Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của tái cơ cấu hệ thống NHTM, đặc biệt là bộ máy quản trị nội bộ NHTM và với mong muốn đề ra các giải pháp hữu ích nhằm đóng góp cho quá trình tá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY ANH
PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY ANH
PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THỊ THU THUỶ
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất
cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thúy Anh
Trang 4MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1.Khái niệm quản trị nội bộ ngân hàng thương mại và tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại 6
1.1.1.Khái niệm ngân hàng thương mại 6
1.1.1.1.Định nghĩa ngân hàng thương mại 6
1.1.1.2.Đặc điểm của ngân hàng thương mại 8
Từ các khái niệm nêu trên, có thể thấy NHTM có những đặc điểm chính như sau: 8
1.1.2.Khái niệm quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại 10
1.1.3.Khái niệm tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại 13
1.2.Mục đích và vai trò của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại 15
1.2.1.Mục đích của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại 15
1.2.2.Vai trò và lợi ích của việc tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại 20
1.3.Nội dung của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại 21
1.3.1.Tái cơ cấu Bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại 22
1.3.2.Tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương mại 30
Chương 2 38
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA NHTM Ở VIỆT NAM 38
Trang 52.1. Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu bộ máy quản lý ngân hàng thương mại ở Việt Nam 382.1.3.Hội đồng thành viên 542.1.4.Ban kiểm soát 562.2.Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương mại 582.2.1.Tổng giám đốc 582.2.2.Kiểm toán và kiểm soát nội bộ 642.3.Ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại 682.3.1.Pháp luật quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn thiếu 732.3.2.Những quy định về quản trị nội bộ ngân hàng thương mại nằm rải rác
ở các văn bản khác nhau 752.3.3. Các văn bản pháp luật trong hệ thống văn bản quy định về quản trị nội bộ ngân hàng thương mại không thống nhất 762.3.4. Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại ở Việt Nam chưa thống nhất với các chuẩn mực quản trị quốc tế 76CHƯƠNG 3 79GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 793.1Phương hướng hoàn thiện pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ở Việt Nam 793.1.1.Phù hợp đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở Việt Nam 803.1.2.Bảo đảm tính thống nhất và phù hợp giữa pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại và pháp luật ngân hàng nói chung823.1.3.Đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng và khắc phục các hạn chế của pháp luật về tái cơ cấu ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay 83
Trang 63.2Các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về tái cơ cấu các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 863.2.1.Các giải pháp về tái cơ cấu bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại 863.2.2.Các giải pháp tái cơ cấu bộ máy điều hành của ngân hàng thương mại 933.2.3.Những giải pháp hoàn thiện việc tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại từ phía ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại 99KẾT LUẬN 105TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Chữ viết tắt Tên/ cụm từ đầy đủ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, ngành ngân hàng Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, luôn giữ vai trò quan trọng là huyết mạch của nền kinh tế và là nhân tố không thể thiếu để tập trung nguồn lực vốn cho phát triển đất nước Những thành tựu kinh tế xã hội rực rỡ mà Việt Nam đạt được trong công cuộc đổi mới đã khẳng định được vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, trong đó có sự đóng góp rất lớn của ngành ngân hàng Do đó nếu thực
sự không tạo điều kiện đảm bảo mọi yếu tố “an toàn” của ngành ngân hàng thì rất dễ gây tổn thương cho nền kinh tế
Việc mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO đã mang lại rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho hệ thống ngân hàng Việt Nam Các ngân hàng ở Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn từ các ngân hàng nước ngoài đến từ các khu vực tài chính phát triển như Mỹ, Singapore, Nhật Bản, và chịu tác động của những biến động trên thị trường tài chính quốc tế Cùng với đó cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu kéo dài từ năm 2008 và đến nay vẫn còn để lại hậu quả nặng nề ở nhiều nước, đặc biệt là ở
Mỹ mà nguyên nhân chính là sự yếu kém của hệ thống ngành ngân hàng Điều
đó buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các ngân hàng Và việc tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng, trong đó chú trọng việc tái cơ cấu Ngân hàng thương mại (NHTM) đã trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia để đảm bảo cho các NHTM thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động Ở Việt Nam hiện nay, khi thị trường chứng khoán phát triển chưa ổn định, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai các NHTM thì việc giữ cho hệ thống NHTM ổn định và lành mạnh càng cần phải đặc biệt quan tâm
Trang 9Đến nay, có thể nói nền kinh tế cũng như hệ thống NHTM Việt Nam đã
cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, những hệ lụy của nó đã bộc lộ nhiều vấn đề bất ổn, có thể kể đến như: Thanh khoản khó khăn, nợ xấu có dấu hiệu tăng cao, năng lực quản trị điều hành hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, rủi ro cao ảnh hưởng đến an toàn
hệ thống, Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu chéo; hệ thống mạng lưới các NHTM phát triển với tốc độ quá nhanh, số lượng nhiều, chất lượng hoạt động chưa cao, không ít NHTM hoạt động vì lợi ích cục bộ, chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ Do đó, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời sẽ có nguy cơ xảy ra rủi ro gây mất an toàn hệ thống
Để ổn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả, bền vững, Hội nghị trung ương khóa 11 (tháng 10 năm 2011) đã nhấn mạnh sự cần thiết tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính là một trong ba lĩnh vực chủ đạo, quan trọng nhất Đây là chủ trương lớn thể hiện quyết tâm của Đảng nhằm cải tổ nền kinh tế cùng với đẩy lùi tác động, ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của tái cơ cấu hệ thống NHTM, đặc biệt là bộ máy quản trị nội bộ NHTM và với mong muốn đề ra các giải pháp hữu ích nhằm đóng góp cho quá trình tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM Việt
Nam thành công, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình
1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn của tác giả hướng tới mục tiêu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM
- Phân tích thực trạng pháp luật về tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam nhằm chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng các quy định về quản trị nội bộ NHTM Việt Nam trong thời gian hiện nay Đồng thời xác định nguyên nhân của những hạn chế trong vấn đề quản trị bộ NHTM Việt Nam
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị góp phần thúc đẩy tiến trình hoàn
Trang 10thiện pháp luật liên quan đến tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM Việt Nam trong tương lai
1.3 Tính mới và những đóng góp của đề tài Xung quanh vấn đề “Pháp luật về tái cấu trúc quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ở Việt Nam” đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học từ cấp
Bộ, cấp truờng, đến các bài nghiên cứu khoa học điển hình như:
- Cao Thị Ý Nhi: “ Cơ cấu lại các ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ kinh tế năm 2007 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân Luận án đã đánh giá thực trạng và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc cơ cấu lại các NHTM Nhà nước kém hiệu quả trong giai đoạn
2000 - 2005, từ đó xây dựng các định hướng và đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm cơ cấu lại NHTM Nhà nước Việt Nam đến năm 2010 Luận án được giới hạn trong việc cơ cấu lại bốn NHTM Nhà nước trong giai đoạn 2000 - 2005 Phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở 4 NHTM Nhà nước nên chưa phản ánh được thực trạng tái cấu trúc một cách toàn diện hệ thống NHTM Việt Nam, cũng chính vì vậy các giải pháp đề xuất tính ứng dụng còn giới hạn
- Nguyễn Thị Quỳnh Hoa: “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ năm 2014 tại trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh Luận án được đánh giá cao bởi các nội dung: (i) Luận án đã xác định được đặc trưng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại là chương trình mang tầm cỡ quốc gia và chỉ rõ những việc cần thực hiện trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM; (ii) Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012, từ đó tổng hợp những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam; (iii) Luận án đã phân tích rõ những
lý do cho thấy sự cấp thiết cần tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam, đề xuất lộ trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam; (iv) Luận án đã đề xuất thành lâp
ủy ban tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam và những công việc cụ thể ủy ban này cần thực hiện, gồm có: Xây dựng bộ tiêu chuẩn xếp loại NHTM sau khi tái
Trang 11cơ cấu làm cơ sở để xác định mục đích mà cả cơ quan quản lý Nhà nước và từng NHTM cần đạt được Tuy nhiên, luận án còn mang tính bao quát chưa có nhiều phân tích cụ thể xoáy sâu vào các lĩnh vực tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM
- Tác giả Nguyễn Hồng Sơn, bài viết “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: kinh nghiệm quốc tế và một số hàm ý về tư duy cho Việt Nam” tại Hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” ngày 21 tháng 11 năm 2011, trình bày các vấn đề sau: (i) Lý do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng; (ii)
vì sao cần thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; (iii) Những nguyên tắc cần đảm bảo trong quá trình tái cấu trúc; (iv) NHTW độc lập và tăng cường năng lực Như vậy bài viết trên chỉ trình bày được lý do tái cấu trúc ngân hàng chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế, mà chưa coi tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là công việc cần thực hiện thường xuyên, liên tục để duy trì sự ô định và phát triển Bài viết cũng chưa đánh giá được thực trạng tái cơ cấu hệ thống NHTM và cũng chưa đề cập đến giải pháp tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam
Nhìn chung, trong tất cả các nghiên cứu mà tác giả có điều kiện tham khảo về các nội dung liên quan đến tái cơ cấu NHTM Việt Nam, cho tới thời điểm hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về vấn đề pháp luật tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về NHTM và tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM; ý nghĩa của việc tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM, nội dung tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM; các biện pháp tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM Trên cơ sở đánh giá thực trạng tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM Việt Nam từ số liệu thu thập được, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, mang tính thực tiễn nhằm đóng góp cho quá trình tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM Việt Nam thành công
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tái cơ cấu ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề:
Trang 12Tái cơ cấu bộ máy quản lý ngân hàng thương mại bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát; tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương mại bao gồm: Tổng giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát, Kiểm toán nội bộ
3 Phương pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Bên cạnh đó còn có sự phối hợp với một số phương pháp như: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp
so sánh và phương pháp tổng hợp
4 Cơ cấu của luận văn Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các bảng phụ lục, luận văn gồm ba phần chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tái cơ cấu quản trị nội bộ
Trang 13Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI
BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm quản trị nội bộ ngân hàng thương mại và tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 1.1.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại
Khi nền sản xuất hàng hóa xuất hiện thì tiền tệ và nghề kinh doanh tiền tệ cũng ra đời Bản thân sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ cũng tạo tiền đề
và đòi hỏi phải xuất hiện ngân hàng, tức là đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức
và bộ máy thích hợp đảm nhiệm lĩnh vực lưu thông tiền tệ Như vậy, sự ra đời của hình thức kinh doanh tiền tệ dưới dạng “ngân hàng” là sự đòi hỏi tất yếu khách quan của kinh tế - xã hội
Ở nhiều quốc gia trên thế giới có rất nhiều dạng ngân hàng khác nhau như: Ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,…Nhưng sự ra đời của mô hình NHTM đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các định chế tài chính của mỗi quốc gia cũng như đối với nền kinh tế của quốc gia đó Và NHTM đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, và ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM Ở Mỹ, NHTM được hiểu là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.[33]
Còn tại Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa:
Trang 14"Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà
nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính"
Hay ở Ấn Độ, NHTM được coi là các cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư Còn ở Việt Nam, Luật các TCTD năm 2010 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16-7-2009 của Chính phủ quy định về Tổ chức và hoạt động của NHTM đã đưa ra khái niệm về ngân hàng và NHTM khá thống
nhất với pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Theo Khoản 1, Điều 6 “Giải thích từ ngữ”, Luật NHNN năm 2010 ghi
nhận: “1.Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”
Và tại Khoản 2,3, Điều 4 “Giải thích từ ngữ”, Luật các TCTD năm 2010 thì quy định:
“ 2 Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
3 Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
Còn tại Khoản 1, Điều 5 “Giải thích từ ngữ”, Nghị định số
59/2009/NĐ-CP ngày 16-7-2009 của Chính phủ quy định về Tổ chức và hoạt động của
NHTM cũng ghi nhận cụ thể: “1 Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.”
Theo các quy định trên, có thể hiểu NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ
mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với
Trang 15trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán với mục tiêu lợi nhuận, góp phần vào thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước [22] Và NHTM gồm có NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần nhà nước và nhân dân, NHTM có 100% vốn nước ngoài và NHTM liên doanh.
1.1.1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại
Từ các khái niệm nêu trên, có thể thấy NHTM có những đặc điểm chính
như sau:
- NHTM là trung gian tài chính:
Thứ nhất, đặc điểm về trung gian tài chính được thể hiện ở chỗ NHTM là trung gian giữa cung và cầu về vốn tín dụng, hay còn được hiểu là trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền thông qua hoạt động thường xuyên, chủ yếu là nhận tiền gửi và có trách nhiệm hoàn trả, sử dụng tiền gửi này để cấp tín dụng Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay, hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi, lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: Người gửi tiền và người đi vay Và cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM
Thứ hai, NHTM là trung gian giữa Ngân hàng trung ương và nền kinh tế Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng trung ương ở các quốc gia là thực hiện chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương sử dụng các công
cụ như tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, lãi suất,…để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và bắt buộc NHTM phải chấp hành Sự hạn chế về nguồn vốn buộc các NHTM phải thận trọng hơn trong việc đầu tư, hướng nguồn vốn vào các lĩnh vực có hiệu quả Điều này vừa có tác động kiềm chế lạm phát, vừa bảo đảm an toàn cho các NHTM [49]
- NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng
NHTM cũng giống như các doanh nghiệp khác ở chu trình sản xuất và
Trang 16lưu thông hàng hóa Nhưng điểm khác biệt ở chỗ hàng hóa mà NHTM kinh doanh là quyền sử dụng các khoản tiền tệ và các dịch vụ Ngân hàng khác NHTM đi vay từ những người có vốn nhàn rỗi, phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn toàn bộ số vốn huy động được này với một khoản lợi tức nhất định NHTM lại dùng chính số vốn huy động được này để cấp tín dụng cho người có nhu cầu với cam kết trả tiền và lãi suất Quá trình đi vay để cho vay này thực chất là tạm thời chuyển nhượng quyền sở hữu Lãi suất mà người đi vay trả cho NHTM cũng chính là giá cả quyền sở hữu các khoản tiền tệ và cũng là lợi nhuận mà các NHTM hướng tới
Đồng thời với đặc điểm kinh doanh tiền tệ thì đối với vai trò là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng, NHTM đóng vai trò như là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
- NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
Đây là đặc điểm rõ nét nhất để phân biệt NHTM với các ngân hàng khác như ngân hàng chính sách và ngân hàng đầu tư Và mục tiêu lợi nhuận với chức năng tạo tiền được coi là yếu tố quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và
Trang 17dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM Do vậy, ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn Tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, các hoạt động tín dụng chính sách của các NHTM nhà nước đang chuyển dần sang các ngân hàng chính sách, nhờ đó những ngân hàng này đã nâng cao được lợi nhuận
và hiệu quả hoạt động kinh doanh và đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
1.1.2 Khái niệm quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại
Quản trị nội bộ NHTM cũng giống như quản trị nội bộ của một doanh nghiệp và một công ty Tuy nhiên, bên cạnh đó quản trị nội bộ NHTM có những đặc biệt hơn so với quản trị nội bộ của doanh nghiệp
Hiện nay, quan niệm và nội dung của quản trị công ty ở các quốc gia khác nhau có những nét đặc trưng riêng Điều này xuất phát từ nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… từ đó ảnh hưởng đến quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ, và thực thi quyền tư hữu
Cuốn “Các nguyên tắc quản trị công ty” xuất bản năm 2004 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm quản trị công ty như sau:
document, khoa luan17 of 98.
Trang 18“Quản trị công ty là một loạt mối quan hệ giữa Ban Giám đốc (BGĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), các cổ đông và các bên có liên quan khác trong một doanh nghiệp Quản trị công ty còn là một cơ chế để thông qua đó xác định các mục tiêu của doanh nghiệp, phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và theo dõi kết quả thực hiện”
Quản trị công ty và quản lý công ty là hai khái niệm khác biệt Nếu như quản trị công ty tập trung vào các cơ cấu và các quy trình của công ty nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch, tính trách nhiệm và giải trình thì quản lý công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp [51] Như vậy, quản trị công ty được đặt ở một tầm cao hơn nhằm bảo đảm rằng công ty sẽ được quản lý một cách hiệu quả và phục vụ lợi ích của các cổ đông Một cấu trúc quản trị doanh nghiệp hoàn chỉnh và hiệu quả là cấu trúc quản trị bao gồm đầy đủ các cấu phần: Chủ sở hữu, HĐQT, các Ủy ban giúp việc cho HĐQT, Ban điều hành cấp cao, cấp trung và các nhân viên tác nghiệp trực tiếp Bên cạnh đó, một cấu trúc quản trị doanh nghiệp còn đòi hỏi phải chứa đựng những yếu tố vô hình như sự bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, của người gửi tiền đó là tính minh bạch trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo; tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hóa tổ chức lành mạnh và những chuẩn mực đạo đức [40]
Sơ đồ 1: Cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiện đại
Nguồn: The Essential Handbook of Internal Auditing
Trang 19Bên cạnh các cấu phần đầy đủ và hoàn thiện như trên, cơ cấu quản trị doanh nghiệp hiệu quả cần phải đảm bảo xây dựng được bốn giá trị cốt lõi [33]:
Tính công bằng: Khuôn khổ quản trị doanh nghiệp phải bảo vệ quyền lợi
của các cổ đông và đảm bảo đối xử công bằng với tất cả các cổ đông kể cả cổ đông thiểu số và các cổ đông nước ngoài Tất cả các cổ đông phải có cơ hội được bồi thường thỏa đáng khi quền của họ bị vi phạm Tất cả các cổ đông cùng một hạng cần phải được đối xử công bằng
Tính trách nhiệm: Khuôn khổ quản trị doanh nghiệp cần công nhận quyền
của các bên liên quan được thành lập theo pháp luật, và khuyến khích các hoạt động hợp tác giữa các chi nhánh/công ty con trong tổng công ty và giữa các cổ đông trong việc tạo ra tài sản, việc làm tính bền vững của các bộ phận/chi nhánh trong tổng công ty/tập đoàn
Tính minh bạch: Khuôn khổ quản trị doanh nghiệp cần đảm bảo việc công
khai kịp thời và minh bạch các thông tin liên quan đến (i) kết quả hoạt động và tài chính của công ty trên báo cáo tài chính, (ii) các mục tiêu hoạt động của công
ty, (iii) sở hữu của các cổ đông chính, (iv) chính sách lương, thưởng cho HĐQT
và các nhà điều hành chủ chốt, (v) giao dịch với các bên liên quan, (vi) các yếu
tố có thể dẫn tới rủi ro, (vii) các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của người lao động, (viii) các chính sách và cơ cấu quản trị
Trách nhiệm giải trình của HĐQT: Khuôn khổ quản trị doanh nghiệp cần thiết lập cơ chế trách nhiệm của HĐQT trước cổ đông và công ty Khi được lập
ra nhằm đại diện cho cổ đông thì hai nghĩa vụ cơ bản của HĐQT là nghĩa vụ cẩn trọng và nghĩa vụ trung thành cần phải được tuân thủ [40]
Thông qua khái niệm trên về quản trị công ty, có thể hiểu quản trị nội bộ của NHTM như sau:
“Quản trị nội bộ NHTM là một loạt các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc (BGĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), Hội đồng thành viên, các cổ đông, thành viên và các bên có liên quan khác trong một ngân hàng Quản trị ngân hàng còn là một cơ chế, quy trình, công cụ để
Trang 20thông qua đó xác định các mục tiêu của ngân hàng, phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và theo dõi kết quả thực hiện”
Như vậy, có thể thấy hoạt động quản trị nội bộ NHTM có những đặc điểm sau:
Một là, quản trị nội bộ NHTM được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa
quản lý và sở hữu ngân hàng Ngân hàng là của chủ sở hữu (nhà đầu tư,
cổ đông…) nhưng để tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT,
sự điều hành của Ban Giám đốc, sự giám sát của Ban kiểm soát (BKS) và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư cũng như các cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
Hai là, quản trị nội bộ NHTM xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa
các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong ngân hàng, bao gồm các cổ đông, HĐQT, Ban Điều hành, BKS và những người liên quan khác của ngân hàng như người lao động, nhà cung cấp Đồng thời, quản trị nội bộ NHTM cũng lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định trong ngân hàng, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịch với các bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không
minh bạch
1.1.3 Khái niệm tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ và hoàn chỉnh về khái niệm tái cơ cấu NHTM nói chung và tái cơ cấu quản trị nội bộ của NHTM nói riêng
Trong thực tế, thuật ngữ “Tái cấu trúc” hay “tái cơ cấu” mới chỉ xuất hiện
trong những năm trở lại đây Theo từ điển Oxford: “tái cơ cấu là việc tổ chức lại một cái gì đó như một hệ thống hoặc một công ty theo một cách mới hẳn và khác
Trang 21hẳn” Theo từ điển Cambridge: “Tái cấu trúc là tổ chức một công ty, một công việc kinh doanh hoặc một hệ thống để nó vận hành hiệu quả hơn” Hoặc theo từ điển Robert của Pháp: “Tái cơ cấu là mang lại một cấu trúc mới, một cách tổ chức mới” [18]
Xuất phát từ các quan điểm về tái cơ cấu nói trên, có thể định nghĩa tái cơ cấu (restructuring) chính là quá trình tổ chức, sắp xếp lại NHTM nhằm tạo ra
“trạng thái” tốt hơn cho NHTM để thực hiện những mục tiêu đề ra Nói một cách đầy đủ hơn, có thể hiểu khái niệm tái cơ cấu NHTM nói chung như sau:
“Tái cơ cấu ngân hàng thương mại là việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của ngân hàng, bằng cách xây dựng lại sơ đồ cơ cấu tổ chức, thay đổi các phòng ban chức năng với những tên gọi mới, thay đổi tư duy quản lý, tái cấu trúc lại quá trình kinh doanh, trên cơ sở đó định hình mô hình và cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp”
Trong hệ thống NHTM việc tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM là một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay Và xuất phát từ khái niệm tái cơ cấu ngân hàng nói chung và quan điểm của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu hệ thống NHTM, có thể định nghĩa “tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM” như sau:
“Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM là quá trình sắp xếp, tổ chức lại toàn bộ mô hình tổ chức, quản trị điều hành trong nội bộ các ngân hàng, từ đó giảm thiểu tối đa nguy cơ rủi ro trong hoạt động của từng ngân hàng đơn lẻ nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung, đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay và đảm bảo an toàn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho cơ cấu toàn bộ hệ thống ngân hàng”[14]
Quá trình tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM cũng như việc tái cơ cấu hệ thống NHTM được thực hiện theo lộ trình và những giải pháp cụ thể do NHNN
và các cơ quan khác có thẩm quyền quyết định thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định chi tiết từng giai đoạn, từng nội dung tái cơ cấu, phù hợp
Trang 22với thực tiễn hoạt động của toàn bộ hệ thống cũng như điều kiện kinh tế của
từng ngân hàng
Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM là một nội dung của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Tái cơ cấu quản trị bộ có tác động không nhỏ đến việc phát triển của hệ thống ngân hàng Mặt khác, trong khi vấn đề quản trị nội bộ NHTM hiện nay có tính đặc thù rất cao, nó khác nhiều với quản trị công ty đơn thuần vì
hệ thống NHTM kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt, kinh doanh tiền tệ, do vậy vấn đề quản trị nội bộ trong hoạt động của các NHTM liên quan mật thiết với mọi lĩnh vực khác của nền kinh tế và xã hội trong nước, thậm chí vươn ra khỏi khuôn khổ của quốc gia Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM hiện nay được coi là vấn đề cốt lõi song song với quá trình tái cơ cấu NHTM nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung Nó giữ vai trò trọng yếu và quyết định đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của hệ thống NHTM Chính vì vậy khi quản trị nội bộ ngân hàng yếu kém sẽ kéo theo sự suy yếu của tất cả các lĩnh vực kinh doanh khác của NHTM Chỉ cần hệ thống quản trị nội bộ ngân hàng đổ vỡ, nguy cơ đổ vỡ toàn hệ thống ngân hàng rất lớn, và lan truyền rộng khắp còn gọi là hiện tượng Domino Chính vì vậy tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM đòi hỏi phải thực hiện một cách quyết liệt
Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM gắn với việc đề xuất cách hiểu, quản trị, điều hành NHTM theo hướng phù hợp với các yếu tố quản trị NHTM hiện đại
và phù hợp với thực tế kinh doanh ngân hàng, nhằm bảo đảm tách bạch giữa sở hữu và điều hành hướng tới hoạt động hiệu quả của ngân hàng
1.2 Mục đích và vai trò của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại
1.2.1 Mục đích của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại
Theo thống kế tính đến tháng 6 năm 2013, hệ thống các TCTD Việt Nam
đã phát triển mạnh với số lượng: 5 ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN); 1 ngân hàng chính sách xã hội; 37 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP); 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 5 ngân hàng liên doanh; 48
Trang 23văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài; 17 công ty tài chính; 13 công ty cho thuê tài chính Ngoài ra, Việt Nam còn có Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) và Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương với 915 quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở Hệ thống tài chính của Việt Nam đã phát triển rất mạnh kể từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay và đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước Với tổng tài sản gấp hơn 2 lần so với GDP, trong đó, tổng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tăng rất nhanh và lên đến 125% GDP vào cuối năm 2010, hệ thống các TCTD nói chung, NHTM nói riêng đã trở thành nguồn cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, cả vốn ngắn, trung và dài hạn, cả vốn bằng VND cũng như bằng ngoại tệ Một số NHTM và TCTD lớn đã vươn lên thành tập đoàn tài chính với quy mô vốn điều lệ tương đương hàng trăm triệu USD, hoạt động đầu
tư trong nhiều lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, vàng và ngoại
tệ, cho thuê tài chính,… thông qua hệ thống hàng trăm chi nhánh, sử dụng hàng vạn lao động, thành lập nhiều công ty con,… đạt lợi nhuận mỗi năm tới hàng ngàn tỉ VND
Tuy nhiên, chính sự “bùng nổ” hoạt động cả về quy mô và mức độ đa dạng của hệ thống ngân hàng trong thời gian vừa qua đã tiềm ẩn những rủi ro và nguy cơ lớn tác động trực tiếp đến sự an toàn và lành mạnh của hệ thống NHTM Đó là nguyên nhân quan trọng nhất buộc Việt Nam phải cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nói riêng, cơ cấu lại hệ thống tài chính nói chung nhằm ngăn chặn rủi ro hệ thống trước khi sự đổ vỡ của một tổ chức tài chính có thể kéo theo
sự đổ vỡ của cả hệ thống như bài học từ các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính quốc tế đã chỉ ra [46]
Hoạt động ngân hàng tự nó đã chứa đựng rất nhiều rủi ro và khi những rủi
ro đó tích tụ, trở nên quá lớn do tác động của các yếu tố bên ngoài như bất ổn kinh tế vĩ mô, khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán hay/và thị trường bất động sản lao dốc hay do các yếu tố bên trong như quản trị rủi ro bất cập, quy trình tín dụng không hoàn chỉnh, đầu tư mạo hiểm, trình độ năng lực và đạo đức của đội ngũ không đáp ứng yêu cầu,… thì ngân hàng sẽ không thể tránh khỏi đổ vỡ nếu không được cơ cấu lại, cả cơ cấu lại từng ngân hàng, cũng như
Trang 24cơ cấu lại cả hệ thống ngân hàng Cho đến nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với những rủi ro ngày một gia tăng, nổi bật là:
Rủi ro tín dụng: Một mặt, để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp và người dân, trong khi nguồn vốn kinh doanh chỉ chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, nên đã có hiện tượng “tín dụng nóng” Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, người vay nợ gặp khó khăn thì rủi ro tín dụng gia tăng, nhất là trong những trường hợp ngân hàng quá dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho vay và không thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ Đặc biệt, sự hấp dẫn của thị trường bất động sản và chứng khoán trong thời gian vừa qua đã khiến nhiều NHTM tập trung quá nhiều vốn cho những thị trường đầy rủi ro này, góp phần không nhỏ vào thổi phồng “bong bóng” bất động sản và chứng khoán Song, những lúc thị trường này đảo chiều
đi xuống thì nguy cơ rủi ro lại tăng cao Mặt khác, do một số NHTM mới thành lập nên mặc dù qui mô vốn không lớn song vẫn cần tăng nhanh qui mô tín dụng
để qui mô tài sản có phù hợp với qui mô vốn, đồng thời, nhằm đáp ứng yêu cầu lợi nhuận của cổ đông, cũng như thỏa mãn tham vọng nhanh chóng vươn lên bằng các NHTM có qui mô lớn và bề dày kinh nghiệm khác Trong điều kiện
đó, những ngân hàng này đã bất chấp các qui tắc về an toàn vốn, về quản trị rủi
ro để đạt tốc độ tăng tín dụng tới hàng chục phần trăm mỗi năm, kể cả tín dụng cho những lĩnh vực rủi ro cao Khi NHNN quyết định thắt chặt tín dụng cho bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng xuống mức 22% tổng tín dụng vào giữa năm 2011 và mức 16% vào cuối năm 2011 thì rủi ro tín dụng của những NHTM này tăng vọt Ngoài ra, rủi ro đạo đức do sử dụng vốn tín dụng sai mục đích cũng tăng cao, hậu quả là tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng mạnh Theo công bố của NHNN, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng đã tăng từ 2,2% tổng tín dụng vào cuối năm 2010 lên 3,1% vào giữa năm 2011, trong đó, gần một nửa là
nợ xấu có khả năng mất vốn Thậm chí, một số tổ chức tài chính thế giới còn cho rằng tỷ lệ nợ xấu đã lên tới trên 10% (nếu tính theo chuẩn quốc tế) Thực tế, một số NHTMNN như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công khai tỷ lệ nợ xấu tới 6,6% và Vietcombank có tỷ lệ nợ xấu là 3,9% [26]
Trang 25Rủi ro thanh khoản: Do một số NHTM có tốc độ tăng dư nợ tín dụng và
tài sản quá cao trong khi quy mô vốn còn hạn chế nên tính thanh khoản của những NHTM này xuống thấp, thậm chí có những thời điểm mất tính thanh khoản Hậu quả là, để bảo đảm tính thanh khoản, một số NHTM đã phải chấp nhận lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên tới 20%-30%/năm, thậm chí trên 40%/năm bất chấp lãi suất tái chiết khấu do NHNN công bố hiện nay chỉ là 13%/năm [52] Có những giai đoạn NHNN đã phải bơm ròng đến hàng chục ngàn tỉ VND trên thị trường mở và thị trường liên ngân hàng để bảo đảm thanh khoản cho toàn hệ thống Rủi ro thanh khoản còn đi đôi với rủi ro kỳ hạn khi tuyệt đại đa số vốn huy động có kỳ hạn ngắn, thậm chí rất ngắn song các NHTM lại cấp tín dụng ở tất cả các kỳ hạn với một tỷ lệ không nhỏ dành cho vay trung
và dài hạn
Rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái: Những bất ổn kinh tế vĩ mô, đặc biệt là
lạm phát cao và những chính sách thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát đã đặt hệ thống NHTM trước những rủi ro rất lớn về lãi suất Những biến động lớn, đột ngột về lãi suất, cả huy động và cho vay, cùng với những biện pháp điều hành lãi suất còn mang nặng tính hành chính đã khiến cho các NHTM thường xuyên trong trạng thái đối phó, khi thì chạy đua tăng lãi suất huy động, khi lại giữ lãi suất cho vay ở mức rất cao để phòng ngừa biến động lãi suất Vì vậy, hiện tượng
“vượt trần, phá rào, hai lãi suất” diễn ra tương đối phổ biến làm giảm hiệu lực của các chính sách tiền tệ, đồng thời làm suy giảm đạo đức kinh doanh của không ít cán bộ quản lý cũng như cán bộ tác nghiệp trong hệ thống ngân hàng Hoạt động của không ít NHTM rất bấp bênh, chênh vênh giữa trạng thái lãi - lỗ,
kỷ luật kinh doanh không được tuân thủ triệt để, tạo ra những kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng
Bên cạnh đó, do tình trạng đô-la hóa chậm được khắc phục, với tổng tiền gửi ngoại tệ vẫn chiếm trên 20% tổng tiền gửi, thậm chí còn phát sinh thêm tình trạng vàng hóa với cả trăm tấn vàng được các NHTM huy động song không được sử dụng hiệu quả, nên các NHTM còn phải đương đầu với rủi ro tỷ giá hối đoái và cả rủi ro giá vàng Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2011 tỷ giá hối đoái
Trang 26VND/USD đã tăng trên 10% và tiếp tục biến động phức tạp trong 2 tháng còn lại của năm 2011, trong khi do chênh lệch lãi suất giữa cho vay VND và USD tới trên 10%/năm nên tín dụng ngoại tệ đã tăng rất nhanh trong thời gian qua Cũng trong thời gian đó, giá vàng cũng tăng tới 25%, có thời điểm lên tới trên 49 triệu VND/lượng Những biến động đó đã tác động rất mạnh tới mức độ an toàn của
cả tài sản có và tài sản nợ của các NHTM [26]
Trước những yếu kém, tồn tại trên của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng, trước những yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (Khóa XI) đã ra Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 nêu rõ:
“Trong 5 năm tới, cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế
doanh nghiệp và tái cơ cấu hệ thống tài chính - ngân hàng
Thực hiện chủ trương của Ðảng, trong 6 tháng đầu năm 2012, ngành Ngân hàng đã tập trung triển khai quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD, đặc biệt là NHTM Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ðề án Cơ cấu lại
hệ thống TCTD giai đoạn 2011-2015, ngày 18/4/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định 734/QÐ-NHNN ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Ðề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 Phương án khung về xử lý các NHTM cổ phần yếu kém cũng đã được hoạch định chi tiết Từ các thực trạng và quy định trên của ngành ngân hàng đã cho thấy việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng mà trọng tâm là tái cơ cấu quản trị nội
Trang 27bộ NHTM là việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Vai trò và lợi ích của việc tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại
Quản trị công ty đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp Và thực tế cho thấy những công ty thực hiện tốt việc quản trị sẽ
có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn vốn giá rẻ và thường đạt hiệu quả hoạt động cao hơn các công ty khác Vì thế, trong bối cảnh hiện nay việc tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM có vai trò và lợi ích to lớn đối với NHTM thể hiện ở những mặt sau:
- Thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Theo Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), quản trị nội bộ ngân hàng hiệu quả có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh [5] Việc cải tiến, tái cơ cấu cách thức quản trị ngân hàng sẽ mang lại một hệ thống giải trình tốt hơn, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vụ gian lận hoặc các giao dịch nhằm mục đích vụ lợi của các cán bộ quản lý Bên cạnh đó, việc áp dụng những cách thức quản trị ngân hàng mới và có hiệu quả sẽ góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả trong việc đưa ra quyết định của bất cứ ngân hàng nào Ngoài ra, một hệ thống quản trị ngân hàng hiệu quả cũng đảm bảo việc tuân thủ pháp luật, các tiêu chuẩn,
các quy chế, quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả đối tượng liên quan
- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn
Khi tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM theo phương thức mới sẽ có thể tạo
cơ hội cho ngân hàng dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn nhiều hơn so với trước đây Bởi lẽ, những ngân hàng được quản trị tốt thường gây được cảm tình đối với các cổ đông và các nhà đầu tư, tạo dựng được niềm tin lớn hơn của công chúng vào việc ngân hàng có khả năng sinh lời mà không xâm phạm tới quyền
lợi của cổ đông
- Nâng cao uy tín của ngân hàng
Những biện pháp quản trị nội bộ hiệu quả sẽ góp phần tạo nên và nâng cao uy tín của ngân hàng Lý do để thực hiện quản trị ngân hàng tốt là việc ngân hàng luôn phải tôn trọng quyền lợi của các cổ đông và các chủ nợ và việc
Trang 28đảm bảo tính minh bạch về các yếu tố quản trị, quản lý và điều hành sẽ được xem như là một trong những yếu tố quan trọng trong việc giành được niềm tin
cho nhà đầu tư, từ đó nâng cao hình ảnh, uy tín và thương hiệu của ngân hàng
Mặt khác, hoạt động quản trị công ty tốt còn mang lại cho ngân hàng những lợi ích như sau: Đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của cổ đông, phù hợp với việc mục tiêu tạo giá trị dài hạn cho cổ đông; Tăng cường minh bạch hóa thông tin trong và ngoài ngân hàng.; Nâng cao tính giải trình trong toàn ngân hàng; Cân bằng quyền lợi giữa cổ đông và HĐQT, Ban Điều hành; tăng cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn mới của ngân hàng; tăng cường quá trình ra quyết định để có ảnh hưởng tích cực đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng; tạo điều kiện cho ngân hàng củng cố hình ảnh, uy tín của mình trong việc thu hút và giữ chân người tài
1.3 Nội dung của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại Theo Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01-3-2012 của Thủ tường Chính phủ về phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng 2011-2015”, cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng là việc cơ cấu lại tổ chức bộ máy, quản trị điều hành theo hình thức, biện pháp, lộ trình thích hợp và phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng NHTM được coi là một trong những quan điểm, nguyên tắc thực hiện tái cơ cấu NHTM
Đặc biệt, việc cơ cấu lại hệ thống quản trị nội bộ để phù hợp hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Và để thực hiện cơ cấu lại mô hình tổ chức bộ máy và quản trị điều hành trong nội bộ NHTM thành công không thể không kể tới vai trò của pháp luật
Hiện nay, các quy định pháp luật có liên quan đến vấn đề cơ cấu lại tổ chức bộ máy, quản trị điều hành trong nội bộ NHTM đang trong tiến trình được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế So với những văn bản pháp luật cũ, những văn bản pháp luật được sửa
Trang 29đổi, ban hành mới gần đây như Luật các TCTD năm 2010 đã quan tâm hơn tới việc quy định các nội dung về bộ máy tổ chức, quản trị ngân hàng
1.3.1 Tái cơ cấu Bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại
Trong bộ máy quản lý của NHTM cổ phần thì ĐHĐCĐ (bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết) là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng Trong đó, các cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình về các vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ thông qua các phiên họp thường niên hoặc bất thường hoặc thông qua việc lấy ý kiến bằng văn bản theo quy định tại khoản 2, điều 59 về “Đại hội đồng cổ đông”, Luật các TCTD năm 2010 Mặt khác, tùy theo quy định trong Ðiều lệ của từng ngân hàng, ĐHĐCĐ có thể xem xét, quyết định các vấn đề rộng hơn so với các vấn đề bắt buộc do pháp luật quy định; các vấn đề còn lại sẽ được ĐHĐCĐ giao hoặc ủy quyền cho HĐQT toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ngân hàng và được quy định trong Ðiều lệ của ngân hàng
Việc ngân hàng tổ chức họp ĐHĐCĐ thường niên hoặc bất thường phải được tiến hành trong một thời hạn nhất định và phải thông báo, gửi giấy mời các
cổ đông tham dự trước một thời hạn tối thiểu xác định theo quy định tại Ðiều lệ của ngân hàng hoặc quy định của pháp luật Ngoài ra, theo quy định tại Điều 60
về “Triệu tập Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước”, Luật các TCTD năm 2010 có ghi nhận NHNN cũng có quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ, cụ thể:
“Trường hợp xảy ra sự kiện ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của
tổ chức tín dụng cổ phần, Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng cổ phần triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường và quyết định về nội dung Ngân hàng Nhà nước yêu cầu.”
Tuy nhiên, quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật có thể làm cho các ngân hàng không thể tuân thủ được mọi quy định liên quan, đặc biệt là ngành ngân hàng nơi các
Trang 30NHTM vừa phải tuân thủ quy định của pháp luật chung, vừa phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.
Tại khoản 1, Điều 32 về “Cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức tín dụng”,
Luật các TCTD năm 2010 có ghi nhận: “1 Cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức tín dụng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng
cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc).” Đồng
thời, tại khoản 31 và khoản 32, Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật các TCTD năm 2010 còn quy định những chức danh đóng vai trò là người quản lý, những chức danh đóng vai trò là người điều hành NHTM cổ phần
Trong đó, đối với bộ máy quản lý của NHTM Cổ phần, HĐQT đóng vai trò là cơ quan quản trị cao nhất có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của NHTM cổ phần, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐQT; tiêu chuẩn, điều kiện để trở thành thành viên HĐQT, Chủ tịch HĐQT được quy định cụ thể trong Luật các TCTD năm 2010
Theo nguyên tắc 1 trong "Các nguyên tắc về tăng cường quản trị công ty tại các tổ chức ngân hàng" do Ủy ban Basel ban hành tháng 10/2010, HĐQT
chịu trách nhiệm chung trước ngân hàng, bao gồm phê chuẩn và giám sát việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của ngân hàng, chiến lược rủi ro, quản trị công ty và giá trị của công ty HĐQT cũng chịu trách nhiệm giám sát Ban Giám đốc Không những thế, theo quy định tại Khoản 6, Điều 43 về “Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và cơ cấu Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên”, Luật các TCTD năm 2010 thì HĐQT phải thành lập các Ủy ban để giúp HĐQT thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trong đó phải có Ủy ban quản lý rủi ro
và Ủy ban nhân sự
Cơ cấu tổ chức, cơ chế làm việc, nhiệm vụ và chức năng của các Ủy ban được quy định cụ thể thành viên HĐQT có thể là thành viên của một hoặc một
số ủy ban; chủ nhiệm các Ủy ban phải là thành viên HĐQT, Ủy ban có thể bao gồm một hoặc một số thành viên không phải là thành viên HĐQT; các Ủy ban là
Trang 31cơ quan giúp việc cho HĐQT và có vai trò tham mưu cho HĐQT về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐQT và thực hiện một số nhiệm vụ do HĐQT phân công (nếu có)
Theo Ủy ban Basel: " Để đạt được sự khách quan cần thiết, thành vien của các ủy ban phải bao gồm các thành viên không điều hành, và trong mức độ
có thể, bao gồm đa số là các thành viên độc lập " Việc thành viên của Ủy ban
là thành viên không điều hành và độc lập có thể giúp Ủy ban hoạt động thực chất, khách quan và hiệu quả hơn Tuy nhiên, các quy định hiện nay về cơ cấu tổ chức của các Ủy ban của HĐQT trong Thông tư số 06/TT-NHNN chưa có quy định rõ ràng về thành viên Ủy ban phải là thành viên độc lập và không điều hành Bên cạnh những Ủy ban trên, Ủy ban Basel khuyến nghị các tổ chức ngân hàng lớn có thể thành lập thêm Ủy ban kiểm toán và một số Ủy ban khác để tạo mối liên hệ giữa các cơ quan khác trong ngân hàng như bộ phận kiểm toán độc lập với HĐQT, góp phần giúp HĐQT tiếp cận thông tin hoạt động hiệu quả và chính xác hơn
Bên cạnh đó, so với Luật các TCTD trước đây, Luật các TCTD năm 2010 cũng đã bổ sung thêm các quy định về các trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ (Điều 33) và các trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ (Điều 34)
Bổ sung những quy định về các nội dung này là phù hợp với các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả trong hoạt động ngân hàng, giảm thiểu những nguy cơ như lạm quyền, xung đột lợi ích Trong số các quy định về những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức
vụ, theo quy định tại khoản 1, Điều 34 về “Những trường hợp không cùng đảm
nhiệm chức vụ”, Luật các TCTD năm 2010 thì "Chủ tịch Hội đồng quản trị, của tổ chức tín dụng đồng thời là người điều hành của tổ chức tín dụng đó ",
tức là Chủ tịch HĐQT không được đồng thời đảm nhiệm các chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh và các chức danh tương đương Quy định này phù hợp với thông lệ hoạt động của nhiều ngân hàng trên thế giới
Trang 32Theo "Các nguyên tắc về tăng cường quản trị công ty tại các tổ chức ngân hàng" của Ủy ban Basel:
"Để có được cơ chế kiểm tra và cân đối phù hợp, ngày càng nhiều ngân hàng quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị phải là thành viên không điều hành, trừ trường hợp pháp luật quy định khác Khi ngân hàng không có sự phân tích này và đặc biệt khi vai trò của chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc điều hành (CEO) được trao cho cùng một người thì ngân hàng cần có các biên pháp nhằm giảm thiểu ảnh hường đối với cơ chế kiểm tra và cân đối (chẳng hạn bằng cách chỉ định một thành viên Hội đồng quản trị đứng đầu, một thành viên Hội đồng quản trị độc lập cao cấp, hay một vị trí tương tự)" [39]
Theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức dưới hình thức Công ty TNHH một thành viên Theo quy định tại khoản 2, Điều 32 “Cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức tín dụng”, Luật các TCTD năm 2010, cơ cấu tổ chức quản lý của NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên bao gồm: Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ
sở hữu, Hội đồng thành viên được quy định cụ thể trong Điều 66 về “Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu” và Điều 67 về “Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng thành viên”, Luật các TCTD năm 2010 Trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các NHTM do Nhà nước sở hữu 100% sẽ được cổ phần hóa để phù hợp với nền kinh tế và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên hiện nay, các vấn đề pháp lý về cổ phần hóa NHTM Nhà nước, phân tách nhiệm vụ, quyền hạn giữa các chức danh sở hữu, quản trị, điều hành trong nội bộ NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ vẫn chưa được quy định cụ thể
Bên cạnh mô hình về HĐQT thì trong các NHTM cổ phần hiện nay, vai trò của BKS ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính - ngân hàng có nhiều biến động và trước tình hình hoạt động thiếu minh
Trang 33bạch của các NHTM cổ phần ở Việt Nam hiện nay Theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 “Ban kiểm soát và cơ cấu Ban kiểm soát”, Luật các TCTD năm 2010:
"Ban kiểm soát thực hiện kiểm toán nội bộ, kiểm soát, đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật, quy định nội bộ, Điều lệ và Nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, ", Cụ thể hơn, khoản 1 Điều 17
về “Ban kiểm soát và cơ cấu ban kiểm soát”, Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày
16-7-2009 quy định về tổ chức và hoạt động của NHTM: "Ban kiểm soát là cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng nhằm đánh giá chính xác hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của ngân hàng"
Như vậy, hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào vai trò giám sát của BKS BKS hoạt động hiệu quả sẽ giúp hoạt động và tình hình tài chính của ngân hàng được minh bạch, lành mạnh; giúp HĐQT có biện pháp giải quyết kịp thời nếu có vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Để BKS thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, pháp luật quy định ít nhất một phần hai tổng số thành viên BKS là thành viên chuyên trách, không đồng thời đảm nhiệm chức vụ, công việc khác tại NHTM cổ phần, doanh nghiệp khác
Bên cạnh đó, thành viên BKS còn phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 50 “Tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành
và một số chức danh khác của tổ chức tín dụng”, Luật các TCTD năm 2010 Các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên BKS giúp bộ phận này hoạt động khách quan, độc lập và hiệu quả Nhiệm vụ, quyền hạn của BKS được quy định tại Điều 45 “Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm soát”, Luật các TCTD năm 2010 Như vậy, vai trò của BKS trong doanh nghiệp nói chung, NHTM cổ phần nói riêng là thực sự quan trọng
Khác với mô hình bộ máy quản trị nội bộ của NHTM ở Việt Nam, mô hình bộ máy quản trị nội bộ của NHTM ở Mỹ được tổ chức rất cụ thể với các dạng quy mô lớn và nhỏ khác nhau Bộ máy quản trị trong các NHTM ở Mỹ
Trang 34cũng có HĐQT có khả năng quản lý và quyết định chính sách, tạo sự an toàn cho đồng vốn và các hoạt động sinh lời [19]
Tuy nhiên, khác hẳn với các NHTM tại Việt Nam, HĐQT của các ngân hàng tại Mỹ không trực tiếp liên hệ với các hoạt động hàng ngày của ngân hàng
vì đã được ủy quyền cho các viên chức khác nhưng HĐQT có trách nhiệm cuối cùng tới sự thành công của hoạt động ngân hàng
Luật liên bang Mỹ đòi hỏi HĐQT ngân hàng quốc gia phải có từ 5 đến 25 thành viên [45] Các ngân hàng tiểu bang là hội viên của hệ thống dự trữ liên bang cũng phải tuân theo điều khoản này Thành viên HĐQT ngân hàng quốc gia do các cổ đông bầu ra, với nhiệm kỳ 1 năm thay vì 5 năm như ngân hàng tại Việt Nam Và Luật các tiểu bang thường có những điều khoản tương tự Đa số các thành viên HĐQT ngân hàng quốc gia phải là công dân Mỹ và mỗi thành viên phải có mức cổ phần tối thiểu trong ngân hàng là 1000 USD
Chính quyền liên bang đã theo dõi một chính sách nghiêm cấm các bang quản trị hỗn hợp Chính sách này được xem như là cần thiết để ngăn ngừa việc tạo ra một tập đoàn tiền tệ, tập trung đồng vốn và tín dụng trong tay một vài cá nhân Rõ ràng là mối lo sợ này không bao hàm đối với các bang quản trị hỗn hợp giữa các ngân hàng và các doanh nghiệp lớn, bởi không có một luật lệ nào ngăn cản những mối liên hệ như thế Thực sự nhiều HĐQT, đặc biệt là tại các ngân hàng lớn, được thành lập bởi các chủ tịch của các hãng tư nhân tương đối lớn, mà các ngân hàng có quan hệ về vốn
Về trách nhiệm của các thành viên HĐQT: Các thành viên HĐQT có quyền hành đáng kể trong việc thực hiện bổn phận của họ Mặc dù mục tiêu của ngân hàng có thể do các viên chức của ngân hàng các thành viên trong HĐQT đưa ra, nhưng cuối cùng phê chuẩn các mục tiêu là trách nhiệm của HĐQT HĐQT có quyền bổ nhiệm hoặc cách chức các viên chức và nhân viên Hoặc có thể đặt tên, bổ nhiệm và xác định trách nhiệm của các ủy ban, kể cả số hội viên, như HĐQT mong muốn HĐQT có thể quyết định hình thức buộc các viên chức của ngân hàng phải báo cáo
Trang 35Các thành viên HĐQT cũng có quyền bổ sung các quy chế đã được ban hành theo bất cứ cách thức hợp pháp nào, miễn là những bổ sung đó về phương diện vật chất không làm ảnh hưởng đến lợi tức của các cổ đông HĐQT có quyền công bố phân chia số lãi cổ phần hoặc chuyển quỹ này từ tài khoản lợi nhuận chưa chia thành số thặng dư Ngoài ra, HĐQT có quyền quyết định số vốn sẽ được đầu tư vào công trái, cho vay và các tích sản khác
Các chức năng của thành viên Hội đồng: Để đáp ứng trách nhiệm của thành viên Hội đồng đối với người gửi tiền, cổ đông và cơ quan giám sát, các thành viên trong HĐQT thực hiện nhiều chức năng và có sự khác nhau đáng kể giữa các ngân hàng Có thể có một số HĐQT ở ngân hàng hoạt động năng nổ hơn so với các Hội đồng khác, tùy vào nghề nghiệp, thời gian họ phục vụ trong ngân hàng, mối quan tâm về sự phát triển và đầu tư của họ trong ngân hàng Tuy nhiên, về cơ bản, thành viên HĐQT sẽ liên hệ với một vài hoặc cả 7 hoạt động: Quyết định các mục tiêu ngân hàng và việc thiết lập các chính sách ngân hàng; lựa chọn người quản lý ngân hàng; thiết lập các ủy ban; giám sát các khoản cho vay và đầu tư; cố vấn; phát triển kinh doanh; Phê duyệt lại các hoạt động của ngân hàng
Trách nhiệm pháp lý của các thành viên HĐQT: So với các chế định quy định riêng rẽ về trách nhiệm pháp lý của các viên chức quản lý của ngân hàng Việt Nam, việc quy định các trách nhiệm pháp lý tập trung của các thành viên HĐQT của các ngân hàng tại Mỹ có thể coi là các quy định rất chặt chẽ và hợp
lý Và các thành viên HĐQT tại các ngân hàng Mỹ không thể xem nhẹ các địa
vị pháp lý của họ [37] Các luật thành viên lẫn luật truyền thống đều áp đặt sự trừng phạt nghiêm khắc đối với các thành viên vì đã quản lý sau phạm về các hoạt động của ngân hàng
Theo đó, đối với trách nhiệm pháp lý vi phạm luật hình sự sẽ bị phạt 5000 USD hoặc bị phạt tù dưới 5 năm hoặc cả hai Một số trường hợp vi phạm đối với các thành viên HĐQT cũng như đối với các viên chức, nhân viên đại lý và các nhân viên của ngân hàng có thể là: Vào sổ gian, báo cáo gian,… Chứng nhận sai các ngân phiếu, trộm cắp tham ô, …Đóng góp cho các hoạt động mang mục
Trang 36đích chính trị [29] Ngoài việc xử lý trách nhiệm hình sự, các thành viên của HĐQT cũng có trách nhiệm vật chất hay còn gọi là chịu trách nhiệm dân sự với các thiệt hại mà họ gây ra được ngân hàng xác nhận giống như quy định ở Việt Nam
Trách nhiệm luật thành văn của các thành viên HĐQT được dựa trên các điều khoản của các đạo luật dự trữ liên bang và ngân hàng quốc gia Đoạn 34
của Đạo luật ngân hàng quốc gia đã được xác định như sau về trách nhiệm: “Nếu thành viên HĐQT của bất cứ hiệp hội ngân hàng quốc gia nào cố tình vi phạm, hay cố tình cho phép bất cứ viên chức, nhân viên đại lý nào, hoặc các nhân viện phụ giúp của hiệp hội vi phạm bất cứ điều khoản nào của văn tự này (văn tự
LXII của V.S.R.S gồm đạo luật ngân hàng quốc gia và các luật lệ liên quan) thì
sẽ bị tước tất cả các quyền lợi, đặc quyền và đặc ân của hiệp hội [45] Tất nhiên,
vi phạm đó sẽ quyết định khởi tố theo yêu cầu của Viện kiểm soát tiền tệ Và trong các trường hợp vi phạm đó, mỗi thành viên HĐQT tham gia hoặc tán thành, sẽ chịu trách nhiệm cá nhân đối với tất cả các thiệt hại do sự vi phạm ấy gây ra
Trách nhiệm của các thành viên HĐQT ngân hàng theo luật tội phạm và luật tín dụng, thật nghiêm khắc nhưng chúng không mang tính khắc nghiệt như quan niệm của người dân Các thành viên HĐQT có thể tự bào chữa khỏi các trách nhiệm này bằng cách nắm vững các luật lệ ngân hàng, các điều luật của các giới chức giám sát và các hoạt động ngân hàng: Bằng cách tuyển dụng các viên chức và nhân viên trung thực, bằng cách bảo hiểm và các biện pháp kiểm soát nội bộ khác, bởi vì bản chất của nghiệp vụ ngân hàng tính không trung thực không được chấp nhận
Mặt khác, các thành viên HĐQT có thể giành cho chính họ và cho ngân hàng quyền được bảo hiểm đối với trách nhiệm theo luật tố tụng và các rủi ro nảy sinh từ bản chất của các hoạt động ngân hàng Ủy ban bảo vệ và bảo hiểm của hiệp hội các giám đốc ngân hàng Mỹ đã phát triển và tiêu chuẩn hóa phạm
vi bảo hiểm đối với các ngân hàng [45]
Trang 37Ngoài ra, các thành viên HĐQT còn có thể giảm bớt trách nhiệm của họ cũng như của ngân hàng, bằng cách áp dụng một hệ thống kiểm toán hoặc kiểm soát nội bộ Phương pháp này quan trọng đến mức mà hầu hết các cơ quan cấp giấy phép không những đòi hỏi các ngân hàng phải có một ủy ban thanh tra, mà còn đòi hỏi HĐQT kiểm tra ngân hàng, tối thiểu mỗi năm một số lần [45] Nói chung trách nhiệm của các thành viên HĐQT của NHTM ở Mỹ rất lớn nhưng không hạn chế đối với những cá nhân có năng lực thực sự Đó cũng
có thể coi là bước đi thay đổi nhanh chóng đối với lịch sử nghiệp vụ ngân hàng
(Giám đốc) có thể là một trong số các thành viên của HĐQT được bổ nhiệm hoặc là người được thuê để giữ chức danh người điều hành Như vậy, để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HĐQT phải bổ nhiệm hoặc thuê một người giữ chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), thay mình điều hành hoạt động của ngân hàng và báo cáo tình hình hoạt động của ngân hàng lên HĐQT Để trở thành Tổng giám đốc (Giám đốc) NHTMCP, người được bổ nhiệm hoặc được thuê phải không thuộc trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ hoặc không cùng đảm nhiệm chức vụ và đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại Khoản 4, Điều
50 về “Quyền, nghĩa vụ của Tổng giám đốc (Giám đốc)”, Luật các TCTD năm
2010 Hiện nay, trong số những người điều hành theo quy định tại Khoản 32, Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật các TCTD năm 2010 thì chỉ có chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc) thuộc cơ cấu tổ chức của NHTM cổ phần chứ không phải Ban Giám đốc theo Nguyên tắc 5 "Các nguyên tắc về tăng cường quản trị
Trang 38công ty tại các tổ chức ngân hàng" của Ủy ban Basel và thông lệ quốc tế về cơ cấu tổ chức của các NHTM trên thế giới
Theo Ủy ban Basel: Dưới sự chỉ đạo của HĐQT, Ban Giám đốc phải đảm bảo các hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược kinh doanh, mức độ chấp nhận rủi ro và các chính sách mà HĐQT phê chuẩn, cụ thể:
"Ban Giám đốc là một nhóm các các bộ quản lý nòng cốt chịu trách nhiệm và phải có trách nhiệm giải trình đối với việc giám sát công tác quản lý hàng tháng của ngân hàng Các cán bộ này phải có kinh nghiệm, năng lực và sự chính trực cần thiết để quản lý hoạt động kinh doanh thuộc thẩm quyền giám sát của họ cũng như kiểm soát phù hợp các cán bộ chủ chốt đảm trách việc thực hiện các hoạt động đó"
Với quy định trên có thể thấy, việc quy định như hiện nay của Luật các TCTD là chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và chưa bao quát được hết các chứng danh điều hành trong NHTMCP
Bên cạnh những chức danh trên, Ủy ban Basel còn khuyến nghị:
"Các ngân hàng lớn và ngân hàng quốc tế cũng như các ngân hàng khác, tùy thuộc vào mức độ và loại hình rủi ro của mình và quy định pháp luật sở tại, phải bổ nhiệm một cán bộ quản lý cao cấp độc lập phụ trách bộ phận quản lý rủi ro của mình và quy định pháp luật
sở tại, phải bổ nhiệm một cán bộ quản lý cấp cao độc lập phụ trách bộ phận quản lý rủi ro và khuôn khổ quản lý rủi ro toàn diện trong toàn
bộ tổ chức Cán bộ quản lý này thường được gọi là giám đốc quản lý rủi ro (CEO ít nhất tại các ngân hàng lớn, vai trò của CEO phải tách biệt khỏi chức năng điều hành và trách nhiệm kinh doanh khác,
và thường không được "đội hai mũ" (nghĩa là Tổng giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính, Trưởng ban kiểm toán hay các cán bộ quản
lý cấp cao khác không được giữ chức vụ CEO)"
Bên cạnh đó, Ủy ban Basel còn đưa ra các khuyến nghị về nguồn lực, trình độ chuyên môn, phạm vi và trách nhiệm, sự tôn trọng và độc lập của bộ phận quản lý rủi ro Việc thành lập bộ phận quản lý rủi ro còn góp phần tăng
Trang 39hiệu quả hoạt động của Ủy ban quản lý rủi ro, Ủy ban này cần được nhận thông báo chính thức và không chính thức từ bộ phận quản lý rủi ro của ngân hàng và Giám đốc quản lý rủi ro (CEO) [15]
1.3.2.2 Kiểm soát và Kiểm toán nội bộ
Trong hoạt động quản trị NHTM cổ phần không thể không nhắc đến vai trò của thể chế kiểm tra kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong nội bộ ngân hàng Theo Điều 40 về “Hệ thống kiểm soát nội bộ”, Luật các TCTD năm 2010:
"Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra", đồng thời "Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ "
Để hỗ trợ hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ, pháp luật quy định thành lập BKS nội bộ trực thuộc BKS để thực hiện kiểm toán nội bộ trong NHTM cổ phần
"Kiểm toán nội bộ thực hiện rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật." (Điều 41
về “Kiểm toán nội bộ, Luật các Tổ chức tín dụng 2010)
Mặt khác, để hỗ trợ hoạt động của kiểm soát, kiểm toán nội bộ, NHNN đã ban hành Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư
số 44/2011/TT-NHNN), thay thế cho hai Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 của Thống đốc NHNN ban hàng Quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của TCTD và Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 của
Trang 40Thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ của TCTD Thông tư số 44/2011/TT-NHNN có nội dung bao trùm về kiểm tra kiểm soát, kiểm toán nội bộ, khắc phục những hạn chế của hai Quyết định cũ, bỏ BKS nội
bộ nhằm tránh sự chồng chéo trong hoạt động kiểm tra và giám sát, theo đó hiện nay, pháp luật quy định NHTM cổ phần phải có hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm toán nội bộ Với các quy định mới, hệ thống giám sát kiểm toán nội
bộ thực sự phát huy được vai trò quan trọng trong việc giám sát các hoạt động của ngân hàng và đảm bảo sự minh bạch, lành mạnh của các báo cáo tài chính trong nội bộ NHTMCP
Bên cạnh đó, định kỳ hàng năm, kiểm toán nội bộ của TCTD phải thực hiện rà soát đánh giá về tính thích hợp, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Việc kiểm tra, đánh giá độc lập phải được thực hiện bởi bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc tổ chức kiểm toán độc lập hoặc một tổ chức khác có đủ trình độ và khả năng thực hiện việc kiểm tra, đánh giá độc lập theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (Điều 7 về “Đánh giá độc lập về hệ thống kiểm toán nội
bộ, Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29-12-2011 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) Như vậy chúng
ta có thể thấy Kiểm toán nội bộ thực hiện nhiệm vụ đánh giá hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, Kiểm toán nội bộ sẽ không thực hiện một
số công việc can thiệp đến phòng kiểm soát nội bộ như: rà soát, đánh giá lại phương pháp, chương trình kiểm tra của phòng kiểm soát nội bộ, chọn mẫu kiểm toán lại công việc của phòng kiểm soát nội bộ Kiểm toán nội bộ phải được tách biệt với kiểm soát nội bộ Kiểm toán nội bộ là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật
Mục tiêu và chức năng cơ bản của kiểm toán nội bộ bao gồm: Hoạt động
vì sự an toàn, hiệu quả của ngân hàng; rà soát, đánh giá độc lập, khách quan về