Bảng Tên bảng Trang 2.13 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 65 2.14 Thực trạng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 2.15 Thực t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
VÕ THỊ LỢI
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THẠNH,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Dương Bạch Dương
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Thị Lợi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, bản thân tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi nhất của các cấp lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Lãnh đạo Trường Đại học Quy Nhơn, Khoa Khoa học xã hội và nhân văn, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Quy Nhơn, các giảng viên
đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Dương Bạch Dương
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh Thạnh, cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên các trường mầm non trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã nhiệt tình cung cấp thông tin, số liệu, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Võ Thị Lợi
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON 7
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Quản lý giáo dục 12
1.2.3 Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 14
1.2.4 Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống 17
1.3 Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 18
1.3.1 Các chủ trương, chính sách quy định về giáo dục kỹ năng sống 18
1.3.2 Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 20
Trang 51.3.3 Các điều kiện hỗ trợ công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm
non 25
1.4 Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 26
1.4.1 Mục tiêu quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non26 1.4.2 Nội dung quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non27 1.4.3 Kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục kỹ năng sống 31
1.4.4 Chức năng của hiệu trưởng trong quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 32
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 34
1.5.1 Những yếu tố khách quan 34
1.5.2 Những yếu tố chủ quan 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH 39
2.1 Mô tả quá trình nghiên cứu thực trạng 39
2.1.1 Mục tiêu khảo sát thực trạng 39
2.1.2 Nội dung và đối tượng khảo sát 39
2.1.3 Công cụ khảo sát 41
2.1.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu khảo sát 41
2.2 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục mầm non của huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 42
2.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 42
2.2.2 Khái quát giáo dục mầm non của huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 44
Trang 62.3 Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 45 2.3.1 Đặc điểm trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 45 2.3.2 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ trẻ
về vai trò của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu
số 47 2.3.3 Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 51 2.3.4 Thực trạng về các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 59 2.4 Thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 60 2.4.1 Thực trạng tiếp nhận, xây dựng, thực hiện các chủ trương chính sách, văn bản quy định về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 60 2.4.2 Thực trạng quản lý việc thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 64 2.4.3 Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 70 2.4.4 Thực trạng quản lý các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 72 2.5 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 73 2.5.1 Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan 73 2.5.2 Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan 75
Trang 72.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non huyện Vĩnh
Thạnh, tỉnh Bình Định 77
2.6.1 Những ưu điểm 77
2.6.2 Những hạn chế 78
2.6.3 Nguyên nhân của hạn chế 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH 82
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 82
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 82
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 83
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 83
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 84
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp lứa tuổi trẻ mầm non 84
3.2 Biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 85
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ trẻ về tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 85
3.2.2 Kế hoạch hoá công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 89
3.2.3 Quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 92
3.2.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 96
Trang 83.2.5 Tổ chức phối hợp giữa các lực lượng ở nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc
thiểu số 99
3.2.6 Tăng cường đầu tư, đảm bảo nguồn lực tài chính, nhân sự và cơ sở vật chất, kỹ thuật hỗ trợ công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số 98
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 105
3.4 Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 107
3.4.1 Mục đích, nội dung, đối tượng, phương pháp khảo sát 107
3.4.2 Kết quả đánh giá về tính cấp thiết của các biện pháp 109
3.4.3 Kết quả đánh giá về tính khả thi của các biện pháp 111
3.4.4 Tương quan giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 113
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 115
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 117
1.KẾT LUẬN 117
1.1 Về lý luận 117
1.2 Về thực tiễn 117
2 KHUYẾN NGHỊ 118
2.1 Đối với Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 118
2.2 Đối với Phòng Giáo dục& Đào tạo huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 119
2.3 Đối với các trường mầm non công lập trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.1 Số lượng CBQL và GV tham gia khảo sát 40
2.2 Số lượng cha mẹ trẻ tham gia khảo sát 40
2.4 Khảo sát về nhận thức của Hiệu trưởng, GV về tầm quan
trọng của hoạt động giáo dục KNS cho trẻ mầm non dân tộc
thiểu số
48
2.5
Khảo sát về nhận thức của cha mẹ trẻ về tầm quan trọng của
hoạt động giáo dục KNS cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
50
2.6
Khảo sát về thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
51
2.7 Khảo sát về thực trạng về thực hiện nội dung giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
53
2.8 Khảo sát về thực trạng về thực hiện nội dung giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số của cha mẹ trẻ
55
2.9 Khảo sát về thực trạng về hình thức giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
56
2.10 Kết quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu
số
58
2.11 Khảo sát về thực trạng các điều kiện hỗ trợ giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
59
2.12 Thực trạng chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
61
Trang 11Bảng Tên bảng Trang
2.13 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
mầm non dân tộc thiểu số
65
2.14
Thực trạng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
2.15 Thực trạng quản lý phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mầm non dân tộc thiểu số
68
2.16 Thực trạng quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
mầm non dân tộc thiểu số
69
2.17 Thực trạng kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế
hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu
số
71
2.18 Thực trạng quản lý phương tiện giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mầm non dân tộc thiểu số
73
2.19 Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc
thiểu số
74
2.20 Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc
thiểu số
76
3.1 Thăm dò tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 109 3.2 Thăm dò tính khả thi của các biện pháp đề xuất 111
3.3 Tổng hợp thứ bậc và tương quan giữa tính cấp thiết và tính
khả thi của 6 biện pháp
113
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của dân tộc Việc bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của nhà nước, của xã hội và của mỗi gia đình bởi "Trẻ em hôm nay, Thế giới ngày mai" Việc giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này Bác Hồ nói: "Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hóa" Sản phẩm của giáo dục là con người mà con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong tương lai đó chính là thế hệ trẻ
Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng bạo hành, xâm hại và tai nạn thương tích ở trẻ em ngày càng gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em Hiện nay, theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nước ta có khoảng 5 triệu trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc tại các trường mầm non Tại Việt Nam, thống kê của Cục Quản lý môi trường cho thấy, mỗi năm trung bình có hơn 370.000 trẻ bị tai nạn thương tích, trong đó nhóm 15-19 chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 43%, tiếp đến nhóm tuổi 5-14 chiếm 36,9%, thấp nhất là nhóm tuổi 0-4 chiếm 19,5% Số trẻ em tử vong do tai nạn thương tích là 6.600 trường hợp một năm chiếm tỷ lệ 35,5% trong tổng số trẻ
tử vong trong toàn quốc do tất cả các nguyên nhân Cứ 100.000 trẻ có 24 trẻ
tử vong do tai nạn thương tích hay tương đương 18 trẻ em tử vong do tai nạn thương tích mỗi ngày Điều đáng quan tâm là trẻ em dưới 6 tuổi là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro thương tích do trẻ lứa tuổi này thường thể hiện bản tính hiếu động trong khi các em vẫn còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, chưa có sự hiểu biết về kỹ năng sống, chưa có kinh nghiệm
Trang 13trong phòng ngừa các tai nạn, rủi ro Chính vì thế khả năng tự bảo vệ mình ở lứa tuổi này còn nhiều hạn chế hơn so với các nhóm lứa tuổi khác
Trẻ em mầm non là tương lai của đất nước Đất nước có giàu mạnh, phồn vinh là nhờ vào thế hệ trẻ Vì vậy, phải chăm sóc giáo dục trẻ thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ tuổi mầm non Đảng và nhà nước cũng đã khẳng định bậc học mầm non là bậc học và là nền tảng đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục mầm non là chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ dưới 6 tuổi giúp trẻ phát triển toàn diện về 5 lĩnh vực: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị những tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào các cấp học tiếp theo Nếu không làm tốt việc chăm sóc, giáo dục trẻ trong những năm này thì việc giáo dục trẻ của những năm sau sẽ gặp khó khăn và phức tạp hơn Chính vì vậy, việc đưa Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động giáo dục trong trường mầm non cũng là một nội dung không những cần mà còn rất quan trọng đối với trẻ lứa tuổi mầm non trong giai đoạn hiện nay
Theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 về phê duyệt
“Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020” Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; Chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; Đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; Đảm bảo công bằng
xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập
Bốn trụ cột của giáo dục ở thế kỷ XXI đó là:“Thực học, thực nghiệp, khai phóng, nhân văn”, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống trong giáo
Trang 14dục đã được quán triệt trong đổi mới mục tiêu, nội dung, và phương pháp giáo dục phổ thông ở Việt Nam
Từ thực trạng trên, Thông tư số 04/2014/TT – BGDĐT ngày 28/02/2014 của
Bộ Giáo và Đào tạo ban hành về “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; Hướng dẫn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 01 năm 2015 của
Bộ GD&ĐT V/v hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX; Để đạt được mục tiêu GD&ĐT
theo Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng thì việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non và quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non trong nhà trường là một trong những nội dung thiết thực để giáo dục toàn diện, phát triển năng lực, phẩm chất cho trẻ
Theo kết quả điều tra dân số cho thấy thực tế Vĩnh Thạnh là một huyện miền núi của tỉnh Bình Định Dân số khoảng 30.000 người gồm 02 dân tộc Ba
Na và Kinh trong đó có 30% là đồng bào dân tộc Ba Na Toàn huyện có 08
xã, 01 thị trấn với 57 thôn, trong đó 80% dân số sống chủ yếu bằng nghề nông, chỉ có một số làm dịch vụ buôn bán nhỏ Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhận thức của phụ huynh trẻ dân tộc thiểu số về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non còn hạn chế mang tính hình thức Bên cạnh đó, ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định việc quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non nói chung đã từng bước đi vào nề nếp, bước đầu đạt được một số kết quả; nhưng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhất là đối với trẻ mầm non dân tộc thiểu số tại địa phương Vì vậy, tôi chọn đề tài
“Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” để nghiên cứu làm Luận
văn thạc sĩ
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở trường mầm non, tác giả tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu
số ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Từ đó, đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu
số ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định từng bước đã đi vào nề nếp, đạt được những kết quả quan trọng, nhưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế do ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách
quan và chủ quan Nếu xây dựng được hệ thống lý luận về quản lý công tác
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở trường mầm non
và đánh giá đúng thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số có tính cấp thiết và khả thi cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, hệ thống hoá cơ sở lý luận về công tác giáo dục kỹ năng sống và quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở trường mầm non
Trang 16- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
- Đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu lý luận
và thực trạng về quản lý giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở trường mầm non
6.2 Về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát, nghiên cứu thực trạng quản lý
công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số tại 08 trường mầm non của huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
6.3 Về khách thể khảo sát: CBQL, GV và cha mẹ trẻ mầm non dân
tộc thiểu số ở 08 trường mầm non tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
6.4 Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành khảo sát trong 2 năm
học 2019 -2020 và 2020-2021
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, khái quát các tài liệu pháp lý, các quy định, chính sách, chủ trương của nhà nước, của Bộ GD&ĐT và các cấp quản lý có liên quan về lĩnh vực nghiên cứu để xây dựng cơ sở pháp lý cho nghiên cứu đề tài
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận cho nghiên cứu Tổng quan những công trình nghiên cứu khoa học giáo dục
có liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động GD KNS cho trẻ mầm
Trang 17non và các tình huống áp dụng trong thực tế của trẻ Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của CBQL ở trường mầm non
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi nhóm cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, cha mẹ trẻ; Phiếu đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở các trường mầm non huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
- Phương pháp phỏng vấn và trò chuyện, trao đổi, thảo luận với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trường mầm non
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động và tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các văn bản, các sản phẩm từ quá trình quản lý có liên quan đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT tỉnh Bình Định, Phòng GD&ĐT Vĩnh Thạnh
7.3 Phương pháp bổ trợ khác
- Phương pháp toán thống kê, phương pháp so sánh để xử lý các số liệu
trong quá trình nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Con người ngay từ khi sinh ra đã cần nhiều kỹ năng để tồn tại và phát triển, chính vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho con người đã hình thành từ rất sớm, từ khi xã hội chưa phát triển cho đến ngày hôm nay Giáo dục kỹ năng sống đã trở thành vấn đề được loài người coi trọng trong nền giáo dục của mình Kỹ năng sống không chỉ đơn thuần là giáo dục giới hạn trong phạm vi hẹp mà đã được khái quát, nghiên cứu và hình thành lý luận trong hệ thống giáo dục của con người Nhất là trong thời đại hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ không ngừng tiến bộ thì nhu cầu học tập của con người ngày càng nhiều hơn Con người có nhu cầu muốn học để biết, để làm việc, để tự khẳng định mình và để hòa nhập với cộng đồng
Khái niệm kỹ năng sống lần đầu tiên được bàn đến trong Hiến chương Ottawa của WHO (1986) về nâng cao sức khỏe, trong đó có nêu mục “Các kỹ năng cá nhân” nhằm “hỗ trợ sự phát triển cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe và nâng cao kỹ năng sống Bằng cách đó, nó gia tăng các cơ hội, giúp người dân có khả năng chọn lựa những điều có lợi cho sức khỏe và môi trường” [26], [27] Khái niệm này liên kết kỹ năng sống với việc ra quyết định liên quan tới trách nhiệm cá nhân và năng lực để thực hiện các lựa chọn hành vi thích hợp cho một cuộc sống lành mạnh
Về sau, WHO (1997) tiếp tục mở rộng khái niệm này, theo đó kỹ năng sống có thể được định nghĩa là “các khả năng về thích nghi và hành vi tích
Trang 19cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hàng ngày” [27]
Giáo dục kỹ năng sống tại các nước phương Tây vận dụng một cách tổng hợp những quan điểm của những tổ chức như WTO hay UNICEF để giáo dục kỹ năng sống cho các thế hệ trẻ Đối với các nước gần với Việt Nam như khu vực châu Á - Thái Bình Dương thì việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hướng áp dụng thử nghiệm hoặc ứng dụng trong quá trình huấn luyện là chủ yếu Chỉ có một số ít nước đưa kỹ năng sống thành một môn học riêng biệt như Campuchia, Malaixia, … Còn lại đa số các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp kỹ năng sống vào nội dung các môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: giáo dục đạo đức, giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, giáo dục quyền con người, giáo dục môi trường, … như ở Nhật, Hàn Quốc, Singapore,…
Có thể thấy rằng, giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kỹ năng sống của trẻ
em lứa tuổi mầm non hay việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường mầm non cũng chưa được nghiên cứu và đánh giá cụ thể
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996): “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” [3] Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ngày càng được mở rộng Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định,
Trang 20kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên Giai đoạn
2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống đã được phát triển sâu sắc hơn
Khái niệm kỹ năng sống được hiểu đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo
“Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức tại
Hà Nội từ ngày 23 - 25/10/2003 Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam nhận thức đầy đủ hơn về giá trị của kỹ năng sống cũng như ý nghĩa cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đặc biệt là đối tượng sinh viên đại học nói riêng và toàn xã hội nói chung
Ở Việt Nam, đề tài kỹ năng sống và hoạt động giáo dục kỹ năng sống
đã được rất nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau
Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2011) là một trong những người có nhiều bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống Trong cuốn “Giáo trình giáo dục kỹ năng sống”, tác giả
đề cập đến sự cần thiết phải đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào đào tạo sư phạm Đồng thời, tác giả đã trình bày khung lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống Phương pháp dạy học tích cực và phương pháp đánh giá theo cách tiếp cận năng lực khi tổ chức dạy - học chuyên đề này Với phương thức đó người học không chỉ hiểu biết về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống mà còn vận dụng được cách tiếp cận 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI và có thể thiết kế được các chủ
đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau để việc triển khai giáo dục kỹ năng sống có thể lan tỏa rộng hơn [1]
Riêng đối với giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, Bộ GD&ÐT (2009) đã tích hợp kỹ năng sống
Trang 21trong các năng lực thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội nhằm rèn luyện các kỹ năng cho trẻ mầm non 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1, như: Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân, tin tưởng vào khả năng của bản thân, biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc, có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn, hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh, có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội, thể hiện sự tôn trọng người khác [4]
Bắt đầu từ năm học 2010 – 2011, trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học số 4945 ngày 18/8/2010 của bậc học mầm non trong phần Nhiệm vụ
cụ thể đã nêu rõ: “Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ (kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt; kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân; mạnh dạn trong giao tiếp; thân thiện với bạn bè; lễ phép với người lớn tuổi )” [5, tr1]
Vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm đến Tiêu biểu như:
Tác giả Nguyễn Thị Hương Lan (2016) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
“Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non các trường mầm non công lập quận Đống Đa, Hà Nội”, Học viện Khoa học Xã hội [13]
Tác giả Vũ Thị Huyền Trang (2017) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
“Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở các trường mầm non thực hành của trường cao đẳng sư phạm trung ương”, Học viện Quản lý Giáo dục [18]
Tác giả Đào Thị Chi Hà (2018) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở các trường mầm non tư thục”, Học viện Khoa học Xã hội [10]
Tác giả Phạm Thị Chung (2019) nghiên cứu đề tài “ Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông”, Đại học Quy Nhơn [9]
Các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống đã miêu tả đầy đủ, sinh
Trang 22động, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non Giáo dục kỹ năng sống mặc dù đã được định hướng trong mục tiêu, nội dung và chương trình giáo dục, song việc thực hiện hoạt động này trong các trường mầm non còn rất nhiều hạn chế Chủ yếu là giáo dục thông qua các môn học trên lớp, chưa có nhiều nghiên cứu và đề ra biện pháp cụ thể trong việc định hướng giáo dục và rèn kỹ năng sống trong các hoạt động khác
Các nghiên cứu ở trên cũng đã tổng thuật và xác định một số vấn đề về
cơ sở lý luận cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động này với các cách tiếp cận khác nhau, đồng thời các tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau của các vấn đề, các đối tượng khác nhau ở những địa bàn nghiên cứu khác nhau và đã đề xuất các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế với đối tượng, địa phương đó Tuy nhiên, vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định chưa được nghiên cứu cụ thể Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
1.2 Các khái niệm cơ bản
là một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển
xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Có thể nói quản lý là một trong những loại hình lao động
có hiệu quả nhất, quan trọng nhất
Quản lý là một hoạt động có chủ định của chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu của công tác quản lý Quản lý
Trang 23vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật của người quản lý trong việc điều khiển tổ chức Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động khi xã hội phát triển Quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội C.Mác đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một hoạt động nào có tính chất xã hội và chúng trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý”
Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich đưa ra khái niệm:
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản
lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn cá nhân ít nhất ” [21, tr.33]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8, tr.1]
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một bộ phận của xã hội Quản lý nhà nước đối với giáo dục
là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý đến tất cả các phân hệ quản lý, nhằm làm cho hệ thống thực hiện được mục tiêu giáo dục, mà kết quả cuối cùng là chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục Khoa học quản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản
lý kinh tế Do cách nhìn nhận giáo dục ở những mức độ khác nhau nên những khái niệm quản lý giáo dục có nội dung rộng hẹp khác nhau Các nhà nghiên cứu ngoài nước và trong nước đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục như:
Tác giả M.I Kônđacốp trong cuốn Cơ sở lý luận của khoa học quản lý
Trang 24giáo dục đã nêu “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng” [23]
Ở Việt Nam, Phạm Minh Hạc cho rằng “Việc quản lý nhà trường phổ thông có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung là quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [11]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phù hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2]
Đối với tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa “Quản lý giáo dục là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [17]
Trong tập bài giảng về Tổ chức và quản lý giáo dục trường học, tác giả
Hồ Văn Liên cho rằng “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [13, tr.9]
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục dù có khác nhau, song chúng
ta vẫn thấy có những điểm chung là:
- Quản lý giáo dục là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng,
có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
- Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng phối
Trang 25hợp, tác động tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trưởng để đạt mục tiêu đã đề ra
1.2.3 Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống
1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng sống
Hiện nay có khá nhiều quan niệm về kỹ năng sống, tùy từng góc nhìn khác nhau, người ta có những quan niệm khác nhau về kỹ năng sống như: Theo từ điển Wikipedia, “Kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng của con người có được thông qua việc học hoặc việc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống, dùng để giải quyết những vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày”
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Kỹ năng sống là khả năng có hành
vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [28]
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF): “Kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng” [25] Theo Tổ chức Giáo dục, Xã hội và Văn hóa Quốc tế (UNESCO): “Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết, gồm các kỹ năng
tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học làm người, gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…; Học để sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm, gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: Kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm [24]
Kế thừa và phát triển khái niệm kỹ năng sống từ các tổ chức trên Ở Việt Nam cũng có khái niệm về kỹ năng sống từ một số nhà nghiên cứu như:
Trang 26Tác giả Nguyễn Thanh Bình cho rằng “Kỹ năng sống là năng lực bao hàm cả tri thức, thái độ, hành vi, hành động trong lĩnh vực đó Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì kỹ năng sống là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹ năng
để giải quyết có hiệu quả các vấn đề Còn hiểu kỹ năng sống là khả năng tâm
lý xã hội thì năng lực tâm lý xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử chính xác khi tương tác với nguời khác trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó” [1; tr.12]
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương cho rằng “Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thách thức của cuộc sống hằng ngày” [14;tr.81]
Từ những khái niệm trên cho thấy kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của
kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, là khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
1.2.3.2 Giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục kỹ năng sống được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp
độ xã hội và cấp độ nhà trường Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục kỹ năng sống nêu ra quá trình tổng thể được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục
Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình với những hoạt động giáo dục
cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển, để HS biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) và thái độ, giá trị (cái HS suy nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành
Trang 27hoạt động thực tế (làm gì và làm cách nào) một cách tích cực và mang tính chất xây dựng
Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người chung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, trong các tình huống và hoạt động hằng ngày Giáo dục kỹ năng sống còn là sự kết hợp giữa hoạt động dạy học trên lớp và hoạt động thực hành tạo nên hài hòa, cân đối giữa quá trình sư phạm toàn diện, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT chỉ rõ: “Hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong quy định này được hiểu là hoạt động giáo dục giúp cho người học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống” [6]
Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong học đường hiện nay
và trong thời gian tới đối với ngành Giáo dục là một nhiệm vụ rất được coi trọng, nhất là thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, những kỹ năng mềm đã góp phần hình thành nên những con người có ích cho cộng đồng và nếu điều đó được rèn luyện cho các em học sinh ngay tại trên ghế nhà trường sẽ giúp cho các em có được những kỹ năng sống cơ bản phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay
Trang 28Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non không phải là nói trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là sai như ta thường làm Cũng không phải là rao truyền những lời hay ý đẹp để chúng vào tai này rồi ra tai kia Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc chép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn
Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau Quyết định phải xuất phát từ trẻ Vì thế, học phải hết sức gần gũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống Nội dung phải xuất phát từ nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ Trẻ cần có điều kiện để cọ sát các ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng Trẻ phải tham gia chủ động vì có thế trẻ mới thay đổi hành vi
Thông qua giáo dục kỹ năng sống, một số kỹ năng đã triển khai hiệu quả, như: rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, kỹ năng làm việc sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo
vệ sức khỏe, kỹ năng phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích; rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tai nạn xã hội
Như vậy, có thể hiểu giáo dục kỹ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực,
có liên quan đến kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày
1.2.4 Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống
Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống là những tác động của Hiệu trưởng trong việc huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lưc, tài lực) một các tối ưu nhằm đạt mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng sống Đây là một
Trang 29trong những chức năng quản lý của Hiệu trưởng giúp hình thành ở học sinh một nhân cách toàn diện với một kỹ năng mềm cần thiết để các em có thể đối mặt và giải quyết hiệu quả những vấn đề khó khăn gặp phải trong cuộc sống hàng ngày
Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới công tác giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường nhằm nhằm huy động nguồn lực, thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối, điều chỉnh, giám sát, nhằm hình thành cho người học những hành vi lành mạnh, tích cực đồng thời thay đổi những hành vi thói quen tiêu cực giúp người học giải quyết được các vấn đề và thích ứng tốt nhất trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống chính là quản lý kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
1.3 Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
1.3.1 Các chủ trương, chính sách quy định về giáo dục kỹ năng sống
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong đó, Nghị quyết đã nhấn mạnh đến sự phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ mầm non nói riêng, hình
Trang 30thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Đến ngày 29/02/2014 Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và giáo dục ngoài giờ chính khóa nhằm mục đích giúp cho người học hình thành
và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua
đó hoàn thiện nhân cách và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống
Ngày 28/01/2015, Bộ GD&ĐT đã ban hành Công văn số GDTX Hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX trong đó nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm mục đích “giúp trẻ nhận thức về bản thân: sự tự tin, tự lực, thực hiện những quy tắc an toàn thông thường, biết làm một số việc đơn giản; hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia sẻ, hợp tác, kiên trì, vượt khó; hình thành một số kỹ năng ứng xử phù hợp với gia đình, cộng đồng, bạn bè và môi trường” [7]
463/BGDĐT-Quyết định số 1501/QĐ –TTg, ngày 28/8/2015 về “Phê duyệt đề án tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống cho thanh niên và nhi đồng giai đoạn 2015- 2020” đã xác định rõ mục tiêu giáo dục toàn diện dành cho thanh niên và nhi đồng là “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam nhằm tạo chuyển biến căn bản về đạo đức lối sống phát triển toàn diện; yêu gia đình, có đạo đức trong sáng, lối sống văn hóa; yêu nước, tự hào dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý thức tuân thủ xã hội; có ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức và kỹ năng lao động, trở thành những công dân có ích, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, mục tiêu giáo dục của Việt
Trang 31Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỷ XXI là học để biết, học để làm, học
để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống
Ngày 01/09/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành văn bản 4026/BGDĐT – GDCTHSSV về Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nhằm đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh
Đến nay, thì việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em, đặc biệt là trẻ mầm non lại là một yêu cầu bức thiết vì các nhà giáo dục cũng như phụ huynh đã nhận ra ý nghĩa, giá trị của việc giáo dục sớm, xây dựng các nền tảng về năng lực cho các em là điều rất quan trọng, vì chính nhờ đó mà các em sẽ trở nên mạnh dạn, tự tin và phát huy được khả năng thích nghi với môi trường giáo dục mà các em mới bước vào
1.3.2 Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Trẻ mầm non là lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, trẻ còn non nớt về thể chất và tình cảm, trí tuệ Trẻ phải học mọi thứ
từ cuộc sống đa dạng, sinh động, nhiều chiều xung quanh để phát triển Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để giúp trẻ thích nghi, hòa nhập ứng phó với cuộc sống hằng ngày đồng thời giúp trẻ định hướng đúng đắn để phát triển nhân cách toàn diện là vấn đề phải được quan tâm hàng đầu Nội dung giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mầm non trong Chương trình giáo dục mầm non “Cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, bố mẹ, thầy cô giáo, anh, chị, em, bạn bè, thật thà, mạnh dạn, tự tin; yêu thiên nhiên, thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học”
Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm Giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộc
Trang 32sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có cuộc sống hài hòa trong tương lai
1.3.2.2 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non phải đảm bảo tính mục đích, tính toàn diện, tính khoa học và tính vừa sức phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ Từ mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục mầm non, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó cần tập trung giáo dục những nhóm kỹ năng sống cơ bản sau:
- Nhóm kỹ năng ý thức về bản thân: Nhóm kỹ năng tự ý thức về bản
thân cần giáo dục cho trẻ, bao gồm: an toàn, gồm các kỹ năng về thực hiện
các quy tắc an toàn thông thường, phòng chống các tai nạn thông thường ở trường, lớp, ở nhà và trong các hoạt động vui chơi giải trí ở mọi lúc mọi nơi,
mục đích giúp trẻ nhận thức và tránh những rủi ro; tự lực, tự kiểm soát, gồm
kỹ năng về tự phục vụ, quản lý thời gian, kiểm soát cảm xúc; tự tin, gồm kỹ
năng về nhận ra giá trị của bản thân, trình bày ý kiến, thể hiện khả năng; tự trọng gồm các kỹ năng về lịch sự - ăn uống từ tốn, không khua thìa bát, không
để rơi vãi; mặc chỉnh chu, tươm tất, sạch sẽ; nói năng lễ phép có thưa gửi, dạ vâng ạ, nói lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc, đúng cách, đúng bối cảnh,…
- Nhóm kỹ năng quan hệ xã hội: Nhóm kỹ năng quan hệ xã hội, bao
gồm: thân thiện, gồm kỹ năng về kết bạn, hài hòa xung đột, giúp đỡ trẻ biết
giúp đỡ ông bà, cha mẹ, bạn bè và những người xung quanh những công việc
trong phạm vi lứa tuổi, nhường nhịn; yêu thương bố mẹ, ông bà, anh chị em
và những người xung quanh, gồm kỹ năng về quan tâm, chia sẻ buồn, vui,
khó khăn, thành công thất bại…; biết ơn, gồm kỹ năng về giữ gìn đồ vật, ghi nhớ sự đóng góp, đền ơn đáp nghĩa, tiết kiệm; tôn trọng, gồm kỹ năng về thực
hiện các quy tắc xã hội, chấp nhận sự khác biệt, công bằng, kính trọng người lớn, hòa nhã với bạn bè và những người xung quanh
Trang 33- Nhóm kỹ năng giao tiếp: Giao tiếp ở trẻ mầm non là quá trình tiếp xúc tâm lý của trẻ với những người khác nhằm truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và hành động của trẻ với các chủ thể qua việc hiểu ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ và điệu bộ Thông qua giao tiếp, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển Ở trẻ mầm non có 4 hình thức giao tiếp được thay thế nhau: giao tiếp nhân cách tình huống, giao tiếp công việc tình huống, giao tiếp nhận thức ngoài tình huống và giao tiếp nhân cách ngoài tình huống Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ vì thế giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân
và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu khi cần thiết làm một việc
gì đó Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào
đó, trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ
- Nhóm kỹ năng về thực hiện công việc: bao gồm các giá trị như hợp tác gồm các kỹ năng về thỏa thuận mục đích, phân công vai trò thực hiện đúng vai trò tìm kiếm sự giúp đỡ; Vượt khó gồm các kỹ năng về sự chấp nhận, bỏ qua thất bại, hài lòng với thành công; Kiên trì có trách nhiệm gồm các kỹ năng nhận nhiệm vụ hoàn thành nhiệm vụ đến cùng
- Nhóm kỹ năng về ứng phó với thay đổi:
+ Sáng tạo: Tạo ra cái mới, theo cách/ phương tiện mới
+ Mạo hiểm: Nhận thử thách, thích đưa ra cách thức và phương tiện mới + Ham hiểu biết: Thu nhận và chia sẻ thông tin, tò mò, hay hỏi
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là giúp trẻ có những kinh nghiệm trong cuộc sống, biết cách chăm sóc và bảo vệ bản thân mình, tạo sự tự tin cho trẻ giúp trẻ thích nghi được với môi trường xung quanh, biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ hợp tác cùng bạn, xây dựng tính độc lập, kích thích óc tò mò, khả năng sáng tạo, biết yêu thương, chia sẽ, biết lắng
Trang 34nghe người khác nói; Đồng thời biết diễn đạt ý của mình trong nhóm bạn Ngoài ra còn chủ động biết cách xử lý các tình huống trong cuộc sống khi tiếp nhận thử thách mới, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có
cuộc sống hài hòa trong tương lai
1.3.2.3 Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ phải gắn với các việc làm, tình huống cụ thể: trẻ được quan sát người khác làm, trẻ được tự thực hiện để trải nghiệm
Sự trải nghiệm nhiều lần sẽ giúp trẻ nhận thấy ý nghĩa thiết thực của việc làm,
từ đó trẻ sẽ chủ động vận dụng các kỹ năng cần thiết vào từng tình huống cụ thể trong cuộc sống Hàng ngày, chúng ta có thể giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua nhiều hình thức khác nhau:
– Thông qua hoạt động vui chơi: vui chơi là hoạt động tạo cho trẻ nhiều hứng thú và cũng cho trẻ cơ hội được vận dụng nhiều kiến thức kĩ năng khác nhau vào giải quyết nhiệm vụ chơi Trẻ được thử nghiệm nhiều vai trò khác nhau qua các vai chơi; được phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo; học hỏi và hợp tác với các bạn cùng chơi…ví dụ trong trò chơi gia đình trẻ phải điều hoà các mối quan hệ với 2 vai trò khác nhau: mối quan hệ với bạn cùng chơi (quan hệ thật) và quan hệ với các nhân vật trong trò chơi (quan hệ giả) Để trò chơi phát triển mỗi đứa trẻ đều phải cùng cố gắng hoàn thành tốt vai trò của mình đồng thời phải biết chia sẻ, hợp tác với các bạn khác
– Thông qua sinh hoạt hàng ngày: sinh hoạt hàng ngày của trẻ đa phần
là những hoạt động lặp đi lặp lại vì vậy trẻ được rèn luyện nhiều và thực hiện các công việc đó một cách dễ dàng vì đã thành nếp sinh hoạt Ngoài ra, trong sinh hoạt trẻ cũng gặp phải những vấn đề mới nảy sinh, đó chính là cơ hội quý
để hình thành những kỹ năng sống mới
– Thông qua xem phim, nghe kể truyện: nội dung các bộ phim, câu
Trang 35chuyện phù hợp sẽ là gợi ý cho trẻ về cách cư xử đúng, cách giải quyết vấn đề hiệu quả
– Thông qua hoạt động sáng tạo: Với trò chơi đóng vai, trẻ “nhập vai”
và giải quyết tình huống giả định, giúp trẻ tập các kĩ năng sống một cách nhẹ nhàng, thú vị
Như vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Mỗi đứa trẻ có những yếu tố cá nhân khác nhau và sự ảnh hưởng của các quan hệ xã hội cũng như hoàn cảnh sống, môi trường trải nghiệm khác nhau nên nhà giáo dục cần có những hình thức, biện pháp linh hoạt, hợp lý dựa trên quan điểm then chốt của giáo dục mầm non là “Lấy trẻ làm trung tâm” và tận dụng các điều kiện để tạo ra nhiều
cơ hội cho đứa trẻ được tự trải nghiệm Với kỹ năng sống phong phú trẻ sẽ biết cách khai thác kiến thức từ cuộc sống xung quanh, tạo lập các mối quan
hệ với tự nhiên và con người để sống an toàn, hòa bình và phát triển
1.3.2.4 Đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Đánh giá kết quả công tác giáo dục KNS cho trẻ ở các trường mầm non nhằm so sánh với mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ, từ đó xác định những KNS trẻ đã đạt và chưa đạt để tiếp tục có kế hoạch hướng dẫn và tổ chức thực hiện cho phù hợp Từ kết quả đã đạt được trong quá trình giáo dục KNS cho trẻ, CBQL, giáo viên tiếp tục hoàn thiện và điều chỉnh, bổ sung cơ sở vật chất cho phù hợp với nội dung giáo dục KNS cần giáo dục, hướng dẫn cho trẻ Điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức, kế hoạch giáo dục KNS cho phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ từng độ tuổi, đảm bảo cơ hội tốt nhất để trẻ hoạt động tích cực Để đánh giá về KNS của trẻ GV thường sử dụng những phương pháp sau:
Quan sát trẻ trong các hoạt động thường ngày: trực tiếp quan sát, không tác động hay can thiệp vào các hoạt động tự nhiên của trẻ Các thông tin quan
Trang 36sát về biểu hiện tâm lí, các hành vi của trẻ được ghi lại một cách có hệ thống,
có kế hoạch Quan sát và lắng nghe cá nhân trẻ nói và làm (quá trình hoạt động): ý tưởng và cách diễn đạt ý tưởng, cách trẻ khám phá, cách trẻ làm và
sử dụng những gì trẻ đã biết
GV trò chuyện với trẻ: Trong trò chuyện, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi, gợi mở kéo dài cuộc trò chuyện để có thể thu thập các thông tin theo mục đích đã định
GV sử dụng các tình huống kỹ năng sống: Là cách thức thông qua các tình huống thực tế hoặc tình huống giả định để đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi xã hội, kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ
Trao đổi với phụ huynh: Nhằm mục đích khẳng định thêm những nhận định, đánh giá của giáo viên về trẻ, đồng thời có biện pháp tăng cường sự phối hợp với gia đình trong chăm sóc, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh hằng ngày, trao đổi trong các cuộc họp phụ huynh, qua những buổi thăm gia đình trẻ để thu thập thêm thông tin về trẻ
1.3.3 Các điều kiện hỗ trợ công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Con người luôn là yếu tố quyết định hàng đầu, chi phối trực tiếp vào hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường Lực lượng giáo dục trong nhà trường gồm: CBQL, các lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội trong nhà trường, GV Lực lượng giáo dục ngoài nhà trường: Cơ quan quản lý giáo dục các cấp, các lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội ở địa phương, cha mẹ trẻ,
Bên cạnh yếu tố con người thì vấn đề về cơ sở vật chất là thành tố không thể thiếu được trong công tác giáo dục trẻ, cơ sở vật chất và đồ dùng,
đồ chơi của trẻ là phương tiện rất quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định kết quả của các hoạt động dạy học, giáo dục trong đó có hoạt động
Trang 37giáo dục kỹ năng sống Các điều kiện cơ sở vật chất hoàn thiện là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống Diện tích sân trường và các yêu cầu về xanh, sạch, đẹp, thoáng mát đảm bảo theo quy định, sân chơi bãi tập thực hành ngoài trời, thiết bị dạy học phục vụ giảng dạy, học tập đáp ứng được việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Để đảm bảo cơ sở vật chất cho quá trình giáo dục KNS cho trẻ ở các trường mầm non bao gồm các đồ dùng học cụ, những vật dụng phục vụ trực tiếp cho công tác thực hành giáo dục KNS cho trẻ mầm non, các hoạt động dã ngoại và các mặt bảo đảm khác thì cần phải có nguồn lực tài chính để tăng thêm trang thiết bị cũng như đồ dùng giáo cụ học tập kỹ năng sống nhằm đạt được mục tiêu đề ra của bài học Có đủ kinh phí nhà trường mới có thể triển khai đổi mới phương pháp giáo dục, đa dạng hoá các hình thức giáo dục, đặc biệt là các hoạt động cần phải có nhiều chi phí như hoạt động trải nghiệm, các hoạt động xã hội, …
Để hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường mầm non đạt chất lượng
và hiệu quả, việc đảm bảo các điều kiện về nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất – thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi có ý nghĩa quyết định
1.4 Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
1.4.1 Mục tiêu quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Quản lý công tác GDKNS trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể
GV, HS, các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ vào mỗi hoạt động GDKNS của nhà trường; Hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho trẻ theo mục tiêu đã đề ra Hay có thể nói, quản lý công tác GDKNS chính là quản lý kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, hình thức kiểm tra, đánh giá, sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà
Trang 38trường nhằm thực hiện các nhiệm vụ GDKNS cho trẻ mầm non
Mục tiêu của quản lý công tác GDKNS là làm cho quá trình GDKNS vận hành một cách thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ Quá trình này bao gồm các nội dung: hình thành được nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của GDKNS cho trẻ mầm non trong xã hội hiện nay; Giúp mọi người có thái độ đúng đắn và điều chỉnh hành vi của bản thân, biết ứng phó với sự thay đổi trước những tình huống căng thẳng trong quá trình giao tiếp; Hướng mọi người tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội và tích cực tham gia quản lý GDKNS cho trẻ mầm non
1.4.2 Nội dung quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
1.4.2.1 Tiếp nhận, xây dựng, thực hiện các chủ trương chính sách, văn bản quy định về giáo dục kỹ năng sống
Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo như: Thông tư số BGDĐT ngày 28/02/2014 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy định về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động ngoài giờ chính khóa; Công văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28/1/2015 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX Dựa trên khung chương trình giáo dục mầm non mới được xây dựng, phát triển dựa trên quan điểm hướng đến sự phát triển toàn diện
04/2014/TT-và tạo cơ hội cho trẻ phát triển Trường mầm non xác định phương hướng dài hạn (5 năm hoặc hơn) về hoạt động giáo dục kỹ năng sống, đó là: “Đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; Giúp GV chủ động, tích cực trong việc tự bồi dưỡng kỹ năng sống cho bản thân và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ; Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, tạo môi trường thuận lợi để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ” Từ đó, tuỳ vào điều kiện thực tế để xác định
Trang 39mục tiêu đạt được trong từng năm cho phù hợp; Trên cơ sở đó có sự quy hoạch và chuẩn bị về đội ngũ GV và CBQL, về cơ sở vật chất - thiết bị dạy học, về nguồn tài chính cho hoạt động này
1.4.2.2 Quản lý việc thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống
* Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Nội dung quản lý mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ ở các trường mầm non bao gồm quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục KNS cho
trẻ Để công tác quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được thuận lợi thì khi lập kế hoạch người cán bộ quản lý cần phải chỉ đạo giáo viên:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục kỹ năng sống với mục tiêu giáo dục chung trong nhà trường
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý của trẻ để có hiệu quả giáo dục cao
- Thành lập ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát, tính cụ thể, tính khả thi
* Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Quản lý nội chương trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ cần tập trung vào những vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non Muốn xây dựng được nội dung, chương trình kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống trước hết cần phải bám sát vào các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT quy định, nắm chắc hoạt động dạy học của nhà trường, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và cơ sở vật chất của nhà trường, các công tác trọng tâm Từ đó, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng GV về nội dung chương trình, chỉ đạo tổ chuyên môn, GV xây dựng kế hoạch theo chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với trẻ mầm non Thường xuyên tổ chức dự giờ để trao đổi, góp ý, đánh giá, rút kinh nghiệm về thực hiện nội
Trang 40dung chương trình giáo dục kỹ năng sống
Quản lý về kế hoạch công tác giáo dục kỹ năng sống bao gồm: Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống
Để thực hiện tốt việc quản lý kế hoạch, nội dung chương trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, các CBQL cần nắm vững kế hoạch, nội dung chương trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, phổ biến và tổ chức cho GV, nhân viên và các đối tượng liên quan tham gia nghiên cứu, trao đổi về kế hoạch, chương trình; tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo việc xây dựng các loại kế hoạch, chương trình cụ thể, chỉ đạo thực hiện
kế hoạch, chương trình; Kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống
* Quản lý phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Quản lý hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống là quản lý quy trình thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống để đạt đến kết quả như mong muốn Đây là vấn đề rất quan trọng đòi hỏi nhà quản lý phải hướng dẫn, chỉ đạo các bộ phận, cá nhân chọn lựa phương pháp thích hợp cho từng loại kỹ năng sống, quản lý giáo viên bộ môn trong việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn học; Tổ chức tuyên truyền, cổ động, giới thiệu thông tin về kỹ năng sống; Tạo điền kiện cho các
tổ chức đoàn thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa về kỹ năng sống, đi tham quan dã ngoại, chăm sóc di tích lịch sử, lao động công ích, các hoạt động xã hội, các hoạt động văn nghệ thể dục, thể thao…; Tổ chức thi tìm hiểu về kỹ năng sống trong các dịp lễ hội