Đến năm 1985, bằng bài phân tích về hai vở kịch của Lưu Quang Vũ lần lượt là Nguồn sáng trong đời, một vở diễn đẹp giản dị Tạp chí Sân khấu, số 3/1985 và Người trong cõi nhớ Tạp chí Sân
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
CHẤT THƠ TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC
CỦA LƯU QUANG VŨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
M :
Người hướng dẫn: TS TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các thông tin, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Quy Nhơn, ngày 15 tháng 09 năm 2021 (Ký tên và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Th y Dung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Mục đích và nhiệm vụ 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của khóa luận 10
Chương 1 CHẤT THƠ VÀ KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ 11
1.1 Giới thuyết về chất thơ trong tác ph m văn học 11
1.1.1 Khái niệm chất thơ 11
1.1.2 Chất thơ trong tác phẩm văn học 14
1.2 Lưu Quang Vũ và kịch Lưu Quang Vũ trong nền văn học dân tộc 19
1.2.1 Những nhân tố góp phần hình thành kịch tác gia Lưu Quang Vũ 19 1.2.2 Kịch Lưu Quang Vũ trong nền kịch Việt Nam đương đại 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30
Chương 2 CHẤT THƠ TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ - NHÌN TỪ CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT 32
2.1 Cốt truyện 32
2.1.1 Cốt truyện khai thác từ tích truyện n gian – s o ưu những giá trị sống đ ch th c 33
2.1.2 Cốt truyện khai thác từ th c tiễn đời sống – hát vọng c a
tư ng t nh u cao đ p 46
2.2 Nhân vật 50
Trang 4tương ai 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68
Chương 3 CHẤT THƠ TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ - NHÌN TỪ KẾT CẤU VĂN BẢN VÀ NGÔN NGỮ 70
3.1 Kết cấu văn bản 70
3.1.1 Nhan đề gi u s c g i 71
3.1.2 K t th c v i ư m đ p 77
3.1.3 Gia tăng u tố ngoài cốt truyện 81
3.2 Ngôn ng 88
3.2.1 Ngôn ngữ giàu nhịp điệu 89
3.2.2 Ngôn ngữ giàu hình nh 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5sự biểu đạt của các thể loại này Và kịch của Lưu Quang Vũ là một trong
nh ng minh chứng cho sự tương giao gi a thơ - kịch
Lưu Quang Vũ là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học vào nh ng năm 80 của thế kỉ XX Ông thành công trên nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật như: Thơ, văn và đ c biệt là kịch Lúc sinh thời, kịch của ông có m t trên sàn diễn của rất nhiều đoàn nghệ thuật trên cả nước Kịch của Lưu Quang
Vũ tỏa sáng như một hiện tượng độc đáo của trường kịch Việt Nam lúc bấy giờ Tác ph m kịch của ông một m t “dồn nén”, “bóp nghẹt” độc giả, khán giả ở kịch tính cùng cốt truyện kịch tập trung cao độ, m t khác vẫn thật lãng mạn, thơ mộng, tinh tế Chính điều này đã tạo thành một thế mạnh riêng của ông trong nền kịch nghệ nước nhà
Nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ, đến nay đã có rất nhiều công trình khẳng định tài năng và vị trí quan trọng của ông đối với sự phát triển của văn học kịch Việt Nam Nhưng dường như kịch Lưu Quang Vũ vẫn có sức h t
đ c biệt với nhiều nhà nghiên cứu trong việc lật mở, t m kiếm nh ng giá trị
đ c s c trong kịch của người nghệ sĩ tài hoa này Chất thơ trong kịch của ông
có l cũng là một vấn đề như thế Đến nay vẫn chưa có công tr nh nào nghiên cứu một cách hệ thống về chất thơ trong kịch của Lưu Quang Vũ V nh ng lí
do trên, ch ng tôi quyết định thực hiện đề tài Chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ để tìm hiểu một trong nh ng nét đ c s c làm nên
Trang 6chất riêng cho kịch Lưu Quang Vũ Từ đó góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật và đóng góp của ông trên con đường đổi mới, phát triển kịch nói riêng
và văn học - nghệ thuật Việt Nam nói chung Đồng thời cũng đóng góp và gợi
mở nh ng hướng nghiên cứu, giảng dạy tác ph m kịch Lưu Quang Vũ ở các cấp học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lưu Quang Vũ là một tác gia nổi bật trong nền văn học nước nhà nh ng năm 80 V thế nh ng nghiên cứu về Lưu Quang Vũ khá nhiều ở các phương diện, tuy nhiên nh ng công tr nh nghiên cứu về chất thơ trong sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ chưa nhiều, chủ yếu là khái quát trên các bài báo ng n nên
ở đây ch ng tôi tập trung vào nh ng công tr nh, bài viết nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ để làm nền tảng cho vấn đề được nghiên cứu Trong phạm vi
đề tài của luận văn ch ng tôi chỉ tập trung vào nh ng nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ qua hai giai đoạn: trước 1986 và sau 1986
diễn Sân khấu toàn quốc năm 1980 Cũng từ đây thân thế, sự nghiệp và tác
ph m của ông gây được sự chú ý với giới nghiên cứu văn học tuy nhiên vẫn còn khiêm tốn, chủ yếu là các bài viết về nh ng phát hiện trong từng tác ph m
cụ thể Năm 1981, tác giả Hồng Việt viết Mùa hạ cuối cùng - trách nhiệm và niềm tin với tuổi trẻ (Tạp chí Sân khấu, số 5 + 6) Năm 1982, Vũ Đ nh Phòng với bài viết Cái được và chưa được của Cô gái đội mũ nồi xám (Tạp chí Sân khấu, số 3) Vũ Đ nh Phòng viết Nàng Sita – Tạp chí Sân khấu, số 5-6; Nguyễn Thị Minh Thái, Người trong cõi nhớ – Tạp chí Sân khấu, số 8;
Trang 7Nguyễn Văn Niêm viết Ông vua hóa hổ là ông vua nào – Tạp chí Sân khấu,
số 10 Các bài viết này chủ yếu chỉ ra ưu điểm của kịch Lưu Quang Vũ là đã phản ánh về vấn đề ngày hôm nay, đã đề cập đến một số vấn đề có thực: băn khoăn của lớp trẻ nên sống thế nào để đạt tới hạnh phúc chân chính
Đến năm 1985, bằng bài phân tích về hai vở kịch của Lưu Quang Vũ lần
lượt là Nguồn sáng trong đời, một vở diễn đẹp giản dị (Tạp chí Sân khấu, số 3/1985) và Người trong cõi nhớ (Tạp chí Sân khấu số 8/1985) Nguyễn Thị
Minh Thái gây ấn tượng mạnh với độc giả khi phân tích và chỉ rõ nh ng giá trị đổi mới trong kịch của Lưu Quang Vũ đ c biệt là thông điệp đầy tính nhân văn, đề cao cái tốt đẹp, cao thượng trong tâm hồn con người được ông g i
g m trong tác ph m như một bản tụng ca về ánh sáng và niềm tin Quan điểm
này cũng được nhà nghiên cứu Vũ Quang Vinh tán đồng trong bài Tôi và chúng ta hay sự khẳng định con người mới (Tạp chí Sân khấu, số 6) Có thể
thấy giá trị nhân văn của kịch Lưu Quang Vũ rất được hưởng ứng và đề cao trong giới nghiên cứu văn học l c bấy giờ bởi nó đã ới lên được nh ng điều
mà mọi người đang quan tâm, chờ đợi Kịch của ông nh m vào một mục đích cao cả và trọng đại của văn học nghệ thuật: đó là sự đấu tranh để khẳng định
h nh tượng về nh ng con người mới xã hội chủ nghĩa
Như vậy ở thời kì này các bài viết nghiên cứu về tác ph m của Lưu Quang Vũ ít nhiều đã khẳng định về vai trò và vị thế của ông trong làng kịch nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung Tuy nhiên các công trình nói trên vẫn khai thác ở mức dè d t và khiêm tốn về các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác ph m Lưu Quang Vũ, chủ yếu t m hiểu về đổi mới trong sáng tác kịch và giá trị văn hóa truyền tải qua các vở kịch
b Từ năm 1986 đến nay
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự đổi mới về lập trường tư tưởng, chính trị, văn hóa và đời sống xã hội Việt
Trang 8Nam Đời sống văn nghệ, ở tất cả các khâu từ sáng tác, truyền bá đến nghiên cứu, tiếp nhận cũng tích cực chuyển mình
Từ sau 1986, kịch Lưu Quang Vũ trở thành tác ph m được đón nhận và công diễn chủ lực kh p các sân khấu Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam Ninh cùng nhiều tỉnh thành trong cả nước Cũng v vậy tên tuổi của “Lưu Quang Vũ” được biết đến và yêu mến rộng rãi Với thành tích bốn Huy chương vàng Lưu Quang Vũ thành công trog việc tấn công vào thị trường sân khấu miền Nam Nhờ sự tiếp nhận sôi nổi ấy của công chúng, giới phân tích văn học nghệ thuật cũng ngày càng quan tâm và có nhiều bài phân tích về giá trị kịch của Lưu Quang Vũ
Dấu mốc quan trọng khẳng định vị thế của Lưu Quang Vũ trong nền
kịch nước nhà chính là Hội thảo về vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt
được Ban Lý luận phê bình, Ban Nghệ thuật biểu diễn và Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã tổ chức ngày 4/2/1988 Các ý kiến trong Hội thảo sau đó
được tập hợp và đăng tải trên Tạp chí 10 Sân khấu số 90/1988 Đa số các ý
kiến tại Hội thảo đều cho rằng vở kịch đã thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với cái ác và cái xấu, đồng thời thể hiện vấn đề thời sự: không thể
ch p vá tùy tiện một cách sai lầm, càng s a ch a kiểu đó càng sai, càng khổ
Khi đang trên phong độ đỉnh cao của tài năng th một tai nạn thảm khốc
đã cướp đi tính mạng Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh c ng con trai Đây là một mất mát vô cùng to lớn với nh ng người yêu mến Lưu Quang Vũ cùng tác
ph m của ông nói riêng và đối với cả nền văn học nước nhà nói chung Trước
sự ra đi đột ngột ấy, các bạn bè và văn nghệ sĩ gần gũi đã thể hiện tình cảm
ót thương, trân trọng của m nh dành cho người nghệ sĩ tài hoa bạc mệnh trong tang lễ của ông Hai tác giả Vũ Hà và Ngô Thảo đã tập hợp nh ng lời ai
điếu và cho ra đời tác ph m Lưu Quang Vũ - một tài năng, một đời người
Trong tác ph m, nghệ sĩ nhân dân Dương Ngọc Đức – Nguyên Tổng thư kí
Trang 9Hội Sân khấu Việt Nam nhận định: “s hấp dẫn ch y u trong các kịch b n
c a Vũ t nh ch n th c M i đọc kịch b n thôi đã có thể tin nga đư c Mặt khác kịch c a Vũ cũng như con người ngo i đời c a Vũ rất có duyên Thêm nữa Vũ ại cũng rất hóm” [23, tr.30] Nhà thơ Tố H u đã gọi Lưu Quang Vũ là “nhà vi t kịch t i năng v ũng c m” [23, tr.8] Nguyên Ngọc khẳng định nh ng đóng góp của Lưu Quang Vũ là “một s đóng góp
hi m có cho văn học, cho sân khấu đương đại chúng ta” [23, tr.9] Nhà thơ Phạm Tiến Duật nhớ về tài năng lớn Lưu Quang Vũ: “N u không chỉ dừng lại các chi ti t hóc cười qua các tình ti t, c lắng lại mà ngẫm, thì thấy v nào cũng có cái t m n ao cái thương người d n nén sau những câu chữ” [23,
tr.25]
Năm 1989, trong khi điểm lại Những nét nổi bật trên sân khấu 1988
(Tạp chí Văn học, số 1/1989) nhà nghiên cứu sân khấu Tất Th ng đã dành nhiều dòng trang trọng để khẳng định nh ng đóng góp của kịch Lưu Quang
Vũ và đánh giá cao tính dân chủ trong kịch của ông: “Tính dân ch chính là
s thể hiện một nội ung nh n đạo c a kịch Lưu Quang Vũ Cho n n mặc dù dấu ấn thời s nóng bỏng còn để lại há đậm trong một số v cuối cùng c a anh, song nó không làm lấn át, làm lu mờ cái hạt nhân nhân b n ia V đó chính là giá trị cơ n c a kịch Lưu Quang Vũ.” [67] C ng trong năm 1989
Phan Trọng Thưởng viết bài Kịch Lưu Quang Vũ – những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người (Tạp chí Văn học, số 5/1989) Từ nh ng khảo sát và
nghiên cứu, ông khẳng định : “C m h ng ch đạo trong kịch Lưu Quang Vũ
là c m h ng về con người, về cái đ p, cái thiện Anh sa sưa hám phá cuộc sống, khám phá th gi i tiềm ẩn, th gi i cái tôi mỗi con người Khát vọng chính c a anh là khát vọng hoàn thiện cuộc sống, hoàn thiện con người Cho
n n vư t qua c những đề tài có tính thời s , kịch c a anh hư ng t i những giá trị nh n đạo bền vững, lâu dài” [82; 61]
Trang 10Có thể thấy, sau sự ra đi đột ngột của người nghệ sĩ đa tài họ Lưu, người ta viết nhiều hơn, thể hiện nh ng phân tích sâu hơn, kỹ hơn, tinh tế hơn
về nh ng vở kịch cũng như sự nghiệp của “cây b t vàng” làng kịch ấy Đ c
biệt là công trình Lưu Quang Vũ – tài năng và lao động nghệ thuật của
PGS.TS Lưu Khánh Thơ ra m t năm 2001 Nó tập hợp nhiều bài phân tích và đánh giá về Lưu Quang Vũ trên tất cả các lĩnh vực sáng tác đa dạng của người anh tài hoa bạc mệnh Với dung lượng bốn mươi bài viết về Lưu Quang Vũ trong đó có mười bài bàn trực tiếp đến kịch, công tr nh đã ghi lại nh ng phân tích khi thì khái quát, khi thì cụ thể về một vở kịch, bên cạnh nh ng phân tích
về thơ và nh ng kỉ niệm về ông trong lòng bạn bè văn nghệ sĩ Nhà nghiên cứu Phong Lê cho rằng vốn sống là yếu tố cơ bản tạo nên thành công cho Lê Quang Vũ và chứng minh Lưu Quang Vũ là người đưa thơ và kịch xích lại
gần nhau trong bài viết: “Văn xuôi Lưu Quang Vũ – cầu nối giữa thơ v kịch” C ng quan điểm khi nhận xét về tài năng trong lĩnh vực kịch của Lưu Quang, Vũ Phan Ngọc cũng khẳng định rằng: “Lưu Quang Vũ nh vi t kịch
l n nhất th kỉ này (th kỉ XX) c a Việt Nam, là một nh văn hóa” [72,
tr.149] Tác giả Huỳnh Như Phương trong bài Những vần thơ thấm đẫm băn khoăn nhận xét rằng: “Từ những i thơ nặng trữu ưu tư v t m s cá nhân,
Lưu Quang Vũ đã đi đ n những kịch b n k t h p hài hòa giữa xung đột xã hội
v xung đột nội tâm, giữa nghệ thuật tái hiện các quá tr nh ưu chu ển c a đời sống v i nghệ thuật thể hiện các trạng thái c a tính cách” [72, tr.108]
Khẳng định về vị thế của Lưu Quang Vũ, nhà nghiên cứu Tất Th ng trong bài
viết Anh đã là “người trong cõi nhớ” (9/1988) đã dành nh ng lời trân trọng
nhất để xác lập vị trí của Lưu Quang Vũ trong nền kịch nghệ nước ta thời
điểm đó Theo ông “S có mặt c a Vũ đã m u mờ đi thậm ch vơi hẳn đi c một th hệ tác gi từng ng trị sân khấu suốt một thời” [72, tr.257] và rằng:
“… hông ai có thể ph nhận một s thật: s hấp dẫn mà không r tiền c a
Trang 11kịch Lưu Quang Vũ v i những cốt truyện đầy bất ngờ và lo âu, v i những màu l p sinh động, những đối thoại giàu chất văn học và tính tri t V đặc biệt ẩn giấu trong tất c những cái đó những ch đề, những vấn đề, những
s thật mà nhiều người đang quan t m” [72, tr.260]
Tuy nhiên, bấy nhiêu công trình dường như vẫn chưa đủ để khái quát hết sức ảnh hưởng và giá trị nghệ thuật mà Lưu Quang Vũ đã để lại Năm
2001, trong công trình Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, nhà nghiên cứu Tôn Thảo Miên đã có nh ng tổng kết giá trị về kịch Lưu Quang Vũ: “Là một nghệ sĩ có t m h n nhạy c m Lưu Quang Vũ nhanh chóng ao quát đư c
s bi n đổi c a hiện th c trên c bề rộng và chiều sâu c a nó Hầu h t những
v còn lại ấn tư ng s u đậm trong lòng công chúng là những v động chạm
đ n vấn đề vừa nóng bỏng chất thời s vừa ch a đ ng chiều sâu tri t lý, mang ý nghĩa u i hông ao giờ tr th nh xưa cũ” [40, tr.712]
Ngay sau công trình của Thảo Miên, nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ
cũng đưa ra quan điểm của mình trong tác bài viết: Lưu Quang Vũ với nền văn học kịch Việt Nam (năm 2004) Bài viết thể hiện sự công phu và một sự
am tường đ c biệt với toàn bộ sáng tác của Lưu Quang Vũ cũng như sân khấu
kịch cùng thời Nhà nghiên cứu khẳng định: “Ngòi t c a anh đã xông v o hầu h t mọi ngõ ngách c a cuộc sống cũng như t m h n con người Anh không hạn ch mình trong bất c loại đề tài nào b i đ u anh cũng phát hiện
ra vấn đề để bàn luận trao đổi” [54, tr.76-77]
Năm 2006, bài viết của nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu với tiêu đề Lưu Quang Vũ và chặng đường kịch Việt Nam cuối thế kỉ XX (Tạp chí Văn học,
số 8) thêm một lần n a góp phần xác lập vị trí của Lưu Quang Vũ trong làng kịch nghệ nước ta C ng trong năm 2006, Lê Thị Hoài Phương trong tập tiểu
luận phê bình Sân khấu - nghề và nghiệp đã đi tìm chất thơ trong kịch Lưu
Quang Vũ và khẳng định: “Chất thơ c a kịch Lưu Quang Vũ chất thơ c a
Trang 12hiện th c k t h p v i tâm h n thơ c a ông Nó đư c thể hiện cách nhìn nhận v đánh giá m i, việc miêu t các nhân vật phụ tươi tắn, hấp dẫn đáng u.” [45]
Ngoài các bài viết, công trình của bạn bè nghệ sĩ và giới mộ điệu còn
có thể kể đến các công tr nh nghiên cứu của các học giả: Luận án Tiến sĩ
Nghệ thuật học chuyên ngành Lý luận – Phê bình sân khấu về Kịch Lưu Quang Vũ của Lê Thị Hoài Phương (bảo vệ năm 1998 tại Trường Quốc gia Sân khấu, Âm nhạc và Điện ảnh - Nga), luận văn Kịch Lưu Quang Vũ với những vấn đề của thời kì đổi mới của học viên Lê Thị Thảo (Đại học Thái Nguyên), luận án Những giá trị nội dung xã hội và nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ tại Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam… Các công tr nh trên
đã khai thác về sự sáng tạo, đổi mới cũng như nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật trong tác ph m của Lưu Quang Vũ cũng như vai trò, vị trí quan trọng của ông trong nền văn học nước nhà nói chung và mảng sân khấu kịch nói riêng
Ngoài ra, có thể kể đến hai bài viết trực tiếp đề cập về chất thơ trong
kịch của Lưu Quang Vũ: Chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang
Vũ của Lê Thị Minh Hiền và Chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ của B i Hải Yến Cả hai bài nghiên cứu đều chỉ ra các biểu hiện
của chất thơ trên phương diện nội dung và nghệ thuật đồng thời khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của chất thơ trong sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ Tuy nhiên cả hai tài liệu trên mới chỉ dừng lại ở việc gợi mở nh ng luận điểm
cơ bản trong phạm vi của một bài báo
Có thể thấy, các công trình, bài viết và luận văn đã khai thác hầu hết các giá trị nội dung, nghệ thuật trong tác ph m của Lưu Quang Vũ và đề cao, khẳng định vị thế quan trọng của tài t họ Lưu trong nền văn chương của nước nhà Tuy chưa có công tr nh nào đi vào khảo sát và nghiên cứu một cách
Trang 13có hệ thống về chất thơ trong kịch của Lưu Quang Vũ, nhưng tất cả các công
tr nh đó là sự gợi mở quan trọng gi p ch ng tôi triển khai đề tài này
3 Đ i tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biểu hiện
về chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ
- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng
tôi chỉ tập trung vào các vở kịch: Nàng Sita, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Linh Hồn của đá, Lời nói dối cuối cùng, Ông vua hóa hổ, Tôi và ch ng ta, iều hông th mất, oa c c anh tr n đầm lầ … và một số vở kịch khác
được in trong các công tr nh sau:
+ Lưu Quang Vũ (1994), Tuy n tập kịch, NXB Sân khấu, HN
+ Lưu Quang Vũ (2018), Nàng ita những vở kịch khai tác cốt tru ện dân gian, NXB Trẻ, HN
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp tiếp cận theo hướng thi pháp học
Với đề tài “Chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ”,
chúng tôi nghiên cứu nh ng biểu hiện của chất thơ trong kịch Lưu Quang Vũ trên các phương diện về nội dung và h nh thức nghệ thuật Từ đó, ch ng tôi
có thể góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí và tài năng của Lưu Quang Vũ trong nền văn học dân tộc
Trang 146 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn s góp phần bổ sung và đánh giá về chất thơ - một trong nh ng nét đ c s c của kịch Lưu Quang Vũ Từ đó, chúng tôi hướng đến việc ác định rõ vai trò và nh ng đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với nền văn học kịch của Việt Nam
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được chia
làm 3 chương :
Chương Chất thơ và kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ
Chương Chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ - nhìn từ
c t truyện và nhân vật
Chương 3 Chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ - nhìn từ kết cấu văn bản và ngôn ngữ
Trang 15Chương 1 CHẤT THƠ VÀ KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ 1.1 Giới thuyết về chất thơ trong tác ph văn học
1.1.1 Khái niệm chất thơ
Trong đời sống con người, cái đẹp là một món ăn tinh thần không thể
thiếu Chính nhu cầu về cái đẹp đã góp phần tạo nên sự khác biệt về bản chất của con người Bởi l , khi đối diện với cái đẹp con người không chỉ nhìn
ng m mà còn muốn vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện, cái lí tưởng và không ngừng nỗ lực, tìm kiếm, lưu gi và phát triển nó Trong quá trình ấy con người đã t m đến nghệ thuật như một cách thức để thưởng thức và kiến tạo cái đẹp Văn chương ra đời đã phần nào thỏa mãn nhu cầu ấy bằng việc phản ánh cái đẹp, cái chất thơ vốn có trong cuộc đời, trong đời sống tâm hồn của con người V vậy chất thơ là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và t m cách lí giải
Khái niệm chất thơ có khởi nguồn từ thơ ca, nó là đ c tính tất yếu của
thơ Theo Từ đi n thuật ngữ văn học: “Thơ h nh th c ph n ánh văn học,
ph n ánh cuộc sống thể hiện những tâm trạng, những c m xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình nh và nhất là có nhịp điệu.” [24, tr.309] Thơ
thiên về biểu hiện cảm xúc nên ngôn ng thơ thường có nhịp điệu, hàm c
cô đọng Cũng trên cơ sở này đã xuất hiện khái niệm chất thơ để chỉ nh ng sáng tác văn học (bằng văn vần ho c văn uôi) giàu c cảm, ngôn ng giàu hình ảnh và nhịp điệu
Khi bàn về chất thơ, nhà nghiên cứu Đỗ Minh Tuấn cho rằng: “Chất thơ
c a một i thơ nằm trong một cái đ ch rất mơ h nhưng ại rất cụ thể nó mơ
h chỗ nó tan bi n vào từng c u thơ nó ch y ra bàng bạc trong từng tác phẩm nhưng nó cụ thể chỗ nó tụ lại một điểm ngời sáng n o đó m cho cái bàng bạc tr i rộng kia lấp ánh n Điểm ngời sáng đó nơi gặp gỡ c a tất
c các c u thơ ý thơ nơi ngã a ngã y tỏa đi các c u thơ - đối v i người
Trang 16m thơ nơi c m xúc gặp gỡ đối v i người đọc thơ nơi c m xúc tỏa đi”
[14, tr.383] Hiểu đơn giản thì chất thơ là cái mơ hồ, là đích không lời, là ý tại ngôn ngoại, tức lời hết mà ý t nh còn mênh mang, nó đòi hỏi bạn đọc phải
khám phá ra cái tầng sâu khôn cùng của thơ
Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ th nhất quyết không có thơ hay Tuy nhiên chất thơ trong dòng chảy văn học đã giao thoa, hòa mình và trở thành phương tiện lan tỏa mạnh m của văn chương nói chung Nếu văn chương là cây đàn muôn điệu của tâm hồn, của nhịp thở trái tim, là cái nhụy của cuộc sống được chưng cất thành thơ, văn th “chất thơ” chính là nh ng giai điệu được tạo nên từ sự hoà quyện gi a vẻ đẹp của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp trong cách biểu hiện của nó để có thể khơi gợi nh ng rung động th m mĩ và t nh cảm nhân văn
Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã có định nghĩa về chất thơ trong cuốn
Từ đi n văn học, nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2004 như sau: “Chất thơ
không ph i là cái thuần t đối lập hoàn toàn v i văn xuôi m cái tỏa sáng
tr n văn xuôi Chất thơ c a văn xuôi một phạm trù có nội hàm rộng rãi nhưng trư c h t nó là những c m xúc chất ch a những tâm trạng dạt dào, những tư ng tư ng mạnh mẽ trong ngôn từ hàm súc giàu hình nh và nhất là
có nhịp điệu” [25, tr.1341] Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã
nhìn nhận chất thơ như một yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn của tác
ph m Có thể coi đây là một định nghĩa khá đầy đủ vì chất thơ được soi chiếu trên cả hai phương diện: nội dung phải đảm bảo tính cô đọng, giàu hàm súc (các biểu tượng nghệ thuật s góp một phần thực thi chức năng này) và h nh thức, ngôn ng phải giàu hình ảnh, giọng văn có nhịp điệu (nguyên nhân khai sinh ra các thủ pháp nghệ thuật)
Bàn về chất thơ, tác giả Đ ng Thị Hảo cho rằng: “Đó s k t h p nhuần nhuyễn cái khí sắc lãng mạn v i bút pháp trữ t nh cùng cái u n mư t
Trang 17mà c a một văn phong đi u u ện, làm cho những i thơ văn xuôi c a ông thấm vào h n người một cách nh nhàng tinh t và r i c sau mỗi câu chuyện người đọc lại tìm thấy một niềm vui nho nhỏ, một chút thanh th n trong tâm
h n xa hơn nữa nhiều hi đó c một chân trời m i c a cái đ p” [25,
tr.1341] Như vậy chất thơ không chỉ là cảm hứng lãng mạn của người viết
mà nó còn đem lại cho bạn đọc nh ng khoái cảm th m mĩ, nh ng niềm vui nho nhỏ, một chút thanh thản trong cõi lòng, xui khiến con người ta biết sống vươn tới chân trời cái đẹp Rõ ràng văn học không chỉ là tấm gương phản ánh cuộc sống mà qua chất thơ nó còn có chức năng thanh lọc tâm hồn
Khái niệm chất thơ của văn uôi còn được điểm xuyết trong một số bài bình luận trên các trang báo, trên các blog Tiêu biểu là ý kiến của tác giả Đỗ
Lai Th y: “Chất thơ trư c tiên hiểu theo nghĩa rộng ph i gắn v i cái đ p Cái
đ p có thể do t nhi n đem ại hoặc cũng có thể đư c tạo ra từ những tình
c m h nh động c a con người Tuy nhiên một tác phẩm văn học giàu chất thơ sẽ bị gi i hạn ý nghĩa về thẩm mĩ n u như nh văn hông sử dụng th pháp để sắp x p các vật liệu tạo ra một chỉnh thể thẩm mĩ để nội dung và hình
th c không tách rời nhau” [80] Trong ý kiến của mình, nhà nghiên cứu có đề
cập tới một khía cạnh mới của chất thơ đó là chất thơ phải g n liền với cái đẹp, hay nói khác đi cái đẹp đã khơi dòng cho chất thơ cuộn chảy vào trong tác ph m nghệ thuật, và muốn tạo ra chất thơ buộc các nhà văn phải s dụng các thủ pháp nghệ thuật: đó có thể là nh ng dòng độc thoại nội tâm, nh ng kết cấu mở đi sâu vào miền kí ức, khơi gợi nh ng góc khuất của tâm hồn để cho cảm xúc chảy miên man… Hay nói cách khác chất thơ là chất tr tình sâu
l ng của nh ng trạng huống, của nh ng tâm trạng nhân vật trong truyện, là sự cao đẹp của tư tưởng th m mĩ khả dĩ có sức mạnh ch p cánh nâng cao tâm hồn người đọc thoát khỏi sự níu kéo của cái trần tục đời thường để vươn tới
Trang 18nh ng ý tưởng đầy nhân văn sáng tạo Với ý nghĩa ấy, chất thơ còn là cái tâm trong sáng, n ng nỗi ưu đời mẫn thế của nhà văn
Chất thơ uất phát từ lời, hình ảnh thơ mang h nh ảnh chủ quan của thi sĩ
và bản thân chất thơ có sức gợi, sức lan tỏa rất lớn tạo nên nh ng rung động
tâm hồn, nh ng xúc cảm th m mỹ từ phía người tiếp nhận Thuật ng “Chất thơ” nghiêng về tính nội dung, cảm xúc Chất thơ hướng con người tới cái
đẹp, an ủi và nuôi dưỡng niềm tin vào cái đẹp làm cho tâm hồn con người tránh được sự khô cằn, chai sạn, sự nghèo nàn về trí tưởng tượng
Từ các ý kiến quan niệm trên, có thể hiểu chất thơ một cách hết sức linh hoạt như sau: Chất thơ được em là cái đẹp của tâm hồn, của cuộc sống và cao hơn n a cuộc sống với một lí tưởng đẹp Chất thơ g n liền với cảm hứng lãng mạn bay bổng, thường g n liền với tính nhạc, tính họa của lời văn Chất thơ là phạm trù giá trị, một yếu tố làm nên phong cách văn chương của một tác giả, một khuynh hướng hay một thời đại văn học Chất thơ là đ c trưng nổi bật của phương thức tr tình Nó chứa đựng thái độ với cái đẹp, tiêu chu n về cái đẹp và biến đổi cùng với thời gian Qua sự biểu hiện chất thơ có thể thấy quan niệm, thái độ, suy nghĩ, t nh cảm của nhà văn rộng hơn là thị hiếu th m mỹ của một thời đại, một dân tộc
1.1.2 Chất thơ trong tác phẩm văn học
Tác ph m văn học là đứa con tinh thần của tác giả, trải qua quá trình quan sát, trải nghiệm và đ c kết, mỗi một yếu tố khi đưa vào trong tác ph m đều gi một vai trò nhất định trong việc tạo nên chỉnh thể đó Chất thơ ngay
từ trong định nghĩa đã khẳng định được vai trò của mình trong việc tạo nên chất tr t nh, sâu l ng và đem đến sức lay động cho tác ph m văn học
Trong truyện ng n ời thừa, Nam Cao viết: "Văn chương hông cần
đ n những người th khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người bi t đ o s u i t t m tòi hơi những
Trang 19ngu n chưa ai hơi v sáng tạo những cái g chưa có" Nếu nhà văn chỉ là thư
kí trung thành ghi chép một cách máy móc, khô khan mà không có cảm xúc, lựa chọn hay sáng tạo thì cuộc sống được miêu tả trong văn chương s trở thành thô thiển, thành một thứ “chủ nghĩa tự nhiên không cánh”, không thúc gọi, không dẫn d t ta đi đến đâu cả
Chất thơ đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ gi a nhà văn và tác
ph m cũng như tác ph m với bạn đọc Trong quan hệ với người nghệ sĩ : Chất thơ là chất xúc tác, là phút giây cảm c được thăng hoa, là nơi nhà văn thể hiện nh ng trăn trở, suy tư, nỗi niềm trước cuộc đời Chính chất thơ là con thuyền để tác giả điệu hồn đi t m nh ng tâm hồn đồng điệu Chất thơ không chỉ là mật ngọt của thi ca mà nh ng tác ph m văn uôi cũng n chứa đầy ý vị
mà tác giả muốn g i g m Trong tác ph m Rừng xà nu của Nguyễn Trung
Thành, tác giả đã c động và linh cảm mạnh m khi xây dựng h nh tượng cây xà nu anh h ng bất khuất, có linh hồn và dũng khí như nh ng chiến sĩ :
“Rừng x nu ưỡn tấm ng c l n c a mình ra che ch cho làng…” Trong rừng
ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở nhanh và mãnh m như câu à nu : “Nó phóng lên rất nhanh để ti p lấy ánh nắng, th ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng lu ng l n thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nh a cây
ba ra thơm mỡ màng” Nhà văn đã đem hết bút lực để tả một khu rừng xà nu
Đó là nh ng câu văn đẹp, gợi cảm, tạo một cảnh tượng tuyệt vời, nên thơ, tráng lệ, có sức gây ấn tượng khó quên trong lòng người đọc
Nếu đ t trong quan hệ với bạn đọc, chất thơ là con đường thi vị nhất dẫn tác ph m tới trái tim của người tiếp nhận Nó là chiếc cầu nối mềm mại đưa tác ph m văn học vào hồn người một cách êm ái dịu dàng, là dòng s a ngọt ngào nuôi dưỡng văn uôi làm cho thể loại này trở nên nhẹ nhàng đằm th m
hơn Đọc tác ph m Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, ta không khỏi bức xúc và
ngột ngạt trước hoàn cảnh khốn khổ của gia đ nh Mị Trong nhịp truyện bức
Trang 20bí ấy, nh ng đoạn văn bảng lảng một màn sương thơ mộng như gi p người đọc thư giãn không khí oi ngột của đau khổ mà hòa mình vào bức tranh sinh hoạt của người vùng cao rất đỗi nên thơ, tr tình, đ c biệt là nh ng đêm t nh mùa xuân
“Trong các ng Mèo Đỏ, những chi c vá hoa đã đem ra phơi tr n mỏm
đá xòe ra sặc sỡ [ ] Đám tr đ i T t chơi qua cười ầm tr n s n chơi trư c
nh Ngo i đầu núi lấp ó đã có ti ng ai thổi sáo r bạn đi chơi Ti ng chó
s a xa xa Những đ m t nh mùa xu n đã t i.”
Hay khi miêu tả tâm trạng Mị l c bị trói, sự giẳng é gi a hiện thực và
khát khao mơ mộng vẫn thật da diết: “Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nh c Lúc lại n ng nàn tha thi t nh Hơi rư u tỏa Ti ng sáo Ti ng chó
s a xa xa Mị lúc mê, lúc tỉnh Cho t i khi trời tang t ng r i không bi t sáng
từ bao giờ ”
Đây là nh ng đoạn văn thật đẹp và thơ mộng, chẳng nh ng kh c họa được sức sống mãnh liệt không gì dập t t được của tuổi trẻ mà còn làm sống lại không khí văn hóa ngày hội đẹp đ , đ m say của người dân tộc đã chuyển thành đời sống tâm hồn nhân vật Sức sống trỗi dậy - như nh ng đợt sóng ào
ạt trong tâm hồn Một tâm hồn với đủ loại cung bậc tình cảm : lúc tự tin, lúc
ai oán, dằn dỗi, thổn thức, lúc quyết liệt
Như vậy chất thơ gi vai trò quan trọng trong tác ph m, và đi vào thực tiễn sáng tác của các nhà văn Có thể thấy chất thơ ngày càng khẳng định được thế mạnh của m nh trong văn uôi V l đó nó tồn tại khá nhiều trong
nh ng trang viết tài hoa của các nghệ sĩ
Biểu hiện của chất thơ trong tác ph m văn học rất đa dạng, nó có thể kết tinh ngưng tụ trên các phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của tác
ph m văn học như: đề tài, cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ng …
Trang 21Nội dung là một phạm trù có nội hàm rộng, nó là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như cảm hứng, đề tài chủ đề, h nh tượng tác ph m Khi nói nội dung mang đậm chất thơ cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận chất thơ s tồn tại ở các yếu tố đó của hệ thống ếu tố đầu tiên phải kể đến là cảm hứng chủ đạo Một cảm hứng mang đậm chất thơ khi nó được nảy sinh từ sự rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của con người Hay nói một cách đầy hình ảnh: cảm hứng giống như mối t nh đầu khi tim ta rộn ràng trước đôi m t đẹp, nụ cười và câu nói ngập ngừng dang dở… Như vậy, ngay từ cảm hứng sáng tạo đã gợi lên được nhiều chất thơ v nó chính là trạng thái say mê đ c biệt khi người nghệ sĩ đ m chìm trong thế giới cảm c đi t m nh ng hình tượng nghệ thuật th m mĩ Cảm hứng chứa đựng chất thơ s chi phối đến việc lựa chọn đề tài, chủ đề trong tác ph m Đề tài, chủ đề là phạm vi đời sống mà các nhà văn đề cập tới Bản thân ch ng mang tính khách quan, nhưng việc lựa chọn để đi vào khai thác cho sâu lại là do ý thức chủ quan sáng tạo, dụng ý nghệ thuật của nhà văn Thông thường một đề tài, chủ đề mang đậm chất thơ
s không đi vào khám phá lãnh địa của các cốt truyện giật gân, li kì, nh ng tình huống thót tim nghẹn thở mà s xoay quanh nh ng điều giản dị, l ng l không ồn ào ho c khai thác nh ng điều dịu ngọt của cuộc đời Trong nguồn
đề tài bất tận của cuộc sống, có l đề tài t nh yêu mang đậm chất thơ hơn cả, bởi tình yêu không chỉ là chất thơ của cuộc đời mà còn là chất thơ của nh ng trái tim đã yêu, đang yêu, và s yêu Vốn là một nhà văn có tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, Thạch Lam đã cho ra đời nhiều tác ph m thấm đẫm chất thơ như
Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan và đ c biệt là truyện ng n ai đứa trẻ Trong các truyện ng n của Thạch Lam chất thơ được chưng cất từ đời
sống bình dị, thường nhật bằng chính rung động của tâm hồn nhà văn, chất thơ toả ra từ t nh yêu cái đẹp, từ cái nhìn tinh tế trước thiên nhiên, đời sống và niềm tin ở thiện căn của con người từ hình thức nghệ thuật tới nội dung được
Trang 22biểu hiện Qua tác ph m, Thạch Lam đã phát hiện ra được Cái đẹp n chứa ở chỗ không ai ngờ tới, đó là vẻ đẹp kín đáo bị khuất lấp bởi đời sống nhọc nhằn mà chỉ có nh ng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm mới có thể cảm nhận hết được
Chất thơ chính là một thành tố quan trọng làm nên linh hồn của tác
ph m S rất thiếu sót nếu ta không đề cập tới chất thơ được thể hiện qua h nh thức nghệ thuật Hình thức nghệ thuật tồn tại song song với phương diện nội dung để cùng nhau làm nên chỉnh thể thống nhất của tác ph m văn học Nh c đến hình thức không thể không kể đến yếu tố ngôn ng Để tạo ra ngôn ng mang đậm chất thơ đòi hỏi mỗi nhà văn phải am hiểu thấu đáo về thơ và họa tức là ngôn ng phải giàu hình ảnh, phải mang nhạc tính và gợi lên được cái đẹp Việc này cũng đồng nghĩa họ phải s dụng hàng loạt các biện pháp nghệ thuật, và tất nhiên nhân hóa và so sánh nhiều khi cũng có m t, bởi chúng vừa gợi được cái hồn, cái tình n giấu sâu trong lòng mỗi sự vật vừa làm cho lời văn giàu h nh ảnh Một trong nh ng yêu cầu quan trọng của văn uôi, đ c biệt truyện ng n là phải đảm bảo tính cô đọng hàm s c Điều đó dẫn đến việc các nghệ sĩ phải s dụng tối đa các biểu tượng nghệ thuật, ho c s dụng nh ng kết cấu cốt truyện mở, kết cấu cốt truyện hồi tưởng để đi sâu vào miền kí ức khơi gợi nh ng liên tưởng ở người đọc… Nếu tác ph m nào đáp ứng được các tiêu chu n đó th chứng tỏ nó đã đạt được một phần của chất thơ Thạch Lam đã rất thành công thổi hồn thơ vào tác ph m của m nh Trong tác ph m
ai đứa trẻ của Thạch Lam, Ông đã ây dựng được một thế giới hình ảnh
vừa chân thực vừa sống động với nh ng không gian và thời gian có sự vận động, biến chuyển Thạch Lam còn xây dựng được nh ng chi tiết nhỏ nhưng lại thể hiện được một cách tinh tế và sâu s c thế giới của nh ng cảm c mơ
hồ, mong manh của con người Chính nhà văn Thạch Lam đã từng quan niệm:
“Nh văn cốt nhất là ph i đi s u v o t m h n mình, tìm thấy những tính tình
Trang 23và c m giác thành th c, t c là tìm thấy tâm h n mọi người qua tâm h n chính mình” Dù diễn tả cái náo nức bên trong, cái sôi động của ước mơ th Thạch
Lam vẫn rất nhẹ nhàng, vẫn tự nén ngòi bút của mình trong giọng văn thủ thỉ, nhẹ nhàng, êm đềm nhỏ nhẹ nhưng có thể phân biệt được từng âm vị
Chất thơ tồn tại song song và hòa quyện trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật của tác ph m ở nhiều cấp độ khác nhau Chính chất thơ làm cho trang văn trở nên tinh tế, sâu l ng, giàu sức gợi, và dễ dàng uyên thấm vào trái tim bạn đọc
1.2 Lưu Quang Vũ và kịch Lưu Quang Vũ trong nền văn học d n t c
1.2.1 Những nhân tố góp phần hình thành kịch tác gia Lưu Quang Vũ
Văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ xuất hiện nhiều cây b t để lại
nh ng ấn tượng khó phai mờ trên văn đàn như: Thanh Thảo, H u Thỉnh, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật và không thể không kể đến Lưu Quang Vũ, một con người tài hoa, một nghệ sĩ đa tài Con đường sự nghiệp của ông khởi đầu từ thơ và kết thúc thành công ở kịch Bằng tài năng và sự sáng tạo của mình, tác ph m của ông tạo được nét riêng, để lại dấu ấn khó quên trong lòng người đọc Theo thời gian, có rất nhiều bài nghiên cứu về Lưu Quang Vũ được đăng tải trên các báo, và được tập hợp trong tuyển tập
Lưu Quang Vũ về tác gia tác phẩm Khi mới uất hiện, Lưu Quang Vũ đã
được giới sân khấu đánh giá là một gương m t mới, đáng ch ý Năm 1985 ông đã được giới báo chí gọi là “cây bút vàng” của kịch trường Việt Nam Lưu Quang Vũ đã viết khoảng hơn năm mươi vở kịch và đều là nh ng tác
ph m có giá trị, được công ch ng đón nhận nồng nhiệt Hàng chục vở trong
số đó đã nhận được huy chương vàng các Hội diễn sân khấu toàn quốc Để có được thành công ấy, Lưu Quang Vũ đã không ngừng tích lũy, rèn luyện, lao động nghệ thuật không mệt mỏi với một tốc độ và năng lực phi thường Trong quá tr nh ấy có rất nhiều nhân tố góp phần h nh thành kịch tác gia Lưu Quang
Trang 24Vũ nhưng nổi bật nhất phải kể đến ba yếu tố: Gia đ nh, thời đại và tài năng, khát khao cống hiến của bản thân
Về gia đ nh, Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/04/1948, là con trai nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh Sinh trưởng trong một gia đ nh giàu truyền thống nghệ thuật, Lưu Quang Vũ sớm hình thành nh ng tư chất nghệ sĩ đ c biệt cùng với một cá tính sáng tạo độc đáo Đ c biệt ông được truyền cảm hứng rất nhiều từ người cha là kịch gia Lưu Quang Thuận Các tác
ph m sân khấu và thơ của Lưu Quang Thuận thấm đượm tình yêu non sông, nòi giống, lòng tự hào dân tộc và tinh thần chống ngoại xâm Giới chuyên
môn đánh giá hai tác ph m chèo Tấm Cám và Mối tình iện biên của ông là
nh ng mốc son trong nghệ thuật chèo hiện đại Việt Nam Không nh ng được
rất nhiều đoàn chèo dàn dựng, vở chèo Tấm Cám còn được chuyển thể thành
phim Sự nghiệp sáng tác kịch bản sân khấu của ông đã được ghi nhận bằng
Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam Lưu Quang Thuận có bề dày kinh nghiệm sáng tác và hoạt động nghệ thuật tại nhiều nơi với các chức vụ khác nhau: sáng lập Nhà xuất bản Hoa Lư, sáng lập và làm chủ nhiệm Tạp chí Sân khấu (số đầu tiên ra ngày
20 tháng 11 năm 1946) và là Giám đốc Việt Nam thư ấn cục của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại chiến khu Việt b c Năm 1948 ông gia nhập quân đội Việt Minh và hoạt động trong Đoàn kịch Chiến th ng cho đến khi chuyển về Đoàn văn công Nhân dân trung ương năm 1951 Từ năm 1954 đến
1964 làm việc tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, Báo Văn nghệ Từ 1965 cho đến khi mất, ông làm nghiệp vụ tác gia tại Nhà hát chèo Việt Nam Có thể thấy đây là nền tảng v ng ch c và là kho tàng kiến thức vô c ng rộng lớn để cho Lưu Quang Vũ có thể học tập và nuôi dưỡng
t nh yêu với nghệ thuật
Trang 25Bên cạnh đó, gia đ nh cũng đem đến cho Lưu Quang Vũ vốn sống rất phong ph , sinh động Sinh thời tác gia Lưu Quang Vũ là một người hiểu và yêu mến mảnh đất hình ch S tha thiết bởi ông đã từng có duyên g n bó và trải nghiệm nhiều v ng miền văn hóa của Việt Nam Tác giả sinh ra tại thôn Gia Điền, xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; quê gốc ở Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Suốt cuộc đời Lưu Quang Vũ sống và g n bó với Hà Nội Một tài năng được t m mát bởi tâm hồn của quê hương, của nh ng v ng đất giàu văn hóa, truyền thống lại càng khiến nó được nuôi dưỡng trở nên phong
ph và đ c s c hơn
Thời thế tạo nên anh tài câu nói này quả không sai và Lưu Quang Vũ là một minh chứng Trong Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố cánh cổng văn học nghệ thuật đã mở ra, văn nghệ sĩ được “cởi trói” Văn học thời k đổi mới đã đi theo hướng dân chủ hóa, văn học phát triển với nhiều đề tài, phong phú về b t pháp, đa dạng về thể loại Văn học giai đoạn này đề cao tính sáng tạo của tác giả, tiếp cận cuộc sống bằng góc nh n đa chiều, quan tâm tới thế giới nội tâm phức tạp của mỗi con người V thế kịch gia đoạn này cũng được “cởi trói” và có màn lột ác đầy tính bứt phá Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Vinh đã nhận xét về tình hình kịch
nói của nước ta nh ng năm 80 là “thời kì phát triển nhất, kh i sắc nhất c a kịch nói, n u đem so v i hai thời trư c (1954-1964 và 1965-1975) V i s tăng ti n c về số ư ng và chất ư ng các ti t mục cũng như s mạnh dạn và phong phú trong những đổi m i, tìm tòi sáng tạo, nên chúng ta vui mừng vì
đã có một nền kịch nghệ tương đối hoàn chỉnh” ” [95] Chính sách đổi mới
đ ng đ n của Đảng và Nhà nước đã tạo cho văn học, nghệ thuật, trong đó có
sân khấu "một điểm t a tinh thần m i m , giúp c i bỏ những ràng buộc từng
đa nghệ thuật đi xa ần đời sống” Mùa của kịch nói chưa bao giờ sôi nổi hơn
l c này, như nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng đã nhận định: “Mãi đ n
Trang 26năm 1985 nghĩa sau hi gi i phóng miền Nam mười năm cũng thời kì kịch nói c c thịnh” [26, tr.17]
Sự ưu ái của hoàn cảnh đã gi p Lưu Quang Vũ phần nào trên con đường
sáng tạo nghệ thuật Ngô Thảo đã nhận xét: "N u nói trong đời Vũ có một lần gặp may mắn thì chính là thời điểm Vũ ư c vào làng sân khấu lúc chính trị
c a đất nư c đổi m i đã tạo cho anh một kho ng không gian rộng ao a để sáng tạo nghệ thuật đ ng thời số lư ng các đo n nghệ thuật có nhu cầu kịch
b n m i phù h p v i t nh h nh đáp ng nhu cầu c a công chúng là thêm một điều kiện khác tác động đ n s c sáng tạo c a Lưu Quang Vũ” [23, tr.52]
Bằng tài năng, sự tinh tế và thấu hiểu, Lưu Quang Vũ đã nói lên tiếng nói của nhân dân, của hiện thực, của tấm lòng Đáng ch ý là ở chỗ, anh dùng cách riêng của m nh để chuyển tải nội dung và đem lại hiệu quả cao nhất cho vở kịch Đ ng l c, đ ng chỗ, đ ng người đã trở thành cơ hội, lợi thế cho kịch Lưu Quang Vũ, góp phần mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tên tuổi của kịch tác gia Kịch Lưu Quang Vũ có m t ở mọi nơi trên đất nước, từ B c tới Nam, thu hút công chúng cả nước và nhờ kịch của anh mà đã nuôi sống được bao nhiêu đơn vị sân khấu Có nh ng thời điểm, hàng đêm có hàng trăm đoàn đã dàn dựng hàng chục vở kịch, gây sự chú ý của mọi giới ngành bởi vì trong kịch bản của Lưu Quang Vũ, mọi phạm vi của hiện thực đời sống, nhất là nh ng vấn đề cấp bách, nóng bỏng của đất nước khi bước vào thời kỳ đổi mới đã được phản ánh kịp thời Đ c biệt trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, nhiều vở dành được Huy chương bạc, Huy chương vàng toàn quốc một cách xứng đáng, càng khẳng định tài năng cũng như quá trình lao động nghệ thuật phi thường của Lưu Quang Vũ Cụ thể là, trong Hội diễn sân khấu năm 1985, với 2 đợt diễn, Lưu Quang Vũ có 8 vở tham gia, trong đó
có 6 vở đoạt Huy chương vàng, 2 vở Huy chương bạc và "đó đều là những
con số kỷ lục cho đ n na chưa ai có thể vư t” [23, tr.58]: Người tốt nhà số
Trang 275, Nguồn sáng trong đời, Người trong cõi nhớ, Vách đá nóng bỏng, Nữ kí giả, Tôi và chúng ta Nhờ kịch của Lưu Quang Vũ, nh ng người làm sân
khấu đã chinh phục được khán giả trong Thành phố Hồ Chí Minh bằng sự lôi cuốn của loại hình kịch nói khi họ vốn quen hâm mộ cải lương Đây là một kỳ tích Cho nên không có gì quá lời khi báo chí Thành phố Hồ Chí Minh đánh
giá 5 vở kịch: Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ), Mùa hè ở bi n (Xuân Trình), Lịch sử và nhân chứng (Hoài Giao), Nhân danh công lý (Doãn Hoàng Giang, Võ Kh c Nghiêm), ỉnh cao mơ ước (Tất Đạt) “năm cỗ xe
tăng ti n vào v i s c mạnh c a những chi c xe tăng gi i phóng inh Độc Lập
ng n o” [23, tr.59]
Có thể thấy trong một khoảng thời gian ng n, nhờ sự “mở c a” và “cởi trói” với văn chương của Đảng, kịch nói đã có một bước chuyển m nh đầy ấn tượng và đạt được nh ng thành tựu vang dội Nh ng thành tựu mà kịch đạt được trong nh ng năm 80 sau giải phóng là một dấu son sáng chói nhất trong tiến trình vận động và phát triển của kịch nói Trong dòng chảy mạnh và hũng
vĩ ấy, Lưu Quang Vũ cũng đã góp một phần công lao không nhỏ Phải nói rằng, Lưu Quang Vũ đã đến với kịch nói rất đ ng thời điểm, điều đó một phần
gi p ông phát huy được hết tài năng của mình
Sinh thành trong gia đ nh có truyền thống nghệ thuật và được sự hỗ trợ
đ c lực từ yếu tố thời đại nhưng để đến được với khán giả và nhận được sự chào đón nồng nhiệt là cả một quá tr nh nỗ lực học tập và sáng tạo không miệt mỏi của Lưu Quang Vũ Năm 1961 khi mới 13, tuổi ông đã bộc lộ năng khiếu
về văn học nghệ và giành được giải thưởng của thành phố về văn và họa Năm
1965, Lưu Quang Vũ ung phong vào bộ đội được biên chế về binh chủng phòng không không quân Đây là giai đoạn có nh ng đổi thay lớn về cuộc đời Lưu Quang Vũ, ông làm rất nhiều thơ Lưu Quang Vũ mở đầu sự nghiệp cầm
bút của mình bằng thơ Đó là phần ương cây trong tập ương câ - Bếp
Trang 28lửa in chung với Bằng Việt năm 1968 Ngay từ khi mới ra đời, tập thơ đã
chiếm được rất nhiều cảm tình của bạn đọc trong và ngoài giới, cái tên Lưu Quang Vũ lập tức thu hút sự chú ý của các nhà phê bình danh tiếng Hoài
Thanh bằng một dự cảm tinh tường đã gọi anh là "một cây bút nhiều triển vọng" và thơ anh "là một ti ng nói nhỏ nh mà sâu" Lê Đ nh Kỵ với sự nhạy cảm s c sảo của một cây b t phê b nh thơ tài hoa đã nhận ra rằng "Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm h n riêng" Thành công đầu ở tuổi 20, thơ ông
sớm bộc lộ một giọng thơ ngọt ngào, đằm th m, thiết tha với đất nước, giàu
mơ mộng và khát vọng Thơ Lưu Quang Vũ mang cảm c, hơi thở mới, tiêu biểu cho một thế hệ trẻ háo hức lên đường cứu nước Bằng trái tim nhiệt thành với nghệ thuật, ông đã sáng tác không ngừng nghỉ và đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực thơ ca cũng như truyện ng n
Bước ra từ khu vườn thơ ca, Lưu Quang vũ đến với kịch Ông có niềm say mê mãnh liệt với kịch và sân khấu, khát vọng cống hiến hết m nh bằng cả trái tim Ông viết vì tình yêu nghệ thuật, t nh yêu đời sống, vì lòng say mê
Lưu Quang Vũ đã “dùng ngòi bút c a mình góp phần đem ại những điều tốt
đ p cho con người và xã hội”[72, tr.164], “Kịch là nơi Lưu Quang Vũ có thể bộc lộ tr c ti p hơn những khám phá và nhận th c c a anh nơi anh có thể đóng góp t ch c c hơn cho đời sống”[72, tr.165] Năm 1978, Lưu Quang Vũ
làm biên tập ở tạp chí Sân khấu Đến năm 1979, cuốn Diễn viên sân khấu
của Lưu Quang Vũ (in chung với Xuân Quỳnh và Vương Trí Nhàn) được xuất
bản Cũng trong năm này, kịch bản đầu tay Sống mãi với tuổi 17 của ông ra
đời và được nhà hát tuổi trẻ dàn dựng, tham gia hội diễn sân khấu toàn quốc được trao huy chương vàng Nh ng năm tiếp theo, Lưu Quang Vũ có nh ng bước đi phi thường trong lĩnh vực sân khấu Thành công ban đầu đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho kịch tác gia trẻ và cũng đ t ra trách nhiệm lớn lao cho người cầm bút, yêu cầu phải ác định được mục đích sáng tác một cách rõ
Trang 29ràng, dứt khoát Con đường đi không phải là "cưỡi ng a xem hoa” mà là hành
quân, chiến đấu, vượt thoát Và một trong nh ng yếu tố khiến tác ph m của Lưu Quang Vũ để lại ấn tượng sâu s c chính là chất thơ Ph m chất “giàu chất thơ” là điểm nổi bật không chỉ ở thơ, mà đồng thời ở cả truyện ng n và kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ Ngay từ đầu ông đã ác định mối liên hệ mật
thiết gi a thơ và kịch khi cho rằng: “Trong quan niệm c a tôi thơ v ịch rất gần nhau Có lẽ thơ v i kịch còn gần nhau hơn thơ v i văn xuôi Đều là hai thể loại l n và khó c a văn học thơ v ịch đều là s sống và th gi i bên trong c a con người dạng tinh chất cô đọng và mãnh liệt nhất Đối v i tôi, kịch cũng một th thơ đư c trình bày trong không gian và thời gian kì diệu
c a sân khấu, thông qua diễn xuất c a diễn viên” [12] Chính điều này đã tạo
nên nét đ c biệt trong phong cách kịch của ông và góp phần làm nên “Kịch pháp Lưu Quang Vũ”
Hành tr nh sáng tạo phi thường của Lưu Quang Vũ đã để lại một vệt sáng lớn trên bầu trời văn học nước nhà Nhưng đáng tiếc thay khi Lưu Quang
Vũ đang ở thời k chín muồi của tài năng với bao ấp ủ, dự định th một tin buồn như “sét đánh ngang tai”, xẹt ngang trên bầu trời văn nghệ của nước nhà Ngày 29/08/1988, Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ đột ngột qua đời trong một tai nạn giao thông khủng khiếp Lưu Quang
Vũ kết thúc cuộc đời ở tuổi bốn mươi Sự ra đi bất ngờ của Lưu Quang Vũ trong lúc tài năng đang tỏa sáng nhất đã tác động một cách mạnh m và sâu
s c đến giới nghiên cứu văn học cũng như giới phê bình sân khấu và độc giả yêu mến ông Họ quan tâm nhiều hơn đến di sản văn học mà Lưu Quang Vũ
để lại Trên các báo, tạp chí xuất hiện nhiều bài viết bày tỏ niềm tiếc thương
vô hạn đối với một tài năng Phong Lê trong bài Văn uôi Lưu Quang Vũ – cầu nối giữa thơ và kịch đã thốt lên rằng: “Thương xót quá nhưng i t làm
sao u đó số phận thường dành cho những t i năng – t i năng ch n ch nh
Trang 30bao giờ cũng s quên mình Cũng i lẽ như ất c s hi sinh nào khác, chính trong s quên mình, s đem cho m họ đư c ù đắp” [34, tr.132]
1.2.2 Kịch Lưu Quang Vũ trong nền kịch Việt Nam đương đại
Kịch nói là loại hình nghệ thuật “sinh sau đẻ muộn” ở nước ta Trước thế
kỉ XX nước ta chỉ phổ biến nh ng loại hình kịch hát như chèo, tuồng; ở miền Nam thì có cải lương… Đến khoảng năm 1920, văn hóa phương Tây âm nhập vào nước ta, theo đó, kịch nói xuất hiện và dần khẳng định được vị trí riêng của m nh Như bao loại hình nghệ thuật khác, kịch nói Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá tr nh “hiện đại hóa” qua thời gian để phù hợp với
nh ng phát triển của xã hội
Nh c đến kịch nói Việt Nam, không thể bỏ qua cái tên Lưu Quang Vũ Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài, trên mỗi phương diện ông đều có nh ng đóng góp nhất định, từ thơ, truyện, kịch đến phê bình sân khấu Ở thể loại nào ông cũng để lại nh ng thành tựu Trước khi viết kịch, Lưu Quang Vũ là một nhà thơ tiêu biểu của thời chống Mỹ và rất được yêu thích, nhưng ông lại được ch ý và đánh giá cao ở mảng kịch Riêng trong nh ng năm 80 của thế
kỉ XX, Lưu Quang Vũ được em như một hiện tượng hiếm có của sân khấu kịch Việt Nam Điều này đã được nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã khẳng định:
“Lưu Quang Vũ nh vi t kịch l n nhất th kỉ này (th kỉ XX) c a Việt Nam,
là một nh văn hóa” [72;tr.149]
Lưu Quang Vũ đã bén duyên với sân khấu từ đầu nh ng năm 80, nhưng
l c này ông chưa viết kịch mà là phóng viên của một tạp chí sân khấu Nh ng
bài viết của ông thể hiện rõ sự am hiểu đối với sân khấu, trong cuốn Diễn viên và sân khấu (viết chung với Vương Trí Nhàn và Xuân Quỳnh) đã tập
hợp nh ng bài viết của Lưu Quang Vũ về chân dung các nghệ sĩ Tác ph m
kịch đầu tay của Lưu Quang Vũ - Sống mãi tuổi 17 (viết năm 1980) đã nhận
huy chương vàng tại Hội diễn sân khấu toàn quốc Đây là động lực khích lệ
Trang 31sự nghiệp sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ, cũng như củng cố niềm tin của người cha, người thầy đáng kính Lưu Quang Thuận về tài năng của con trai Ngay sau đó, cái chết đột ngột của cha đã để lại một nỗi đau và khoảng l ng trong lòng ông Nhưng cũng chính trong l c này Lưu Quang Vũ đã thực sự nhận thức được con đường đi của mình, sự quyết tâm cùng với khao khát được tiếp nối cha đã nâng bước cho ông trên con đường kịch nghệ Từ năm
1980, Lưu Quang Vũ đã có nh ng sáng tác gây ôn ao dư luận như: Cô gái đội mũ nồi xám (1981), Người trong cõi nhớ (1982), Nguồn sáng trong đời (1984), Tôi và chúng ta (1984), Hồn Trương Ba da hàng thịt (1984), Người tốt nhà số 5 (1984), Lời nói dối cuối cùng (1985), Khoảnh khắc và vô tận
(1986) Các sáng tác của Lưu Quang Vũ đã “đi trước một bước” và mang
nh ng dự cảm về sự thay đổi trong tương lai Trong bối cảnh thiếu nh ng kịch bản mới mẻ để dàn dựng, Lưu Quang Vũ thực sự đã trở thành nhân vật chính trong nền kịch nghệ nh ng năm 80 Tại buổi Hội diễn sân khấu năm
1985, tài năng của Lưu Quang Vũ được khẳng định khi trong 8 vở được dàn dựng có đến 6 vở được huy chương vàng và 2 vở đạt huy chương bạc Các sáng tác của ông đều được hoan nghênh và ủng hộ Có thể nói rằng, Lưu Quang Vũ đã làm mưa làm gió trên sân khấu Việt Nam lúc bấy giờ Giai đoạn sau 1986, không khí đổi mới trở nên mạnh m , diện mạo của nền kịch nói vốn thịnh lại càng khởi s c nhiều hơn Sức sáng tạo của Lưu Quang Vũ thật sự rất phi thường Chỉ trong vòng 10 năm đến với kịch, ông đã viết hơn 50 vở kịch với nhiều đề tài khác nhau Dù các vở kịch đều xoay quanh nh ng vấn đề đổi mới nhưng Lưu Quang Vũ rất biết cách tạo bất ngờ cho khán giả Với mục đích hướng tới Chân – Thiện – Mĩ trong sáng tác nghệ thuật, Lưu Quang Vũ
đã luôn học hỏi, điều chỉnh bản thân, đánh giá lại nh ng sáng tác để làm đẹp thêm nh ng đứa con tinh thần của mình Từ nh ng sáng tác đầu tiên như vở
Mùa hạ cuối cùng, bản thân tác giả đã nhận ra nh ng hạn chế khi tác ph m
Trang 32mang tính luận đề quá rõ, và có nh ng thay đổi, chỉnh s a về kịch bản Đã từng là một nhà văn, nhà thơ, dấu ấn văn học trong kịch Lưu Quang Vũ thể hiện qua nh ng chi tiết, lớp lang kịch đa nghĩa, nhiều tầng, thoát khỏi hoàn toàn cách viết kịch đơn giản Hơn n a nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ ngày càng có cá tính, tâm lý phức tạp và gần gũi với cuộc sống, người xem hoàn toàn có thể tìm thấy bản thân mình trong các vở kịch của Lưu Quang
Vũ Trong hơn 50 sáng tác của Lưu Quang Vũ, không phải vở nào cũng đều xuất s c, nhưng phần lớn đều được dàn dựng và có tác động sâu s c Không thể phủ nhận rằng Lưu Quang Vũ đã trở thành một “hiện tượng” của sân khấu Việt Nam Nh ng sáng tác của Lưu Quang Vũ có thể được chia làm ba loại:
loại thứ nhất là nh ng tác ph m dựa vào cốt truyện dân gian (Hồn Trương Ba
da hàng thịt, Nàng Sita, Ông vua hóa hổ, Linh hồn của đá,…); loại thứ hai
là dựa vào cốt truyện hiện đại ( ôi dòng sữa mẹ, Hẹn ngày trở lại, Chết cho điều chưa có,…) và loại thứ ba, chiếm đa phần trong số tác ph m là nh ng
vấn đề hiện đại, đó cũng là nh ng vở kịch khẳng định tên tuổi của ông
Tác ph m là nơi Lưu Quang Vũ g i g m quan điểm nghệ thuật - cũng như quan điểm về cuộc sống Viết nhanh, viết nhiều, chất lượng tác ph m tất nhiên không thể đồng đều nhau, nhưng trong mỗi tác ph m đều g i g m đôi điều muốn nói Tất cả nh ng gì mà ông thể hiện trong tác ph m của m nh đã tạo nên một phong cách kịch Lưu Quang Vũ, mà như giáo sư Phan Ngọc là
khẳng định rằng “Có một kịch pháp Lưu Quang Vũ” [45,tr.264] Nh ng thế
mạnh từng có trong viết văn, làm thơ đã được Lưu Quang Vũ vận dụng để tạo nên cái riêng, cái độc đáo trong kịch mà vẫn mang đậm dấu ấn của thời đại Tính hiện đại là một phần không thể thiếu tạo nên phong cách kịch của Lưu Quang Vũ Tính hiện đại được thể hiện qua chủ đề tư tưởng được nảy sinh ra
từ góc nhìn mới mẻ của tác giả hay thể hiện qua cách đánh giá lại nh ng đề tài, tư tưởng có từ trước đó Điều ấy b t nguồn từ sự nhạy cảm, thấu hiểu của
Trang 33bản thân tác giả đối với các vấn đề trong đời sống, khiến ông có thể đưa vào kịch một cách rất tự nhiên Từ nh ng sự kiện thô đã trở nên nh ng tác ph m nghệ thuật hấp dẫn, từ cách tạo nên nh ng tình huống kịch, ung đột kịch đến cách tạo nên một thế giới nhân vật kịch có đời sống nội tâm và chiều sâu trong suy nghĩ, cùng với đó là hệ thống ngôn ng tự nhiên, hàm s c nhưng cũng đầy tính triết lý Các vở kịch trở nên rất chân thật, thu h t người xem và khiến khán giả nhớ mãi Tính hiện đại còn thể hiện ở sự nguyên vẹn về giá trị của kịch Lưu Quang Vũ d cho thời gian đã trôi qua hơn 30 năm, d cho ã hội có nhiều biến đổi Nghệ sĩ nhân dân Hoàng Dũng, cựu giám đốc nhà hát
kịch Hà Nội đã nói: “Kịch c a Lưu Quang Vũ hông hề cũ Thậm chí tôi thấy những cái gì anh vi t còn đ ng hơn rất nhiều so v i thời điểm cách đ v i chục năm Khi ấy những vấn đề về s xuống cấp đạo đ c trong mỗi gia đ nh mỗi con người chưa đư c đặt ra một cách nghiêm trọng như giờ” [72,
tr.1] Kịch Lưu Quang Vũ không hề cũ cũng là nhận định của nhiều người, được kiểm chứng qua việc nhiều vở kịch của ông đến bây giờ vẫn được dàn dựng lại và nhận được sự quan tâm của nhiều khán giả, dù cho kịch nói hiện nay đã không còn ở thế độc tôn Nhiều vấn đề được nói đến trong kịch Lưu Quang Vũ hoàn toàn có thể nhìn thấy trong cuộc sống ngày nay, các vấn đề vẫn luôn nóng hổi, chạm đến nh ng góc khuất trong mỗi người Có thể nói, kịch của Lưu Quang Vũ có tính dự báo khiến cho nó luôn luôn mới và có sức sống vượt thời gian Tuy hiện đại, mới mẻ nhưng Lưu Quang Vũ vẫn luôn ý thức được việc phát triển nh ng cái mới không có nghĩa là hoàn toàn phủ nhận nh ng cái cũ Khi nh ng giá trị mới lên ngôi, nh ng vấn đề cũ thường bị lãng quên và dần mờ nhạt đi, nhưng Lưu Quang Vũ luôn biết cách để dung hòa, thừa hưởng nh ng yếu tố truyền thống và phát huy tốt nh ng đề tài, quan điểm, giá trị cũ M t khác, do được thừa hưởng từ người cha của mình là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, ông đã dành t nh yêu lớn lao đối với nh ng loại
Trang 34hình sân khấu truyền thống như chèo, tuồng… Ông cũng đã có nh ng th nghiệm trong việc vận dụng một số hình thức của kịch hát truyền thống, cách biểu diễn dân gian vào kịch của mình, tạo thêm không gian đ c biệt cho
nh ng vở kịch của ông
Hành trình sáng tạo của tài năng Lưu Quang Vũ s còn có thể dài hơn
n a nếu như ông không đột ngột ra đi vào m a thu năm 1988, để lại bao đau xót và tiếc nuối trong lòng gia đ nh, đồng nghiệp cũng như nh ng người hâm
mộ ông Niềm đam mê đối với sân khấu, sự tận tâm đối với nghề vẫn còn lưu
trên nh ng trang kịch bản phác thảo dở dang của vở Chim sâm cầm không chết Vở kịch ban đầu được đ t tên Chim sâm cầm đã chết, về sau được đổi
tên lại, nó giống như một dự cảm được báo trước Trong lá thư g i Xuân
Quỳnh, Lưu Quang Vũ viết: “Từ tuổi 40 tr lên là bạn è người thân c rơi rụng dần, và r i sẽ đ n ư t m nh Anh nghĩ vậy nên cố sống thật hiền hòa, thanh th n và cố s c vi t, tuy vậy vẫn ười lắm và thấy mình vẫn chưa m
đư c ao nhi u…” Nh ng lời ông viết làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn cũng như
ý thức lao động miệt mài của ông Ch ng đường kịch của ông cũng là một
ch ng đường đấu tranh để vươn đến nh ng điều tốt đẹp Lưu Quang Vũ đến với kịch nói trong khoảng thời gian không quá dài (10 năm), nhưng đối lập với thời gian ng n ngủi ấy, nh ng giá trị ông mang lại thật sự to lớn, có thể khẳng định rằng, Lưu Quang Vũ chính là tác giả hàng đầu đã tạo nên diện mạo nền sân khấu nước ta trong nh ng năm 80 của thế kỉ XX Và thực sự, vị trí của Lưu Quang Vũ trong làng kịch nước nhà, cho đến nay, khó ai có thể thay thế được
TIỂU KẾT CHƯƠNG
Chất thơ không chỉ là “đ c sản” của riêng thơ ca mà nó còn là chất keo kết nối tâm hồn nghệ sĩ với tác ph m, mở ra nh ng trường tác động khác nhau của tác ph m đến người đọc và là phương tiện để tác ph m đến với bạn đọc
Trang 35một cách nhẹ nhàng, tự nhiên hơn Trong quá tr nh tương tác gi a các thể loại
văn học, chúng ta b t g p hiện tượng “văn xuôi ch y tràn vào địa hạt thơ”
(Hoài Thanh), lại cũng hay g p nh ng tác ph m văn uôi giàu chất thơ Đến hai thể loại tưởng rất a nhau như thơ và kịch, ta vẫn thấy có sự giao hòa kì
lạ, thể hiện ở các tác ph m thơ kịch (kịch thơ) hay các tác ph m kịch giàu chất thơ
Là một nhà thơ, nhà văn khá thành danh trước khi “bén duyên” và tạo
được nh ng thành công để đời với kịch, Lưu Quang Vũ đã biến nh ng “v kịch thi vị”, nh ng “v kịch giàu chất thơ gi u chất tri t lí” thành một thế
mạnh riêng của mình trong nền kịch nghệ nước nhà Sự thành công của Lưu Quang Vũ có sự tác động từ gia đ nh, thời đại nhưng quan trọng hơn còn là sự
nỗ lực không ngừng của chính người nghệ sĩ tài hoa này Vị trí của Lưu Quang Vũ trong nền kịch nói hiện đại Việt Nam đến nay khó ai có thể thay thế được Ông chính là cái tên tiêu biểu cho kịch nói Việt Nam hiện đại, là một nhà tiên phong của thời k đổi mới, đã đạt được nh ng thành tựu và đóng góp tích cực cho diện mạo văn học Việt Nam n a cuối thế kỉ XX
Trang 36Chương 2 CHẤT THƠ TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ - NHÌN TỪ CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT 2.1 C t truyện
Cốt truyện là khái niệm dùng chủ yếu trong thể loại tự sự và kịch, được tạo nên từ các sự kiện và tình tiết Đây là một yếu tố vô c ng quan trọng, là mảnh đất để kiến tạo nên hệ thống nhân vật, cho nhân vật hình thành tính
cách rõ nét qua từng diễn biến của câu chuyện, là “hệ thống các s kiện ph n ánh những diễn bi n c a cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật qua đó t nh cách c a nhân vật hình thành và phát triển trong mối quan hệ qua lại nhằm làm sáng tỏ ch đề v tư tư ng tác phẩm” [19, tr.139]
Đối với mỗi tác ph m văn học, cốt truyện chính là h nh thức tổ chức cơ bản nhất Nó bao gồm các giai đoạn phát triển chính, một hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong chỉnh thể tác ph m Có nhiều kiểu ây dựng cốt truyện khác nhau nhưng đ c điểm chung của ch ng là phải được tổ chức, s p ếp một cách ch t ch tránh phân tán, rời rạc Các bước diễn biến của cốt truyện cũng giống như quá tr nh vận động của ung đột, nghĩa là phải
có mở đầu, th t n t, phát triển đến cao điểm và rồi đi đến giải quyết vấn đề và kết th c Trong quá tr nh sáng tạo văn học, nhà văn có thể biến tấu lại sao cho hợp lí, không nhất thiết phải đầy đủ các bước, song phải đảm bảo việc thể hiện được tư tưởng, chủ đề của tác ph m
Trong lịch s phát triển nền sân khấu kịch nói Việt Nam, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ được biết đến như một hiện tượng hiếm có, một tác gia tiêu
biểu nhất của sân khấu kịch nh ng năm 80, làm nên “một thời hoàng kim chưa i t bao giờ tr lại c a sân khấu” Chỉ trong gần mười năm ng n ngủi
đến với kịch, ông đã để lại một gia tài lớn với 53 vở kịch hầu hết đều được đánh giá cao và nhiều bài viết về lĩnh vực sân khấu có giá trị lý luận thiết
Trang 37thực Đã hơn hai mươi năm trôi qua nhưng các tác ph m kịch của ông vẫn là nguồn cảm hứng phong phú cho nền sân khấu hiện đại cũng như cho nh ng ai yêu mến ông và kịch của ông Kịch Lưu Quang Vũ vừa kh c họa được nh ng vấn đề lớn, có ý nghĩa ã hội, nhân sinh sâu s c lại có khả năng tác động đế bạn đọc theo phương thức riêng, mang đến nh ng đóng góp và giá trị riêng Lưu Quang Vũ đã tận dụng thế mạnh về thơ của mình để biến nh ng vở kịch thuần hành động, khô khan trở nên mượt mà, và giàu ph m chất thơ Sự thể hiện chất thơ trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ trước hết nằm ở phần cốt truyện độc đáo, th vị, kết hợp nhuần nhuyễn gi a hiện đại và truyền thống, được khai thác từ tích truyện dân gian và đời sống hiện đại
2.1.1 Cốt truyện khai thác từ tích truyện dân gian – sự bảo lưu những giá trị sống đ ch thực
Kho tàng văn học dân gian là kho báu, chứa đựng tinh thần, truyền thống
và văn hóa của dân tộc Mỗi thể loại văn học dân gian đều mang trong mình
nh ng tinh túy và là cội nguồn, là bầu s a mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên
sự kế thừa các thể loại văn học dân gian Nhiều tác ph m, nhiều h nh tượng
do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết Mối quan hệ máu thịt g n bó gi a văn học dân gian và văn học thành văn diễn ra trong suốt tiến trình phát triển của văn học dân tộc Văn học dân gian chính là nền tảng của văn học viết và có tác động lớn đến sự hình thành
và phát triển của văn học viết, là nguồn cảm hứng dồi dào, tiếp thêm chất liệu
và cảm hứng sáng tạo cho văn học viết
Trong sự nghiệp sáng tác kịch của m nh, Lưu Quang Vũ có hơn hơn 50
vở kịch trong đó 7 vở kịch khai thác đề tài dân gian: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1981), Nàng Sita (1982), Lời nói dối cuối cùng (1985), Ông vua hóa hổ (1985), ăm ăn (1987), ôi đũa kim giao (1988), Linh hồn của đá
Trang 38(1988) 7/53 chiếm 13,2% tác ph m không phải là số lượng nhiều nhưng đã mang lại tiếng vang và thành công cho nhà viết kịch Lưu Quang Vũ Lựa chọn khai thác đề tài từ văn học truyền thống, Lưu Quang Vũ đã tạo được dấu
ấn riêng cho các tác ph m của m nh, đồng thời làm rõ hơn các tư tưởng nghệ thuật của ông Nhà nghiên cứu Phan Ngọc khi đọc kịch Lưu Quang Vũ cảm phục về tài năng tận dụng cốt truyện cũ từ dân gian để nói về nh ng triết lí
nhân sinh đẹp đ nên thơ của ông: “Vũ chỉ có một ham muốn: đấu tranh cho diện mạo và thân phận c a những con người ao động nhỏ bé, hạnh ph c Vũ
bi n mọi đề tài thành kịch: cổ tích, thần thoại, chuyện hàng ngày, chuyện chi n đấu Không ai bằng Vũ trong iệt t i n u n cái muôn đời trong cái
nh thường, bi n cổ tích, huyền thoại thành chuyện thời s ùng cái hư để nói cái th c, dùng cái thô lỗ để khẳng định cái cao quý Không ai đuổi kịp Vũ trong phê phán cái xấu nhưng hông có th nh i n, không có ác ý dụng tâm xấu nên những lời ph phán đư c chấp nhận”[72, tr.153]
Lưu Quang Vũ là một nhà văn thời đại, một trong nh ng người tiên phong của phong trào đổi mới văn hóa văn nghệ, nhưng ông không phủ nhận
nh ng g ưa cũ mà cố g ng kết nối được nh ng giá trị truyền thống của quá khứ đã được trân trọng, gi gìn và áp dụng vào trong hiện tại Nhờ vậy các tác
ph m lấy cảm hứng từ văn học truyền thống của Lưu Quang Vũ đã có một vị thế mới vì mang theo sự mới mẻ, có giá trị lâu bền, tính dân tộc luôn được xuyên suốt và đề cao tính nhân dân sâu s c Điển hình là việc ca ngợi lối sống
nề nếp, đ ng mực, giàu t nh yêu thương, trọng t nh nghĩa của gia đ nh ông
Trương Ba trong Hồn Trương Ba da hàng thịt , đề cao tình bạn, t nh người, lòng nhân hậu, khoan dung trong vở kịch Ông vua hóa hổ, chia sẻ đạo lý vợ chồng, nghĩa t nh thủy chung của con người trong các vở kịch Linh hồn của
đá, Nàng ita hay thực tế hơn n a là phê phán sự gian trá, đứng về l phải, sự trung thực, chân thành của đạo đức làm người trong vở Lời nói dối cuối
Trang 39cùng Nh ng chu n mực đạo đức truyền thống, nh ng giá trị tốt đẹp của thế
hệ đi trước đã được Lưu Quang Vũ truyền tải và lồng ghép một cách thực tế, sinh động qua các vở kịch thuộc mảng đề tài này Văn học truyền thống thực
sự là một “mảnh đất màu mỡ” có sức hấp dẫn và tạo nên cảm hứng sáng tạo độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ
Chất thơ trong kịch Lưu Quang Vũ được thể hiện đậm nét qua các cốt truyện khai thác từ tích truyện dân gian bởi đằng sau mỗi câu chuyện không chỉ là dụng ý nghệ thuật của nhà văn mà còn là khao khát bảo lưu nh ng giá trị sống đích thực của con người Lưu Quang Vũ trân trọng nh ng con người lương thiện, mong muốn bảo vệ nh ng ph m chất thanh cao khỏi bụi trần phàm tục và hướng người ta đến cái đẹp, cái cao cả Điều này thể hiện rất rõ
trong cách ây dựng cốt truyện Hồn Trương Ba, da hàng thịt Đây được coi
là một trong nh ng vở diễn xuất s c nhất và mang đậm tư tưởng nhân văn,
nên thơ của Lưu Quang Vũ D được viết lại từ một cốt truyện dân gian, Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ vẫn mới mẻ và đ ng đ n trong
bất kì thời đại nào Câu chuyện gốc vốn đơn giản, kể về nhân vật tên Trương
Ba, rất cao cờ, đến tiên cờ Đế Thích cũng thích nước cờ của ông Nhưng Trương Ba đột ngột qua đời, Đế Thích v thương người tài nên đã cho Trương
Ba sống lại dưới xác anh hàng thịt Tranh chấp xảy ra gi a vợ Trương Ba và
vợ hàng thịt, phải đưa ra huyện đường Quan th bằng cách cho Trương Ba trong xác anh hàng thịt th xẻ thịt lợn, nhưng ông lại không làm được, ngược lại có thể đánh cờ rất giỏi Quan liền x cho Trương Ba về sống bên cạnh vợ yên ổn mà không có bất cứ vướng m c, kiện cáo gì n a Cốt truyện cổ tích chỉ
có thế, đơn giản dễ hiểu, tranh chấp được giải quyết triệt để bằng kết thúc có hậu, nhẹ nhàng, đồng thời cũng có yếu tố kì ảo thể hiện ước mơ “cải lão hoàn đồng” của nhân dân ưa
Trang 40Khi được Lưu Quang Vũ viết lại, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt
như được tái hiện với một lớp áo hoàn toàn khác, phức tạp hơn, n chứa nhiều hàm ý hơn Lưu Quang Vũ vẫn gi nguyên cốt truyện cơ bản cùng với nh ng nhân vật trong truyện dân gian, nhưng ở kịch của ông ta thấy rõ hơn tính cách
và nội tâm nhân vật, họ có sự khát khao mãnh liệt với cuộc sống tươi đẹp và sẵn sàng hi sinh để bảo lưu nh ng giá trị sống đích thực ấy
Trương Ba trong tác ph m Lưu Quang Vũ là một người làm nông hiền lành, chất phác, sống an nhàn bên ruộng vườn, bên công việc đồng áng Ông dành tình cảm yêu thương cho mọi người, cho khu vườn của ông, lấy đó là niềm vui Khi nhàn rỗi th đánh cờ trò chuyện c ng vài ba người bạn Với ông, cuộc sống thật ý nghĩa là khi sống yêu thương lẫn nhau, cuộc đời thanh bạch, không đua chen Trương Ba với nh ng trải nghiệm trong cuộc đời của mình hiểu rằng, khi sống mà theo đuổi dục vọng quá nhiều th con người ta dễ dàng làm hoen ố nh ng ph m chất đạo đức; nh ng giá trị truyền thống tốt đẹp Trương Ba vẫn luôn gi v ng tâm mình với cuộc đời, vẫn có niềm tin vào con người Khi nghe bác Trưởng Hoạt (bạn Trương Ba) buồn lòng chia sẻ:
“…Trư ng Hoạt: Vậy mà giờ, con tr nó cũng xem thường m nh đư c
V mình thì coi mình không bằng con l n, con gà Chẳng qua tụi mình nghèo
cái chết “ an đầu là cái ch t hông đáng có” [73, tr.327] của Trương Ba, để
rồi khi Đế Thích cố g ng hồi sinh người bạn Trương Ba vào ác anh hàng