BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN VÕ THỊ NGỌC QUYÊN THỰC TRẠNG Ô NHIỄM VI NHỰA TRONG NƯỚC, TRẦM TÍCH ĐÁY VÀ ỐNG TIÊU HOÁ CỦA MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM Ở ĐẦM THỊ NẠI,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
VÕ THỊ NGỌC QUYÊN
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM VI NHỰA TRONG NƯỚC, TRẦM TÍCH ĐÁY VÀ ỐNG TIÊU HOÁ CỦA MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM Ở ĐẦM THỊ NẠI,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên nghành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 8420114
Người hướng dẫn: TS VÕ VĂN CHÍ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cảm ơn
và các thông tin trích dẫn đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Võ Thị Ngọc Quyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
- Cảm ơn trường đại học Quy Nhơn đã tạo một môi trường học tập thật tốt!
- Cảm ơn cán bộ Phòng đào tạo sau đại học và Khoa KHTN của nhà trường
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên chúng tôi hoàn thành khoá học!
- Cảm ơn quý thầy cô giáo bộ môn sinh học ứng dụng – Nông nghiệp đã giảng dạy tận tình và quan tâm giúp đỡ hết lòng đối với học viên!
- Đặc biệt cảm ơn Tiến sĩ Võ Văn Chí, một giảng viên trẻ tuổi đầy năng lực và tâm huyết! Cảm ơn thầy đã không quản ngại khó khăn, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Cảm ơn gia đình, trường THCS Ân Hữu và đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học!
- Cảm ơn bạn bè lớp SHTN K22 đã đồng hành và hỗ trợ suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu!
Quy Nhơn, ngày 15 tháng 9 năm 2021
Võ Thị Ngọc Quyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới thiệu về rác thải nhựa 4
1.1.1 Cấu tạo hoá học và đặc tính khó phân huỷ của nhựa 4
1.1.2 Rác thải nhựa và nguồn phát sinh 5
1.1.3 Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa 6
1.2 Tình hình nghiên cứu vi nhựa 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu vi nhựa trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu vi nhựa ở Việt Nam 13
1.3 Những thông tin chung về đầm Thị nại 14
1.3.1 Vị trí địa lý và dân cư 14
1.3.2 Đặc điểm tự nhiên 15
1.3.3 Tài nguyên sinh vật 16
1.3.4 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở đầm Thị Nại 17
1.4 Sơ lược một vài đặc điểm của các loài động vật thân mềm nghiên cứu 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
Trang 52.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.3.1 Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong trầm tích đáy ở đầm Thị Nại 23
2.3.2 Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong nước ở đầm
Thị Nại 23
2.3.3 Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hoá của động vật thân mềm ở đầm Thị Nại: Sò Huyết (Anadara granosa) và Sò Lông (Anadara subcrenata) 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Phương pháp thu mẫu 23
2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu 24
2.4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong trầm tích đáy ở đầm Thị Nại 28
3.1.1 Mật độ vi nhựa trong trầm tích đáy 28
3.1.2 Kích thước vi nhựa trong trầm tích đáy 29
3.1.3 Màu sắc vi nhựa trong trầm tích đáy 37
3.2 Thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong nước ở đầm Thị Nại 45
3.2.1 Mật độ vi nhựa trong nước 45
3.2.2 Kích thước vi nhựa trong nước 47
3.2.3 Màu sắc vi nhựa trong nước 54
3.3 Thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hoá của động vật thân mềm ở Đầm Thị Nại: Sò Huyết (Anadara granosa) và Sò Lông (Anadara subcrenata) 62
3.3.1 Mật độ vi nhựa trong ống tiêu hóa của Sò Huyết và Sò Lông 62
Trang 63.3.2 Kích thước vi nhựa trong ống tiêu hoá của Sò Huyết và Sò
Lông 64
3.3.3 Màu sắc vi nhựa trong ống tiêu hoá của Sò Huyết và Sò Lông 72
3.4 Thảo luận chung 79
3.4.1 Mật độ vi nhựa 79
3.4.2 Về kích thước vi nhựa 82
3.4.3 Về màu sắc vi nhựa 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
1.1 Về mật độ vi nhựa 84
1.2 Về kích thước vi nhựa 85
1.3 Về màu sắc vi nhựa 85
2 Kiến nghị 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong trầm tích đáy giữa hai
mùa 28 Bảng 3.2 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong trầm tích đáy giữa các vị
trí thu mẫu 29 Bảng 3.3 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong nước giữa hai mùa 46 Bảng 3.4 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong nước giữa các vị trí thu
mẫu 46 Bảng 3.5 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong ống tiêu hóa của Sò
Huyết và Sò Lông giữa hai mùa 63 Bảng 3.6 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong ống tiêu hóa của Sò
Huyết và Sò Lông ở cùng một mùa 64 Bảng 3.7 Một số kết quả nghiên cứu về vi nhựa trong trầm tích 80
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong trầm tích ở TN1
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 30
Biểu đồ 3.2 Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa (µm2) trong trầm tích
ở TN1 31
Biểu đồ 3.3 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong trầm tích ở TN2
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 32
Biểu đồ 3.4 Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa (µm2) trong trầm tích
đáy ở TN2 theo tỷ lệ xuất hiện (%) 33
Biểu đồ 3.5 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong trầm tích đáy ở
2 vị trí trong mùa nắng theo tỷ lệ xuất hiện (%) 34
Biểu đồ 3.6 Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa (µm2) trong trầm tích
đáy ở 2 vị trí trong mùa nắng theo tỷ lệ xuất hiện (%) 35
Biểu đồ 3.7 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong trầm tích đáy ở
2 vị trí trong trong mùa mƣa theo tỷ lệ xuất hiện (%) 36
Biểu đồ 3.8 Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa (µm2) trong trầm tích
đáy ở 2 vị trí trong trong mùa mƣa theo tỷ lệ xuất hiện (%) 37
Biểu đồ 3.9 Màu sắc vi nhựa dạng sợi vi nhựa trong trầm tích đáy ở TN1
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 38
Biểu đồ 3.10 Màu sắc vi nhựa dạng mảnh trong trầm tích đáy ở TN1 theo
Trang 9Biểu đồ 3.13 Màu sắc vi nhựa dạng sợi trong trầm tích đáy ở mùa nắng
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 42 Biểu đồ 3.14 Màu sắc vi nhựa dạng mảnh trong trầm tích đáy ở mùa nắng
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 43 Biểu đồ 3.15 Màu sắc vi nhựa dạng sợi trong trầm tích đáy ở mùa mưa
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 44 Biểu đồ 3.16 Màu sắc vi nhựa dạng mảnh trong trầm tích đáy ở mùa mưa
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 45 Biểu đồ 3.17 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong nước ở TN1
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 47 Biểu đồ 3.18 Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa (µm2) trong nước ở
TN1 theo tỷ lệ xuất hiện (%) 48 Biểu đồ 3.19 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong nước ở TN2
theo tỷ lệ xuất hiện (%) 49 Biểu đồ 3.20 Sự phân bố diện tích các mảnh vi nhựa (µm2) trong nước ở
TN2 theo tỷ lệ xuất hiện (%) 50 Biểu đồ 3.21 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong nước ở 2 vị trí
trong mùa nắng theo tỷ lệ xuất hiện (%) 51 Biểu đồ 3.22 Sự phân bố diện tích mảnh vi nhựa (µm) trong nước ở 2 vị
trí trong mùa nắng theo tỷ lệ xuất hiện (%) 52 Biểu đồ 3.23 Sự phân bố chiều dài sợi vi nhựa (µm) trong nước ở 2 vị trí
trong mùa mưa theo tỷ lệ xuất hiện (%) 53 Biểu đồ 3.24 Sự phân bố diện tích mảnh vi nhựa (µm) trong nước ở 2 vị
trí trong mùa mưa theo tỷ lệ xuất hiện (%) 54 Biểu đồ 3.25 Màu sắc vi nhựa dạng sợi trong nước ở TN1 theo tỷ lệ xuất
hiện (%) 55 Biểu đồ 3.26 Màu sắc vi nhựa dạng mảnh trong nước ở TN1 theo tỷ lệ
xuất hiện (%) 56
Trang 10Biểu đồ 3.27 Màu sắc vi nhựa dạng sợi trong nước ở TN2 theo tỷ lệ xuất
hiện (%) 57 Biểu đồ 3.28 Màu sắc vi nhựa dạng trong nước ở TN2 mảnh theo tỷ lệ
xuất hiện (%) 58 Biểu đồ 3.29 Màu sắc vi nhựa dạng sợi trong nước ở mùa nắng theo tỷ lệ xuất
hiện (%) 59 Biểu đồ 3.30 Màu sắc vi nhựa dạng mảnh trong nước ở mùa nắng theo tỷ lệ
xuất hiện (%) 60 Biểu đồ 3.31 Màu sắc vi nhựa dạng sợi trong nước ở mùa mưa theo tỷ lệ xuất
hiện (%) 61 Biểu đồ 3.32 Màu sắc vi nhựa dạng mảnh trong nước ở mùa mưa theo tỷ lệ
xuất hiện (%) 62 Biểu đồ 3.33 Chiều dài sợi vi nhựa (µm) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hoá của Sò Lông ở 2 mùa 65 Biểu đồ 3.34 Diện tích mảnh vi nhựa (µm2) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hoá của Sò Lông ở 2 mùa 66 Biểu đồ 3.35 Chiều dài sợi vi nhựa (µm) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hoá của Sò Huyết ở 2 mùa 67 Biểu đồ 3.36 Diện tích mảnh vi nhựa (µm2) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hoá của Sò Huyết ở 2 mùa 68 Biểu đồ 3.37 Chiều dài sợi vi nhựa (µm) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hóa của 2 loại sò ở mùa nắng 69 Biểu đồ 3.38 Diện tích mảnh vi nhựa (µm2) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hóa của 2 loại sò ở mùa nắng 70 Biểu đồ 3.39 Chiều dài sợi vi nhựa (µm) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hóa của 2 loại sò ở mùa mưa 71 Biểu đồ 3.40 Diện tích mảnh vi nhựa (µm) theo tỷ lệ xuất hiện (%) trong
ống tiêu hóa của 2 loại sò ở mùa mưa 72
Trang 11Biểu đồ 3.41 Màu sợi vi nhựa trong ống tiêu hoá ở Sò Lông theo tỷ lệ
xuất hiện (%) 73
Biểu đồ 3.42 Màu mảnh vi nhựa trong ống tiêu hoá của Sò Lông theo tỷ lệ xuất hiện (%) 74
Biểu đồ 3.43 Màu sợi vi nhựa trong ống tiêu hoá của Sò Huyết theo tỷ lệ xuất hiện (%) 75
Biểu đồ 3.44 Màu mảnh vi nhựa trong ống tiêu hoá của Sò Huyết theo tỷ lệ xuất hiện (%) 76
Biểu đồ 3.45 Màu sợi vi nhựa ở mùa nắng theo tỷ lệ xuất hiện (%) 77
Biểu đồ 3.46 Màu mảnh vi nhựa ở mùa nắng theo tỷ lệ xuất hiện (%) 78
Biểu đồ 3.47 Màu sợi vi nhựa ở mùa mƣa theo tỷ lệ xuất hiện (%) 78
Biểu đồ 3.48 Màu mảnh vi nhựa ở mùa mƣa theo tỷ lệ xuất hiện (%) 79
Hình 1.1 Vị trí địa lý đầm Thị Nại 15
Hình 1.2 Ô nhiễm rác thải nhựa ở khu dân cƣ ven đầm Thị Nại (qua khảo sát thực tế) 19
Hình 2.1.Vị trí thu mẫu trên đầm Thị Nại 22
Trang 12xả ra môi trường biển khoảng 0,28 – 0,73 triệu tấn [39]
Hầu như rác thải nhựa do con người xả thải cuối cùng sẽ đi vào biển và đại dương Những khu vực ven bờ, đặc biệt là vùng bờ biển là môi trường lý tưởng (như có nhiệt độ và cường độ phóng xạ cao, sóng và gió lớn) cho sự phân tách các rác thải nhựa có kích thước lớn thành những vi nhựa [15] Vi nhựa được xem là các mẫu nhựa có kích thước từ 1μm đến 5mm [6] Vi nhựa phân bố rộng rãi trong môi trường và có thể đi vào cơ thể con người và sinh vật thông qua ăn uống hoặc hít thở và gây ra rất nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng [81] Vi nhựa đã được phát hiện ở rất nhiều sinh vật khác nhau thuộc các cấp độ dinh dưỡng khác nhau, như ở zooplankton [20], [78], ở động vật không xương sống [75], [83], ở cá [61], [66], [85], ở chim [10], và cả ở động vật có vú [60], [59] Hơn nữa, chất độc gắn kết với vi nhựa có thể gây ra những ảnh hưởng tiềm ẩn đến các sinh vật và cả con người thông qua lưới thức ăn [11], [88] Những ảnh hưởng bất lợi của vi nhựa trong sinh vật đã được chứng minh như gây ra sự thay đổi về mô học, thay đổi thói quen ăn uống, giảm sinh trưởng và tỷ lệ sống [17], [19], [46], [53]
Trang 13Việt Nam có đường bờ biển kéo dài, với nhiều vũng, vịnh, đầm,…cùng với thực trạng xả thải rác thải nhựa như đã đề cập, ô nhiễm rác thải nhựa, đặc biệt là vi nhựa đã và đang trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với các vùng ven
bờ và đại dương Tuy nhiên, mặc dù có khá nhiều nghiên cứu về vi nhựa ở các vùng ven bờ được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới nhưng những nghiên cứu tương tự ở Việt Nam còn rất khan hiếm Do đó, tăng cường nghiên cứu để đánh giá thực trạng ô nhiễm vi nhựa ở nước ta là rất cần thiết Đầm Thị Nại là đầm lớn nhất ở Bình Định và lớn thứ hai trong số các đầm phá ở Việt Nam, đa dạng các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, vùng triều đáy mềm, đáy cứng liên kết nhau, là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản và ương giống quan trọng của các loài thủy sản Nhiều nhóm thủy sản có giá trị kinh tế như thân mềm (Sò Huyết, Sò Lông,…), giáp xác (Ghẹ, Cua, Tôm Đất, Tôm Bạc, Tôm Sú, Tôm Hùm,…), cá (Cá Bống, Cá Dìa, Cá Giò,
Cá Đối,…),…mang lại nguồn thu chủ yếu cho cộng đồng dân cư quanh đầm [4] Tuy nhiên, nằm trong thực trạng chung của Việt Nam, đầm Thị Nại cũng
là nơi chịu ảnh hưởng của rác thải nhựa Vì vậy, việc đánh giá mức độ ô nhiễm rác thải nhựa nói chung và vi nhựa nói riêng trong môi trường sống và trong cơ thể sinh vật phân bố trong đầm là rất cần thiết để cung cấp các chứng
cứ khoa học cho việc thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm giảm thiểu rác thải nhựa cũng như giảm thiểu tác động của rác thải nhựa đến sức khỏe con người Xuất phát từ thực tiễn như vậy, tôi tiến hành đề tài “Thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong nước, trầm tích đáy và ống tiêu hóa của một số loài thân mềm ở đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong nước ở đầm Thị Nại
- Đánh giá thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong trầm tích đáy ở đầm Thị Nại
Trang 14- Đánh giá thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hoá của một số loài động vật thân mềm ở đầm Thị Nại
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về rác thải nhựa
1.1.1 Cấu tạo hoá học và đặc tính khó phân huỷ của nhựa
- Nhựa (còn gọi là chất dẻo, tiếng anh gọi plastic) là hỗn hợp phức tạp của nhiều chất mà thành phần chủ yếu không thể thiếu là polyme Một số polyme thường dùng làm chất dẻo như: Polyethylene (nhựa P.E); Polyvinyl chloride (nhựa PVC); Polymethyl methacrylate (PMMA); Polyphenolfomandehyt (PPE)… Các polyme được cấu tạo từ các đại phân tử hữu cơ có cấu trúc bền chắc do phản ứng trùng hợp, trùng ngưng, đồng trùng hợp… các monome hình thành Mỗi sợi nhựa riêng lẻ được cấu tạo bởi hàng ngàn liên kết cacbon, đây là loại liên kết hoá học có độ bền cao Ở điều kiện thường, cho dù là nhiệt, áp lực hay tác động khác từ bên ngoài đều không thể phá vỡ được Ngoài polyme, trong chất dẻo còn có các chất phụ gia khác (trung bình chiếm khoảng 20%) như: chất độn (bột gỗ, bột amiang, bột thạch anh, sợi thuỷ tinh, sợi bông,…); chất hoá dẻo và chất đàn hồi (polyme dẻo, cao su); chất bôi trơn (parafin, stearin); chất kiềm hãm; chất xúc tiến; chất tạo khí; chất màu,…
- Với đặc tính dẻo và độ bền cơ học cao, nhựa cho phép đúc, ép, nén thành nhiều hình dạng khác nhau, từ dạng màng mỏng cho đến sợi, tấm, ống, chai, hộp… nhựa còn là những chất rắn không bay hơi, cách điện, cách nhiệt, không thấm khí và nước… Vật liệu nhựa bền, nhẹ, khó vỡ, nhiều màu sắc đẹp
- Tính bền chắc: nhựa có thành phần chính là các polime, có cấu trúc hoá học bền vững nên có độ bền cơ học cao Do đó nhựa rất khó phân huỷ Sự phân huỷ của nhựa chỉ là những biến đổi cơ học từ mảnh lớn thành mảnh nhỏ và nhỏ hơn nữa… trước khi phân huỷ hoàn toàn Thời gian phân huỷ của nhựa rất dài,
từ vài năm đến vài chục năm, thậm chí là vài trăm năm, tuỳ loại nhựa
Trang 16Bảng 1.1 Thời gian phân huỷ của một số sản phẩm nhựa [5]
Túi nilon, bao nhựa mỏng, loại thường 10 – 100 năm
1.1.2 Rác thải nhựa và nguồn phát sinh
Rác thải nhựa là tất cả những vật dụng làm bằng nhựa được thải ra môi trường Rác thải nhựa có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau:
- Từ sinh hoạt: là rác thải nhựa xuất phất chủ yếu từ các khu dân cư, cửa hàng, chợ, siêu thị Chủ yếu là túi nilon, chai nhựa, đồ chơi, tã bỉm, ống hút, cốc nhựa, bàn chải đánh răng…
- Từ hoạt động công nghiệp: là rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động sản xuất, thi công của các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp…
- Rác thải nhựa y tế: là nguồn rác thải nhựa khá lớn hiện nay do đặc thù của ngành y tế là cần sử dụng rất nhiều đồ dùng một lần để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm Chủ yếu là túi nilon, bao gói đựng vật tư y tế, gay tay, kim tiêm…
- Ngoài ra, rác thải nhựa còn có nguồn gốc từ các trường học, khu vui
Trang 17chơi giải trí, khu du lịch…
Rác thải nhựa nói chung cũng như rác thải nhựa ở biển nói riêng về cơ bản được chia thành 2 nhóm: rác thải nhựa loại lớn (≥ 5 mm) và rác thải vi nhựa (<5mm) Vi nhựa được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới như trong đại dương, sông, đất và nhiều môi trường khác, cả trong cơ thể động vật và trong thực phẩm Rác thải vi nhựa xuất phát từ 2 nguồn chính [41], [71]:
- Vi nhựa có thể được sản xuất chủ động, có trong các sản phẩm như kem đánh răng, trong mỹ phẩm (sữa rửa mặt, kem tẩy tế bào chết…) Các hạt này theo đường thoát nước đổ ra suối, sông và cuối cùng tập trung ra biển
- Vi nhựa hình thành bởi sự phân rã cơ học các rác thải nhựa lớn
1.1.3 Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa
1.1.3.1 Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa trên thế giới
Sản xuất nhựa quy mô lớn bắt đầu từ những năm 1940 và sản lượng đã gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, gây ra nhiều áp lực đối với môi trường và sinh vật [21] Theo ước tính có 10% tổng lượng nhựa được sản xuất hàng năm trên Trái đất được thải trực tiếp ra môi trường và đến năm 2025 tổng lượng rác thải nhựa sẽ bằng 1/3 tổng sản lượng cá trong đại dương [80] Phần lớn rác thải nhựa ở đại dương được đưa ra từ đất liền theo các con đường khác nhau như từ các hoạt động du lịch, hoạt động đánh bắt thủy hải sản, từ rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp theo các con sông ra biển [40]
Nhựa ở biển được phân phối khắp đại dương, từ Bắc Cực đến Nam Cực Điều này là do nhựa rất bền và dễ dàng được các dòng chảy mang đi Những khu vực có lượng rác thải vi nhựa khá lớn là Ấn Độ Dương, Bắc và Nam Đại Tây Dương, và Bắc và Nam Thái Bình Dương Tuy nhiên, lượng nhựa dồi dào hơn (đặc biệt là nhựa lớn - macroplastics) cũng được tìm thấy ở các vùng nước ven bờ, đặc biệt là ở các vùng có mật độ dân cư cao, việc thu gom và quản lý rác thải chưa đầy đủ; thủy sản thâm canh; và phát triển du lịch ven biển mạnh [82]
Trang 18Hiện thế giới đang phải đối mặt với 9,1 tỉ tấn rác thải nhựa tích tụ trên trái đất Chỉ tính riêng năm 2018, các nhà sản xuất trên thế giới đã sản xuất ra
360 triệu tấn nhựa Trong 50 năm qua, lượng nhựa tiêu thụ đã tăng gấp 20 lần
và dự kiến sẽ tăng gấp đôi con số hiện tại trong 20 năm tới
Thực tế là hiện có tới 5000 tỉ chiếc túi nhựa được sử dụng trên thế giới mỗi năm Cứ mỗi phút trôi qua, toàn cầu tiêu thụ 1 triệu chai nhựa Kết quả là khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa được thải ra mỗi năm, gần tương đương với trọng lượng dân số toàn cầu, trong đó có khoảng 13 triệu tấn đổ ra biển Theo báo cáo của tổ chức Bảo tồn Đại Dương, hơn một nửa số rác nhựa trong các đại dương đến từ các quốc gia Châu Á Trong đó, Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Việt Nam và Sri Lanka là 5 quốc gia xả nhiều rác thải
ra biển nhất
Theo nghiên cứu của tổ chức The Pew Charitable Trusts và SYSTEMIQ, đến năm 2040, lượng rác thải nhựa tồn tại trong đại dương sẽ lên đến 600 triệu tấn Nếu con người không có những giải pháp kịp thời để hạn chế hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhựa, lượng rác thải nhựa đổ vào đại dương dự kiến
sẽ tăng lên gấp 3 lần, từ 11 triệu tấn mỗi năm lên 29 triệu tấn/năm trong 20 năm tới Mới đây, các nhà hoạt động môi trường đã cảnh báo rằng rác thải nhựa có thể nhiều hơn cá trên các đại dương vào năm 2050
1.1.3.2 Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa ở Việt Nam
Việt Nam là nước tiêu thụ sản phẩm nhựa đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á (sau Malaysia và Thái Lan), với lượng nhựa tiêu thụ bình quân đầu người là 41kg trong năm 2015 Có hơn 1,8 triệu tấn rác thải nhựa thải ra hàng năm và chỉ có 27% được tái chế Đây là vấn đề lớn đe dọa đến môi trường khu vực ven bờ Việt Nam được nhận định là nước đứng thứ 4 thế giới về xả thải rác thải nhựa, với khoảng 0,28-0,73 triệu tấn được thải vào môi trường biển hàng năm [39] Theo IUCN, rác thải nhựa chiếm 92% tổng lượng rác thải
Trang 19trên bãi biển ở Việt Nam [38]
Một số nghiên cứu về ô nhiễm rác thải nhựa trong môi trường nước tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nguồn nước trong các kênh rạch đô thị và gần các nhà máy đã bị nhiễm bẩn nặng nề bởi các hạt vi nhựa có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất [43] Một số nghiên cứu sơ bộ về hạt vi nhựa trong môi trường trầm tích tại khu vực Cần Giờ và cửa Ba Lạt đã cho thấy dấu hiệu nhiễm bẩn của rác thải nhựa trong môi trường trầm tích [37], [72]
1.2 Tình hình nghiên cứu vi nhựa
1.2.1 Tình hình nghiên cứu vi nhựa trên thế giới
Từ năm 1970 thì sự hiện diện của các hạt vi nhựa trong đại dương đã được phát hiện nhưng đến năm 2004 thì các nghiên cứu chuyên sâu về sự phân bố và tác động của vi nhựa mới được các nhà khoa học tiến hành Các nhà nghiên cứu tìm thấy hạt vi nhựa ở mọi nơi: trong không khí, đất, sông hồ
và kể cả những vùng biển sâu nhất trên thế giới
Những vùng ven bờ trên khắp thế giới tích tụ một lượng lớn các rác thải nhựa cũng như vi nhựa từ hoạt động của con người cả trên đất liền và trên biển [73] Những khu vực ven bờ, đặc biệt là vùng bờ biển là môi trường lý tưởng (như có nhiệt độ và cường độ phóng xạ cao, sóng và gió lớn) cho sự phân tách các rác thải nhựa có kích thước lớn thành những vi nhựa [15] Sự phân bố rộng khắp của vi nhựa ở trầm tích bãi biển đã được trình bày trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều khu vực trên thế giới như phía Tây vịnh Lion, Tây Bắc Địa Trung Hải [22], ở Đức [51], ở Canada [57], Brazil [30], ở Bồ Đào Nha [56], ở Ý [31], ở Trung Quốc [69] Mức độ ô nhiễm vi nhựa ở bãi biển thay đổi khác nhau ở các vùng nghiên cứu, từ vài vi nhựa/kg trầm tích khô như ở Bỉ [18]; ở Nga [28]; ở Bồ Đào Nha [56] cho đến hàng nghìn vi nhựa/kg trầm tích khô như ở vịnh Beibu – Trung Quốc [69]; ở Canada [57]
Ô nhiễm vi nhựa đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trên toàn thế
Trang 20giới Vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu về vi nhựa được thực hiện Các nhà nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của vi nhựa ở các hệ sinh thái khác nhau, từ nội địa cho đến biển khơi Trong nội địa, vi nhựa được tìm thấy ở nhiều loại hình thủy vực nước ngọt trên thế giới như sông (Park và cs., 2020) [65], kênh đào (Leslie và cs., 2017) [47], hồ (Xiong và cs., 2018) [91] Ở những vùng ven bờ, vi nhựa cũng được phát hiện với mật độ cao ở các vùng nước và trầm tích (Desforges và cs., 2014) [23], trầm tích bãi biển (Filho và cs., 2019) [30], đầm phá (Bayo và cs., 2019) [14], rừng ngập mặn (Zhou và cs., 2020) [96], thảm cỏ biển (Seng và cs., 2020) [74], Trong các đại dương trên toàn cầu, ước tính có khoảng 92,4% trong số 5,25 nghìn tỷ mảnh nhựa trôi nổi là vi nhựa (Eriksen và cs., 2014) [27]
Bên cạnh đó, vi nhựa cũng đã được phát hiện ở rất nhiều sinh vật khác nhau thuộc các cấp độ dinh dưỡng khác nhau, như ở zooplankton [20], [78],
ở động vật không xương sống [75], [83], ở cá [66], ở chim [10], và cả ở động vật có vú [59] Hơn nữa, chất độc gắn kết với vi nhựa có thể gây ra những ảnh hưởng tiềm ẩn đến các sinh vật và cả con người thông qua lưới thức ăn [11], [88] Những ảnh hưởng bất lợi của vi nhựa trong sinh vật đã được chứng minh như gây ra sự thay đổi về mô học, thay đổi thói quen ăn uống, giảm sinh trưởng và tỷ lệ sống [55],[54], [89] Tại các cửa sông Tagus ở Bồ Đào Nha và
sông Po ở Ý, vi nhựa được tìm thấy trong loài sò Mytilus galloprovincialis
với mật độ trong khoảng 0,05 - 0,34 vi nhựa/g mô tươi (Vandermeersch và cs., 2015) [84] Ngoài ra, vi nhựa cũng được phát hiện trong nhiều loài thủy
sản có giá trị kinh tế và giá trị sinh thái khác như loài cua Neohelice granulata
ở cửa sông Tây Nam Đại Tây Dương (Villagran và cs., 2019) [86], 24 loài cá
ở khu vực cửa sông Brazil (Vendel và cs., 2017) [85], loài hàu Crassostrea virginica và cua Panopeus herbstii ở cửa sông Florida (Waite và cs., 2018)
[87] Severini và cs (2019) khi nghiên cứu vi nhựa tại cửa sông Bahía Blanca,
Trang 21Tây Nam Đại Tây Dương đã ghi nhận sự xuất hiện của vi nhựa trong ruột loài
hàu Crassostrea gigas với 91% là sợi vi nhựa [29] Những nhà nghiên cứu
này cũng cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm cho các sinh vật khác tại vùng cửa sông và cho sức khỏe con người thông qua lưới thức ăn cũng như ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái cửa sông và các dịch vụ do nó đem lại
Các nhà khoa học nhận định rằng, hầu như vi nhựa tồn tại ở các hệ sinh thái ven biển và trong các đại dương bắt nguồn từ các các hoạt động trong nội địa, trong đó sông và kênh rạch là những con đường vận chuyển vi nhựa quan trọng Các nghiên cứu gần đây ước tính sự phát thải nhựa từ các dòng sông vào đại dương vào khoảng 0,4 - 2,75 triệu tấn nhựa/năm và khoảng 33.431 - 1.469.481 tấn vi nhựa (Lebreton và cs., 2018) [45] Tại Anh, Browne và cs (2010) đã ghi nhận 65% tổng số mảnh nhựa thu hồi được trong trầm tích vùng triều cửa sông Tamar, Plymouth là vi nhựa có nguồn gốc từ nhựa sử dụng trong bao gói, chất thải từ cống rãnh, từ nghề cá và hoạt động hàng hải Trong
đó, hơn 50% vi nhựa là polyolefins, và hơn 25% là nhựa EPS [16] Bốn cửa sông ở vịnh Chesapeake, Hoa Kỳ cũng được báo cáo có sự xuất hiện của vi nhựa trong nước với mật độ từ <1.0 đến >560 g/km2, đặc biệt mật độ vi nhựa trong nước được phát hiện có mối tương quan dương chặt chẽ với mật độ dân
số và tỷ lệ đô thị hóa của lưu vực sông (Yonkos và cs., 2014) [92] Severini
và cs (2019) khi nghiên cứu vi nhựa tại cửa sông Bahía Blanca, Tây Nam Đại Tây Dương đã ghi nhận mật độ vi nhựa trong nước sông đạt 42,6 – 113,6 vi nhựa/m3, trong đó 72.7% là vi nhựa dạng sợi Nguồn gốc của vi nhựa tại khu vực này được quy cho từ các hoạt động của cảng biển và từ các dòng thải sinh hoạt và công nghiệp trong nội địa [29] Tại cửa sông Goiania, Brazil, mật độ
vi nhựa trong nước chiếm đến một nửa tổng mật độ ấu trùng của cá (Lima và cs., 2014) [52]
Tại châu Á, Trung Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong các
Trang 22nghiên cứu về vi nhựa, dẫn đến nguồn thông tin về ô nhiễm vi nhựa ở quốc gia này khá phong phú Zhao và cộng sự (2014) đã ghi nhận mật độ vi nhựa trong nước mặt tại vùng cửa sông Yangtze lên đến 4137,3 ± 2461,5 vi nhựa/m3 nước, trong đó vi nhựa dạng sợi chiếm ưu thế (79%) [95] Năm
2015, Zhao và cộng sự đã ghi nhận mật độ trung bình của vi nhựa tại ba cửa sông Jiaojiang, Oujiang và Minjiang là 100 - 4100 vi nhựa/m3 nước Trong
đó, vi nhựa dạng sợi và dạng hạt chiếm ưu thế với hơn 90% tổng số vi nhựa thu hồi được Các loại nhựa chính được xác định bao gồm polypropylene (PP), polyethylene (PE), polyvinyl chloride (PVC), và polytetrafluoroethylene (PTFE) [94] Các tác giả cũng đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ các loài cá dễ nhầm lẫn vi nhựa là thức ăn của chúng vì phần lớn vi nhựa tại đây có kích thước dưới 2mm, tương đương với kích thước động vật phù du Cửa sông Changjiang cũng được phát hiện bị ô nhiễm vi nhựa trong trầm tích với mật
độ 121 ± 9 vi nhựa/kg trầm tích khô (Peng và cs., 2017) [67] Trong đó, vi nhựa dạng sợi (93%), màu trong suốt (42%) và vi nhựa có kích thước nhỏ (<1mm) (58%) là phổ biến nhất Nhóm tác giả này cũng nhận định rằng nguồn gốc của vi nhựa ở cửa sông này có thể chủ yếu là từ hoạt động giặt quần áo Ngoài ra, vi nhựa cũng được xác định trong lớp nước mặt cửa sông Changjiang với mật độ trung bình đạt 157,2 ± 75,8 vi nhựa/m3, trong đó sự ưu thế cũng thuộc về vi nhựa dạng sợi (77,8 – 91,6%) (Zhao và cs., 2019) [93] Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đã ước tính sự phát thải của vi nhựa trong lớp nước mặt từ cửa sông vào đại dương lên đến 16 - 20 nghìn tỷ mảnh vi nhựa, với khối lượng chừng 537,6 - 905,9 tấn/năm Vi nhựa tại sông Hoàng Hà được báo cáo đạt mật độ 930 và 497 vi nhựa/L nước mặt tương ứng vào mùa khô và mùa mưa, trong đó chiếm ưu thế là vi nhựa dạng sợi (93,1%), với thành phần chính là các loại nhựa PP, PE, và PS (Han và cs., 2019) [36] Cửa sông Châu Giang, Hồng Kông cũng được xác định là một điểm nóng ô nhiễm
Trang 23vi nhựa với mật độ trung bình của vi nhựa trong trầm tích lên đến 5.595 vi nhựa/m2, cao hơn nhiều khu vực khác trên thế giới, trong đó thành phần chính
là loại nhựa EPS (Fok và cs., 2015) [32] Bên cạnh đó, sự tích lũy của vi nhựa trong cơ thể sinh vật ở vùng cửa sông cũng đã được báo cáo, như trong ruột (0, 3 - 5.3 vi nhựa/cá thể) và mang (0,3 - 2,6 vi nhựa/cá thể) của 13 loài cá có giá trị kinh tế sinh sống tại vùng cửa sông Trung Quốc (Su và cs., 2018) [77];
trong cơ thể của loài hàu Saccostrea cucullata ở sông Châu Giang (1,4 - 7, 0
vi nhựa/cá thể (Li và cs., 2018) [49]
Ở khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về vi nhựa còn rất hạn chế mặc
dù khu vực này chiếm tới một nửa số quốc gia trong danh sách 10 quốc gia hàng đầu phát hành nhựa ra đại dương (Jambeck và cs., 2015) [39]
Trong khi khá nhiều nghiên cứu về vi nhựa ở vùng bờ được thực hiện ở nhiều nước ở châu Mỹ và châu Âu thì những nghiên cứu tương tự ở vùng Đông Nam Á rất khan hiếm, trong khi đó khu vực này được xem là bị ô nhiễm nghiêm trọng Thực tế, Đông Nam Á là khu vực có số lượng lớn quốc gia xả rác thải nhựa ra đại đương đứng trong tốp 10 trên thế giới [39] Một số nghiên cứu đã ghi nhận sự xuất hiện của vi nhựa tại một số sông như sông Pasig ở Philippine (Allosada và cs., 2018) [9], sông Cherating ở Malaysia (Pariatamby và cs., 2020) [64], sông Surabaya ở Indonesia (Lestari và cs., 2020) [48] Mật độ vi nhựa trên bãi biển ở châu Á, đặc biệt là Đông Á cao hơn nhiều so với các nước ở châu Âu, Nam và Bắc Mỹ, Bắc và nam Đại Tây Dương, vùng Atlantic và Địa Trung Hải [76] Hồng Kông được xem là điểm nóng về ô nhiễm nhựa trên biển, với mật độ vi nhựa trung bình của 25 bãi biển là 5595 vi nhựa/m2 [32] Những nước khác ở châu Á có ô nhiễm vi nhựa với mật độ cao như Trung Quốc (5000–8714 vi nhựa/kg trầm tích ở vịnh Beibu [69]), Nhật Bản (1900 vi nhựa/kg trầm tích ở vịnh Tokyo [58]), Hàn Quốc (1400–62,800 vi nhựa/m2 ở 20 bãi biển [26]) Ngược lại, Singapore là
Trang 24nước có mức độ ô nhiễm vi nhựa thấp nhất (0–16 vi nhựa/kg trầm [63].
1.2.2 Tình hình nghiên cứu vi nhựa ở Việt Nam
Việt Nam là nước tiêu thụ sản phẩm nhựa đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và là nước đứng thứ 4 thế giới về xả thải rác thải nhựa [39] Tuy nhiên, những nghiên cứu về vi nhựa ở Việt Nam vẫn còn khá ít ỏi Một số nghiên cứu về ô nhiễm rác thải nhựa trong môi trường nước tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nguồn nước trong các kênh rạch đô thị và gần các nhà máy
đã bị ô nhiễm nặng nề bởi vi nhựa có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất [43] Một nghiên cứu khác trên sông Sài Gòn cho thấy mật độ vi nhựa dạng sợi dao động từ 22 đến 251 vi nhựa/lít nước và mật độ này không phụ thuộc vào lượng mưa, sự xả thải nước hoặc các yếu tố vô sinh khác, tuy nhiên màu sắc
và chiều dài của các sợi vi nhựa biến đổi theo các tháng Ngoài ra, những tác giả này còn ước lượng hàng năm lượng vi nhựa dạng sợi từ sông đi vào vùng biển ven bờ khoảng từ 115-164 x 1012 sợi [25] Một số nghiên cứu sơ bộ về hạt vi nhựa trong môi trường trầm tích tại khu vực Cần Giờ và cửa sông Ba Lạt đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm rác thải nhựa trong môi trường trầm tích [37][62][72] Một nghiên cứu chi tiết hơn được thực hiện bởi Quynh Anh và cộng sự (2020) đã cho thấy vi nhựa dạng sợi chiếm đến 99,2% tổng số vi nhựa được tìm thấy trong trầm tích ở bãi biển Đà Nẵng; màu xanh nước biển (59,9%) và màu trắng (22,9%) là hai màu chiếm tỷ lệ cao trong các sợi vi nhựa được tìm thấy; mật độ vi nhựa dạng sợi là 9238±2097 sợi/kg trầm tích khô [70] Emilie và cs (2021) đã nghiên cứu và đánh giá mật độ vi nhựa trong các môi trường nước ngọt và biển Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ vi nhựa thấp ở các vịnh hơn ở các sông Cụ thể, ở các sông, vi nhựa mật độ biến động từ 2,3 vi nhựa/m3 ở sông Hồng đến 2.522 vi nhựa/m3
ở sông Tô Lịch, với mật độ thấp hơn ở sông chính và cao hơn ở các sông nhỏ
và đô thị Trong các vịnh, mật độ vi nhựa thay đổi từ 0,4 vi nhựa/m3
Cửa Lục
Trang 25đến 28,4 vi nhựa/m3
ở cửa sông Dinh Sự ô nhiễm vi nhựa có liên quan đến các hoạt động nhân sinh xung quanh có sử dụng nhựa như nghề cá, nuôi trồng thủy sản, hộ gia đình, bãi rác, áp lực đô thị lên môi trường và việc thải trực tiếp nước thải, đã qua xử lý hoặc chưa qua xử lý
Bên cạnh đó, nghiên cứu đầu tiên về vi nhựa trong cơ thể sinh vật đã được thực hiện bởi Phuong và cộng sự (2019) đối với loài động vật hai mảnh
vỏ Perna viridis Nồng độ vi nhựa trung bình được phát hiện là 2,6 mảnh vi
nhựa/cá thể và 0,29 mảnh/g mô ướt với chủ yếu là nhựa polypropylene và polyester [68]
Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù tình trạng ô nhiễm vi nhựa ở Việt Nam
là vấn đề đáng quan tâm nhưng mới chỉ có một số ít các nghiên cứu được thực hiện Do đó, cần thực hiện nhiều nghiên cứu nữa ở những khu vực khác nhau
để có những chứng cứ sớm nhất về ô nhiễm vi nhựa ở nước ta
1.3 Những thông tin chung về đầm Thị nại
1.3.1 Vị trí địa lý và dân cư
- Vị trí: đầm Thị Nại nằm trong khoảng 109011’06” - 109018’30” kinh
độ Đông và 13045’20” - 13055’10” vĩ độ Bắc Địa giới hành chính bao gồm thành phố Quy Nhơn (xã Nhơn Hội, phường Hải Cảng, Nhơn Bình, Đống Đa, Thị Nại) và huyện Tuy Phước (xã Phước Thắng, Phước Hoà, Phước Sơn, Phước Thuận)
- Diện tích: đầm Thị nại là đầm nước mặn lớn nhất Tỉnh Bình Định, diện tích tự nhiên mặt đầm là 5.060ha Đầm Thị Nại có chiều dài 16km, chiều rộng
từ 500m đến 5.000m, độ sâu trung bình khoảng 1,2m Phía Bắc của đầm giáp với huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát; phía Nam giáp thành phố Quy Nhơn; phía Đông giáp cồn cát ven biển; cửa đầm thông với Vịnh Quy Nhơn,
có độ rộng khoảng 400-500m
- Dân số: tổng dân số trong khu vực đầm Thị Nại năm 2013 là 172.678
Trang 26người (với tỷ lệ tăng trưởng dân số trung bình khoảng 0,25%/năm), chiếm khoảng 11% dân số tỉnh Bình Định bao gồm khu vực phía Bắc Đầm (20.319 người), phía Tây Nam đầm (147.861 người), phía Đông Nam đầm (3.698 người) và khu Cồn Chim (800 người) [3], [44]
/s Cả hai sông đều bắt nguồn từ các vùng núi cao, nghiêng từ Tây sang Đông Vào mùa mưa, lũ lụt và rửa trôi diễn ra nghiêm
Trang 27trọng, ngược lại, cạn kiệt vào mùa khô Chênh lệch lưu lượng giữa hai mùa lên đến hơn 1.000 lần [1], [3]
Đầm Thị Nại thuộc loại đầm kín, đựơc che chắn với biển bởi bán đảo Phương Mai dọc theo phía Đông, cửa đầm thông với vịnh Quy Nhơn rất hẹp (400-500 m), làm cho khả năng trao đổi nước của chúng với biển rất hạn chế Trao đổi nước chủ yếu xảy ra dưới tác động của 2 quá trình: truyền triều và nuớc sông đổ vào đầm ra vịnh và biển Vào mùa ít mưa, nước biển có khả năng thâm nhập sâu vào vùng đầm Nhưng vào mùa mưa, khi nước sông Kôn
và các sông nhỏ khác đổ vào đầm thì hầu hết diện tích đầm bị bao phủ bởi nước ngọt
Sự hoạt động mạnh của yếu tố sông vào mùa mưa và yếu tố biển vào mùa khô tạo cho đầm Thị Nại các vùng nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo mùa Tuỳ theo vị trí của bãi so với vị trí của sông và mép nước biển, nguồn nước trên ngấm vào đất tạo ra những vùng đất nhiễm mặn khác nhau và ở đó
có những thảm thực vật và động vật phong phú, tương ứng thích nghi với môi trường sống
1.3.3 Tài nguyên sinh vật
Đầm Thị Nại là một trong những đầm phá thể hiện những nét đặc trưng
về một hệ sinh thái của một vùng biển nhiệt đới Diện tích rừng ngập mặn tới 1.000ha và 200ha thảm cỏ biển, góp phần bảo vệ vùng bờ, cung cấp nguồn giống cho nuôi trồng thuỷ sản và liên quan mật thiết tới sự giàu có về nguồn lợi hải sản, mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng dân cư sống ven đầm Theo thống kê, đầm Thị Nại hiện có 185 loài thực vật phù du, 64 loài động vật phù du, 181 loài động vật đáy, 136 loài rong biển và thực vật bậc cao, 100 loài động vật thân mềm, 119 loài cá và 14 loài tôm,… (Nguyễn Xuân Hòa & cs., 2011) [2]
Phía Bắc đầm có khu sinh thái Cồn Chim (thuộc xã Phước Sơn, Tuy
Trang 28Phước) rộng gần 1000ha Đây được coi là lá phổi xanh của thành phố Quy Nhơn với hệ sinh thái rừng ngập mặn và cỏ biển tới 25 loài, hệ động vật có 64 loài phù du, 76 loài cá, có hàng trăm loài chim, trong đó 23 loài thuộc nhóm chim nước và chim di cư, 10 loài chim rừng
Trong đầm Thị Nại có 29 loài cây ngập mặn phân bố, trong đó có 20 loài cây ngập mặn thực sự, thuộc 11 họ và 9 loài cây tham gia rừng ngập mặn, thuộc
8 họ Các loài Đước đôi, Đưng, Mắm trắng, Giá, Bần trắng, Tra nhớt rất phổ biến trong đầm Tuy nhiên, diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng vì
sự phát triển của nuôi trồng thủy sản (Nguyễn Xuân Hòa & cs., 2011) [2]
1.3.4 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở đầm Thị Nại
Những năm qua, đầm Thị Nại đã và đang phải đối diện trước những nguy cơ suy thoái hệ sinh thái Trong khoảng thời gian 2010 – 2014, không chỉ hệ sinh thái đầm Thị Nại bị suy thoái mà nguồn lợi thuỷ sản cũng giảm sút nghiêm trọng Có thể nói các nguồn thải có khả năng đưa vào đầm Thị Nại chủ yếu từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và nguồn thải do rửa trôi đất ở khu vực TP Quy Nhơn, huyện Tuy Phước, huyện An Nhơn, một phần huyện Tây Sơn và Nam Vĩnh Thạnh (khu vực hạ lưu sông Côn và sông Hà Thanh - vùng thu nước chính cung cấp cho đầm Thị Nại)
Ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản: giai đoạn 1985-2000, song song với phát triển kinh tế, đầm Thị Nại đã bị khai thác triệt, rừng ngập mặn theo nghĩa của hệ sinh thái đã biến mất và chỉ còn lại những dải cây ngập mặn
ở một số nơi Thay vào đó, nuôi trồng thủy sản phát triển và các đìa tôm chiếm diện tích tương đương vùng rừng ngập mặn trước đây Tình hình dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản tại vùng đầm Thị Nại diễn biến phức tạp Việc
sử dụng hoá chất mang tính độc hại cao trong tẩy uế, diệt tạp và phòng chống bệnh thủy sản cũng gây ảnh hưởng đến môi trường trong đầm
Ô nhiễm do chất thải sinh hoạt: rác thải sinh hoạt là một nguồn ô nhiễm
Trang 29lớn đối với đầm Thị nại Tình trạng đổ rác thải xuống nước đã trở thành thói quen của người dân sống ven bờ làm rác ngập tràn ở các kênh, mương, sông trôi từ đầu nguồn tấp vào bờ lâu ngày bốc mùi hôi thối Thậm chí sau các vụ mùa, bà con còn vứt rơm rạ xuống dòng chảy làm ô nhiễm và tắc nghẽn dòng chảy Những thời điểm dịch bệnh, trên các sông, kênh, mương còn xuất hiện nhiều xác của gia súc, gia cầm… Chính sự ô nhiễm này khiến cho các chất độc hại tích tụ trong sinh vật đầm và tác động ngược trở lại cho con người Cơ
sở hạ tầng trong các khu dân cư quanh đầm Thị Nại còn yếu kém, lạc hậu, điều kiện vệ sinh còn rất hạn chế, dẫn đến việc các hộ dân xả chất thải trực tiếp xuống biển, đầm, gây ô nhiễm môi trường Vấn đề ô nhiễm hữu cơ được coi là đặc trưng của nguồn nước thải sinh hoạt
Ô nhiễm do chất thải công nghiệp: ngành chế biến thủy sản là một trong những ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh, nhưng cũng là nơi có nguồn nước thải rất lớn, trên 500 m3/ngày Các cơ sở chế biến thủy hải sản trong tỉnh đều đã có hệ thống bể tự thu gom và xử lý nước thải, tuy nhiên hiệu quả chưa thật cao Đặc biệt tại khu công nghiệp Phú Tài, nước thải vẫn chưa được xử lý Công ty bia Quy Nhơn có lượng nước thải khoảng 800 m3
/ngày, nhưng chưa có hệ thống xử lý đạt yêu cầu Nhà máy đường Bình Định đổ trực tiếp nước thải ra sông Kôn, tổng lượng nước thải qua 3 cửa xả tại xã Tây Giang (huyện Tây Sơn) là 1.759 m3/giờ bao gồm cả nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp
Ô nhiễm do hoạt động tàu thuyền trên biển: hoạt động thường xuyên của tàu thuyền đánh bắt cá là nguồn ô nhiễm dầu rất lớn đối với đầm Bên cạnh
đó, các sự cố tràn dầu trên biển gây ô nhiễm nặng nề hơn
Ô nhiễm rác thải nhựa trên đầm Thị Nại: Tình hình ô nhiễm rác thải nhựa ở đầm Thị Nại rất nghiêm trọng Cho đến nay, mặc dù chưa có nghiên cứu cụ thể nào về ô nhiễm rác thải nhựa ở đầm Thị Nại nhưng quá trình khảo
Trang 30sát thực tế có thể dễ dàng nhìn thấy những bãi rác tập trung quanh bờ đầm hay những vùng rác trôi nổi trên mặt nước ven bờ, trong đó rác thải nhựa chiếm một lượng lớn Lượng rác này rồi sẽ được cuốn tất cả ra đại dương mỗi khi thủy triều lên – xuống Có thể nói, rác thải nhựa ở đầm Thị Nại có từ 3 nguồn chính: (1) rác thải sinh hoạt của người dân, (2) từ hoạt động kinh tế xung
quanh đầm, (3) nguồn thải từ các sông đổ về
Hình 1.2 Ô nhiễm rác thải nhựa ở khu dân cư ven đầm Thị Nại (qua khảo sát thực tế)
Hiện tại, đầm Thị Nại chịu một áp lực lớn về dân số Hoạt động sống hàng ngày của người dân nơi đây cũng như ở bao vùng khác, đều sử dụng đồ dùng nhựa rất phổ biến Bao bì, túi nilon và chai lọ nhựa, bị lạm dụng làm cho lượng rác thải nhựa tăng lên nhanh chóng Thêm vào đó, đầm Thị Nại là nơi đổ ra biển của hai con sông lớn là sông Kôn và sông Hà Thanh Nguồn rác thải nói chung và rác thải nhựa nói riêng từ đời sống của nhân dân lưu vực hai con sông này cuốn theo theo dòng chảy đổ về đây
Bên cạnh đó, hoạt động đánh bắt cá và nuôi trồng thủy sản cũng đem đến cho đầm Thị Nại một lượng lớn rác thải nhựa, đó là các loại lưới đánh bắt, bao bì chứa đựng hải sản, bao bì và chai lọ chứa đựng thức ăn cũng như các loại thuốc bảo vệ, điều trị bệnh cho thuỷ sản nuôi trồng, hộp xốp và túi nilon,
Trang 31chai nhựa đựng thức ăn và nước uống cho người dân mang theo khi hoạt động trên đầm
Đầm Thị Nại là nguồn mưu sinh của hầu hết người dân sống quanh đầm
Có một lượng lớn thủy hải sản được khai thác mỗi ngày từ việc đánh bắt nhiên trên đầm hoặc thu hoạch từ các vựa nuôi của người dân Hoạt động mua bán hải sản của người dân xung quanh đầm Thị Nại diễn ra hàng ngày, từ những đại lý thu gom mua bán với số lượng lớn cho đến những người mua bán lẻ Tất cả đều xả ra đầm Thị Nại một lượng lớn bao bì nilon
Bên cạnh hoạt động khai thác, nuôi trồng và mua bán thủy hải sản thì đầm Thị Nại còn gánh chịu lượng nước thải và rác thải lớn từ các khu công nghiệp đổ về
1.4 Sơ lược một vài đặc điểm của các loài động vật thân mềm nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tôi chọn Sò Huyết (Anadara granosa) và Sò Lông (Anadara subcrenata) là hai loài động vật thân mềm để nghiên cứu
Đây là hai loài động vật thân mềm rất đặc trưng ở đầm Thị Nại, là đối tượng hải sản ưa thích của người dân quanh đầm và cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng ở đây
Mặc dù có những đặc điểm sinh học riêng, nhưng giống như nhiều loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, Sò Huyết và Sò Lông cũng là những loài sống đáy Chúng sống ở các bãi có đáy mềm, ít sóng gió Sò nhỏ thường sống trên mặt đáy, sò lớn vùi sâu trong đáy khoảng 1 – 3cm
Tập tính ăn của Sò Huyết và Sò Lông cũng có phương thức lấy thức ăn theo kiểu lọc thức ăn như những động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác Thức
ăn chủ yếu của chúng là tảo, các mảnh vụn và chất vẩn cặn hữu cơ Rõ ràng, với tập tính ăn thụ động như vậy nên chúng có thể lọc lấy tất cả những gì lơ lững trong môi trường sống Vì vậy, khả năng những loài sò này ăn vào những mẫu vi nhựa là rất cao nếu môi trường sống của chúng bị ô nhiễm vi
Trang 32nhựa Vì lý do đó, cùng với việc đánh giá ô nhiễm vi nhựa trong môi trường sống tôi cũng đánh giá liệu rằng các loài hai mảnh vỏ như Sò Lông và Sò Huyết có bị ô nhiễm vi nhựa hay không Đây là việc làm rất cần thiết để có thể đánh giá được thực trạng ô nhiễm vi nhựa ở hệ sinh thái đầm Thị Nại
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vi nhựa trong nước, vi nhựa trong trầm tích đáy và vi nhựa trong ống
tiêu hoá của Sò Huyết (Anadara granosa), Sò Lông (Anadara subcrenata) ở
đầm Thị Nại
- Nước, trầm tích đáy và Sò Huyết (Anadara granosa), Sò Lông (Anadara subcrenata) được thu tại đầm Thị Nại
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021
- Địa điểm thu mẫu:
+ Mẫu nước và trầm tích đáy được thu tại 2 điểm TN1 và TN2 ở đầm Thị Nại (Hình 2.1)
+ Mẫu Sò Huyết và Sò Lông thu mua từ người dân đánh bắt trên Đầm Thị Nại
- Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học, khoa Khoa học tự nhiên, trường Đại học Quy Nhơn
Hình 2.1.Vị trí thu mẫu trên đầm Thị Nại
Trang 342.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong trầm tích đáy ở đầm Thị Nại
Xác định mật độ, kích thước, màu sắc vi nhựa trong trầm tích đáy
2.3.2 Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong nước ở đầm Thị Nại
Xác định mật độ, kích thước, màu sắc vi nhựa trong nước
2.3.3 Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hoá của động vật thân mềm ở đầm Thị Nại: Sò Huyết (Anadara granosa) và Sò Lông (Anadara subcrenata)
- Xác định mật độ, kích thước, màu sắc vi nhựa trong ống tiêu hóa của
Sò Huyết
- Xác định mật độ, kích thước, màu sắc vi nhựa trong ống tiêu hóa của
Sò Lông
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu mẫu
2.4.1.1 Thu mẫu trầm tích đáy
Các mẫu trầm tích được thu vào triều thấp tại 2 điểm TN1 và TN2 (Hình 2.1) Tại mỗi điểm, mẫu trầm tích được thu từ bề mặt đáy đến chiều sâu 5cm, thu lặp lại 5 lần và trộn lẫn vào nhau thành một mẫu theo phương pháp của Quỳnh Anh và cộng sự (2020) [70] Mẫu được thu bằng ống thu mẫu có đường kính 6cm và chiều cao 5cm Các mẫu sau khi thu được cho vào lọ thủy tinh có dán nhãn và ghi các thông tin cần thiết để hỗ trợ cho việc phân tích sau này (điểm thu mẫu, ngày thu,…) Sau đó, mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích
Định kỳ mỗi tháng thu mẫu một lần, vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10,
11 và 12) và 3 tháng mùa nắng (tháng 3, 4 và tháng 5)
Trang 352.4.1.2 Thu mẫu nước
Mẫu nước được thu bằng vợt chuyên dụng có gắn máy đo vận tốc nước (flowmeter) để tính được lượng nước đã thu
Mẫu được thu định kỳ mỗi tháng một lần, vào 3 tháng mùa mưa (tháng
10, 11 và 12) và 3 tháng mùa nắng (tháng 3, 4 và tháng 5) Lượng nước mỗi lần thu trung bình khoảng từ 3-5m3
2.4.1.3 Thu mẫu Sò Huyết và Sò Lông
Sò Huyết và Sò Lông được thu trực tiếp từ ngư dân đánh bắt trên đầm, sau
đó cho vào bì kín, bảo quản lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích
Mẫu được thu định kỳ mỗi tháng một lần, vào 3 tháng mùa mưa (tháng
10 đến tháng 12) và 3 tháng mùa nắng (tháng 3 đến tháng 5)
2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu
2.4.2.1 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trầm tích
* Xử lý mẫu:
Mẫu được xử lý theo phương pháp của Quynh Anh và cộng sự (2020) [70]
- Mẫu được làm khô ở nhiệt độ 550C trong 72 giờ, sau đó trộn đều mẫu
và lấy 10g để phân tích
- Sàn qua rây có kích thước mắt lưới 1mm, bỏ những tạp chất hoặc sỏi
>1mm, giữ lại vi nhựa >1mm nhưng <5mm và cho vào giấy lọc, bảo quản trong đĩa petri để phân tích sau
- Phần trầm tích <1mm được cho vào cốc thủy tinh, sau đó cho vào từ
từ 20ml H2O2 30%, trộn đều và để ở tủ ấm tại 400C trong 3 giờ
- Lấy mẫu từ tủ ấm lọc qua sàn có kích thước mắt lưới 250µm, giữ lại phần trên rây và cho vào cốc thủy tinh, sau đó cho dung dịch NaCl bão hòa vào cốc để thực hiện công đoạn chảy tràn
- Lấy dung dịch chảy tràn lọc qua giấy lọc GF/A 1,6µm và bảo quản màng lọc này trong đĩa petri, để ở nhiệt độ phòng phục vụ cho phân tích sau này
Trang 36* Phân tích mẫu:
- Đặt giấy lọc dưới kính hiển vi soi nổi Leica S9i và sử dụng phần mềm LAXS của kính để quan sát vi nhựa Tiến hành xác định hình dạng vi nhựa dựa vào phân loại của Free và cộng sự (2014) [33]
- Chụp ảnh từng vi nhựa đã xác định và đặt tên cho nó theo mã của mẫu phân tích
- Đo kích thước các vi nhựa đã xác định theo từng loại bằng phần mềm Laxs của kính hiển vi, xác định màu sắc mẫu vi nhựa
- Xuất dữ liệu của từng mẫu vi nhựa vào tệp Excel và tổng hợp số liệu của cả mẫu được phân tích
2.4.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu nước
* Xử lý mẫu:
Mẫu được xử lý theo phương pháp của Emilie và cộng sự (2021) [24]
- Đầu tiên mẫu được lọc qua rây có kích thước mắt lưới 1mm, chỉ giữ lại
vi nhựa 1-5mm và loại bỏ các vật khác trên rây
- Phần được lọc dưới rây được cho vào lọ thủy tinh, sau đó cho vào 1g SDS và đặt trong tủ ấm ở nhiệt độ 500
- Lấy dung dịch chảy tràn lọc qua giấy lọc GF/A 1,6µm
* Phân tích mẫu:
- Đặt giấy lọc dưới kính hiển vi soi nổi Leica S9i và sử dụng phần mềm
Trang 37LAXS của kính để quan sát vi nhựa
- Xác định hình dạng vi nhựa như trên và chụp ảnh từng vi nhựa đã xác định, đặt tên cho nó theo mã của mẫu phân tích
- Đo kích thước các vi nhựa đã xác định theo từng loại bằng phần mềm Laxs của kính hiển vi, xác định màu sắc mẫu vi nhựa
- Xuất dữ liệu của từng mẫu vi nhựa vào tệp Excel và tổng hợp số liệu của cả mẫu được phân tích
2.4.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu Sò Huyết và Sò Lông
* Xử lý mẫu:
- Rửa sạch bên ngoài vỏ các mẫu sò được phân tích bằng nước cất đã lọc qua màng 1,6µm Cân khối lượng của mỗi cá thể được phân tích
- Đặt sò lên đĩa petri, giải phẫu và lấy toàn bộ ống tiêu hóa
- Cho ống tiêu hóa vừa thu vào cốc thủy tinh, xử lý bằng KOH 10% ở nhiệt độ 600C trong vòng 24 giờ theo đề xuất của Alexandre (2016) [8]
- Lấy mẫu đã xử lý lọc qua rây có kích thước mắt lưới 1mm, bỏ những tạp chất >1mm, giữ lại vi nhựa 1- 5mm cho vào giấy lọc đặt trong đĩa petri
- Lấy phần nước đã lọc qua rây 1mm tiếp tục lọc qua rây có kích thước mắt lưới 250µm, sau đó lấy phần trên rây cho vào cốc thủy tinh và thực hiện công đoạn chảy tràn bằng dung dịch NaCl bão hòa Cuối cùng, lấy dung dịch chảy tràn lọc qua giấy lọc GF/A 1,6µm theo phương pháp của Emilie và cộng
sự (2021) [24]
* Phân tích mẫu:
Thực hiện tương tự như mẫu trầm tích và mẫu nước
- Đặt giấy lọc dưới kính hiển vi soi nổi Leica S9i để quan sát vi nhựa
- Chụp ảnh từng vi nhựa đã xác định và đặt tên cho nó theo mã của mẫu phân tích
- Đo kích thước các vi nhựa đã xác định theo từng loại bằng phần mềm
Trang 38Laxs của kính hiển vi, xác định màu sắc mẫu vi nhựa
- Xuất dữ liệu của từng mẫu vi nhựa vào tệp Excel và tổng hợp số liệu của cả mẫu được phân tích
2.4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập bao gồm hình dạng vi nhựa, mật độ vi nhựa, kích cỡ
vi nhựa và màu sắc vi nhựa
Đối với kích cỡ vi nhựa được khảo sát: Vì sự hạn chế về thiết bị nghiên cứu tại Việt Nam nên nghiên cứu chỉ khảo sát các sợi vi nhựa có chiều dài từ 300-5.000µm, các mảnh vi nhựa có diện tích từ 45.000-25.000.000µm2(tương tự như kích cỡ được đề xuất bởi Emilie và cs (2021) [24] Đây là kích thước có thể quan sát được bằng mắt thường dưới kính hiển vi mà không cần phải kiểm tra qua máy quang phổ (GESAMP, 2019; Quỳnh Anh, 2020) [35], [70]
Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, đồ thị được tính toán và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 Sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (Anova single factor) trên phần mềm Microsoft Excel 2013
để kiểm tra sự sai khác về mật độ vi nhựa
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng ô nhiễm vi nhựa trong trầm tích đáy ở đầm Thị Nại
3.1.1 Mật độ vi nhựa trong trầm tích đáy
Kết quả phân tích cho thấy, tổng mật độ vi nhựa trung bình trong trầm tích đáy ở đầm Thị Nại dao động từ 4133,33 đến 9233,33 vi nhựa/kg trầm tích khô, trong đó nhìn chung mật độ vi nhựa dạng sợi cao hơn so với vi nhựa dạng mảnh
ở cả hai vị trí thu mẫu, ngoại trừ ở TN1 trong mùa nắng (Bảng 3.1)
Khi so sánh mật độ vi nhựa giữa hai mùa có thể thấy: ở cả hai vị trí thu mẫu TN1 và TN2, mật độ vi nhựa trung bình của vi nhựa dạng mảnh, vi nhựa dạng sợi và tổng chung ở mùa nắng (dao động từ 3800 – 5933,33 vi nhựa/kg trầm tích khô đối với dạng sợi, từ 2366,67 – 5433,33 vi nhựa/kg trầm tích khô đối với dạng mảnh, và từ 8300 – 9233,33 vi nhựa/kg trầm tích khô cho tổng số) cao hơn so với mùa mưa (dao động từ 3600 – 3733,33 vi nhựa/kg trầm tích khô đối với dạng sợi, từ 533,33 – 1766,67 vi nhựa/kg trầm tích khô đối với dạng mảnh, và từ 4133,33 – 5500 vi nhựa/kg trầm tích khô cho tổng số), tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) (Bảng 3.1.)
Bảng 3.1 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong trầm tích đáy giữa hai mùa
Số lượng vi nhựa dạng mảnh/kg trầm tích
Tổng số vi nhựa/kg trầm tích
TN1 Mùa mưa 3733,33±2709,86a 1766,67±152,75a 5500,00±2861,82a
Mùa nắng 3800,00±2498,00a 5433,33±4196,82a 9233,33±5900,28a
TN2 Mùa mưa 3600,00±4543,13a 533,33±680,69a 4133,33±5186,84a
Mùa nắng 5933,33±3881,15a 2366,67±1703,92a 8300,00±5478,14a Ghi chú: Trong cùng một cột, đối với từng vị trí thu mẫu, các chữ cái viết trên giống
nhau thể hiện sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Khi so sánh giữa 2 vị trí thu mẫu ở mùa mưa, mật độ vi nhựa dạng mảnh
Trang 40ở TN1 cao hơn có ý nghĩa so với TN2 (p<0,05) nhưng mật độ vi nhựa dạng sợi và tính tổng chung không sai khác về mặt thống kê (p>0,05) Không giống như vậy, ở mùa nắng, mật độ vi nhựa dạng sợi, dạng mảnh và tổng chung không khác nhau giữa TN1 và TN2 (p>0,05) (Bảng 3.2)
Bảng 3.2 Kết quả so sánh mật độ vi nhựa trong trầm tích đáy giữa các vị trí thu mẫu
Số lượng vi nhựa dạng mảnh/kg trầm
tích
Tổng vi nhựa/kg trầm tích
Mùa
mưa
TN1 3733,33±2709,86a 1766,67±152,75a 5500,00±2861,82a TN2 3600,00±4543,13a 533,33±680,69ab 4133,33±5186,84a Mùa
nắng
TN1 3800,00±2498,00a 5433,33±4196,82a 9233,33±5900,28a TN2 5933,33±3881,15a 2366,67±1703,92a 8300,00±5478,14a Ghi chú: Trong cùng một cột, đối với từng mùa, các chữ cái viết trên giống nhau thể
hiện sự sai khác không có ý nghĩa thông kê (p>0,05)
3.1.2 Kích thước vi nhựa trong trầm tích đáy
3.1.2.1 Kết quả theo vị trí thu mẫu
* Chiều dài sợi vi nhựa ở vị trí TN1
Kích thước phổ biến của các sợi vi nhựa trong trầm tích ở TN1 là khoảng từ 300-2500µm đối với mùa nắng và từ 300-2300µm đối với mùa mưa Sự phân bố các nhóm kích thước của vi nhựa không giống nhau giữa 2 mùa Trong mùa nắng, vi nhựa dạng sợi ở các nhóm kích thước từ 300-500µm; 900-1.100µm; 1.700-1.900µm chiếm tỉ lệ cao nhất (lần lượt là 14,04%; 13,16%; 13,16% trong tổng số) và nhóm kích thước từ 500-700 µm
và 2.300-2.500µm cũng chiếm tỉ lệ đáng kể (cùng chiếm 9,65% trong tổng số) Không giống như vậy, các sợi vi nhựa trong mùa mưa có kích thước từ 1.100-1.300µm chiếm tỉ lệ cao nhất trong mùa (15,18% trong tổng số) và các nhóm kích thước từ 700-900µm; 900-1.100µm; 1.300-1.500µm; 2.100-2.300µm cũng chiếm tỉ lệ đáng kể (lần lượt là 8,93%; 9,82%; 8,93%; 8,04%