1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc

124 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên mối quan hệ giữa hai khái niệm tưởng như không liên quan này thực tế lại rất chặt chẽ, và pháp luật - có thể nói là đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đạo đức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ PHẤN

VAI TRß CñA PH¸P LUËT §èI víi VIÖC X¢Y DùNG

§¹O §øC THÇY THUèC, THùC TR¹NG Vµ GI¶I PH¸P

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ PHẤN

VAI TRß CñA PH¸P LUËT §èI víi VIÖC X¢Y DùNG

§¹O §øC THÇY THUèC, THùC TR¹NG Vµ GI¶I PH¸P

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ DUYÊN THẢO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Phấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆCXÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC THẦY THUỐC 5

1.1 Khái quát về pháp luật và đạo đức, đạo đức thầy thuốc 5

1.1.1 Pháp luật và đạo đức 5

1.1.2 Đạo đức người thầy thuốc 15

1.2 Pháp luật với vai trò xây dựng đạo đức nghề nghiệp 24

1.3 Vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc 28

1.3.1 Pháp luật tạo lập nên các quy tắc hành vi của thầy thuốc 30

1.3.2 Pháp luật là cơ sở để các đơn vị y tế, các cơ quan chủ quản đánh giá về đạo đức thầy thuốc 35

1.3.3 Pháp luật là công cụ để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đạo đức thầy thuốc 37

1.3.4 Pháp luật góp phần định hướng dư luận xã hội, xây dựng ý thức pháp luật về đạo đức thầy thuốc trong đời sống pháp lý 39

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC THẦY THUỐC 44

2.1 Tác động tích cực của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc 44

2.1.1 Pháp luật đã quan tâm đến xây dựng hành lang pháp lý cho việc tạo lập nên các quy tắc hành vi của thầy thuốc 44

2.1.2 Pháp luật đã bước đầu hình thành được cơ sở để các đơn vị y tế, các cơ quan chủ quản đánh giá về đạo đức thầy thuốc 49

Trang 5

2.1.3 Pháp luật đã là một trong những công cụ hữu hiệu để xử lý các hành

vi vi phạm pháp luật về đạo đức thầy thuốc 52 2.1.4 Pháp luật và việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã góp phần định

hướng dư luận xã hội, xây dựng ý thức pháp luật về đạo đức thầy thuốc trong đời sống pháp lý 56 2.2 Tác động tiêu cực và những hạn chế của pháp luật đối với việc

xây dựng đạo đức thầy thuốc 59 2.2.1 Những quy định của pháp luật còn nhiều thiếu sót, hạn chế, quy định

rải rác và nhiều chưa thực sự hợp lý đã có tác động tiêu cực đến việc xây dựng đạo đức người thầy thuốc 59 2.2.2 Những quy định về xử lí, xử phạt còn chưa đủ mạnh, chưa thực sự có tác

động răn đe, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật, vi phạm quy chuẩn y đức 64 2.2.3 Cơ chế xác định thẩm quyền, xử lý vi phạm, quy trách nhiệm còn hạn

chế, bộc lộ nhiều yếu kém Thiếu hụt cơ chế cam kết trách nhiệm giữa

cơ quan, tổ chức, cá nhân khám chữa bệnh với người bệnh 66 2.2.4 Những quy định về nghiên cứu y khoa trong pháp luật Việt Nam còn nhiều

hạn chế ảnh hưởng tới việc đánh giá y đức và hình thành nên quy chuẩn y đức 71 2.2.5 Cơ chế điều tra, kiểm tra, giám sát chưa phát huy được hiệu quả, việc

thực hiện kiểm tra giám sát của cơ quan hữu quan còn yếu kém 73 2.2.6 Tác động một phía của truyền thông, pháp luật, của dư luận xã hội có

ảnh hưởng lớn đến đạo đức người thầy thuốc 74 2.3 Nguyên nhân của những tác động tích cực và tác động tiêu cực trên 75 2.3.1 Nguyên nhân của những tác động tích cực 75 2.3.2 Nguyên nhân dẫn tới những tác động tiêu cực, hạn chế của pháp luật

đối với việc xây dựng đạo đức người thầy thuốc và nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức thầy thuốc hiện nay 77 2.4 Một số vấn đề đang đặt ra về vai trò của pháp luật đối với việc

xây dựng đạo đức thầy thuốc ở Việt Nam 84 Tiểu kết chương 2 87

Trang 6

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VAI TRÒ CỦA PHÁP

LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC THẦY THUỐC 89

3.1 Yêu cầu nâng cao vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc 89

3.2 Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức thầy thuốc 93

3.2.1 Những giải pháp nhằm xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn chỉnh 94

3.2.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng môi trường, điều kiện thuận lợi cho người thầy thuốc cống hiến và ngăn chặn những nguyên nhân dẫn đến vi phạm đạo đức 98

3.2.3 Ban hành những quy định pháp luật hướng đến xây dựng đạo đức thầy thuốc mang tính nền tảng, bền vững 104

Tiểu kết chương 3 108

KẾT LUẬN 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Một số hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Trang 8

MỞ ĐẦU

Trong đời sống nhân loại, sức khỏe con người chưa bao giờ là một vấn đề bị xem nhẹ vì thế nghề y luôn là một nghề cao quý được nể trọng trong suốt chiều dài lịch sử, là nghề hội tụ hài hòa của những giá trị y lý, y thuật, y đức Và người thầy thuốc, với tài năng thôi chưa đủ, đức độ là điều mà cả xã hội mong muốn và đòi hỏi

từ họ, đặc biệt là trong xã hội phức tạp và hiện đại ngày nay

Nhu cầu chăm sóc sức khỏe gia tăng chính là cơ hội lớn để phát triển ngành

y tế, để ngành này trở thành một trong những ngành quan trọng và phát triển hàng đầu, mang lại sự tin tưởng cho người dân Trong khi đó, thực tế là cũng chưa khi nào mà người dân lại lo ngại khi phải đến bệnh viện, các cơ sở y tế như hiện nay Bởi lẽ, trong hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ thầy thuốc đã xuất hiện những biểu hiện tiêu cực, làm mờ nhạt bản chất nhân đạo tốt đẹp của y đức truyền thống, gây mất lòng tin trong cộng đồng Điều này còn khiến cho nhiều người hoang mang tự hỏi về nguyên nhân sự xuống cấp của đạo đức người thầy thuốc và pháp luật đã và đang làm gì để điều chỉnh vấn đề này?

Y đức là một vấn đề của đạo đức, đạo đức con người và đạo đức nghề nghiệp, trong khi đó pháp luật lại mang tính quy phạm, là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên mối quan hệ giữa hai khái niệm tưởng như không liên quan này thực tế lại rất chặt chẽ, và pháp luật - có thể nói là đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đạo đức của người thầy thuốc

1 Tính cấp thiết của đề tài Tháng 10 năm 2013, cả nước xôn xao về một vụ việc xảy ra tại thẩm mỹ viện Cát Tường (Hà Nội) khi bác sĩ đứng đầu trung tâm thẩm mỹ này đã vi phạm nghiêm trọng các quy định y tế trong thực hiện nghề nghiệp khiến cho bệnh nhân tử vong, sau đó bác sĩ này đã mang vứt xác phi tang tại sông Hồng Đồng thời, những vụ việc liên quan đến hàng loạt trẻ sơ sinh chết sau khi tiêm vắc-xin, các trường hợp sản phụ bị tử vong do sự bất cẩn, tắc trách của đội ngũ y bác sĩ thu hút sự chú ý đặc biệt của xã hội, hay trên mạng Internet lan truyền với tốc độ chóng mặt những đoạn clip ngắn quay lại cảnh bác sĩ quát mắng, sách nhiễu người nhà bệnh nhân.Tất cả

Trang 9

những sự việc đó làm sôi sục lên trong cả xã hội một mối quan ngại sâu sắc về đạo đức của những một bộ phận không nhỏ thầy thuốc trong xã hội hiện nay, những người được đào tạo nhiều năm trong các trường đại học hàng đầu của cả nước và

thuộc lòng lời dạy của Bác Hồ "lương y phải như từ mẫu"

Đi tìm câu trả lời cho mối quan tâm mang tên y đức, người ta nghĩ ngay đến việc tìm đến pháp luật như một nguyên nhân lí giải cho những thực trạng trước mắt

và cũng như một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề nan giải này của xã hội

Pháp luật Việt Nam hiện hành, với một số những quy định liên quan đến việc xây dựng đạo đức của người thầy thuốc đã phần nào định hướng, điều chỉnh và khắc chế được những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực đó Tuy nhiên những hạn chế trong quy định, hệ thống hóa và điều chỉnh vấn đề này còn khá rõ rệt, cần thiết phải

có những quy định rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ hơn trong việc xây dựng đạo đức thầy thuốc

Để mang tới một cái nhìn cụ thể và hoàn chỉnh hơn về vấn đề này với hy vọng đóng góp vào việc nâng cao vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức

người thầy thuốc, tôi sau đây sẽ đi vào nghiên cứu đề tài: Vai trò của pháp luật đối

với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc, thực trạng và giải pháp

2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật, đạo đức, đạo đức thầy thuốc, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

- Vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc

3 Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm trở lại đây, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề đạo đức người thầy thuốc như cuốn “Đạo đức và y đức Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Hiền, NXB y học, xuất bản năm 1992 đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa đạo đức với đạo đức nghề y, đưa ra yêu cầu chủ yếu về đạo đức và những phương pháp căn bản để rèn luyện đạo đức cho người thầy thuốc Cuốn “đạo đức y học” của giáo sư Hoàng Đinh Cầu, trường đại học Y Hà Nội xuất bản năm 1991, nêu lên một số nhiệm vụ cụ thể của người thầy thuốc trong quan hệ với người bệnh

Năm 2008, giáo sư Phạm Thị Minh Đức đã công bố đề tài: Nghiên cứu, khảo sát

Trang 10

việc thực hành y đức tại một số bệnh viện và mới đây, năm 2011, tiến sĩ Lê Thị Lý

cũng đã chọn đạo đức người thầy thuốc làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình với tiêu đề “nâng cao đạo đức người thầy thuốc trong điều kiện hiện nay ở nước ta”

Tuy nhiên, nghiên cứu về đạo đức người thầy thuốc dưới góc độ pháp luật thì lại có rất ít bài viết viết về chủ đề này, hiếm hoi có thể kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 155, 2005 với tựa

đề Pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực y học ở Việt Nam; bài Luận đàm về y đức và

pháp luật của Nguyễn Minh Tuấn trên một trang mạng cá nhân và một bài báo đăng

trên báo Người Lao Động số tháng 3 năm 2014 của tác giả Ngọc Dung về ý kiến Luật hóa y đức

Như vậy, thực tế là chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức thầy thuốc một cách công phu, đầy đủ, tâm huyết và toàn diện

4 Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là mang tới một cái nhìn tổng quan về mặt lý luận và pháp lí về vai trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức của người thầy thuốc Đồng thời chỉ ra những điểm đáng ghi nhận và những điểm còn thiếu sót, tồn tại trong thực trạng vấn đề y đức hiện nay và những ảnh hưởng của pháp luật trong vấn đề này Từ đó đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao đạo đức người thầy thuốc và hoàn thiện pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức người thầy thuốc

Mục đích trên được cụ thể trong việc khái quát những nhiệm vụ chính của luận văn là:

Thứ nhất, làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ và vai trò của pháp luật đối

với đạo đức của người thầy thuốc

Thứ hai, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan để làm sáng

tỏ vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng nên đạo đức của người thầy thuốc

Thứ ba, thông qua việc nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành và việc

áp dụng pháp luật trong thực tế để đưa ra các đánh giá về thực trạng vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc

Trang 11

Thứ tư, đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao vai trò của pháp

luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc

5 Phương pháp nghiên cứu Cũng như nhiều khoa học pháp lý khác, trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác

Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng ngành y tế phát triển toàn diện làm cơ sở phương pháp luận cho việc tìm hiểu nghiên cứu đánh giá vấn đề theo một quan điểm đúng đắn, biện chứng và khoa học

Trong từng nội dung cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp khác nhau một cách có hệ thống và nhất quán nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu như sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, Luận văn cũng sử dụng phương pháp so sánh các quy định trong pháp luật của một số quốc gia điển hình, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong việc quy định và áp dụng các vấn đề liên quan đến xây dựng đạo đức người thầy thuốc Từ

đó, rút ra những ưu và nhược điểm, xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật trong xây dựng đạo đức người thầy thuốc và cuối cùng là hướng tới nâng cao đạo đức người thầy thuốc

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn về đề tài Vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy

thuốc, thực trạng và giải pháp ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham

khảo được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức

thầy thuốc

Chương 2: Thực trạng vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức

thầy thuốc

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò của pháp luật đối với việc

xây dựng đạo đức thầy thuốc

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC THẦY THUỐC

1.1 Khái quát về pháp luật và đạo đức, đạo đức thầy thuốc

1.1.1 Pháp luật và đạo đức 1.1.1.1 Pháp luật

Để tổ chức và quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, có nhiều công

cụ, phương tiện được sử dụng, trong đó pháp luật giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Là một hiện tượng xã hội phức tạp, cho nên ngay từ khi mới ra đời cũng như trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, pháp luật luôn là đối tượng được quan tâm, nghiên cứu và trở thành vấn đề gây tranh cãi với nhiều quan điểm trái chiều, không thống nhất giữa các trường phái và thay đổi theo từng giai đoạn

Ở xã hội cộng sản nguyên thủy, không có pháp luật nhưng lại tồn tại những quy tắc ứng xử chung thống nhất, đó là những tập quán và các tín điều tôn giáo Khi chế độ tư hữu xuất hiện, trong điều kiện xã hội có phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Nhà nước ra đời, để duy trì trật tự thì nhà nước cần có pháp luật như một công cụ để điều chỉnh hành vi con người nhằm duy trì trật

tự xã hội Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, không tách rời nhà nước và đều là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp

Quan điểm của Mác –Lênin trước đây được nhắc đến như là một quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình về hiện diện khách quan của pháp luật trong đời sống

xã hội có giai cấp Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể Luật không chỉ đơn giản là sự hiện hữu bằng hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác nữa: các nguyên tắc pháp luật, khung pháp luật, chính sách pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và các học thuyết pháp lý Tiếp theo, pháp luật là một hiện tượng xã hội vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội Tính giai cấp của pháp luật biểu hiện thông qua nhà nước, tư tưởng của giai cấp thống trị được thể chế hóa thành luật

Trang 13

pháp Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Do đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp

Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội Pháp luật do nhà nước đại diện chính thức cho toàn xã hội - ban hành Vì vậy, một mặt, pháp luật thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội; mặt khác, với tính cách là những quy tắc xử sự chính trong xã hội, pháp luật và thực trạng của

hệ thống pháp luật còn là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, bảo lưu, thừa kế những giá trị tốt đẹp của văn hóa và văn minh truyền thống

Tuy nhiên, theo quan niệm về pháp luật hiện đại thì những quan điểm trên đã bộc lộ nhiều hạn chế Nhìn vào pháp luật, về bản chất nguyên gốc là mối tương quan giữa con người với con người, giữa con người với tập thể, lâu dần trở thành quy tắc xử sự, mỗi người phải tuân thủ khi giao tiếp với nhau cũng như giao tiếp với

xã hội, sau này trở thành một định chế, trở thành khoa học được mọi người tuân theo, được bảo đảm thực hiện và có chế tài khi có sự vi phạm Vì vậy, pháp luật, hiện nay được hiểu là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền con người, là đại lượng của công bằng, công lý, nó chứa đựng và thể hiện các giá trị của đạo đức và hơn nữa, pháp luật là đại lượng chứa đựng, bảo vệ và thể hiện các giá trị quyền con người, dân chủ Cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật được yêu cầu phải là đại lượng của công bằng, công lý

Có thể nói, đây là một quan niệm không phổ biến trước đây bởi không phải hệ thống pháp luật nào cũng được xây dựng nhằm hướng tới sự công bằng, công lý cho

xã hội mà nó tập trung vào phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị, là công cụ

để giai cấp cầm quyền quản lý xã hội Chính vì vậy, những mâu thuẫn giai cấp, những xung đột về lợi ích và sự bất công bằng luôn hiện hữu khi mà pháp luật không phải là công cụ bảo vệ quyền lợi cho mọi giai tầng Thay thế quan niệm nhiều hạn chế đó, quan niệm về pháp luật hiện đại hướng tới đại chúng, đến sự công bằng và công lý Công lý thì không có giai cấp và công bằng không quan tâm đến giai tầng, pháp luật nên là và phải là cán cân công lý để đảm bảo công bằng xã hội

Đó là điều mà một hệ thống pháp luật cần hướng tới và đạt được

Thứ hai, pháp luật phải thể hiện và chứa đựng các giá trị đạo đức Đạo đức là

Trang 14

một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất lâu trước khi con người có ý niệm về pháp luật Và trong tiến trình phát triển của mình, đạo đức chưa bao giờ bị thay thế hay triệt tiêu bởi một hình thái ý thức xã hội nào khác bởi tầm quan trọng và những giá trị mà nó mang lại Vì thế mà bất kì một hệ thống pháp luật nào, bao giờ cũng ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng đạo đức nhất định Đạo đức là môi trường cho tồn tại và phát triển của pháp luật, là một trong những chất liệu làm nên các quy định trong hệ thống pháp luật, những quan điểm, quan niệm, chuẩn mực đạo đức đóng vai trò là tiền đề tư tưởng, chỉ đạo việc xây dựng pháp luật Và một hệ thống pháp luật muốn tồn tại và được chấp nhận thì điều tiên quyết là nó không trái với đạo đức và hơn nữa, pháp luật trong quan niệm hiện đại phải là những quy định bao chứa những quy tắc, chuẩn mực và thể hiện những giá trị của đạo đức

Thứ ba, pháp luật phải là đại lượng chứa đựng, bảo vệ và thể hiện các giá trị

quyền con người, quyền dân chủ Nếu không có sự thừa nhận của xã hội thông qua pháp luật thì quyền tự nhiên vốn có của con người chưa trở thành quyền thực sự Các quyền đó được pháp luật hóa và mang tính bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ Pháp luật là công cụ sắc bén trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người và

là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Ở đây pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công

cụ, phương tiện của Nhà nước mà còn là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội

để thực hiện, bảo vệ quyền con người

Trong một xã hội không còn đối kháng giai cấp thì Nhà nước là người đại điện cho mọi tầng lớp, gia cấp Cho nên, hoạt động của Nhà nước và hệ thống pháp luật tự thân đã bao hàm trong đó ý nghĩa các giá trị chân chính là đại lượng của công bằng, công lí và hướng tới bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người Việc thực thi pháp luật cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo trên thực tế các quyền thiêng liêng của con người, sự tôn trọng các giá trị xã hội và các giá trị đạo đức

Với tư cách là phương tiện có vai trò quan trọng nhất để tổ chức và quản lý đời sống xã hội, pháp luật có ba chức năng cơ bản sau:

Một là, chức năng điều chỉnh: đây là chức năng bảo đảm điều chỉnh các quan

Trang 15

hệ xã hội theo những quy phạm pháp luật Hai là, chức năng bảo vệ: pháp luật đảm

bảo cho các quan hệ xã hội đã được xác lập không bị xâm hại bất luận từ hướng nào

bằng các chế tài pháp luật Ba là, chức năng giáo dục: pháp luật được thể hiện thông

qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, hình thành ở con người những tư tưởng tình cảm tốt đẹp Pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa đề cao chức năng này

sự giao tiếp hàng ngày

Ở phương Đông, đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Hoa cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường, về sau khái niệm đạo đức được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo có nghĩa

là con đường sống của con người trong xã hội

Khái niệm đạo đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu và từ

đó trở đi được người Trung Quốc sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Hoa cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo

Ở phương Tây, từ lâu vấn đề đạo đức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà

tư tưởng Cho đến nay người ta vẫn coi Xôcrát (469 - 399 tr.CN) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức Còn Arixtốt (384 - 322 tr.CN) đã viết bộ sách

Đạo đức học với 10 cuốn, trong đó ông đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh của con

người Nội dung phẩm hạnh chính là ở chỗ biết định hướng đúng, biết làm việc thiện Ông nói: Chúng ta bàn đến đạo đức không phải để biết đức hạnh là gì mà để trở thành

Trang 16

con người có đức hạnh Trong khi đó Êpiquya (341 - 271 tr.CN) lại là người đầu tiên

đưa phạm trù “lẽ sống” vào đạo đức học, và là một trong những người có công luận

giải về sự tự do của con người

Từ đó đến nay, với bao biến cố, thăng trầm của lịch sử nhưng không bao giờ nhân loại không quan tâm, không bàn luận về vấn đề đạo đức

Đạo đức là một vấn đề phức tạp, có nhiều mặt, mỗi khi đối tượng được định nghĩa càng có nhiều mặt phải quan sát bao nhiêu, thì định nghĩa mà người ta đưa ra trên cơ sở các mặt ấy càng khác nhau bấy nhiêu.Với ý nghĩa đó, khó có thể có một định nghĩa đầy đủ, hoàn chỉnh về đạo đức

Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng: Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội

Trong khi đó, với thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên sự kế thừa có chọn lọc những quan niệm về đạo đức trước đó, quan điểm Mác xít cho rằng: đạo đức là sản phẩm của điều kiện kinh tế, xã hội Trong đó nhân tố quy định đạo đức là các quan hệ kinh tế, lợi ích là cái chi phối trực tiếp, là cơ sở khách quan của đạo đức

Dưới góc độ nhận thức luận, đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội Tính chất đặc biệt của đạo đức thể hiện trong quá trình hình thành các quy tắc đạo đức, đó là do sự thừa nhận của số đông trong xã hội hay sự thừa nhận của một giai cấp nhất định

Dưới góc độ chức năng, đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng những chuẩn mực và quy tắc đạo đức theo yêu cầu của xã hội, mục đích là nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội hay lợi ích cơ bản của giai cấp đã đề ra chuẩn mực, quy tắc đạo đức ấy Với chức năng giáo dục, đạo đức giúp cho con người hình thành những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực cơ bản để đánh giá hành động đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức của bản thân mỗi con người

Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, ra đời, tồn tại và biến đổi theo nhu cầu xã hội, nhằm

Trang 17

điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan

hệ với xã hội Sự đánh giá hành vi của con người theo chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa Chúng được thực hiện một cách tự nguyện tự giác, xuất phát từ nhận thức, niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, xét về bản chất đạo đức là sự tự lựa chọn của con người

Đạo đức là hệ thống các giá trị Hệ thống giá trị đạo đức chia thành giá trị chung (lương tâm, bổn phận,…); giá trị riêng (trách nhiệm cá nhân, tính liêm khiết, ) dưới góc độ tác động và tác dụng của giá trị người ta lại chia ra giá trị tích cực (thiện, tốt, hạnh phúc, ) và giá trị tiêu cực (ác, xấu, bất hạnh, )

Đặc trưng của giá trị đạo đức là chỗ nó cấu tạo bởi tính có ích, tính tự giác, tính tự nguyện, và tính không vụ lợi của hành vi

Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc phủ định một lợi ích chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó Nghĩa là nó bày tỏ

sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa

cá nhân với cộng đồng xã hội nhất định Vì vậy, đạo đức là nội dung hợp thành hệ thống giá trị xã hội Sự hình thành, phát triển và hoàn chỉnh hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh của ý thức đạo đức Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ xã hội, thì hệ thống ấy có tính tích cực, nhân đạo Ngược lại hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản tiến bộ, phản nhân đạo

1.1.1.3 Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật

Lại nói về góc độ lịch sử phát triển, từ hình thức xã hội đầu tiên xã hội cộng sản nguyên thủy, những chuẩn mực đạo đức và tín điều tôn giáo trở thành những quy phạm xã hội, mọi người trong xã hội đều tuân theo một cách tự nguyện do đó là những quy tắc mà họ cùng nhau đặt ra Đến khi nhà nước ra đời kéo theo sự ra đời của pháp luật thì kể từ đó, đạo đức và pháp luật song song tồn tại cho đến ngày hôm nay

Trang 18

Đạo đức và pháp luật có rất nhiều điểm khác biệt, từ sự hình thành, cách thức ban hành, biện pháp bảo đảm thực hiện, đến trách nhiệm chủ thể phải chịu Có thể

kể đến một vài điểm khác nhau cơ bản như sau:

Về con đường hình thành, pháp luật ra đời bằng con đường nhà nước, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận Trong khi đó đạo đức được hình thành một cách tự

do tự phát do nhận thức của cá nhân và cộng đồng khi họ cần có những quy tắc, chuẩn mực chung để điều chỉnh, ổn định trật tự và điều hòa các mối quan hệ xã hội

Về hình thức thể hiện, hình thức thể hiện của đạo đức đa dạng hơn so với hình thức thể hiện của pháp luật, nó được biểu hiện thông qua dạng không thành văn (văn hóa truyền miệng, phong tục, tập quán,…) và đa dạng thành văn (kinh, sách, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật,…) còn pháp luật lại biểu hiện chủ yếu dưới dạng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (ở một số hệ thống pháp luật của quốc gia trên thế giới thì còn có tiền lệ pháp và tập quán pháp)

Về tính chất quy phạm (khuôn mẫu) thì trong khi đạo đức mang tính chung chung, định hướng còn pháp luật thì lại cụ thể, rõ ràng Đạo đức chỉ nhằm định hướng cho con người nên con người cần tự tìm tòi khám phá và qua dư luận mà điều chỉnh hành vi một cách cụ thể

Đạo đức có nguồn gốc giá trị lâu dài, khi con người ý thức hành vi, tự họ sẽ điều chỉnh hành vi đó Do sự điều chỉnh đó xuất phát tự tự thân chủ thể nên hành vi đạo đức có tính bền vững Ngược lại, pháp luật là sự cưỡng bức, tác động bên ngoài, dù muốn hay không người đó cũng phải thay đổi hành vi của mình Sự thay đổi này có thể là không bền vững vì nó có thể lập lại ở nơi này hay nơi khác nếu vắng bóng pháp luật

Về biện pháp thực hiện, pháp luật đảm bảo bằng nhà nước thông qua các bộ máy cơ quan như cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp, cảnh sát, còn đạo đức lại được đảm bảo bằng dư luận và lương tâm con người

Bên cạnh đó, sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật được thể hiện ở ba điểm sau đây:

Thứ nhất, pháp luật và đạo đức đều có chung mục tiêu, đó là các quan hệ xã

Trang 19

hội và hành vi của con người Pháp luật và đạo đức đều nhằm đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển một cách ổn định và trật tự, qua đó bảo vệ và định hướng những quan hệ xã hội phù hợp với ý chí và lợi ích chung của cộng đồng xã hội và giai cấp thống trị Pháp luật và đạo đức còn là công cụ hướng hành vi của con người vào những khuôn khổ trật tự nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội

Thứ hai, đạo đức và pháp luật đều mang tính quy phạm phổ biến, chúng là

những khuôn mẫu chuẩn mực trong hành vi của con người, tác động đến tất cả các

cá nhân, tổ chức trong xã hội và tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong đời sống

Thứ ba, pháp luật và đạo đức đều phản ánh sự tồn tại của xã hội trong những

giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Chúng là kết quả của quá trình nhận thức đời sống của chính mình Pháp luật và đạo đức đều chịu sự chi phối, đồng thời tác động lại đời sống kinh tế xã hội

Trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, với những điểm khác biệt và tương đồng như đã được đề cập ở trên thì đạo đức và pháp luật trong quá trình song hành tồn tại chúng không mâu thuẫn, bài trừ nhau mà lại bổ sung, hỗ trợ và tác động qua lại lẫn nhau, cùng nhau trở thành những quy tắc xã hội để điều chỉnh hành vi của con người Để hiểu được mối quan hệ khăng khít giữa đạo đức và pháp luật thì

cần hiểu được vai trò và tác động qua lại của đạo đức lên pháp luật và ngược lại

Về mặt tác động của đạo đức đến pháp luật, đạo đức có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành các quy định trong hệ thống pháp luật Bất kì một hệ thống pháp luật nào bao giờ cũng ra đời, tồn tại và phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định Những quan điểm, quan niệm, chuẩn mực đạo đức đóng vào trò là tiền đề

tư tưởng, chỉ đạo việc xây dựng pháp luật

Thứ nhất, đạo đức tác động đến việc hình thành các quy định trong hệ thống

pháp luật Đạo đức là môi trường cho sự phát dinh tồn tại và phát triển của pháp luật, là một trong những chất liệu làm nên các quy định trong hệ thống pháp luật Những quan điểm, quan niệm, chuẩn mực đạo đức đóng vào trò là tiền đề tư tưởng, chỉ đạo việc xây dựng pháp luật

Sự tác động của đạo đức tới việc hình thành các quy định trong pháp luật

Trang 20

diễn ra ở nhiều cấp độ Ở cấp thấp nhất thì các quy phạm pháp luật được xây dựng không trái với đạo đức xã hội, Ở cấp độ cao hơn thì các quy định được ban hành có

sự thống nhất, phù hợp với những quan điểm đạo đức Ở cấp độ này thì đạo đức đã ảnh hưởng tới việc hình thành quy định trong hệ thống pháp luật như thừa nhận một tập tục, tập quán đạo đức thành tập quán pháp hay giải quyết một vấn đề, một vụ việc cụ thể dựa trên quan niệm đạo đức trở thành tiền lệ pháp

Trong đạo đức xã hội, đạo đức của giai cấp thống trị có ảnh hưởng đến pháp luật mạnh mẽ nhất vì bộ máy nhà nước được cấu thành trước hết và chủ yếu từ các thành viên trong giai cấp thống trị, hơn nữa giai cấp này còn có tiềm lực kinh tế, các công cụ tuyền truyền, Những chuẩn mực đạo đức truyền thống cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới pháp luật vì truyền thống làm nên bản sắc dân tộc, truyền thống là cơ

sở, động lực của phát triển

Thứ hai, đạo đức tác động đến việc thực hiện pháp luật của các chủ thể Sự

tác động này phụ thuộc vào hai yếu tố: sự phù hợp của đạo đức với pháp luật và ý thức đạo đức của mỗi chủ thể các nhân trong xã hội

Sự phù hợp của đạo đức và pháp luật ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc thực hiện pháp luật Nếu như pháp luật được xây dựng phù hợp với đạo đức thì nó sẽ được công dân chấp hành nghiêm chỉnh Nhưng nếu như có những điều lệ mà pháp luật đưa ra trái với đạo đức thì nó sẽ khó đi vào cuộc sống của mọi người và từ đó sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện

Thêm vào đó, chính ý thức đạo đức của mỗi cá nhân cũng ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật Đạo đức là môi trường thuận lợi để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật Những người có ý thức đạo đức cao thì trong mọi trường hợp đều nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật Trái lại những người có ý thức đạo đức thấp, sống trong môi trường đạo đức thấp thì dễ vi phạm pháp luật

Kế đến là tác động của pháp luật tới đạo đức,

Thứ nhất, pháp luật là một trong những phương tiện để nhà nước đưa ra

những quan niệm đạo đức trở thành các chuẩn mực đạo đức chính thống trong xã hội hay nói một cách khác, đó chính là pháp luật hóa các chuẩn mực đạo đức Trong

Trang 21

chừng mực nhất định, nhà nước pháp luật hóa các quy phạm, nguyên tắc đạo đức thành các quy phạm pháp luật những quy tắc xử sự tương đối cụ thể cho các chủ thể trong xã hội, xác định rõ hành vi được phép thực hiện, các hành vi buộc phải thực hiện, các hành vi bị ngăn cấm Bằng cách này, pháp luật góp phần củng cố, giữ gìn,

và phát huy các giá trị đạo đức xã hội, bảo đảm cho đạo đức trở thành phổ biến hơn trên toàn xã hội đồng thời nó góp phần hỗ trợ, bổ sung cho đạo đức, đảm bảo chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế thông qua những biện pháp tác động của nhà nước Ví như Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta, tại Điều 131 đã quy định: Những giao dịch dân sự trái với pháp luật và đạo đức thì bị coi là vô hiệu Điều đó

có nghĩa là chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự phải cân nhắc xem hành vi của mình có hợp pháp và hợp đạo đức hay không

Thứ hai, pháp luật giữ vai trò loại bỏ những quan niệm, tư tưởng đạo đức lạc

hậu, phản tiến bộ trong đời sống xã hội, đồng thời ngăn chặn sự tha hóa xuống cấp của đạo đức hay việc hình thành những quan niệm đạo đức trái với thuần phong mĩ tục của dân tộc và tiến bộ xã hội Thông qua những quy định cụ thể, pháp luật không cho phép hoặc cấm những hành vi thực hiện theo những quan niệm, tư tưởng đạo đức xưa cũ, lạc hậu, không phù hợp với cuộc sống hiện đại

Thêm vào đó, xã hội ngày nay, khi những cánh cửa hội nhập đang mở rộng mang theo những ảnh hưởng của kinh tế, chính trị, văn hóa, hoặc khi những giá trị đạo đức truyền thống không còn được nhận thức đúng đắn, việc giáo dục đạo đức trong gia đình và nhà trường bị coi nhẹ Trong những trường hợp ấy, pháp luật là phương tiện, là công cụ hữu hiệu nhất để diệt trừ cái ác, ngăn chặn sự băng hoại đạo đức trong xã hội

Pháp luật được xây dựng để trở thành công cụ quan trọng nhất của nhà nước

để quản lý các quan hệ xã hội Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta

đã khẳng định quan điểm: Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức

Do được xây dựng trên cơ sở các quan điểm đạo đức của nhân dân, pháp luật không nhưng thể hiện được tư tưởng đạo đức cách mạng, đạo đức truyền thống của

Trang 22

dân tộc,đạo đức tiến bộ mà còn thể hiện được ý chí, nguyện vọng và hướng tới lợi ích của nhân dân lao động Đồng thời, pháp luật phản ánh rõ nét tinh thần nhân đạo

tư tưởng đạo đức cơ bản của nhân dân ta

Như vậy, đạo đức trong xã hội đã thực sự hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện cho pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống Ở chiều ngược lại, pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy các quan niệm đạo đức tốt đẹp, hình thành những tư tưởng đạo đức tiến bộ, ngăn chăn sự thoái hóa xuống cấp của đạo đức, loại trừ những tư tưởng đạo đức cũ, lạc hậu, phản tiến bộ

Qua đó có thể thấy được, giữa đạo đức và pháp luật, dù chúng có sự khác biệt rất lớn tuy nhiên xét về bản chất, chúng đều là những quy tắc, chuẩn mực chung được thừa nhận rộng rãi nhằm điều chỉnh hành vi của con người và đảm bảo trật tự, lợi ích cộng đồng, hướng tới sự phát triển của xã hội Giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau và đóng vai trò quan trọng đối với yếu tố còn lại

1.1.2 Đạo đức người thầy thuốc

Người thầy thuốc theo cách hiểu phổ biến hiện nay là người hành nghề chữa bệnh cứu người Theo đó người thầy thuốc được hiểu tất cả những người hành nghề

y thuật, chữa bệnh cứu người bao gồm cả người bác sĩ tây y, đông y, người có chứng chỉ, giấy phép hành nghề được đào tạo bài bản qua các trường đạo tạo về y học, các lương y [49, Điều 2] và những người có bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp chữa bệnh gia truyền [49, Điều 2] Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này sẽ chỉ giới hạn đề cập đến khái niệm người thầy thuốc trong phạm vi

là những người hành nghề y thuật có chứng chỉ, giấy phép hành nghề

Xét về bản chất, đạo đức thầy thuốc (thông thường còn được sử dụng tương đương với khái niệm y đức) là một khái niệm nằm trong phạm trù đạo đức nghề nghiệp hay nói cách khác là một loại hình đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là những tiêu chuẩn, nguyên tắc trong hành nghề của một nghề nhất định, được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi và mối quan hệ giữa người hành nghề với nghề, với đồng nghiệp và với các đối tượng khác trong xã hội

Trang 23

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung, lịch sử tư tưởng đạo đức nói riêng, y đức luôn luôn trở thành đối tượng quan tâm của nhiều thế hệ, trong nhiều thời đại khác nhau Ở Ấn Độ cổ đại, từ thế kỷ thứ V-III T.C.N trong tập thơ dân gian Ana Vêda đã đề cập đến tiêu chuẩn của người làm nghề y tế Đó là những người: “Phải hết lòng chăm lo chạy chữa cho bệnh nhân, và cả đến lúc phải hi sinh cuộc đời mình cũng không có quyền làm cho bệnh nhân đau đớn, không bao giờ nên có trong đầu ý nghĩ làm phật lòng vợ kẻ khác, cũng như chà đạp lên của cải của họ Dù có tài cao học rộng, người thầy thuốc cũng không nên khoe khoang những điều hiểu biết của mình” [24, tr.85]

Galen - Một trong những nhà y học nổi tiếng của La mã cổ đại, đã có những quan điểm đạo đức tiến bộ Ông đã gay gắt chỉ trích, lên án sự dốt nát lòng tham lam đê tiện của một số thầy thuốc lúc bây giờ “chỉ săn sóc bọn giàu sang, kẻ quyền thế những kẻ khác thì cố gắng che dấu sự bất tài của mình trước quần chúng bằng cái hào nhoáng của y phục, những kim cương đắt tiền

và những đồ trang sức xa hoa” [24, tr.85]

Ở Hi lạp cổ đại, danh y Hyppocrat đã để lại cho chúng ta lời thề bất tử Lời thề ấy chứa đựng yếu tố nhân đạo, nó là sự đòi hỏi, phải giữ gìn mình, là bổn phận thái độ ứng xử sao cho có lương tâm, có trách nhiệm của con người với đồng loại, với đồng nghiệp và với bệnh nhân rằng:

“Tôi xin thề trước Apollon thần chữa bệnh, trước Esculape thần Y học, trước thần Hygic và Panacu và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ thiên thần là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam kết sau đây

Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra tôi, khi cần tôi sẽ đáp ứng nhu cầu của các vị đó Tôi sẽ coi con của thầy như anh em ruột thịt của tôi và nếu họ muốn học nghề y thì tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà cũng không dấu nghề Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho con tôi, các con của thầy tôi và cho tất các môn đệ cùng gắn bó bởi một lời thề và lời cam kết đúng với y luật mà không truyền dạy cho ai khác

Trang 24

Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh, tuỳ theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công

Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả họ yêu cầu và cũng không tự mình gợi ý cho họ, cũng như vậy, tôi cũng không trao cho bất cứ người nào những thuốc gây sẩy thai

Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết

Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mổ bàng quang mà dành công việc

đó cho những người chuyên

Dù bất cứ giá nào tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại, nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ

Dù có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và ngoài lúc hành nghề của tôi Tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó là một nghĩa vụ

Nếu tôi làm tròn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của con người Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội thì tôi sẽ chịu một số phận khổ sở ngược lại” [80]

Như vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử y học phương Tây Hyppocrat đã

đưa ra những quan điểm quan trọng, cốt lõi cho đạo đức của người thầy thuốc như chữa bệnh cho người nghèo, tận tâm, tận lực, hết lòng vì người bệnh Ngoài ra, lời thề Y khoa (Amates Lusitanus) của Y sĩ Bồ Đào Nha gốc Do Thái năm 1568 cũng

để lại nhiều giá trị y đức tốt đẹp

Còn ở phương Đông, y đức có nguồn gốc từ quan niệm cái đức của người thầy thuốc phải rộng như biển cả, và tự mình phải minh Nếu có cầu xin là cầu xin tất cả những gì có thể cứu được bệnh nhân từ nước, lửa, cây cỏ như Vêda “Hãy cứu sống kẻ này như các mẹ hiền và khi đó các thầy thuốc sẽ được trọng vọng như bậc thần thánh” [24]

Phật giáo và thuyết nhân - quả luân hồi khuyên người thầy thuốc giỏi phải có đức độ, vị tha như lời khuyên của phật “y đức là niết bàn”

Trang 25

Theo Lão học và Đạo học thì bản chất của y khoa là cứu người, cái đức của ông thầy thuốc là cứu người mà không thấy rằng mình cứu người, không nói rằng mình cứu người

Với lòng nhân ái cao cả “thương người như thể thương thân” nhân dân ta rất quý trọng nghề y và tôn vinh những người thầy thuốc hết lòng vì người bệnh mà các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông (1720 - 1791) đều hết sức chú trọng xây dựng và truyền đạt y đức tới người thầy thuốc

Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một trong những tấm gương sáng về

y đức, y đạo, y thuật của y học cổ truyền Việt Nam Ông đề cao y đức, đòi hỏi ở người thầy thuốc:

Tôi đã hiến thân cho nghề thuốc nên lúc nào tôi cũng muốn dồn hết khả năng trí óc thật rộng rãi để dựng lên ngọn cờ đỏ thắm giữa y trường Tôi thường thấm thía rằng: Thầy thuốc là người có nhiệm vụ bảo vệ sinh mạng của người ta, lẽ sống chết, điều phúc hoạ điều ở trong tay mình xoay chuyển

Lẽ nào người có trí thức không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không thật trọng mà dám theo đòi bắt chước nghề Y Đạo làm thầy thuốc là nhân thuật, có nhiệm vụ là giữ gìn tính mạng cho con người, chỉ lấy việc giúp mình mà không cầu lợi kể công Vui cái vui của người bệnh, lo cái lo của người bệnh, làm hết những việc đáng là để giúp

đỡ mọi người Thế rồi lòng này không hổ thẹn với trời đất [56]

Từ những quan niệm đó ông đã đưa ra các chuẩn mực của người thầy thuốc cần phải có: nhân, minh, trí, đức, thành, lượng, khiêm, cần Theo đó:

Nhân là sự nhân từ bác ái cộng hưởng mọi người và quan tâm đến

người khác, không cá nhân ích kỷ

Minh là phải hiểu biết rộng, sáng suốt minh bạch, không nhầm lẫn Trí là khôn khéo nhạy bén, để tâm lo nghĩ việc làm, không cẩu thả

tuỳ tiện

Đức là phải có đạo đức nhân hậu, cốt làm điều lành để của đức về sau,

chống điều ác

Trang 26

Thành là thành thật, ngay thẳng, trung thực vô tư, không dối trá

không thiên lệch

Lượng là phải độ lượng, hoà nhã, đúng mức vừa phải

Khiêm là phải chuyên cần học hỏi và phải thực sự cầu thị, không tự phụ

chủ quan

Cần là phải chuyên cần nhẫn nại và cần cù chịu khó

Ông cũng khuyên những người hành nghề y thuật rằng: không nên thấy người giàu sang quyền quý thì hết lòng phục vụ, thấy người khổ tàn tật thì thờ ơ

Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém Khi lòng mình không thành thật thì khó lòng thu được hiệu quả [57]

Theo ông, người thầy thuốc phải có lòng nhân, lòng nhân này là nhân ái vị tha, phải có lương tâm nghề nghiệp Khi người thầy thuốc khoanh tay trước một bệnh hiểm nghèo thì đó là thầy thuốc chỉ nghĩ đến danh tiếng cá nhân Chính vì sợ chết mà bệnh nhân tìm đến thầy thuốc, bây giờ đứng trước tình trạng vô vọng mà người thầy thuốc lại khoanh tay, thì thầy thuốc để làm gì Người thầy thuốc phải có trí tuệ đầy

đủ, đó là yêu cầu của nghề nghiệp, vì trí là cơ sở để thực hiện điều nhân Đạo làm thầy thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và phải vui cái vui của người, phải lấy việc cứu mạng người làm cái vui của mình, không nên cầu lợi, không kể công, tuy không có báo ứng ngay nhưng để lại ân đức cho đời sau Người thầy thuốc là nơi để người ta gửi gắm tính mạng nên phải nhiệt tình khám chữa bệnh, không phân biệt sang hèn, không cầu lợi kể công, không đem nhân thuật làm chước lừa dối, đem lòng nhân ra đổi lòng mua bán

Những đức tính của người thầy thuốc là yêu nghề, yêu người, nhân từ, khiêm tốn lạc quan, thận trọng, biết cách đối xử Hải Thượng Lãn Ông cho rằng khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí thất thường, mà minh cầu cạnh hay sinh ra khinh rẻ Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi, thường hay sinh chuyện cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao, ta càng phải giữ

Trang 27

khí tiết cho trong sạch Đồng thời ông cũng đưa ra tám tội của người thầy thuốc mà theo ông đó là biểu hiện suy đồi về đạo đức

Tội lười: là chẩn đoán qua loa đại khái, ngại vất vả không chịu đế nơi

khám bệnh cho cẩn thận mà vội kê đơn, bốc thuốc cho xong

Tội keo kiệt: Bủn xỉn, sợ bệnh nhân không có đủ tiền trả cho mình đủ

vốn mà không cho thuốc tốt, cần thiết

Tội thâm: Là trường hợp bệnh nhân đã chết rõ ràng mà không báo thật

với gia đình mà nói lờ mờ để làm tiền

Tội lừa dối: Là khi thấy người bệnh đã nói ngay là bệnh khó, bệnh

nặng, làm cho người bệnh sợ để lấy nhiều tiền

Tội bất nhân: Là khi thấy bệnh khó, đáng lý nói thật rồi hết lòng cứu

chữa, nhưng sợ thất bại, không được lợi lộc gì nên từ chối cứu chữa để người bệnh phải bó tay chịu chết

Tội hẹp hòi: Là gặp trường hợp người bệnh ngày thường có chuyện

xích mích với mình, khi mắc bệnh phải nhờ cậy, vì nảy sinh thù oán mà không chạy chữa bệnh hoặc chạy chữa không hết lòng

Tội thất đức: Gặp người bệnh mồ côi, nghèo hèn, tàn tật không nơi

nương tựa từ chối chữa bệnh hoặc chữa bệnh không hết lòng

Tội dốt: Là kiến thức còn non kém, kinh nghiệm ít, chẩn đoán bệnh lờ

mờ đã dùng thuốc, có khi dùng thuốc nhầm làm nguy hại cho người bệnh [57] Đối với đồng nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông luôn thể hiện đức tính của mình trong việc kết thừa cũng như học hỏi giúp đỡ lẫn nhau Khi gặp bạn đồng nghiệp cần nên khiêm tốn hoà nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn không khinh nhờn Người hơn tuổi mình thì kính trọng, người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì nên nhân nhượng, người kém mình thì dìu dắt họ Giữ được lòng đức hậu như thế sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình

Như vậy, có thể thấy rằng Hải Thượng Lãn Ông là một trong những danh y nối tiếng trong lịch sử y học dân tộc ta, ông đã nêu ra những chuẩn mực sâu sách về đạo nghề nghiệp mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử nhưng những giá trị

chung mà ông để lại là rất to lớn

Trang 28

Kế thừa truyền thống y đức của ông cha, tiếp thu y đức của nhân loại, trên cương vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc và một nhà văn hoá lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện y đức Người đã nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thăm các cơ sở y tế và nói rõ quan điểm của Đảng và Chính phủ

ta về phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc

Trong Thư gửi Hội nghị quân y tháng 8/1948, Bác viết: “Người thầy thuốc

chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần cho những người ốm yếu Người ta có câu Lương y kiêm từ mẫu nghĩa là người thầy thuốc phải là người mẹ hiền” [42, tr.395]

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc (tháng 6/1953) Người đã chỉ ra những việc cán bộ y tế cần làm: Về chuyên môn; luôn luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta hiện nay Về chính trị; cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác Còn trong Thư gửi cán bộ y tế ngày 27/2/1955 một lần nữa người nhắc nhở:

“Người bệnh phó thác tính mệnh nơi các cô, các chú, Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và sức khoẻ cho đồng bào Đó là nhiệm vụ vẻ vang, vì vậy, cán bộ phải thương yêu chăm sóc mgười bệnh như anh em ruột thịt mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu” [43]

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghề thầy thuốc là một nghề đặc biệt, nó trực tiếp quan hệ đế sức khoẻ, đến tính mệnh của con người Người thầy thuốc phải như

mẹ hiền là một đòi hỏi khách quan trong việc thực hành y nghiệp Thầy thuốc phải giàu lòng nhân ái, chẳng những có nhiệm vụ chữa bệnh mà còn phải nâng cao tinh thần của người bệnh, thương yêu người bệnh chăm sóc họ như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn Theo Hồ Chí Minh y đức của người thầy thuốc là lương tâm đạo đức, là tránh nhiệm bổn phận của người thầy thuốc

Như vậy, Hồ Chí Minh đã nâng nội dung y đức lên một bước: “Muốn hồng phải chuyên sâu” tức là đòi hỏi phải thương yêu bệnh nhân và không ngừng nâng

Trang 29

cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Lời dạy của Người có sức thuyết phục và sức cảm hoá mạnh là vì Người đã nêu một tấm gương sáng về lòng thương yêu vô hạn đối với nhân dân, với đức hi sinh cao cả, về lối sống giản dị, mẫu mực và trong sáng

Những quan điểm trên đây cho ta thấy rằng: y đức ở các thời đại khác nhau,

dù ở phương Đông hay phương Tây, nhân loại luôn luôn đề cao trách nhiệm và bổn phận ở mỗi người thầy thuốc dù nó đã được ghi hay không được ghi trong văn bản luật lệ thì nó vẫn có sức nặng hơn cả một công lý Nội dung của y đức được nêu trong lời thề của Hypprocrat hay trong các lời thề tương tự của thầy thuốc và cán bộ y

tế mới tốt nghiệp ở các nước Các quy định của y đức thay đổi theo không gian và thời gian, tùy theo các yếu tố tâm lý, tín ngưỡng, phong tục, tập quán sống của mỗi cộng đồng xã hội, ràng buộc người thầy thuốc phải thực hiện trong khi hành nghề, vì danh dự của tập thể, bản thân và quyền lợi của bệnh nhân

Từ sự phân tích trên, bước đầu ta có thể hiểu: Đạo đức người thầy thuốc là

những quy tắc hay chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hoạt động của người thầy thuốc

có tính đặc thù nghề nghiệp trong quan hệ với người bệnh, đồng nghiệp, nghiên cứu

y khoa và với xã hội; được xã hội thừa nhận và phải được người hành nghề y tuân thủ trong thực hành nghề nghiệp Đó là thước đo lương tâm, trách nhiệm, bốn phận của người thầy thuốc Y đức của thầy thuốc thể hiện ở sự tuân thủ các quy định của pháp luật, chẩn mực xã hội, trung thực trong chuyên môn, không man trá trong học tập, nghiên cứu khoa học, không biến công lao động của người khác thành của mình, dám nhận sai sót để sửa chữa; trung thực với chính mình và đồng nghiệp, thầy thuốc không mang lòng kiêu ngạo, hách dịch, luôn tự học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức và sự giúp đỡ của đồng nghiệp người thầy thuốc với bệnh nhân mang đầy tính nhân đạo cao cả Thầy thuốc luôn đặt lợi ích người bệnh lên trên hết, phục vụ người bệnh vô điều kiện, thương yêu chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt, với tình thương như mẹ hiền Người thầy thuốc luôn lấy tâm làm gốc, không phân biệt

đối xử thân, sơ, giàu, nghèo, quyền thế,

Những yếu tố tác động nên đạo đức người thầy thuốc đến từ cả yếu tố chủ quan và khách quan

Trang 30

Về mặt chủ quan, đạo đức người thầy thuốc bị chi phối bởi đạo đức con

người trong mỗi cá nhân người thầy thuốc Đạo đức cá nhân có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến y đức là phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức tốt hay xấu của người thầy thuốc đó Một người luôn chăm chỉ, cẩn thận và có trách nhiệm trong mọi việc làm của đời sống thường nhật thì phẩm chất đạo đức tốt đẹp đó hiển nhiên cũng được thể hiện trong thái độ hành nghề của họ Ngược lại, một người trong cuộc sống bình thường sống yếu kém về đạo đức, không biết yêu thương, tôn trọng người khác thì sẽ không thể là người có y đức cao đẹp trong hành xử với bệnh nhân và đồng nghiệp, hay một cá nhân là người luôn chạy theo đồng tiền mà bỏ qua những giá trị khác trong cuộc sống thì cũng sẽ là người bị đồng tiền chi phối trong hành nghề Đạo đức người thầy thuốc cũng không nằm ngoài sự chi phối của pháp luật,

cụ thể ở đây là ý thức tuân thủ pháp luật của người thầy thuốc cũng là một nhân tố chủ quan trọng yếu chi phối đến y đức của họ Một người thầy thuốc không có ý thức tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật thì như một kết quả, những tiêu chí trong đạo đức nghề nghiệp của người đó sẽ không thể được hoàn thiện và tuân thủ Bên cạnh đó, với đặc thù của nghề y, một điểm khác biệt trong yếu tố chi phối đạo đức nghề nghiệp của đạo đức người thầy thuốc so với các ngành nghề khác chính là năng lực và trình độ của người thầy thuốc Ở đây luận văn tiếp cận với góc độ y đức

bị tác động bởi sự phù hợp của năng lực, trình độ chuyên môn người thầy thuốc đối với việc khám chữa bệnh và ý thức, thái độ không ngừng trau dồi nâng cao năng lực, trình độ của người thầy thuốc Thực tế, việc người thầy thuốc yếu kém về chuyên môn nhưng vẫn hành nghề, hay tiến hành khám chữa bệnh vượt quá khả năng của mình cũng là người yếu kém về y đức

Về mặt khách quan, có thể nói đó chính là môi trường, môi trường làm việc

và môi trường xã hội - tổng hòa của các yếu tố từ pháp luật, cơ chế chính sách, quy định nơi công tác đến những yếu tố con người như đồng nghiệp, bệnh nhân, gia đình, và cả những quan niệm xã hội,… Yếu tố môi trường là đặc biệt quan trọng, nếu môi trường tốt thì sẽ có tác động theo hướng tích cực, và ngược lại, môi trường xấu thì tác động sẽ là theo hướng tiêu cực Khi mà trong môi trường làm việc của

Trang 31

người thầy thuốc, vai trò của pháp luật là mờ nhạt, không có tính răn đe, ít có tác động trong điều chỉnh hành vi con người hay khi tất cả những người xung quanh thầy thuốc đều tiến hành những hành động vi phạm y đức ngày qua ngày, thường xuyên, liên tục thì ít nhiều quan điểm và y đức của người thầy thuốc đó cũng sẽ bị ảnh hưởng Trong khi đó, ở một môi trường y học lành mạnh, tất cả thầy thuốc, bệnh nhân đều cư xử đúng theo các chuẩn mực trong một môi trường xã hội tốt đẹp, các giá trị đạo đức được đề cao, tuân thủ các quy định pháp luật, quy tắc chuẩn mực chung thì mọi thành viên trong môi trường đó đều phải tự điều chỉnh để phù hợp và tôn trọng, tuân thủ những quy tắc và giá trị chung đó

Chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc được phản ánh trong sách báo, văn bản chính trị, chuyên môn, văn hóa và giảng dạy đào tạo nhằm định hướng hành vi của cá nhân người thầy thuốc hay của tập thể thầy thuốc trong điều kiện nhất định Những chuẩn mực này là phương tiện chủ yếu làm nhiệm vụ đánh giá tốt - xấu, cao thượng - thấp hèn, công bằng - bất công, đạo đức- phi đạo đức trong các hoạt động nghề nghiệp của họ

1.2 Pháp luật với vai trò xây dựng đạo đức nghề nghiệp Như đã đề cập ở trên, đạo đức nghề nghiệp là những tiêu chuẩn, nguyên tắc trong hành nghề của một nghề nhất định Xã hội đòi hỏi người hành nghề trong bất

cứ lĩnh vực nào cũng phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản

Với vai trò của mình, pháp luật điều chỉnh và có tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, đạo đức nghề nghiệp cũng không phải là một ngoại lệ

Về bản chất, việc pháp luật tác động đến việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp của các ngành nghề trong đời sống không nằm ngoài những chức năng cơ bản của pháp luật đó là chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục, Vì vậy, vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp của các nghề nghiệp khác nhau đều có điểm chung, đó chính là tác động vào việc định hướng hành vi (giáo dục), điều chỉnh hành vi, và các biện pháp chế tài trừng phạt những hành vi vi phạm (bảo vệ)

Nghề nào cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, song, có một số nghề có vị trí quan trọng đặc biệt và mối quan hệ rộng rãi tới nhiều người trong xã hội như nghề

Trang 32

y, nghề báo, nghề luật sư, nghề cảnh sát, thì đạo đức nghề nghiệp được đặc biệt coi trọng và pháp luật cũng có những tác động rõ nét hơn trong việc xây dựng lên đạo đức nghề nghiệp của những ngành nghề này.Tuy nhiên, đối với mỗi nghề thì những tiêu chuẩn, nguyên tắc trong đạo đức nghề nghiệp của nghề đó lại khác nhau và có những điểm đặc trưng riêng Vì thế, pháp luật cũng sẽ đóng những vai trò không giống nhau đối với việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp của chúng

Có thể kể đến việc pháp luật tác động đến việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp của nghề luật sư Đạo đức nghề nghiệp của luật sư được quy định trong một

số văn bản như Luật luật sư, Điều lệ hoạt động của các đoàn luật sư, Quy tắc mẫu

về đạo đức nghề nghiệp luật sư do Bộ tư pháp ban hành và các quy tắc do Ban chủ nhiệm của các đoàn luật sư soạn thảo [45]

Được rút ra từ các văn bản nói trên, các quy tắc về đạo đức hành nghề luật sư

ở Việt Nam bao gồm:

Về các yêu cầu chung: Luật sư phải giữ gìn phẩm giá và uy tín nghề nghiệp; phải độc lập, trung thực và khách quan; phải có thái độ ứng xử đúng mực và tham gia tích cực vào trợ giúp pháp lý miễn phí;

Về quan hệ với khách hàng: Luật sư chỉ nhận vụ việc phù hợp với khả năng của mình; phải bảo vệ tối đa quyền lợi của khách hàng; không chuyển vụ việc cho luật sư khác làm thay nếu khách hàng không đồng ý; không cung cấp dịch vụ cho khách hàng khác có xung đột lợi ích với khách hàng của mình; từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý nếu thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phải giữ gìn bí mật thông tin của khách hàng

Về quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư không được móc nối, mua chuộc, hối lộ cơ quan tiến hành tố tụng; không được cung cấp thông tin sai sự thật, tạo dựng chứng cứ giả;

Về quan hệ với đồng nghiệp: Luật sư phải tôn trọng đồng nghiệp, không xúc phạm, tìm cách hạ uy tín đồng nghiệp; không móc nối với đồng nghiệp để trục lợi

cá nhân gây thiệt hại cho quyền lợi của khách hàng

Với những quy tắc đó, pháp luật đã định hướng và điều chỉnh các hành vi của người luật sư theo những chuẩn mực chung theo yêu cầu đặc trưng của nghề

Trang 33

Ngoài ra, pháp luật cũng có quy định những chế tài nhằm xử lý những trường hợp luật sư có hành vi vi phạm nhằm khắc chế chúng và những quy định về thẩm quyền

xử lý và trình tự, thủ tục cho việc xử lý những hành vi vi phạm Có thể kể đến một

số quy định như tại Chương VIII Luật luật sư thì có 4 hình thức xử lý kỉ luật luật sư như sau: khiển trách; cảnh cáo; tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ 6 đến 24 tháng; xóa tên khỏi danh sách Đoàn luật sư Cũng theo luật này thì các tổ chức đầu tiên có quyền hạn xem xét và đưa ra hình thức kỉ luật luật sư đều là các tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư chứ không có sự tham gia giải quyết của các cơ quan nhà nước

Như vậy, với đặc trưng của nghề luật sư là ngành nghề liên quan đến bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ và sự thực hiện pháp luật, hơn nữa lại hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, chính vì vậy những tác động của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp của nghề này lại tập trung chủ yếu vào việc hình thành nên những quy định vi phạm về đạo đức nghề nghiệp mà người hành nghề luật sư không được làm, ngăn chặn các hành vi vi phạm về đạo đức có thể xâm hại những quyền lợi của những chủ thể là đối tượng hoạt động của nghề này nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch và công bằng

Ngoài ra, có thể kể đến những quy định của pháp luật trong xây dựng đạo đức nghề báo Những quy định này lại hướng tới tập trung xây dựng đạo đức nghề ở một số điểm như: Trung thành với lý tưởng của đất nước, nhân dân và Đảng cộng sản; phản ánh chân thật, khách quan; gần dân, yêu dân; có tinh thần phê bình và tự phê bình; rèn luyện, học tập suốt đời [30] khi nhiệm vụ của nghề này chính là truyền thông và định hướng thông tin đến công chúng vì vậy những yếu tố liên quan đến lý tưởng, sự trung thành hay sự chân thật được đặt lên hàng đầu và được thể chế thành luật nhằm bảo đảm cho một nền báo chí chính thống giữ được bản chất chân thực của thông tin và thực hiện vai trò truyền tải thông tin của mình

Trong khi đó, với nghề y thì pháp luật trong vai trò xây dựng đạo đức của người thầy thuốc thì lại có những điểm đặc trưng và khác biệt khá rõ so với các nghề khác bởi vì nghề thầy thuốc là một nghề đặc biệt với sự liên hệ trực tiếp của

Trang 34

nghề này với cơ thể sinh học của con người tiền đề của sự sống, lao động và phát triển của xã hội loài người Hơn nữa, mỗi người chỉ có một mạng sống và bệnh tật chính là nguyên nhân hàng đầu gây ra những vụ tử vong vì vậy con người luôn coi trọng mạng sống và sức khỏe của mình Về đặc trưng của nghề này, có hai đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, trong quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân Y học xưa nay

nghiên cứu về cơ chế hoạt động của cơ thể người, cấu trúc cực kì phức tạp đòi hỏi người hành nghề y phải có kiến thức nhất định về chuyên môn, bỏ nhiều công sức đào sâu nghiên cứu, học hành nghiêm túc Người bệnh luôn mong mỏi sự giúp đỡ chuyên môn của thầy thuốc, tin tưởng tuyệt đối và hầu như không có khả năng phản biện với những lời khuyên hay chỉ định của bác sĩ

Thứ hai, trong mối quan hệ với chính mình mỗi thầy thuốc cần hiểu rằng

không có một nghề nào mà một lỗi lầm hay thiếu sót dù nhỏ nhất lại gây ra tai họa lớn tới sức khỏe va tính mạng con người như nghề y Hơn bất cứ ngành nghề nào khác, nghề y không chấp nhận sự cẩu thả, sự bằng quan và chủ nghĩa hình thức Những lỗi lầm trong nghề y là không thể tha thứ vì mỗi người bệnh chỉ có một mạng sống, họ không kịp tha thứ cho hoạt động của người thầy thuốc, hơn nữa, hậu quả của những sai sót ấy diễn ra ngay trước mắt, buộc thầy thuốc phải chịu trách nhiệm Không chỉ là trách nhiệm chuyên môn, có khi thầy thuốc phải chịu những nỗi ám ảnh khó có thể vượt qua, có khi phải bỏ nghề Người theo, sống được và thành công với nghề y nhất định phải có lòng yêu nghề có sự rèn luyện các đức tính như sự cẩn trọng, khéo léo, tư duy sáng tạo hơn những người làm nghề khác [39]

Bởi những lí do đó, những quy chuẩn đạo đức mà nghề y đòi hỏi ở một người thầy thuốc là rất đặc biệt khác so với những quy chuẩn của đạo đức nghề nghiệp của ngành nghề khác, và cũng chính ở nghề này mà vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức người thầy thuốc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Qua đó thể thấy, những chuẩn mực đạo đức được pháp luật đưa vào hệ thống pháp luật thì đều được dựa trên những yêu cầu đặc trưng về đạo đức đối với người làm nghề, giúp khẳng định lại những tiêu chuẩn ứng xử, hành vi phù

Trang 35

hợp, đúng đắn và được thừa nhận để một người có thể đảm nhận một nghề nghiệp Đồng thời cũng xây dựng nên những rào cản, ranh giới rõ ràng đối với những hành vi không được làm và không thể làm khi thực hiện một nghề nghiệp khi mà đạo đức không thành văn đôi khi không đủ sức để ngăn cản hay làm do

dự người làm nghề vượt quá ranh giới đó

1.3 Vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức thầy thuốc

Từ góc độ lịch sử, một số quy định về y đức trong pháp luật quốc tế và ở một

số quốc gia khác trên thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử y học, những khái niệm và quy định về đạo đức y học được điều chỉnh và dần được hoàn thiện Các tổ chức y tế của quốc tế và mỗi quốc gia lần lượt phê chuẩn và công

bố các quy định về đạo đức trong thực hành y học và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Đơn cử một ví dụ cho luận điểm này có thể lấy trường hợp hình thành văn kiện quốc tế đầu tiên quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học là điều lệ Nuremberg Điều lệ này được ban hành năm 1947, sau vụ xét xử các bác sỹ Đức quốc xã Điều lệ này đưa ra 10 nguyên tắc cho các nghiên cứu được tiến hành thử nghiệm trên con người Từ điều lệ này đến tuyên ngôn Helsinki 1964, rồi đến các hướng dẫn của WHO năm 1982, năm 2002, các quy định và hướng dẫn thực hiện đạo đức trong nghiên cứu được điều chỉnh và hoàn thiện dần Những văn bản này nêu rõ các nguyên tắc cụ thể khi tiến hành một nghiên cứu thử nghiệm trên con người, những việc cần làm trước, trong và sau các thử nghiệm nhằm đảm bảo lợi ích cho các đối tượng nghiên cứu

Một ví dụ nữa có thể kể đến, đó là trường hợp của các văn bản quy định về đạo đức trong thực hành lâm sàng Văn kiện đầu tiên công bố các quy định cho

người hành nghề y là tuyên ngôn Geneva được ban hành tại cuộc họp thứ hai của Hội Y học thế giới tại Thụy Sĩ năm 1948, được bổ sung lần cuối tại cuộc họp hội đồng của Hội Y học thế giới ở Thụy Điển năm 2005 và công bố năm 2006 Quyền con người đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp nhận và tuyên bố vào tháng 10/1948 đề cập đến: Mọi người đều có quyền có cuộc sống phù hợp với sức khỏe,

hạnh phúc của bản thân, gia đình; bao gồm: ăn, mặc, nhà ở và các dịch vụ y tế và

Trang 36

dịch vụ xã hội và có quyền được bảo vệ trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, tuổi già Năm 1998, Hội đồng y đa khoa đưa ra các hướng dẫn về tìm kiếm sự

đồng ý của bệnh nhân Sự đồng ý của bệnh nhân giúp việc điều trị có hiệu quả hơn

vì có sự hợp tác tích cực của bệnh nhân Bản hướng dẫn cũng nêu rõ những trường hợp nào cần tìm kiếm sự đồng ý của người bảo trợ cũng như có một số trường hợp đặc biệt thì không cần có sự đồng ý của bệnh nhân Năm 2000, Hội đồng y đa khoa đưa ra các hướng dẫn về bảo mật và cung cấp thông tin: Bệnh nhân có quyền được

biết thông tin về các dịch vụ chăm sóc y tế dành cho họ; có quyền được biết thông tin về tình trạng bệnh tật đang làm họ đau đớn Năm 2005, Hội Y học thế giới công

bố quyền của bệnh nhân: Bệnh nhân có quyền tự quyết định, tự đưa ra quyết định

của bản thân, được nhận thông tin về bản thân họ và được thông tin về sức khỏe của họ, bao gồm cả những thông tin y học chính xác về tình trạng bệnh [33]

Qua đó có thể thấy được, đạo đức con người được hình thành từ lâu đời, những quy chuẩn, quy tắc của nó được thừa nhận rộng rãi tuy nhiên lại không có tính bắt buộc thực hiện và một cách dễ dàng nó bị vi phạm Cũng bởi vì sự ra đời và bắt đầu của những sự vi phạm nghiêm trọng về đạo đức trong quá trình thực hiện một nghề nghiệp, hay cụ thể ở đây là thực hành nghề y của người thầy thuốc đã làm phát sinh những sự việc nghiêm trọng, làm nảy sinh những vấn đề buộc xã hội phải điều chỉnh, ngăn chặn Vì vậy, xã hội đã mang những quy định về đạo đức ấy, thể chế thành những quy định trong luật pháp nhằm bảo vệ những lợi ích của con người

và xã hội như một quy định bắt buộc của pháp luật để bảo đảm những tiêu chuẩn đạo đức đó được thực hiện và bảo đảm thực hiện

Đó cũng chính là con đường để pháp luật hình thành nên những quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp và thể hiện những vai trò cụ thể của mình trong xây dựng đạo đức người thầy thuốc

Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản đề cập đến đạo đức của người cán bộ y tế như: Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân 2003; Luật Hoạt động chữ thập đỏ 2008; Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006; Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn

Trang 37

dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) 2006; Luật bảo hiểm y tế 2008 Năm 2009, Quốc hội cũng đã thông qua Luật khám chữa bệnh quy định về nguyên tắc trong hành nghề khám, chữa bệnh,

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nói chung đã được quy định tại Luật Phòng chống tham nhũng như sau:

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề; Tổ chức xã hội - nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật Nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được quy định tại Điều 3, Luật Khám, chữa bệnh như sau: Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh; Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai; Bảo đảm đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề [50, Điều 42];

Cụ thể hơn, vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức người thầy thuốc được thể hiện trên những phương diện sau:

1.3.1 Pháp luật tạo lập nên các quy tắc hành vi của thầy thuốc

Pháp luật tạo nên các quy tắc hành vi là việc bằng những quy định của mình pháp luật tạo ra những quy chuẩn, chuẩn mực hành vi cho một chế định hay quan hệ nhất định nhằm định hướng cho xã hội những hành vi nào là hành vi được cho phép, nên thực hiện và được hướng dẫn thực hiện và hành vi nào là hành vi nên tránh, không được làm hay bị cấm Pháp luật thừa nhận, ghi nhận, chỉ rõ những hành vi đó một cách

cụ thể, rõ ràng, công khai và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực của nhà nước

Các hành vi được ủng hộ, cho phép và hướng dẫn thực hiện trong các văn bản pháp luật thường là những hành vi thể hiện được tính quy chuẩn chung, mẫu mực, hướng tới các chuẩn mực của xã hội Việc pháp luật quy định những hành vi này một cách trực tiếp và cụ thể là nhằm mục đích định hướng rõ ràng cho các chủ

Trang 38

thể về những mẫu hành vi nên làm và phải làm thông qua việc quy định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể trong các quan hệ xã hội trong các văn bản pháp luật

Đồng thời, việc quy định một hành vi là được làm hay không được làm bên cạnh việc được quy định rõ ràng trong luật thì còn có thể được ngầm định còn tùy thuộc vào quy tắc và cách giải thích pháp luật của mỗi hệ thống pháp luật Ở trường hợp của Việt Nam thì cá nhân, tổ chức, ngoài có các quyền và nghĩa vụ như được quy định trong luật thì còn có quyền làm mọi việc mà pháp luật không cấm

Ngoài ra, pháp luật cũng thực hiện vai trò tạo lập quy tắc hành vi của mình bằng cách đưa ra các quy định nghiêm cấm, ngăn chặn những hành vi có thể xâm phạm đến lợi ích chung của xã hội, chủ thể khác bằng những quy định cấm và chế tài cho hành vi vi phạm

Lập nên quy tắc hành vi, định hướng hành vi chính là một vai trò đầu tiên và quan trọng, làm tiền đề cho việc xây dựng và bảo vệ một chế định Đối với vấn đề y đức cũng vậy, pháp luật với rất nhiều quy định trong việc tạo lập nên những quy tắc hành vi của người thầy thuốc được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật

Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 tại chương II và chương III của luật này đã đưa ra những quy định về quyền, nghĩa vụ của người bệnh và người hành nghề khám chữa bệnh Có thể lấy ví dụ quy định tại Điều 32 luật này quy đinh về Quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh của người hành nghề đó là: Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu việc khám bệnh, chữa bệnh đó trái với quy định của pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp

Tại Điều 40 của luật này cũng quy định cho người hành nghề khám chữa bệnh

có nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp “Người hành nghề có nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế” Như vậy thực hiện đạo đức nghề nghiệp đã được quy định trở thành một nghĩa vụ ghi nhận trong luật và bắt buộc người hành nghề này phải tuân theo và Bộ Y tế đã ban hành công văn số 7131/BYT-KCB ngày 20/10/2010 về việc thực hiện điều luật này nhằm yêu cầu Giám đốc các Sở Y tế, Thủ trưởng Y tế các ngành, Giám đốc các Bệnh viện và Viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế triển khai thực hiện nghiêm túc đạo đức nghề nghiệp

Trang 39

Sau khi ban hành Quyết định số 29/QĐ-BYT ngày 18/8/2008 ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế ngày 06 tháng 11 nǎm 1996 cơ quan này đã ban hành quyết định số: 20881BYT-QĐ của Bộ trưởng

Bộ Y tế kèm với 12 điều y đức (Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế) văn bản được ra đời như một văn bản chính thức công nhận đạo đức nghề nghiệp của nghề y và mang tính pháp lý, ràng buộc các chủ thể là người làm công tác y tế Theo đó, những nội dung y đức được thừa nhận như sau:

(1) Chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ Phải có

lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm

chất đạo đức của thầy thuốc Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học

để nâng cao trình độ chuyên môn Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân

(2) Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh

(3)Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội Không được phân biệt đối xử với người bệnh Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh

(4) Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chǎm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết

Trang 40

(5) Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh

(6) Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh

(7) Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh

(8) Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe

(9) Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết

(10) Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau

(11) Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không

đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước

(12) Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch

Đây là một văn bản liệt kê và thừa nhận những chuẩn mực, quy tắc đạo đức nghề nghiệp được Bộ Y tế ban hành nhằm định hướng hành vi, tạo lập nên các quy tắc ứng xử và hành vi của người thầy thuốc Nối tiếp, Chỉ thị số 03/CT-BYT được ban hành ngày 01/4/2013 về tăng cường các giải pháp thực hiện tốt Quy tắc ứng xử, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Kế hoạch số 336/KH-BYT ngày 04/5/2013 chỉ đạo các đơn vị y tế trong toàn quốc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, Quy chế dân chủ, với chủ đề: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ; nêu gương, nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp;

Ngày đăng: 17/02/2022, 21:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Ba (2006), “Vai trò của pháp luật đối với việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (10), Tr.3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của pháp luật đối với việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 2006
2. Phùng Kim Bảng (chủ biên), Lê Quang Hoành,Hồ Hữu Anh, (1997), y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu, Nxb. Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: y tế "công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu
Tác giả: Phùng Kim Bảng (chủ biên), Lê Quang Hoành,Hồ Hữu Anh
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1997
3. Nguyễn Khánh Bật (2005), Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, Báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa "cá nhân
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Năm: 2005
4. Bộ Y tế (2011), Đề án giảm tải bệnh viện giai đoạn 2012 – 2020, Tr.2-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án giảm tải bệnh viện giai đoạn 2012 – 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
5. Bộ Y tế (2012), Quyết định số 458/QĐ-BYT hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết Dengue,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 458/QĐ-BYT hướng dẫn chẩn đoán, điều "trị sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
6. Bộ Y tế (2013), Kế hoạch số 336/KH-BYT Tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện tốt Quy tắc ứng xử, Quy chế dân chủ trong ngành y tế năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 336/KH-BYT Tổ chức học tập và làm theo "tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện tốt Quy tắc ứng xử, Quy chế dân chủ trong ngành y tế năm 2013
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
7. Bộ Y tế (1996), Quyết định số 2088/BYT-QĐ Quy định về y đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2088/BYT-QĐ Quy định về y đức
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1996
8. Bộ Y tế (2008), Quyết định số 29/QĐ-BYT về việc ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 29/QĐ-BYT" v"ề việc ban hành quy tắc ứng "xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
9. Bộ Y tế (2010), công văn số 7131/BYT-KCB về việc thực hiện Điều 40 Luật khám chữa bệnh về đạo đức nghề nghiệp trong khám, chữa bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công văn số 7131/BYT-KCB về việc thực hiện Điều 40 "Luật khám chữa bệnh về đạo đức nghề nghiệp trong khám, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
10. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 41/2011/TT-BYT hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 41/2011/TT-BYT hướng dẫn cấp chứng chỉ "hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
12. Bộ Y tế (2012), Quyết định số 460/QĐ-BYT về tổ chức, hoạt động của Ban đánh giá vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bộ y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 460/QĐ-BYT về tổ chức, hoạt động của Ban "đánh giá vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
13. Bộ Y tế (2013), Chỉ thị số 03/CT-BYT về việc tăng cường các giải pháp thực hiện tốt quy tắc ứng xử, nâng cao đọa đức nghề nghiệp, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 03/CT-BYT về việc tăng cường các giải pháp "thực hiện tốt quy tắc ứng xử, nâng cao đọa đức nghề nghiệp, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
14. Bộ Y tế (2013), báo cáo tổng hợp đề tài kiện toàn văn bản pháp lí để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lí của Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo tổng hợp đề tài kiện toàn văn bản pháp lí để
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
15. Bộ Y tế (2014), báo cáo chuẩn bị chất vấn tại Phiên họp thứ 26 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Bộ Y tế 1527 /BYT-VPB1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo chuẩn bị chất vấn tại Phiên họp thứ 26 của Ủy "ban Thường vụ Quốc hội của Bộ Y tế 1527 /BYT-VPB1
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
16. Bộ Y tế (2014), Kế hoạch số 148/KH-BYT về việc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Quy tắc ứng xử trong ngành Y tế năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 148/KH-BYT về việc tổ chức học tập và làm "theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Quy tắc ứng xử trong ngành Y tế năm 2014
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
17. Bộ Y tế (2014), Kế hoạch số 185/KH-BYT về việc triển khai thực hiện Thông tư quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 185/KH-BYT về việc triển khai thực hiện "Thông tư quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
18. Bộ Y tế (2014), thông tư 07/2014/TT- BYT quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thông tư 07/2014/TT- BYT quy định về Quy tắc ứng xử của "công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
19. Bộ Y tế (2012), Quy chế về tổ chức, hoạt động của Ban đánh giá vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bộ y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế về tổ chức, hoạt động của Ban đánh giá vấn đề "đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
20. Nguyễn Văn Bốn (2007), “Một số vấn đề về xây dựng, ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (6), Tr.43-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xây dựng, ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ở Việt Nam”, "Tạp chí Dân chủ và "Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Bốn
Năm: 2007
21. Hoàng Đình Cầu (1991), Đạo đức y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức y học
Tác giả: Hoàng Đình Cầu
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w