng không đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng vào chỗ làm việc mới… Hiện nay, các văn bản về xử phạt lại không quy định chế tài xử phạt nếu vi phạm về thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động được nêu ở trên Đây là một trong những bất cập của pháp luật lao động

2.1.2 Trong lĩnh vực thỏa ước lao động tập thể

Điều 73 Bộ luật lao động quy định: "Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể" [32]

Thỏa ước lao động khi được sử dụng đúng đắn chính là yếu tố ổn định, thúc đẩy quan hệ lao động phát triển đúng hướng đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên tham gia quan hệ Việc ký kết thỏa ước lao động tập thể còn chậm và những thỏa ước đã ký thì phần nhiều chỉ mang hình thức, không đáp ứng được yêu cầu pháp luật Trong số ít những thỏa ước được ký kết thì rất ít đơn vị đăng ký tại cơ quan lao động, việc không đăng ký này bị coi là vi phạm pháp luật

Một vấn đề đặt ra là việc ký kết thỏa ước lao động tập thể được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện Vì vậy sao người sử dụng lao động lại bị xử phạt khi có hành vi không thương lượng để ký kết, sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể?

Trang 38

Đối với hành vi người sử dụng lao động thực hiện nội dung thỏa ước lao động tập thể đã bị tuyên bố vô hiệu thì có thể bị xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng Với quy định về mức xử phạt này thể hiện sự đặc biệt quan tâm của Nhà nước đối với người lao động

2.1.3 Trong lĩnh vực tiền lương

Tiền lương được hiểu là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động Tiền lương có vai trò rất lớn không chỉ đối với riêng bản thân người lao động

mà còn đối với cả nền kinh tế đất nước Từ vai trò quan trọng đó đòi hỏi tiền lương phải đảm bảo được chức năng cơ bản của nó, bảo đảm cho người lao động không những duy trì được sống thường ngày trong suốt quá trình làm việc, đảm bảo tái sản xuất sức lao động một cách tốt nhất

Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đã góp phần nâng cao ý thức của doanh nghiệp trong việc chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật lao động trong lĩnh vực tiền lương Chính với vai trò lớn của tiền lương, Nhà nước đã quy định sẽ phạt tiền đến 75.000.000 đồng và đình chỉ hoạt động 3 tháng đối với doanh nghiệp trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định; ngoài ra, việc trả lương không đúng thời hạn, thấp hơn mức quy định tại thang bảng lương đã đăng ký

sẽ bị phạt tiền tối đa là 50.000.000 đồng, tăng gấp 5 lần so với trước đây Cũng theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP, hành vi huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá 4 tiếng/ngày bình thường, quá 12 giờ/ngày khi làm thêm ngày lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần, mức phạt sẽ lên đến 50.000.000 đồng, trước đây mức phạt cao nhất cho hành vi này chỉ là 20.000.000 đồng; phạt bổ sung, đình chỉ hoạt động từ 1 -3 tháng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các quy định xử phạt vi phạm về tiền lương cũng bộc lộ những hạn chế, tồn tại nhất định Chế tài xử

Trang 39

phạt vi phạm hành chính quá nhẹ nên chưa đủ sức răn đe các doanh nghiệp vi phạm Mức phạt tiền quá thấp khiến cho hiệu quả áp dụng của hình thức phạt tiền không cao là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm luật lao động trong lĩnh vực tiền lương vẫn còn khá phổ biến Hiện trạng doanh nghiệp nợ tiền lương và chậm tiền lương đang có biểu hiện ngày một gia tăng Thực tế, nhiều doanh nghiệp cố tình nợ lương hay cố tình chây ỳ khiến người lao động vô cùng bất bình Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước quy định xử phạt người sử dụng lao động trả lương không đúng hạn, mức xử phạt lên đến 50.000.000 đồng Mặc dù đã tăng gấp 5 lần so với quy định trước đây nhưng với mức xử phạt này sẽ không thấm vào đâu so với việc chủ sử dụng lao động chậm trả lương, nhất là đối với những doanh nghiệp số lượng công nhân lên đến hàng nghìn người Ngược lại, đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ cho rằng, thời điểm hiện này, việc có quỹ lương ổn định 500.000.000 đồng để đảm bảo cho gần 40 nhân viên trong cơ quan đang là một thách thức lớn Do đó, việc chậm 10 hay 15 ngày lương là việc có thể chấp nhận được Đối với những doanh nghiệp đang thực sự khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu cứ chậm là bị phạt, rồi phạt nữa vẫn không thể giải quyết được vì thực tế công ty vẫn không có đủ tiền trả

Pháp luật quy định khi xây dựng thang lương, bảng lương, "người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ

sở và công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện, đồng thời gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động tập thể cấp huyện nơi đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động" [32, điều 93] Trước đây Nghị định

số 47/2010/NĐ-CP quy định hành vi không đăng ký thang lương bảng lương với cơ quan quản lý lao động thì sẽ bị xử phạt, có thể lên đến 10.000.000 đồng

Thời gian qua, vẫn còn có nhiều doanh nghiệp chưa tự giác chấp hành việc đăng ký thang lương, bảng lương hoặc doanh nghiệp tự giác xây dựng thang lương, bảng lương cho doanh nghiệp của mình Vấn đề nhận thức của

Trang 40

người lao động trong vấn đề này chưa sâu và do sức ép việc làm trong cơ chế thị trường đè nặng lên vai người lao động làm cản trở hoạt động đấu tranh đòi quyền lợi của họ khi phát hiện có vi phạm Vậy thì ở Bộ luật lao động năm

2012 chỉ quy người sử dụng lao động gửi thang lương, bảng lương đến cơ quan quản lý lao động cấp huyện định và Nghị định 95/2013/NĐ-CP cũng không quy định sẽ xử phạt về vấn đề người sử dụng lao động không gửi thang lương, bảng lương cho cơ quan quản lý lao động cấp huyện, liệu chăng không quy định chế tài xử phạt thì sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp thực hiện đúng quy định này của pháp luật?

2.1.4 Trong lĩnh vực về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Người lao động cần phải có thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý thì mới bảo đảm được sức khỏe, tái sản xuất sức lao động, bảo đảm năng suất chất lượng của công việc Vì vậy, những quy định tại Điều 14 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP đã góp phần bảo vệ cho người lao động nói riêng và xã hội nói chung Nếu những hành vi vi phạm không được xử lý kịp thời sẽ tạo cơ hội cho những người sử dụng lao động bóc lột sức lao động của người lao động

Theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì người lao động làm việc liên tục 8 giờ hoặc 7, 6 giờ đối với trường hợp đặc biệt sẽ được bố trí nghỉ giữa ca ít nhất 30 phút hoặc 45 phút trong trường hợp làm vào ban đêm Thời gian nghỉ chuyển từ ca này sang ca khác là ít nhất 12 giờ Tuy nhiên, trên thực tế, thời gian nghỉ giữa giờ của người lao động thường bị cắt xén, có nơi còn không được nghỉ giữa ca Anh Hoàng Ðắc Song, công nhân một công

ty sản xuất thiết bị viễn thông tại quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết công ty bố trí làm việc theo 2 ca: ca một từ 5 giờ đến 14 giờ, ca hai từ 14 giờ đến 23 giờ (mỗi ca được nghỉ 1 giờ để ăn cơm) Nghĩa là, công ty buộc công nhân phải đảm bảo thời gian làm việc ròng đúng 8 giờ Tình trạng bớt xén thời giờ nghỉ giữa ca không chỉ diễn ra tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tình trạng này có xảy ra ở phổ biến tại các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn

Ngày đăng: 17/02/2022, 21:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1998), Thông tư số 10/1998/TT- BLĐTBXH ngày 28/5 hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 10/1998/TT-BLĐTBXH ngày 28/5 hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 1998
4. Nguyễn Hữu Chí (2013), "Giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động năm 2012 từ quy định đến nhận thức và thực hiện", Luật học, (3), tr. 3-9l Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động năm 2012 từ quy định đến nhận thức và thực hiện
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 2013
5. Chính phủ (1995), Nghị định số 41-CP ngày 6/7 quy định chi tiết về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 41-CP ngày 6/7 quy định chi tiết về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1995
6. Chính phủ (2003), Nghị định 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1994 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1994 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 116/2009/NĐ-CP ngày 31/12 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/2009/NĐ-CP ngày 31/12 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
8. Chính phủ (2005), Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02 về quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02 về quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
9. Chính phủ (2006), Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật lao động về dạy nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật lao động về dạy nghề
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
10. Chính phủ (2013), Nghị định 55/2013/NĐ-CP ngày 22/5 quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 của Bộ luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 55/2013/NĐ-CP ngày 22/5 quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 của Bộ luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
11. Chính phủ (2013), Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
12. Chính phủ (2013), Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 5/6 của Ban Bí Thư Trung ương về xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 5/6 của Ban Bí Thư Trung ương về xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2008
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Trần Thị Hiền (2011), "Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính", Luật học, (11), tr, 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Trần Thị Hiền
Năm: 2011
19. Vũ Thị Thu Hiền, Bùi Quang Hiệp (2011), "Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động từ quy định của pháp luật đến thực tiễn áp dụng", Nghề Luật, (5), tr. 59-63, 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động từ quy định của pháp luật đến thực tiễn áp dụng
Tác giả: Vũ Thị Thu Hiền, Bùi Quang Hiệp
Năm: 2011
20. Trần Minh Hương (2008), "Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính - thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện", Luật học, (8), tr. 42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính - thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Trần Minh Hương
Năm: 2008
21. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
22. Khoa Luật - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Lao động Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w